Trải qua nhiều thăng trầm và biến đổilịch sử, cho đến năm 2016, Công giáo tại Việt Nam có hơn 6 triệutín hữu[4] trong tổng số dân 82 triệu, với 3.100linh mục, 14.400 tu sĩ, 1.249 đạichủn
Trang 1Công giáo tại Việt Nam
Trang 2Mục lục
1.1 Tên gọi 1
1.2 Lịch sử 1
1.2.1 ời kỳ khai sinh (1533 - 1659) 1
1.2.2 ời kỳ hình thành (1659 - 1802) 3
1.2.3 ời kỳ thử thách (1802 - 1885) 4
1.2.4 ời kỳ phát triển (1885 - 1975) 5
1.2.5 ời kỳ từ năm 1975 đến nay 6
1.3 Các đóng góp của Công giáo cho Việt Nam 7
1.3.1 Chữ quốc ngữ 7
1.3.2 Kỹ thuật in ấn và báo chí 8
1.3.3 Khoa học và y khoa 8
1.4 an hệ giữa Giáo hội và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 8
1.4.1 an hệ giữa Tòa thánh và chính quyền 8
1.4.2 Nhà nước can thiệp vào sinh hoạt nội bộ tôn giáo 9
1.4.3 an điểm của giới Công giáo về các vấn đề xã hội, chính trị 9
1.4.4 Các cơ sở Công giáo mà Nhà nước Việt Nam đã chuyển quyền sử dụng 10
1.4.5 Các vụ bất đồng hoặc xung đột giữa giáo dân và chính quyền 10
1.5 Xem thêm 10
1.6 Chú thích 11
1.7 Liên kết ngoài 12
2 Negev 13 2.1 Địa lý 13
2.2 Khí hậu 14
2.3 Lịch sử 14
2.3.1 Du mục 14
2.3.2 Kinh thánh 14
2.3.3 Nabataeans 14
2.3.4 Byzantine và La Mã 14
2.3.5 Người Bedouin: dân cư và lịch sử từ năm 1000 sau công nguyên đến năm 1948 14
2.3.6 Người Bedouin ở Israel 1948-nay 15
2.4 Negev hiện tại 16
i
Trang 32.4.1 Các vấn đề môi trường hiện tại 16
2.4.2 Năng lượng mặt trời 17
2.5 am khảo 17
2.6 Liên kết ngoài 18
2.7 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 19
2.7.1 Văn bản 19
2.7.2 Hình ảnh 19
2.7.3 Giấy phép nội dung 20
Trang 4Chương 1
Công giáo tại Việt Nam
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn
Cộng đồng Công giáo tại Việt Nam là một bộ phận
củaGiáo hội Công giáo Rôma,[1]dưới sự lãnh đạo tinh
thần củaGiáo hoàngvàGiáo triều Rôma Với khoảng
6,87%,[2] Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ người Công
giáo (trong tổng dân số) xếp thứ năm ở châu Á, sau
Đông Timor,Philippines,LibanvàHàn ốc ời cực
thịnh, Công giáo tại Việt Nam còn được mệnh danh là
“Trưởng nữ Giáo hội bên Viễn Đông”.[3]
Giáo hội Công giáo có mặt tại Việt Nam từthế kỷ 16
khi các nhà truyền giáochâu Âutới giảng đạo Trải
qua nhiều thăng trầm và biến đổilịch sử, cho đến năm
2016, Công giáo tại Việt Nam có hơn 6 triệutín hữu[4]
trong tổng số dân 82 triệu, với 3.100linh mục, 14.400
tu sĩ, 1.249 đạichủng sinhvà 53.800giáo lý viên.[5]Tớinăm 2008, theo thống kê của Giáo hội, số lượng tín hữuCông giáo Việt Nam là hơn 6,18 triệu người, chiếm tỉ lệ7,18% tổng dân số.[6]
1.1 Tên gọi
Trongtiếng Việt, thuật ngữCông giáo được dùng để
dịch chữ καθολικος, catholicus hoặc catholique, với ý
nghĩa đó là "đạo chung, đạo phổ quát” đón nhận mọingười, chứ không riêng cho dân tộc hay quốc gia nào.[7]Các văn kiện tiếng Việt của Giáo hội hoặc Hội đồngGiám mục Việt Nam đều dùng chữ “Công giáo”,BanTôn giáo Chính phủ Việt Namcũng dùng chữ “Cônggiáo”.[8]Tuy nhiên, trong ngữ cảnh không chính thứcthì “Công giáo” cũng được gọi là “iên Chúa giáo” hay
"đạo iên Chúa”
1.2 Lịch sử
1.2.1 Thời kỳ khai sinh (1533 - 1659)
Những tiếp xúc ban đầu
Cuốithế kỷ 16, đầuthế kỷ 17,Việt Nambắt đầu giaothương với các nước phương Tây như Bồ Đào Nha,
Anh,Phápvà cảNhật Bảnởchâu Áđể trao đổi hànghóa và vũ khíquân sự ời gian này, Công giáo cũngphát động cuộc truyền giáo quy mô lớn đi đến khắp nơitrênthế giới, trong đó có miềnViễn ĐôngÁ châu.Bấy giờ là thời kỳ hoàng kim của 2 cường quốc thựcdânBồ Đào NhavàTây Ban Nha Đều là những quốcgia Công giáo kỳ cựu, cả hai nước cạnh tranh nhauquyết liệt trong địa hạt kinh tế và khai thác thuộc địa.Các mâu thuẫn lớn đến mức, cả hai nước phải cùngxinGiáo hoànglàm trọng tài giải quyết Do đó,Giáohoàng Alexandre VIđã ban Sắc chỉ “Inter Caetera” ngày
4 tháng 5năm 1493, phân chia theo hướng Đông Tâyquả địa cầu cho hai vương quốc Bồ Đào Nha và TâyBan Nha, theo đó vùng đất bờ phía Tây Phi Châu vàvùng Đông Ấn, bao quát từẤn Độ,Xiêm La,Malacca,
Sumatra,Java,Đại Việt,Trung HoavàNhật Bản, được1
Trang 5đặt dưới chế độ bảo trợ củaBồ Đào Nha Phần lại của
thế giới mới được đặt dưới chế độ bảo trợ củaTây Ban
Nha
Do sự phân chia này, các thừa sai Bồ Đào Nha hay các
quốc tịch khác đều phải tập trung, bị kiểm soát tại hải
cảng Lisbõa để xuống tàu lên đường truyền giáo vùng
Đông Ấn Sử liệu Pháp ghi lại rằng vào năm 1516 có
mộtnhà hàng hải Bồ Đào Nhatên làFernao Perez de
Andradeđã đến tận bờbiển Việt Nam Trong bộKhâm
dưới triềuTự Đứccó nói đến chỉ dụ cấm đạo Công giáo
(khi đó gọi là đạo Gia-tô, phiên âm từ chữGiê-sutrong
tiếng Hán) chú thích như sau:
Các làng trên nay lần lượt thuộc các huyệnTrực Ninh,
Hải HậuvàXuân Trường, tỉnhNam Định Tuy nhiên
những chi tiết liên hệ tới I-nê-khu (có thể là phiên âm
của Inácio trongtiếng Bồ Đào Nha, Ignacio hoặc Íñigo
trongtiếng Tây Ban Nha) ngày nay không còn được
ghi nhớ, và do đó không ai biết rõ về tông tích, cũng
như về công cuộc truyền đạo của vị thừa sai thứ nhất
này Mặc dù vậy, với dấu tích đầu tiên trong tài liệu sử
chính thống, nhiều nhà sử học Công giáo Việt Nam đã
chọn năm 1533 là năm khởi đầu cho đạo Công giáo tại
Việt Nam
eo linh mục Marcos Gispert, O.P., nhà sử họcDòng
Anh Em uyết Giáođã sống tại Việt Nam 34 năm, sau
Inekhu còn một số nhà truyền giáo khác như:
• Linh mục Gaspar da Cruz, thuộc Tỉnh Dòng ánh
Giá Đông Ấn, vào năm1550từ Malacca đổ bộ lên
Hà Tiên, và sau đó từ cửa biểnBà Rịađiảng
Đông
• Hai linh mục Lopez và Acevedo: năm1558đã tới
giảng vùngCao Miêntrong 10 năm
• Hai linh mục Luis de Fonseca, O.P (Bồ Đào Nha)
và Grégoire de la Moe, O.P (Pháp) cũng từ
Malaccatới, suốt 6 năm đi truyền giáo tạiảng
Namtrong thời ChúaNguyễn Hoàng(1580-1586)
Để thuận lợi hơn trong vấn đề truyền giáo, ngày 3
tháng 11năm 1534,Giáo hoàng Phaolô IIIban Sắc chỉ
“Aequum Reputamus” thiết lập Giáo phận Goa khởi từ
mũi Hảo Vọng (Nam Phi) đến Nhật Bản, bao gồm quốc
gia Đại Việt Ngày4 tháng 2 năm 1557, Giáo hoàng
Phaolô IVký Sắc chỉ “Pro Exellenti Praeminentia” thiết
lập Giáo phận Malacca, bao gồm lãnh thổ Indonesia,
Malaysia, Xiêm, Cam Bốt, Chàm, Đại Việt, Trung Hoa
và Nhật Bản Năm 1558, giáo sĩ Jorge da Santa Lucia,
Dòng Đa Minh Bồ Đào Nha, được phong Giám mục
tiên khởi Giáo phận Malacca Đến ngày 23 tháng
1 năm 1576, Giáo hoàng Grêgôriô XIII ban Sắc chỉ
“Super Specula Militantis Ecclesiae”, thành lập Giáo
phận Macao, tách ra từ Giáo phận Malacca, gồm lãnh
thổ Trung Hoa, Đại Việt và Nhật Bản.[9]
Mặc dù cả hai giáo phận Malacca và Macao đều thuộc
“quyền bảo trợ" của Bồ Đào Nha, tuy nhiên đã có rất
nhiều nhà truyền giáo thuộc nhiều dòng tu và hội thừasai khác đã đến Việt Nam Năm 1596 thầy dòng người
Tây Ban Nhatên là Don Diego d’Averteđã đặt chânđếnHuế, nhưng bị đuổi đi ngay Năm 1614 những nhàtruyền giáo dòng Tên theo chân cácthương nhânngười
Bồ Đào NhatừMacao, qua phía namTrung Hoa, để đến
Việt Nam Các bề trên Dòng Tên còn thành lập hẳnmột tổ chức truyền giáo tại Đàng Trong (la Mission deCochinchine) năm 1615
Các cộng đoàn sơ khai
Những nỗ lực truyền giáo đầu tiên thực tế chỉ là những
sự dọ dẫm, chuẩn bị cho giai đoạn khai phá chính thức.Giai đoạn này kéo dài từ năm 1615-1665 với các vị thừasaiDòng Tên, cùng thời điểm, lãnh thổ Việt Nam bị
chia cắt thành hai miền Nam Bắc, lấysông Gianhlàmranh giới Phía Nam gọi là Đàng Trong, do các chúaNguyễn cai quản Phía Bắc gọi làĐàng Ngoàidovua
Lê,chúa Trịnhnắm quyền
Các linh mục Dòng Tên theo chân Phanxicô Xaviê
truyền giáo tại Nhật Bản năm 1549, bị Nhật hoàng
Daifusama (?) trục xuất khỏi đất Phù Tang năm
1614,[10] đã tập trung tạiMacao (được xem như mộtđầu cầu thành lập từ năm1564) Từ kinh nghiệm truyềngiáo ở Trung ốc và Nhật Bản, các thừa sai rất quantâm đến việc học ngôn ngữ, phong tục Việt và giảngđạo bằngtiếng Việt Các linh mục Dòng Tên ở lại ViệtNam cho tới năm1788 Vắng bóng đi trong một thờigian 169 năm (1788-1957)
Ngày15 tháng 1năm 1615, linh mục Francesco Buzomi,Diego Carvalho và các trợ sĩ đến Cửa Hàn, Đà Nẵng.Tiếp theo là Francisco de Pina, Cristoforo Borri, nhất
là khiAlexandre de Rhodes (Đắc Lộ) đến Cửa Bạng,
anh Hóa(1629) Vì nhu cầu học hỏingôn ngữ Việt
(lúc đó còn dùngchữ Hán vàchữ Nôm) để giao tiếpvớingười Việtmà các giáo sĩ bắt đầu ghi lại bằng cáchphiên âm tiếng Việt dưới dạng chữ La tinh Các giáo sĩ
đã có gắng tổ chức giáo hội bằng cách tập trung khắpnơi từng nhóm thanh thiếu niên và cả người đã đứngtuổi thiện chí, sống đời độc thân và cùng với các linhmục trong giáo xứ hay là trong các nơi xa xôi hẻo lánh
để chia sẻ việc truyền đạo, nhất là chuyện dạy giáo lýcho dân chúng và cũng giúp nâng cao đời sống xã hộicủa người dân
Chữ ốc ngữ ban đầu chưa được công nhận và chỉdùng như chữ phiên âm cách phát âm, và phải cạnhtranh vớichữ Nôm, vốn có một chỗ đứng nhất địnhtrongvăn hóa Việt Nam Kho tàng văn chương Hán-Nôm Công giáo cũng rất lớn, tuy nhiều giáo sĩ chỉ cóthể nói tiếng Việt (qua cách học chữ ốc ngữ phiênâm) mà không thể viết chữ Nôm Chỉ riêng giáo sĩGirolamo Majorica, trong khoảng 1632-1656, đã viết 45tác phẩm lớn nhỏ bằng chữ Nôm, nổi tiếng nhất là cuốn
Các ánh Truyện viết năm 1646 Nhiều tác phẩm bị hư
hỏng và mất mát do thời gian, chiến tranh và bách hại
Trang 61.2 LỊCH SỬ 3
tôn giáo
Việc truyền đạo được vua chúa Việt Nam cho phép
trong một số nơi với nhiều hạn chế của các quan lại địa
phương, nên các tín đồ gặp nhiều khó khăn trong việc
giữ đạo, có nơi phải bị giết chết như trường hợp thầy
giảngAnrê Phú Yênởảng Namngày26 tháng 7năm
1644 Ngày3 tháng 7năm1645, linh mụcAlexandre
de Rhodesrời Việt Nam vềRomađể báo cáo choTòa
ánhvề những tiến triển mau chóng trong việc truyền
đạo tại Việt Nam, nhất là xin gửi một sốGiám mục
đến truyền giáo tại Việt Nam, nơi mà ông gọi là “cánh
đồng truyền giáo phì nhiêu” để củng cố nền móng cho
Giáo hội tại nước này Ông được Tòa ánh cho phép đi
khắp nướcPhápđi tìm kiếm những linh mục sẵn sàng
xung phong và tiếp tục công việc đã khởi sự với nhiều
thành quả may mắn Tại đây mới cóHội ừa sai Paris
(Missions Étrangères de Paris), ra đời năm1658và được
chấp nhận năm1664dưới thời Giáo hoàng Alexanđê
VII
1.2.2 Thời kỳ hình thành (1659 - 1802)
Một gia đình Công giáo sùng đạo ở Miền Nam Việt Nam (1970),
với 3 người con làm linh mục, 3 người con làm nữ tu.
Ngày 9 tháng 9năm1659, Giáo hoàng Alexanđê VII
qua Sắc chỉ Super Cathedram quyết định thiết lập ở Việt
Nam haigiáo phậntách ra từ giáo phận Macao, và chọn
hai người thừa sai thuộc Hội ừa sai Paris làm Đại diện
Tông Tòa Giáo phận Đàng Trong từ sông Gianh trở
vào Nam, gồm cả phần đấtChiêm ành,Chân Lạpdo
Giám mụcPierre Lambert de la Moecai quản Giáo
phận Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra Bắc, bao gồm
cảLàovà 5 tỉnh miền Nam Trung ốc do Giám mục
François Pallucai quản
Năm1669, Lambert tớiPhố Hiến(Hưng Yên) và đầu
năm1670, ông truyền chứclinh mụccho 7 thầy, chủ toạ
công đồng đầu tiên ở Phố Hiến, lậpDòng Mến ánh
Giátại Kiên Lao (Bùi Chu) và Bái Vàng (Hà Tây)
Hội ừa sai Paris có công lớn với giáo hội Việt Nam
bằng cách:
• Đã triệu tập Hội nghị Mục vụ đầu tiên: ngày14
tháng 2năm1670tại Đình Hiến tỉnhNam Định,
Giám mục Lambert de la Moe đã quy định thểchế nhà Đức Chúa Trời (giáo hội), và thành lập
Dòng Mến ánh Giá, các chị em nữ tu là nhữngcộng tác viên rất đắc lực của hàng giáo phẩm trongviệc truyền đạo bên cạnh giáo dân, nhất là trongcác vùng thôn quê
• Đã xây dựngĐại chủng việnPenang (1870) để đàotạo các linh mục bản xứ châu Á và Việt Nam: cácthánh linh mục tử đạo miền Nam đều xuất thân từđây; và suốt ba thế kỷ đã gắn bó với giáo hội địaphương cho tới sáng ngày12 tháng 8năm1975,ngày mà các vị thừa sai ngoại quốc sau cùng đượclệnh ra khỏi Việt Nam
eo lời mời của Giám mục Phanxicô Pallu vì nhữngđòi hỏi rất khẩn trương tại Việt Nam, số tín hữu tântòng tiếp tục gia tăng, linh mục giám tỉnhDòng Anh
Em uyết Giáolà Felipe Pardo, O.P., từManilađã pháihai linh mục Juan de Santa Cruz và Juan Arjona đi lốiTrung Linh (Bùi Chu) lên Phố Hiến (Hưng Yên) ngày7tháng 7năm1676 Nhưng sự bất hoà giữa các thừa saiDòng Tên và các Giám mục thuộc Hội ừa sai Paris,cùng với các sắc chỉ cấm đạo của vua chúa Việt Namkhi ấy khiến các vị thừa sai đã đi tìm một giải pháp mới,
mà người ta cho rằng, đã tạo cơ hội người Pháp có điềukiện can thiệp và xâm chiếm Việt Nam bằng vũ lực saunày
Năm1679,Giáo hoàng Innôcentê XIlại chia giáo phậnĐàng Ngoài thành hai giáo phận: Tây Đàng Ngoài (từ
sông Hồngtới ranh giớiAi Lao) trao cho Hội ừa saiParis dưới quyền quản nhiệm của Giám mục Bourges,
và Đông Đàng Ngoài (từ tả ngạn sông Hồng chạy rabiển), ban đầu cũng do Giám mục Deydier của Hội ừasai Paris phụ trách nhưng năm1693, Giám mục Deydierqua đời, Giám mục De Bourges xin Tòa ánh trao giáophận này choDòng Đa Minh, vì từ20 tháng 8năm1679
tất cả số nhân sự của dòng đó đã tập trung về đây.Đồng thời, linh mục Tổng quyền Dòng Anh Em uyếtGiáo sát nhập các cơ sở truyền giáo của Hội Dòng tạimiền Bắc hồi đó vào Tỉnh dòng Đức Mẹ Mân Côi tại
Philippines Từ Nhà Tổng quyền S Sabina (tại Roma)cha Raimondo Lezoli, O.P., đượcánh bộ Truyền giáo
đề cử sang tiếp tay với linh mục Juan de Santa Cruz (lúc
đó đang ở Trung Linh), về sau Tòa ánh yêu cầu ôngchính thức lãnh trách nhiệm tất cả miền Đông Ngày2tháng 2năm1702, tại Kẻ Sặt linh mục Raimondo Lezoliđược thụ phong Giám mục tiên khởi của Dòng Đa Minhtại miền Bắc Nền móng vững chắc Đa Minh đã đượcxây dựng tại Việt Nam, và một trong những hạt giốngDòng uyết Giáo đã gieo sâu trong lòng dân tộc bản
xứ, sự tôn sùng tràng hạt Đức Mẹ Mân Côi vẫn còn tồntại cho tới ngày nay
Giám mục Pigneau de Béhaine, quen gọi làBá Đa Lộc,Đại diện Tông tòa Đàng Trong (1771-1799), đã hết lònggiúp đỡNguyễn Phúc Ánh, khi ông đang bị khốn đốnbởi cuộc vây hãm của quân Tây Sơn Giám mục này đã
Trang 7đưa hoàng tửNguyễn Phúc Cảnh(lúc bấy giờ mới lên
4 tuổi) sang Pháp và vận động người Pháp giúp đỡ tàu
chiến, vũ khí để Nguyễn Phúc Ánh chống Tây Sơn và
chúa Trịnh
Tâm định của các vị thừa sai và của Giám mục Bá Đa
Lộc là muốn cho người Công giáo Việt Nam được an
thân giữ đạo và đạo Chúa được mở rộng Ông đã nuôi
dạyHoàng tử Cảnhở dinh Tân Xá Sau khi ở Pháp về
năm 1789, hoàng tử Cảnh không chịu làm lễ bái trước
bàn thờ chư vị tiên đế khiếnGia Longrất bực tức Bá
Đa Lộc cũng đã khuyên hoàng tử Cảnh phải tôn trọng
tục lệ thờ kính ông bà và lễ bái trước bàn thờ chư vị
tiên đế.[11]Đây cũng là một trong những nguyên nhân
sâu xa khiến vua Gia Long không chọn hoàng tôn Đán
mà lại chọn người con thứ là hoàng tử Đảm sau này
Bá Đa Lộc chết ngày9 tháng 10 năm1799 và hoàng
tử Cảnh chết năm1801làm dập tắt hi vọng của người
Công giáo Việt Nam về một thời kì tự do truyền đạo
1.2.3 Thời kỳ thử thách (1802 - 1885)
Tranh vẽ thời Nguyễn cảnh xử tử giáo sĩ Pháp Jean-Charles
Cornay
Năm1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là
Gia Long, triều đại đầu tiên củanhà Nguyễnđóng đô ở
Phú Xuân,Huế Nhớ ơnGiám mục Bá Đa Lộc, Gia Long
cho phép tự do truyền bá đạo Công giáo Nhà vua có
thiện cảm với đạo nhưng không muốn theo đạo vì thấy
luật lệ đạo quá nghiêm khắc đối với tục đa thê và việc
thờ cúng tổ tiên Ông nói: "Đạo iên Chúa rất hợp với
đạo lý nhưng quá nghiêm khắc với tục đa thê Đối với
ta, không thể chỉ lấy một vợ, mặc dù ta thấy là trị cảnước còn dễ dàng và ít mệt mỏi hơn là giữ cho gia đình
ta được yên ấm”.[12]Sau này, người Công giáo bắt đầugặp nhiều cuộc cấm đạo kể từ triều vuaMinh Mạng.Đặc biệt làPhong trào Văn ânvới khẩu hiệu “BìnhTây sát Tả" vào những năm 1867-1868, 1873-1874 và1883-1885
Năm1844, Giáo hoàng Grêgôriô XVIchia giáo phậnĐàng Trong thành hai giáo phận mới: Tây Đàng Trong(trung tâm làSài Gòn) gồmsáu tỉnh Nam KỳvàCaoMiêndo Giám mục Dominique Leèbvre Ngãi cai quản,Đông Đàng Trong (trung tâm lày Nhơn) do Giámmục E.T Cuénot ể cai quản
Năm1846, giáo phận Tây Đàng Ngoài được chia làmhai: Tây Đàng Ngoài (trung tâm làHà Nội) doa Giámmục P.A Retord Liêu cai quản và Nam Đàng Ngoài(trung tâm là Vinh) do Giám mục Gauthier Hậu caiquản
Năm1848, giáo phận Đông Đàng Ngoài lại chia thànhĐông Đàng Ngoài (trung tâm làHải Phòng) và TrungĐàng Ngoài (trung tâm làBùi Chu) Cũng trong nămnày, Tự Đức lên ngôi vua và ra dụ cấm đạo,[13]cũng vì
sự cấm đạo tàn nhẫn này dẫn tới thực dân Pháp có cớxâm chiếm Việt Nam.[13] Một trong những tuyên cáocủa Tự Đức có ghi:
Ba năm sau đó, năm 1851, sự khoan dung này dành chocác linh mục bản xứ đột nhiên bị bãi bỏ Từ đó dụ cấmđạo càng khắt khe hơn trước.[13] Từ đó về sau: “hoặc
là họ [người Công giáo] phải chà đạp lên thánh giá, nếu không sẽ chém làm hai ở ngang lưng.” (trảm yêu) Trong
năm đó và năm kế tiếp, bốn vịgiáo sĩtruyền đạongườiPhápđã bị chém đầu và thi thể bị ném trôi sông hay rabiển Báo chí Công giáo tại Pháp kêu la trong sự kinhhoàng, và sự khích động đã thu nhận được một cảmtình nơi Hoàng Hậu Pháp Eugenie, nhất là khi trong sốcác nạn nhân sau này có tên một vịtu sĩ Tây Ban Nha
mà khi còn là thiếu nữ, hoàng hậu này có quen biết tại
Andalusia.Năm1850, Tòa ánh lại chia địa phận Tây Đàng Trongthành hai: Tây Đàng Trong (các tỉnh Biên Hòa, GiaĐịnh,Định Tường,Vĩnh Long) do Giám mục Leèbvrecai quản vàNam Vang(phần đất các tỉnh phía nam HậuGiang của Việt Nam và cả nước Cao Miên) do Giám mụcJ.C Miche Mịch cai quản Giáo phận Đông Đàng Trongcũng chia thành hai: Bắc Đàng Trong là Huế (gồm Huế,
ảng Bình,ảng Trị,ừa iên) do Giám mục F.M.Pellerin Phan cai quản và Đông Đàng Trong gồm cáctỉnh từảng Nam vào đếnBình uậnvà các tỉnhTây Nguyên do Giám mục Cuénot ể cai quản.Năm1856, chiến thuyềnCatinatvào cửa Đà Nẵng rồicho người đem thư lên trách triều đình Việt Nam vềviệc giết giáo sĩCông giáo Không được trả lời, quânPháp bắn phá các đồn lũy rồi bỏ đi Có Giám mụcPellerin trốn được lên tàu, về Pháp thuật lại cho triềuđìnhPhápcảnh tượng các giáo sĩ Công giáo bị đàn áp
Trang 81.2 LỊCH SỬ 5
dã man ở Việt Nam Pellerin nói rằng chỉ cần có loạn là
các tín đồ Công giáo sẽ nổi lên đánh giúp Cùng sự tác
động của Hoàng hậu Pháp Eugénie, một người rất sùng
đạo, Hoàng đế PhápNapoléon III(1808 - 1873) quyết ý
đánh Việt Nam.[14]
Vào năm 1883, Tòa ánh lại tách giáo phận Đông
Đàng Ngoài thành: Đông (Hải Phòng) và Bắc (gồm các
tỉnh ở phía Bắc nhưBắc Ninh,Bắc Giang,Bắc Kạn,Cao
Bằng,Lạng Sơn) do Giám mục Colomer Lễ cai quản
Như vậy, các giáo phận lúc này gồm: ở Đàng Trong
là Tây Đàng Trong (Sài Gòn), Đông Đàng Trong (y
Nhơn), Bắc Đàng Trong (Huế), Nam Vang (Cần ơ)
Ở Đàng Ngoài là Tây Đàng Ngoài (Hà Nội), Nam Đàng
Ngoài (Vinh), Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng), Trung
Đàng Ngoài (Bùi Chu) và Bắc Đàng Ngoài (Bắc Ninh)
1.2.4 Thời kỳ phát triển (1885 - 1975)
Thời kỳ 1885-1945
Khi triều đình Huế kýHiệp ước Giáp ân 1884 với
Pháp, công nhận sự bảo hộ của Pháp thì Công giáo
Việt Nam lúc đó mới thật sự được tự do, công khai hoạt
động Giáo dân tăng nhanh, cơ sở tôn giáo như: nhà
thờ, tu viện, tòa giám mục, trường học, viện dưỡng lão,
viện cô nhi… được xây dựng khắp nơi Các giáo phận
được chia nhỏ lại Miền Bắc gồm các giáo phận: Hà Nội,
Phát Diệm, Hưng Hoá, Vinh, Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc
Ninh và mộtPhủ doãn Tông Tòalà Lạng Sơn Miền
Nam gồm các giáo phận: Sài Gòn, y Nhơn, Huế, và
một phần của giáo phận Nam Vang Tổng cộng là 12
giáo phận Năm1925, Tòa ánh lập Tòa khâm sứ ở
Đông Dương, đặt tại Phủ Cam (Huế) Ngày 10 tháng 01
năm 1933,Giáo hoàng Piô XIra sắc lệnh bổ nhiệm linh
mụcGioan Baotixita Nguyễn Bá Tònglàm Giám mục
hiệu tòa Sozopoli, giữ chức Giám mục phó với quyền
kế vịgiáo phận Phát Diệm Ông là vị Giám mục người
Việt Nam đầu tiên
Thời kỳ 1945-1954
Thời kỳ 1954-1975
Từ 1954-1975, Việt Nam chia thành hai miền: miền Bắc
với chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và miền
Nam với chính thểViệt Nam Cộng hòa
eoHiệp định Genève, 1954, người Việt Nam ở Bắc
hay Namvĩ tuyến 17sẽ được phép di chuyển qua đường
phân ranh tạm thời trong thời hạn 300 ngày Trong số
những người rời miền Bắc, có số liệu nói là gồm 700.000
là người Công giáo, 619 linh mục và 5 giám mục (bỏ lại
chừng 375 linh mục, 4 Giám mục Việt Nam và 2 Giám
mục ngoại quốc ở miền Bắc).[15]Cuộc di cư 1954 nàyđã
thay đổi một cách triệt để tỷ lệ người Công giáo ở miền
Bắc và miền Nam Trước đó, người Công giáo chiếm
khoảng 10% dân số ở miền Bắc và chỉ chiếm 5% dân
số ở miền Nam; sau năm 1954, các con số này đã đảongược Hệ quả là Giáo hội Công giáo ở Miền Bắc bị xáotrộn còn Công giáo ở Miền Nam bị thay đổi cấu trúc.Lúc này, giáo phận Cần ơ được thành lập, tách ra từgiáo phận Nam Vang; giáo phận Nha Trang được thànhlập, tách ra từ giáo phận y Nhơn
Năm1957, giáo hội Việt Nam (Miền Nam) yêu cầu cáclinh mục Dòng Tên trở lại Ngày13 tháng 9năm1958
những linh mục dòng Tên nhận trách nhiệm điều khiển
Giáo hoàng Học viện Piô X Đà Lạt, đồng thời khuếchtrương nhiều hoạt động khác nhau trong lãnh vực vănhóa xã hội ở Miền Nam Việt Nam Đặc biệt, họ lập ra
cả kênhTruyền hình Đắc Lộvới mục tiêu giáo dục chonhân dân, thay vì truyền giáo
Ngày 24 tháng 11 năm 1960, qua Tông Hiến
Venerabilium Nostrorum,Giáo hoàng Gioan XXIIIthiếtlập Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam, tức là hệthống giáo sĩ lãnh đạo Giáo hội tại Việt Nam được giaochongười Việt, với 3 giáo tỉnh là Hà Nội, Huế và SàiGòn Ngày 22 tháng 8 năm 1961, ánh địaLa Vang
được tôn phong làVương cung thánh đường Một nămsau, ngày 13 tháng 11 năm 1962,Nhà thờ Đức Bà SàiGòncũng được Tòa ánh tôn phong lên hàng Vươngcung thánh đường
Các giám mục Việt Nam cũng đi dự Công đồng Vatican
II, các nghị phụ gồm có: Tống giám mục chính tòa
Tổng giáo phận Sài Gòn Phaolô Nguyễn Văn Bình,Tổng giám mục chính tòaTổng giáo phận Huế PhêrôMáctinô Ngô Đình ục, Giám mụcPhilípphê NguyễnKim Điền (Giáo phận Cần ơ), Giám mục MicaeNguyễn Khắc Ngữ(Giáo phận Long Xuyên), Giám mụcchính tòaGiáo phận Mỹ o Giuse Trần Văn iện,Giám mụcĐa Minh Hoàng Văn Đoàn(sau đó là GiámmụcGiáo phận i Nhơn), Giám mụcGiáo phận ĐàNẵng Phêrô Maria Phạm Ngọc Chivà hai giám mụcchính tòa ngoại quốc ở Việt Nam là Giám mụcPaulSeitz Kim(Giáo phận Kon Tum) vàMarcel Piquet Lợi
(Giáo phận Nha Trang).[16]
Ngày 18 tháng 3 năm 1967, tức 291 năm sau 1967), linh mục Aniceto Fernandez - bề trên TổngquyềnDòng Anh Em uyết Giáotuyên bố là đã tớithời điểm tách dòng ở Việt Nam ra khỏi sự phụ thuộcdòng ở Philippines, để thành lập Tỉnh dòng Anh Em
(1676-uyết Giáo riêng với danh hiệu Tỉnh dòng Nữ vươngCác ánh Tử đạo Việt Nam
Miền Bắc Saucuộc di cư 1954, sốlinh mụccòn lại tạimiền Bắc chừng 28%, giáo dân chừng 60%, có những
giáo phận như ái Bình, Bùi Chu, Bắc Ninh, PhátDiệm,Hải Phòng… số người Công giáo di cư vào miềnNam khá đông.[17] Các hoạt động chủ yếu của ngườiCông giáo miền Bắc là giữ đạo thay vì truyền giáo bởi
vì thiếu người lãnh đạo, cộng với chính sách kiềm chếtôn giáo, đặc biệt là đạo Công giáo của chính quyền
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tất cả các chủng viện,trường học và hầu hết các tu viện Công giáo đều bị nhà
Trang 9nước tịch thu Một số linh mục và chức sắc của xứ đạo
bị bắt, đi tù trong chính sáchcải cách ruộng đất
(1955-1956) Ngoại trừDòng Chúa Cứu ếvà Dòng ánh
Phaolô còn lại ở miền Bắc, các dòng tu khác đều rút
lui vào miền Nam.[18]Vì nhu cầu cần có thêm linh mục
nên nhiều Giám mục đã phải truyền chức "chui" (lén
chính quyền) cho một số người làm linh mục
Miền Nam Suốt nềnĐệ Nhất Cộng hòa Việt Nam,
Tổng thốngNgô Đình Diệm- một người Công giáo
sùng đạo - đã có những chính sách tạo điều kiện cho
Giáo hội Công giáo dấn thân phục vụ xã hội cách rộng
rãi Năm1959, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã đặt Việt
Nam Cộng hòa dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ Maria
áng 5 năm1963xảy rabiến cố Phật giáokhiến sau đó
chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ và anh em ôngbị
ám sátvào ngày2 tháng 11cùng năm Dù vậy, những
năm sau đó, Công giáo tại miền Nam Việt Nam vẫn có
những bước phát triển Cuối năm 1959, Tòa ánh cho
thành lậpTòa Khâm sứmới tại miền Nam Việt Nam,
đặt tại thủ đôSài Gòn Ngày23 tháng 4năm 1975, Giám
mụcPhanxicô Xaviê Nguyễn Văn uậncủaGiáo phận
Nha Trangđược Tòa ánh bổ nhiệm làm Tổng Giám
mục hiệu tòa Vadesi, Tổng Giám mục phó củaTổng
giáo phận Sài Gònvới quyền kế vị Ông là cháu ruột
của cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm
1.2.5 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay
Chính phủCộng hòa Miền Nam Việt Nam(Chính phủ
Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam) kiểm soát
được miền nam Việt Nam từ sauSự kiện 30 tháng 4 năm
1975 Những ngày sau đó xảy ra sự bất ổn tại Tổng giáo
phận Sài Gòn và Tòa khâm sứ Sài Gòn Ngày27 tháng 6
năm1975, tạiDinh Độc Lập, Ủy ban ân quản ành
phố Sài Gòn - Gia Định công bố quyết định không
cho Tổng giám mục phó Nguyễn Văn uận được hoạt
động mục vụ tại Sài Gòn vì họ cho rằng việc bổ nhiệm
này là một âm mưu chính trị, sau đó, họ yêu cầu ông
trở về lại giáo phận Nha Trang như trước đây Ngày 19
tháng 12 năm 1975, chính quyền yêu cầuKhâm sứ Tòa
ánhHenri Lemaitre phải rời khỏi Việt Nam Kể từ
đó, giữa chính quyền Việt Nam với Tòa ánh không
còn kênh liên hệ chính thức nào
Ngày 19 tháng 6 năm 1988,Giáo hoàng Gioan Phaolô II
đã chính thứcphong thánhcho117 vị tu sĩ và giáo dân
Công giáo Việt Nam Khi được tin về việc phong thánh,
chính quyền Việt Nam lên tiếng phản đối và cho rằng
đây là lý do chính trị vì trong số những người sẽ được
phong thánh, có nhiều người là “tay sai của đế quốc,
lót đường cho thực dânPhápđô hộViệt Nam" từ năm
1884 Tuy nhiên, theo quan điểm của phía Công giáo
thì họ là những tín hữu đã chết vì lý do tín ngưỡng, họ
bị hành quyết bởi bản án do chính tay vua, hay đại diện
triều đình thời đó ký nhận Không có bằng chứng nào
cho thấy bản án này có liên quan đến chính trị, ngượclại, chỉ trưng ra lý do duy nhất: các giám mục, linh mụctrong số bị kết án vì họ là đạo trưởng (giáo sĩ), các giáodân bị kết án vì họ không chịu bỏ đạo Công giáo, khôngchịu bước qua câythập giá Nói cách khác, lý do đượccông khai tuyên bố có tính cách hoàn toàn tôn giáo.[19]
Hà Nội nhận định, việc phong thánh này sẽ làm chomối liên lạc giữa chính quyền và Giáo hội Công giáotại Việt Nam, cũng như mối quan hệ giữaViệt Nam
vàVaticanthêm căng thẳng Đài phát thanh Việt Namđọc lệnh củaChính phủ, cấm người Công giáo cử hành
lễ phong thánh này Các giám mục lẫn giáo dân tạiViệt Nam cũng không được chính quyền cho phép sang
Giuse Maria Trịnh Văn Cănlên chức hồng y vào ngày
2 tháng 5năm1979 Sau khi nhận chức, ông tiếp xúcvới chính quyền và ban Tôn giáo Trung ương để vậnđộng thành lậpHội đồng Giám mục Việt Nam(thốngnhất) Từ24 tháng 4đến1 tháng 5năm1980, có 33 Giámmục trong cả nước về Hà Nội dự Đại hội các Giám mụcViệt Nam, quyết định thành lậpHội đồng Giám mụcViệt Nam(thống nhất), khẳng định đường hướng mục
vụ cho giáo hội tại Việt Nam "Sống Phúc Âm giữa lòng
Trang 101.3 CÁC ĐÓNG GÓP CỦA CÔNG GIÁO CHO VIỆT NAM 7
dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào".[20]Hồng
yTrịnh Văn Căn, với tư cách là chức sắc cao cấp nhất
của Giáo hội tại Việt Nam, khi ấy trở thành chủ tịch ủy
ban thường vụHội đồng Giám mục Việt Nam
Năm 1990, sau cái chết của Hồng y - Tổng giám mục
Hà Nội Trịnh Văn Căn, Tòa ánh bổ nhiệm Giám mục
chính tòaGiáo phận Bắc Ninh Phaolô Giuse Phạm Đình
Tụnglàm Tổng giám mục Giám quản tiên khởi Tổng
giáo phận Hà Nội, kiêm chức Giám đốc Đại Chủng viện
ánh Giuse Hà Nội Bốn năm sau đó, năm 1994, Giám
mục Tụng chính thức được bổ nhiệm là Tổng giám mục
chính tòa Hà Nội và chỉ sáu tháng sau, Giáo hoàng
Gioan Phaolô II chọn ông làm hồng y
Năm 2001 và 2003,Giáo hoàng Gioan Phaolô IIlần lượt
phong tướcHồng ychoTổng giám mục Nguyễn Văn
uận- Nguyên Tổng giám mục phó Tổng giáo phận
ành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch ánh bộ Công lý
và Hòa Bình của Vatican, và Tổng giám mục Tổng giáo
phận ành phố Hồ Chí Minh lúc đó làGioan Baotixita
Phạm Minh Mẫn
Ngày 4 tháng 1 năm 2015,Giáo hoàng Phanxicôthăng
Hồng y cho Tổng giám mục Hà NộiPhêrô Nguyễn Văn
Nhơn, ông là vị Hồng y thứ sáu của Công giáo tại Việt
Nam
Tính đến hết tháng 4 năm 2015, Việt Nam có 3 Tổng
giáo phận Hà Nội, Huế, Sài Gòn và 23 giáo phận Có cả
thảy trên một trăm vị được tấn phonggiám mục, trong
đó có 6 vị nhận tướcHồng y
Tổ chức chia địa giới
Hiện nay, Giáo hội Công giáo tại Việt Nam được chia
Trong thời gian sắp tới, theo kế hoạch thì sẽ có thêm 3
giáo phận mới gồm Lào Cai (giáo tỉnh Hà Nội),[21]Hà
Tĩnh (giáo tỉnh Hà Nội) và Pleiku (giáo tỉnh Huế).[22],
đồng thời chuyển Giáo phận Vinh về Giáo tỉnh Huế
Đứng đầu mỗi tổng giáo phận hay giáo phận là một vị
Tổng giám mục hay Giám mục chính tòa do Tòa ánh
bổ nhiệm, với sự đồng thuận của Chính phủ Việt Nam
Trong trường hợp một tổng giáo phận hay giáo phận
bị trống tòa, Tòa ánh sẽ bổ nhiệm một Giám mục
làm Giám quản Tông Tòa hoặc linh mục đoàn của giáo
phận ấy bầu ra một vị linh mục giám quản
Hội đồng Giám mục Việt Namlà tổ chức, cơ cấu duynhất của các vị Giám mục tại Việt Nam, với mục đíchhội nghị, và đưa ra đường hướng chung cho cả Giáo hộitại Việt Nam
Nhân dịp kỷ niệm 350 năm thành lập hai giáo phậntông toà Đàng Ngoài, Đàng Trong và 50 năm thành lậphàng giáo phẩm Việt Nam, năm thánh 2010 của riênggiáo đoàn Việt Nam đã diễn ra với sự chấp thuận củaTòa thánh Năm thánh 2010 khai mạc vào tối 23 tháng
11 năm 2009 tại Sở Kiện và bế mạc vào ngày 6 tháng 1năm 2011 tại La Vang.[23]
Công giáo Việt Nam hải ngoại
Trong dòng ngườithuyền nhân rời Việt Namcó đôngđảo người Công giáo Ngày nay, với hơn nửa triệu người
ở rải rác khắp nơi trên thế giới, Cộng đồng Công giáoViệt Nam ở hải ngoại có nhiều hình thức sinh hoạt khácnhau Có nơi thì họ tạo thành giáo xứ Việt Nam do mộtlinh mục Việt Nam làm quản xứ (quản nhiệm, tuyênuý); có nơi thì lập giáo đoàn Việt Nam trong một giáo
xứ địa phương do linh mục Việt Nam làm cha phó phụtrách với tính cách quản nhiệm (Hoa Kỳ) hay tuyên uý(Úc); có nơi chỉ là một cộng đoàn nhỏ bé, chưa có ngườiphụ trách, thỉnh thoảng mới tụ họp nhau dâng thánh lễbằng tiếng Việt Đặc biệt,Dòng Đồng Côngđã tổ chức
Ngày ánh Mẫuhằng năm, và được coi là một trongnhững dịp quy tụ người Việt lớn nhất hải ngoại
1.3 Các đóng góp của Công giáo cho Việt Nam
Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, người Công giáo ViệtNam còn đóng vai trò quan trọng: là lực lượng xã hộiđầu tiên nối với văn minh phương Tây từ nửa cuối thế
kỷ XIX, từNam kỳrồi lan ra cả nước Nhiều xứ họ đạobỗng nhiên trở thành một đơn vị hạt nhân cho việchiệnđại hóacả về kinh tế, kỹ thuật và quan hệ xã hội.[24]
1.3.1 Chữ quốc ngữ
Khi truyền đạo cho người Việt Nam, khó khăn đầu tiên
mà các giáo sĩ vấp phải là sự khác biệt về ngôn ngữ vàvăn tự; các giáo sĩ có thể họctiếng Việtđược, nhưnghọcchữ Nômthì quá khó Bởi vậy họ đã dùng bộ chữcái Latinh quen thuộc có bổ sung thêm các dấu phụ (màmột số ngôn ngữ phương Tây như chữ Bồ Đào Nha đãtừng làm) để ghi âm tiếng Việt – thứ chữ này về sauđược gọi là chữ ốc ngữ.Chữ ốc ngữlà thành quảcông sức tập thể của các giáo sĩ Công giáo người BồĐào Nha, Ý, Pháp… và những người Việt đã từng giúp
họ học tiếng Việt
Năm 1632 Gaspar d’Amaral đã soạn cuốn từ điển Bồ
- Việt Song công lao lớn nhất trong việc củng cố và
Trang 11phát triển thứ chữ này thuộc về linh mục Alexandre de
Rhodes, người đã dày công sưu tập, bổ sung biên soạn
và năm 1651 đã cho xuất bản ở Rôma cuốn từ điển Việt
– Bồ - La tinh với ngữ pháp tiếng An Nam Tuy mục
đích ban đầu của việc soạn chữ ốc ngữ chỉ là giúp
các giáo sĩ truyền đạo, rồi sau được chính quyền Pháp
sử dụng phục vụ cho việc cai trị, nhưng nếu so với chữ
Hán và chữ Nôm nó có ưu điểm lớn là rất dễ học.[25]
Chữ ốc ngữ có khả năng biểu thị chính xác bất kỳ
âm thanh nào của tiếng Việt, cấu tạo lại đơn giản, dễ
học, dễ nhớ, người Việt chỉ cần học ba tháng là đã có
thể sử dụng được chữ ốc ngữ.[26] Do đó, chữ ốc
ngữ ra đời đã kết thúc thời kỳ kéo dài sự cách biệt giữa
tiếng Việt và chữ viết Đây là lý do quan trọng nhất
khiến cho chữ ốc ngữ ngày càng được phổ biến và
sử dụng rộng rãi và có vai trò to lớn trong sự phát triển
văn hoá Việt Nam các thời kỳ sau này
1.3.2 Kỹ thuật in ấn và báo chí
Cùng với việc truyền bá đạo Công giáo, các giáo sĩ đã
du nhập vào Việt Nam rất nhiều thành tựu của kỹ thuật
hiện đại phương Tây Trong đó, một ngành công nghệ
có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của
văn hoá Việt Nam được các giáo sĩ ừa sai đưa vào
nước này khá sớm: đó là ngànhin ấn Sự du nhập công
nghệ in hiện đại đã góp phần làm thay đổi diện mạo
văn hoá Việt Nam bản địa những năm đầu thế kỷ XIX,
đặc biệt trên lĩnh vựcbáo chí.[26]Trước khi kỹ thuật in
chữ rời được các ừa sai Công giáo du nhập, ở Việt
Nam phổ biến là kỹ thuật in ván khắc ời Giám mục
Retord (1840 – 1858), một nhà in được lập ở Vĩnh Trị
năm 1855 do ừa sai eurel trông nom, chủ yếu là in
các sách giáo lý bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Latinh
và chữ ốc ngữ Nhà in này vừa áp dụng công nghệ
in khắc gỗ để in chữ Hán, chữ Nôm đồng thời kết hợp
với in chữ rời để in chữ Latinh và chữ ốc ngữ Công
nghệ in chữ rời có thể được coi là công nghệ in tiên tiến
nhất ở Việt Nam lúc bấy giờ Vào những năm 60 của
thế kỷ XIX, một xưởng in khác nữa cũng được thành
lập ở giáo phận Đông Nam Kỳ, in các sách chữ Hán,
chữ Nôm, chữ Latinh và chữ ốc ngữ
Có thể thấy, mặc dù các xưởng in đó lúc đầu chỉ phục
vụ cho Giáo hội, nhưng điều quan trọng là sự du nhập
kỹ thuật in tiên tiến của phương Tây vào Việt Nam đã
là tiền đề vật chất quan trọng cho sự phát triển của
văn hoá bản địa sau này, mà trước hết là sự phát triển
của báo chí – một lĩnh vực của văn hoá được du nhập từ
phương Tây vào nước ta ế kỷ XX chứng kiến sự phát
triển rầm rộ của báo chí Việt Nam, điều đó là do sự phát
triển của công nghệ in và việc phổ cập chữ ốc ngữ
Trong buổi đầu phát triển của nền báo chí Việt Nam,
sự đóng góp của báo chí Công giáo là không nhỏ Tờ
báo Công giáo đầu tiên là tờ Nam Kỳ địa phận ra ngày
26 tháng 11 năm1908ở Sài Gòn Tiếp đến là các tờ:
ánh thể (1919) (ở địa phận Phát Diệm – Ninh Bình),
ánh giáo tuần báo Bắc Kỳ (1920 – 1923), Trung Hoà
nhật báo ở Hà Nội (1924 – 1943), Công giáo Tiến hành
(1936 – 1938), Công giáo Đồng inh (1927 – 1937)…
Ngay từ khi ra đời, báo chí Công giáo đã sớm tiếp cậnđược cách trình bày, minh hoạ, cập nhật thông tin củabáo chí phương Tây Việc sử dụng chữ ốc ngữ củabáo chí Công giáo góp phần phát triển tiếng Việt Hơnnữa, báo chí Công giáo còn là kho tư liệu về lịch sử tôngiáo, về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Namthời cận đại.[26]
cuốn Kỷ hà nguyên bản của nhà toán họcEuclide, đồngthời ông cũng giảng giải cho Trịnh Tráng nghe Năm
1626, Giáo sĩ Badinoti (người Ý) cũng được vời về phủchúa ởăng Longđể giảng vềthiên văn học,địa lývà
toán học Các giáo sĩ khác như Da Coxta, Langerloi đãmang vàoĐàng Trongphương pháp chữa bệnh theo lối
Tây ynên được chúa cho mở nhà thương (bệnh viện).Tại ăng Long - Kẻ Chợ, khi giáo sĩ Đắc Lộ truyềngiáo đến đây cũng đã thiết lập một nhà thương chữabệnh cho người nghèo ở Cầu Dền Đây là những cơ
sở từ thiện và chữa bệnh theo lối Tây y sớm nhất ởViệt Nam.[27] Một số giáo sĩ cũng phổ biến kỹ thuậtdệt vải mịn và khổ rộng bằng khung dệt mang từ nướcngoài vào để sản xuất tạiDòng Mến ánh GiáDi Loan(ảng Trị) và sản phẩm đã được trưng bày tại Hộichợ Triển lãm Paris năm1867 Người ta cũng ghi nhậnchính các giáo sĩ đã đưa giống cừu vào Phan Rang đểnuôi và linh mục Henry cũng là người đầu tiên đưa câyphi lao về trồng ở xứ Hà Úc (Huế)
1.4 Quan hệ giữa Giáo hội và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
1.4.1 Quan hệ giữa Tòa thánh và chính
quyền
an hệ Tòa ánh và chính quyền Việt Nam bắt đầuđược nối lại bằng những cuộc tiếp xúc trực tiếp từ năm
1990, sau khi Việt Nam bước vào giai đoạn mở cửa Năm
1994, Campuchia và Tòa ánh thiết lập quan hệ ngoại