1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mô hình các cơ sở giáo dục đại học việt nam

9 363 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 782,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục đại học bao gồm các hình thức giáo dục diễn ra ở các cơ sở học tập bậc sau trung học, cuối khóa học thường được trao văn bằng học thuật hoặc cấp chứng chỉ.. Ngoài ra, học hộ, th

Trang 1

Mô hình các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam

Một góc khuôn viên Viện Đại học Princeton ở tiểu bang New

Jersey , Hoa Kỳ , một trong những cơ sở giáo dục đại học danh

tiếng thế giới.

Giáo dục đại học hay giáo dục bậc cao (tiếng Anh:

higher education)[1]là giai đoạn giáo dục thường diễn

ra ở cáctrường đại học,viện đại học,đại học,trường

cao đẳng, học viện, vàviện công nghệ Giáo dục đại

học nói chung bao gồm các bậc sau trung học như cao

đẳng, đại học, và sau đại học,[2] và gồm cả một số cơ

sở giáo dục bậc đại học hay cao đẳng như các trường

huấn nghệ và trường kinh doanh có trao văn bằng học

thuật hay cấp chứng chỉ chuyên nghiệp

yền tiếp cận giáo dục đại học được nói đến trong một

sốvăn kiện nhân quyền quốc tế Điều 13 củaCông ước

ốc tế về các yền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa(1966)

củaLiên Hiệp ốccho rằng “giáo dục đại học phải

được phổ cập bình đẳng cho mọi người bằng những

phương cách thích hợp, tùy thuộc vào khả năng, và đặc

biệt phải tiến dần đến miễn phí.” Điều 2 củaCông ước

châu Âu về Nhân quyền(1950) quy định các nước ký

tên phải bảo đảm quyền giáo dục

Bài này chưa nói đến hoạt động nghiên cứu và học tập

bậc cao trong cáctôn giáo và trong các cơ sở do tôn

giáo điều hành nhưtu viện, thiền viện,chủng viện, và

trường Phật học Bài viết cũng không đề cập đến những

hoạt động giáo dục sau trung học không thuộc phạm

vi giáo dục đại học mô tả ở trên Về những hoạt động

học tập bậc cao thời cổ đại, xem bàiCác cơ sở học tập

bậc cao thời cổ đại

Giáo dục đại học bao gồm các hình thức giáo dục diễn

ra ở các cơ sở học tập bậc sau trung học, cuối khóa

học thường được trao văn bằng học thuật hoặc cấp

chứng chỉ Các cơ sở giáo dục đại học không chỉ bao

gồm các trường đại họcvà viện đại họcmà còn các

trường chuyên nghiệp, trường sư phạm, trường cao đẳng, trường đại học công lập và tư thục hệ hai năm,

và viện kỹ thuật Điều kiện nhập học căn bản đối với hầu hết các cơ sở giáo dục đại học là phải hoàn thành

giáo dục trung học, và tuổi nhập học thông thường là khoảng 18 tuổi.[3]

Giáo dục đại học bao gồm các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, thực tập (như trong các trườngy khoavà

nha khoa), và phụng sự xã hội của các cơ sở giáo dục đại học Các hình thức giáo dục đại học bao gồm: giáo dục tổng quát (general education), thường bao gồm đáng kể những yếu tố lý thuyết và trừu tượng cùng với những khía cạnh ứng dụng; giáo dục chú trọng đến các ngành

khai phóng(liberal arts education), bao gồm các ngành

nhân văn, khoa học,nghệ thuật; giáo dục mang tính huấn nghệ (vocational education), kết hợp cả việc giảng dạy lý thuyết lẫn những kỹ năng thực hành; giáo dục chuyên nghiệp (professional education), như trong các ngànhkiến trúc,kinh doanh,luật, y khoa, v.v…

Ở nhiều quốc gia phát triển, có tới 50 phần trăm dân số theo học trong các cơ sở giáo dục đại học Giáo dục đại học do đó rất quan trọng đối với kinh tế quốc gia, với

tư cách là một ngành kinh tế và là nơi giáo dục và đào tạo nhân lực cho phần còn lại của nền kinh tế Những người theo học đại học thường kiếm được mức lương cao hơn và ít có khả năng bị thất nghiệp hơn so với những người có học vấn thấp hơn.[4][5]

2 Giáo dục đại học tại Việt Nam

Một tòa nhà của Viện Đại học Huế (nay là Đại học Huế ), ở số

3 đường Lê Lợi, Huế

1

Trang 2

2 3 MÔ HÌNH CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM

Các chính thể độc lập ở Việt Nam từ thế kỷ 20 nói chung

đều nhấn mạnh đến công tác giáo dục và quyền được

giáo dục của người dân, mặc dù triết lý giáo dục, mục

tiêu giáo dục, và cách tổ chức thực hiện có khác nhau

Điều này thể hiện trong các tuyên bố của chính phủ

Trần Trọng KimthờiĐế quốc Việt Nam,[6]và trong các

bản hiến pháp củaViệt Nam Dân chủ Cộng hòa(1946

và 1959),Việt Nam Cộng hòa(1956 và 1967), vàCộng

hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam(1980 và 1992) Riêng

Hiến phápViệt Nam Cộng hòa còn nói rõ “nền giáo dục

đại học được tự trị.”[7]

Năm1975, sauchiến tranh, tất cả các cơ sở giáo dục đại

học tư thục từng hoạt động ở miền Nam dưới chính thể

Việt Nam Cộng hòa bị giải thể, các cơ sở giáo dục đại

học công lập bị giải thể hoặc bị chia ra hay sắp xếp lại

theo mô hình phân tán ngành học củaLiên Xô; quyền

tự trị đại học bị bãi bỏ.[8]Giáo dục Việt Nam dưới các

chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, gồm cả giáo dục đại học,

bị chính trị hóa,[9][10] và hoàn toàn nằm dưới sự quản

lý của nhà nước vàĐảng Cộng sản Việt Nam Điều 36

Hiến phápCộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1992)

quy định “nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo

dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế

hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và

hệ thống văn bằng.”[11]

Giáo dục đại học Việt Nam ởmiền Bắctrước 1975 và ở

cả nước sau 1975 tuân theo mô hìnhbao cấpgiống như

ở các nướcxã hội chủ nghĩakhác Hàng năm nhà nước

phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh cho các cơ sở giáo dục đại

học, căn cứ vào tính toán nhu cầu của các cơ quan và

các địa phương Căn cứ vào chỉ tiêu đó, ngân sách được

phân bổ cho các bộ chủ quản, rồi các bộ rót tiền xuống

cho các cơ sở giáo dục do mình quản lý Sinh viên ra

trường được nhà nước phân công công việc Tình hình

thay đổi kể từ năm1987, khi những lĩnh vực trước đây

thuộc khu vực công bắt đầu do “các thành phần kinh

tế" khác đảm trách;biên chếkhông còn nhu cầu và sinh

viên ra trường không có việc làm vì không còn được

phân công về các cơ quan nhà nước Điều này đã dẫn

đến việc các cơ sở giáo dục đại học có nguy cơ tan rã,

do “sinh viên không muốn học, thầy cô không muốn

dạy”.[9]

Mùa hè năm 1987, Bộ Đại học và Trung học Chuyên

nghiệp triệu tập cáchiệu trưởng và bí thư Đảng ủy các

trường đại học về dự một hội nghị ởNha Trang Hội

nghị đã thảo luận kế hoạch cải cách bao gồm bốn tiền

đề đào tạo: Đào tạo không chỉ cho các cơ quan nhà nước

mà còn cho cả các thành phần kinh tế; đào tạo theo dự

báo về yêu cầu nhân lực trong tương lai; đào tạo phục

vụ nhu cầu học tập của người dân, không kèm trách

nhiệm phân công, sinh viên tự tìm việc làm; đào tạo

đa dạng, có cả những loại hình đào tạo phi chính quy,

không chỉ bằng ngân sách nhà nước mà còn thu học

phí Cũng trong thời kỳ này, chính quyền Cộng hòa Xã

hội Chủ nghĩa Việt Nam bắt đầu sửa đổi chính sách

phân loại“13 hạng thanh niên” trong tuyển sinh.[9]

Giáo dục đại học Việt Nam trải qua chuyển biến lớn vào đầu thập niên1990với sự ra đời của loại hình cơ

sở giáo dục đại học được gọi là "đại học”,[12]gấn giống

mô hìnhviện đại họchay university; mỗi "đại học” được

thành lập trên cơ sở sáp nhập một sốtrường đại họcđơn ngành đơn lĩnh vực Ngày 18 tháng 6 năm2012, ốc hội lần đầu tiên thông qua Luật Giáo dục Đại học, đưa

ra “quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ

sở giáo dục đại học, hoạt động đào tạo, hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, giảng viên, người học, tài chính, tài sản của cơ sở giáo dục đại học và quản lý nhà nước về giáo dục đại học.”[13]

2.1 Tình trạng giáo dục hiện thời

eo TS Phạm ị Ly (ĐH ốc gia TP.HCM), mặc dù

tỉ lệ sinh viên vào ĐH còn thấp, đậu cử nhân ra trường vẫn thất nghiệp Tuy nhiên, mặc dù nhiều cử nhân thất nghiệp, các doanh nghiệp vẫn thiếu người Điều này cho thấy đang có một khoảng cách khá xa giữa những

gì các trường đang dạy và những gì xã hội thật sự cần

Cử nhân thất nghiệp do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến chất lượng đào tạo có vấn đề, và do một nguyên nhân sâu xa hơn: chính sách sử dụng người tài Việc số người vào đại học tuy ít (so với các nước khu vực, Số liệu thống kê tại VN cho thấy chỉ có khoảng 24% thanh niên từ 18 - 24 tuổi được tiếp cận giáo dục

ĐH, trong khi con số này ở những nước như ái Lan, Malaysia là 50 - 60%.) mà lại còn giảm là do việc có những người học hành không ra gì vẫn có cương vị cao trong xã hội đã phá hủy hết động lực học tập của người trẻ Ngoài ra, học hộ, thi thuê, bằng giả, cũng là những thứ đã phá tan giá trị của tấm bằng đại học.[14]

3 Mô hình các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam

Các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam có các tên gọi:

trường đại học, trường đại học bách khoa, trường đại học tổng hợp,trường đại học cộng đồng,viện đại học, viện đại học bách khoa,đại học, đại học quốc gia,học viện,nhạc viện,trường cao đẳng,trường cao đẳng cộng đồng, v.v… Trong ngôn ngữ hàng ngày, “trường đại học” và “viện đại học” thường được gọi ngắn gọn hay thân mật là "đại học”, mặc dù "đại học” là một loại hình

cơ sở riêng biệt; về những nghĩa khác của "đại học”, xemĐại học (định hướng)

3.1 Trường đại học

Trường đại học(từ tương tự trongtiếng Anh: college;

có khi còn được dịch ra tiếng Anh là university) là một

Trang 3

3.2 Viện đại học 3

Lễ khai giảng, 15 tháng 11 năm 1945 , ở Trường Đại học Quốc

gia Việt Nam, cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của Việt Nam Dân

chủ Cộng hòa

loại hình cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam Hầu hết

các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ

nghĩa Việt Nam có tên là trường đại học và theo mô

hình phân mảnh ngành học và phân mảnh cơ sở giáo

dục củaLiên Xô, tức là mỗi trường đại học tập trung

vào một chuyên ngành hay một nhóm chuyên ngành

riêng; ví dụ:Trường Đại học Kinh tế ốc dân,Trường

Đại học Xây dựng,Trường Đại học ủy lợi… Trong

trường đại học thường có các khoa; trong khoa có các

bộ môn.

Trường đại học có khi là một đơn vị thành viên trong

mộtviện đại học, ví dụ Trường Đại học Văn khoa thuộc

Viện Đại học Sài Gòn, hay trong một đại học, ví dụ

Trường Đại học Kinh tế thuộcĐại học Đà Nẵng

Trường đại học tổng hợp (từ tương tự trong tiếng Anh:

college hoặc university) là loại hình cơ sở giáo dục đại

học của Việt Nam dưới hai chính thể Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Các

trường loại này gồm có Trường Đại học Tổng hợp Hà

Nội (nay thuộcĐại học ốc gia Hà Nội), Trường Đại

học Tổng hợp Huế (nay thuộcĐại học Huế), và Trường

Đại học Tổng hợp ành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc

Đại học ốc gia ành phố Hồ Chí Minh) Các trường

đại học tổng hợp này chỉ tập trung vào các ngànhnhân

vănvàkhoa họccơ bản

Trường đại học bách khoa (từ tương tự trong tiếng Anh:

polytechnic), có khi còn gọi là trường đại học kỹ thuật,

là loại hình cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam dưới

hai chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Các trường loại này gồm

cóTrường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học

Bách khoa Đà Nẵng (nay thuộcĐại học Đà Nẵng), và

Trường Đại học Bách khoa ành phố Hồ Chí Minh

(nay thuộcĐại học ốc gia ành phố Hồ Chí Minh)

Các trường đại học bách khoa này chỉ tập trung vào các

ngànhkỹ thuậtvàcông nghệ

Trường đại học cộng đồng(từ tương tự trong tiếng Anh:

community college) là cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và

đa ngành được thành lập ở Việt Nam dưới chính thể

Việt Nam Cộng hòa Sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa,

xã hội, và kinh tế.[8]Khởi điểm của mô hình trường đại học cộng đồng ở Việt Nam là một nghiên cứu của ông

Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm1969mà các kết quả sau

đó được đưa vào luận án tiến sĩ trình ởViện Đại học Nam Californianăm1970.[15]Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập năm1971ởĐịnh Tường, sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.[8]

3.2 Viện đại học

Mặt tiền tòa nhà hành chánh Viện Đại học Sài Gòn , cơ sở giáo dục đại học lớn nhất miền Nam Việt Nam thời Việt Nam Cộng hòa

Viện đại học(từ tương tự trong tiếng Anh: university)

là một loại hình cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam Hầu hết các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa có tên là viện đại học theo mô

hình university củaHoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó

làhệ thống đào tạo theo tín chỉ; ví dụ:Viện Đại học Huế,Viện Đại học Đà Lạt,Viện Đại học Vạn Hạnh Mỗi viện đại học bao gồm nhiềuphân khoa đại học(tiếng

Anh: faculty; thường gọi tắt là phân khoa) hoặc trường

haytrường đại học (school hay college) Trong mỗi phân khoa hay trường có các ngành; mỗi ngành tương ứng với một ban (tương đương với đơn vị khoa hiện nay).[8] Giáo dục Việt Nam thời Liên bang Đông Dương có một cơ sở giáo dục theo mô hình viện đại học làViện Đại học Đông Dương(Université Indochinoise);[16]sau

1945đổi tên thànhViện Đại học Hà Nội(Université de

Hà Nội) Ở Việt Nam hiện có một cơ sở giáo dục có tên bắt đầu bằng cụm từ viện đại học làViện Đại học Mở Hà Nội Mô hình viện đại học không giống như mô hình

Trang 4

4 4 GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở MỘT SỐ QUỐC GIA

trường đại học tổng hợp vì các trường đại học tổng hợp

chỉ tập trung vào các ngành nhân văn và khoa học cơ

bản

Viện đại học bách khoa (từ tương tự trong tiếng Anh:

polytechnic university) là một cơ sở giáo dục đại học

đa ngành và đa lĩnh vực tương tự như mô hình viện

đại học, nhưng chú trọng đến các ngành thực tiễn Vào

năm1973,Viện Đại học Bách khoa ủ Đứcđược thành

lập dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa, dựa theo mô

hình polytechnic university ởCalifornia,Hoa Kỳ.[8]Đây

là viện đại học bách khoa duy nhất từng tồn tại ở Việt

Nam Trong thời gian đầu,Viện Đại học Bách khoa ủ

Đứccó các trường đại học chuyên về nông nghiệp, kỹ

thuật, giáo dục kỹ thuật, khoa học tự nhiên và nhân

văn, kinh tế và quản trị, và thiết kế đô thị; ngoài ra

còn cótrường sau đại học Các cơ sở giáo dục đều gom

chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi

trường gợi hứng cho tri thức suy luận, với một cảnh

trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý

hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi

phí.[8] Mô hình viện đại học bách khoa không giống

như mô hình trường đại học bách khoa vì các trường

đại học bách khoa chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật

và công nghệ

3.3 Đại học

Đại học(từ tương tự trong tiếng Anh: university) chính

thức có nghĩa là một cơ sở hay cơ cấu giáo dục đại học

vào đầu thập niên1990, khi chính phủ Việt Nam thành

lập các đại học quốc gia và đại học cấp vùng bằng cách

gộp một sốtrường đại họclại với nhau Hiện Việt Nam

có hai đại học quốc gia (Đại học ốc gia Hà NộivàĐại

học ốc gia ành phố Hồ Chí Minh) và ba đại học

cấp vùng (Đại học Huế,Đại học Đà Nẵng, vàĐại học

ái Nguyên) Các "đại học” này có mô hình gần giống

với “viện đại học";[16]mỗi đại học có vàitrường đại học

thành viên, và thường áp dụng một phần hay toàn bộ

hệ thống học theo tín chỉ.[17][18] Tuy vậy, các trường

đại học thành viên này gần như biệt lập với nhau; sinh

viên từ một trường thành viên này thường không học

để lấy tín chỉ từ một trường thành viên khác Có thể

nói là mô hình "đại học” là một sự kết hợp giữa mô

hình phân mảnh ngành học và phân mảnh cơ sở giáo

dục củaLiên Xôvà mô hình viện đại học, và vẫn mang

nặng đặc điểm của mô hình phân mảnh của Liên Xô

Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của ốc hội

Việt Namđưa ra đề nghị gọi tên các đại học cấp quốc

gia và cấp vùng là viện đại học.[19]

3.4 Học viện, Nhạc viện

ờiViệt Nam Cộng hòa, học viện thường là cơ sở giáo

dục đại học có tính chất như là trường chuyên nghiệp

(professional school), ví dụ:Học viện ốc gia Hành

chánh(nơi đào tạo nhân viên hành chánh cao cấp cho

chính phủ Việt Nam Cộng hòa, bậc đại học và sau đại học),Học viện ốc gia Nông nghiệp(năm 1974 trở thành một trường thành viên củaViện Đại học Bách khoa ủ Đức), v.v…

Ở Việt Nam hiện nay, học viện vừa đào tạo đại học, sau đại học vừa nghiên cứu chuyên sâu trong một lĩnh vực, một ngành trọng điểm quốc gia, như:Học viện Chính trị ốc gia Hồ Chí Minh,Học viện ốc phòng,Học viện Hải quân,Học viện Kỹ thuật ân sự,Học viện Tài chính,Học viện Ngân hàng,Học viện Ngoại giao,

Học viện Cảnh sát Nhân dân, Học viện Nông nghiệp Việt Namv.v…

Trong khi đó,nhạc viện(từ tương tự trong tiếng Anh:

conservatory) hayhọc viện âm nhạc(music academy) là

cơ sở đào tạo và nghiên cứu âm nhạc từ trình độ dưới đại học, đại học, vàsau đại học; ví dụ:Nhạc viện ành phố Hồ Chí Minh,Học viện Âm nhạc Huế

3.5 Trường cao đẳng

Các école (tiếng Pháp, có nghĩa là trường) của Université

Indochinoise (Viện Đại học Đông Dương) thường được

gọi là “trường cao đẳng"; ví dụ: École des Beaux-Arts de

l'Indochine là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương,

có khi là Trường Mỹ thuật Đông Dương Một số trường thành viên củaTrung tâm ốc gia Kỹ thuật Phú ọ

thời Việt Nam Cộng hòa cũng được gọi là trường cao đẳng; ví dụ: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, v.v…

Ở Việt Nam hiện nay,trường cao đẳnglà một loại hình

cơ sở giáo dục đại học đào tạo trình độ sau trung học nhưng thấp hơn bậc đại học, gọi là bậc cao đẳng Các trường cao đẳng tuyển những người có bằng trung học phổ thông học tương đương, và có chương trình đào tạo dài khoảng ba năm.[20]Sinh viên học xong cao đẳng

có thể tham gia thi tuyển để được chọn vào học “liên thông” lên bậc đại học ở một sốtrường đại học

4 Giáo dục đại học ở một số quốc gia

4.1 Giáo dục đại học ở Pháp và Đức

Hệ thống giáo dục đại học ở cảPhápvàĐứcnói chung đều nằm dưới sự quản lý của các cơ quan nhà nước Điều kiện nhập học của sinh viên ở hai nước này tương tự nhau Ở Pháp có kỳ thi tú tài(tiếng Pháp:

baccalauréat) ở cuối bậc trung học Giáo dục đại học

ở Pháp miễn phí và dành cho tất cả các sinh viên đậu

kỳ thi này Sau khi đậu tú tài, sinh viên được nhận vào học năm thứ nhất dự bị ở một viện đại học, đến cuối năm thì trải qua một kỳ thi khác khó hơn Nếu vượt

Trang 5

4.2 Giáo dục đại học ở Anh 5

Tòa nhà chính của Viện Đại học Humboldt Berlin ở Berlin, Đức

qua kỳ thi này sinh viên sẽ được phép học trong các

viện đại học thêm ba hay bốn năm cho đến khi nhận

được bằng đại học đầu tiên, ở Pháp gọi là license.[3]

Tuy nhiên có những khác biệt căn bản trong hệ thống

giáo dục giữa hai nước này Các académie (học khu)

của Pháp,[21]nằm dưới sự quản lý của một giám đốc do

chính quyền bổ nhiệm và cũng là người giám sát các cơ

sở giáo dục đại học trong học khu Chương trình học

đồng nhất trên khắp cả nước khiến các viện đại học khó

làm mình khác đi Vì thế mà nhiều sinh viên chọn đến

Paris, nơi có chỗ ăn ở tốt hơn và có cơ hội tiếp xúc với

nhiều hoạt động văn hóa Một khác biệt nữa là Pháp

có các cơ sở giáo dục đại học gọi là grand école, nơi

có chương trình giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp

bậc cao Hầu hết các trường này không thuộc các viện

đại học, mặc dù họ cũng tổ chức các kỳ thi khắt khe

để tuyển những ứng viên đã có bằng tú tài Các grand

école có các chương trình đào tạo trong tất cả các ngành

khoa học ứng dụng và công nghệ, và bằng cấp mà các

cơ sở này trao được đánh giá cao hơn các license thông

thường.[3]

Ở Đức, quốc gia hình thành từ các tiểu quốc hùng mạnh

một thời, các viện đại học cấp vùng có quyền tự trị

trong việc quyết định chương trình học của mình dưới

sự chỉ đạo của các viện trưởng hay hiệu trưởng bầu

chọn từ bên trong viện đại học Sinh viên ở Đức thay

đổi nơi học tùy theo sở thích và thế mạnh của từng cơ

sở giáo dục ực sự sinh viên thường theo học hai, ba,

hay thậm chí là bốn viện đại học khác nhau trong suốt

khóa học bậc đại học của mình, và phần đông các giáo

sư ở một viện đại học giảng dạy ở bốn hay năm cơ sở

khác nữa Mức độ lưu chuyển cao này khiến cho hệ

thống giáo dục đại học Đức khác với hệ thống ở Pháp,

nơi thiếu sự tự do và tính cá thể.[3]

Cả hai nước đều có ảnh hưởng đến giáo dục đại học

ở các nước khác ông qua ảnh hưởng lên các nước

thuộc địa hay thông qua công tác truyền giáo, người

Pháp đã đưa nhiều khía cạnh của hệ thống giáo dục

của họ vào Bắc và Tây Phi, vùng Caribe, và vùng Viễn

Đông Trong thập niên 1870, hệ thống các viện đại học

củaNhật Bản được phát triển dựa theo mô hình của

Pháp Đặc biệt các grand école của Pháp được lấy làm

hình mẫu cho các trường kỹ thuật Giáo dục Đức thì tạo ảnh hưởng thông qua những khái niệm triết học liên quan đến vai trò của các viện đại học Người Đức

đi tiên phong trong việc nhấn mạnh tầm quan trọng của các viện đại học với vai trò là những cơ sở nghiên cứu, và họ cũng tạo ra cảm nhận về các viện đại học như là biểu tượng của tri thức quốc gia.[3]

4.2 Giáo dục đại học ở Anh

Trường Đại học Keble, một trong những trường thành viên của Viện Đại học Oxford ở Anh Quốc

Các cơ sở giáo dục đại học ởAnh ốccó một mức

độ tự trị cao Các viện đại học ở Anh gần như hoàn toàn tự trị đối với chính quyền quốc gia và địa phương trong việc điều hành cũng như trong việc quyết định chương trình học, dù cho các cơ sở này nhận tài trợ gần như hoàn toàn từ nhà nước Điều kiện tuyển sinh

ở các viện đại học Anh khá phức tạp Sinh viên phải lấy được Chứng chỉ Giáo dục Phổ thông (tương tự như bằng tú tài ở Pháp) bằng cách thi đậu các kỳ thi trong nhiều môn học khác nhau Sinh viên thi đậu các kỳ thi này với thứ hạng càng cao thì càng có cơ hội được vào học ở một viện đại học do mình chọn á trình tuyển sinh khắt khe này, cùng với việc hướng dẫn sinh viên chặt chẽ thông qua hệ thống phụ đạo, khiến hầu hết sinh viện bậc đại học ở Anh có thể hoàn thành chương trình trong ba năm, thay vì thông thường là bốn năm Các chương trình đào tạo ở Anh có mức độ chuyên môn hóa cao hơn so với chương trình ở các nướcchâu Âu

lục địa Ảnh hưởng của mô hình giáo dục đại học Anh

có thể tìm thấy ởCanada,Úc,Ấn Độ,Nam Phi,New Zealand, và các cựu thuộc địa khác của Anh ởchâu Phi,

Đông Nam Á, vàái Bình Dương.[3]

4.3 Giáo dục đại học ở Hoa Kỳ

Trang 6

6 5 CHÚ THÍCH

Tháp chuông trong khuôn viên Viện Đại học California-Berkeley

ở Hoa Kỳ

Giáo dục đại họcHoa Kỳkhác vớichâu Âuở một số

khía cạnh Ở Hoa Kỳ, người ta có cảm nhận chung rằng

sinh viên hoàn thànhgiáo dục trung họcnên học ít nhất

hai năm ở đại học Do đó mà rất nhiều các trường đại

học tư thục hệ hai năm và trường đại học cộng đồng

đã được mở ra để cung cấp hai năm giáo dục bậc đại

học, không giống như các trường đại học và viện đại

học truyền thống, nơi đa số sinh viên hoàn thành bốn

năm học để lấy bằng và nơi có nhiều sinh viên tiếp tục

học thêm chương trìnhsau đại họctừ một đến ba năm

ở cáctrường sau đại học Các viện đại học cung cấp các

khóa học bốn năm là các cơ sở tư thục hoặc công lập

phụ thuộc vào sự hỗ trợ tài chính của chính phủ Các

trường và viện đại học tư thục dựa nhiều vào số tiền

học phí thu được từ sinh viên Các chính quyền tiểu

bang tài trợ cho cho các hệ thống viện đại học công lập

quy mô lớn, theo đó bảo đảm cơ hội giáo dục đại học

cho phần lớn dân chúng sẵn lòng và hội đủ điều kiện

về mặt học thuật để theo học.[3]Trong số những người

Mỹ từ 25 tuổi trở lên, 52.6% có đi học đại học, 27.2% có

bằng đại học, và 9.6% có bằng sau đại học.[22]

Ở Hoa Kỳ, bằng cử nhân hệ bốn năm thường có được

không phải bằng cách thi đậu các kỳ thi mà bằng cách

tích lũy các tín chỉ khóa học hay số giờ tham dự lớp

học Chất lượng học tập trong các khóa học này được

đánh giá thông qua bảng điểm Hoàn thành một số các

khóa học khác nhau và đạt điểm đậu thì sẽ được trao

bằng đại học Trong hai năm đầu tiên, sinh viên thường

theo học các khóa học theo quy định trong một loạt các

lĩnh vực khác nhau, cùng với một số khóa học do sinh

viên tự chọn Trong năm thứ ba và thứ tư, sinh viên

tập trung vào một hoặc hai lĩnh vực chuyên môn Sinh

viên sau đại học có thể học cao hơn hay làm nghiên

cứu ở một trong số nhiều trường sau đại học, thường

là những cơ sở có sự chuyên môn hóa cao Ở những

trường sau đại họcnày, sinh viên học để lấy bằng thạc

sĩ (gồm một đến hai năm học sau đại học) hoặc bằng

tiến sĩ (gồm hai đến bốn năm học cùng những yêu cầu

khác nữa).[3]

Hoa Kỳ có nhiều cơ sở giáo dục đại học công lập và

tư thục danh tiếng eo các bảng xếp hạng uy tín,

khoảng 13 đến 15 trường đại học và viện đại học Hoa

Kỳ nằm trong nhóm 20 cơ sở giáo dục đại học đứng đầu thế giới.[23][24]Giáo dục Hoa Kỳ có một đặc điểm đáng chú ý bắt nguồn từ mô hình củaĐứclà việc coi nhẹ các bài giảng và các kỳ thi Ở cả hai quốc gia này, sinh viên được đánh giá thông qua thành tích học tập của họ trong các khóa học riêng lẻ, nơi mà việc viết các bài luận và tham gia thảo luận được xem trọng Mô hình giáo dục đại học Hoa Kỳ được áp dụng triệt để

ởPhilippinesvà đã ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục

Nhật Bản vàĐài Loan sauChiến tranh ế giới thứ hai.[3]

4.4 Giáo dục đại học ở Nga

Giáo dục đại học ởNgađặc trưng bởi sự quản lý trực tiếp của nhà nước và cho đến năm 1990-1991 nằm dưới

sự kiểm soát củaĐảng Cộng sản Liên Xô Các cơ sở giáo dục đại học được chia thành các trường đại học tổng hợp, nơi giảng dạy các ngành nhân văn và khoa học cơ bản; các viện, nơi dạy từng ngành riêng lẻ (ví dụ: luật, y khoa, và nông nghiệp); và các viện bách khoa, nơi có các ngành tương tự như trong các viện nhưng được dạy với một nền tàng khoa học rộng hơn Một điểm khác biệt khác của hệ thống giáo dục đại học Nga

là việc mở rộng đáng kể mạng lưới giáo dục thông qua những khóa học hàm thụ (từ xa) được thiết kế cẩn thận Những khóa học này được hỗ trợ bởi thêm các chương trình phát trên đài phát thanh và đài truyền hình và được tăng cường thông qua các trung tâm học tập cấp vùng Nhiều sinh viên do đó có thể học bán thời gian trong khi làm việc toàn thời gian hay bán thời gian Sinh viên được tuyển vào các cơ sở giáo dục đại học dựa trên cơ sở kết quả các kỳ thi ời gian học để lấy bằng cấp đầu tiên mất chừng bốn đến sáu năm, trong

đó trung bình là năm năm Chương trình học bao gồm các môn bắt buộc, thay thế, và tự chọn Các sinh viên học lấy bằng phải thi hai hay ba môn cơ bản liên quan đến chuyên ngành mà mình chọn Ở cuối khóa học bậc đại học, các sinh viên đều được nhận bằng như nhau, nhưng sinh viên có thành tích xuất sắc nhất thì được bằng ưu Hầu hết các cơ sở giáo dục đại học có các khóa họcsau đại họccho sinh viên theo học Các khóa học này thường kết thúc bằng một loạt các kỳ thi.[3]

5 Chú thích

[1] Về cách dịch cụm từ higher education, xem, chẳng hạn: Frank H T Rhodes, Tạo dựng tương lai: Vai trò của các viện đại học Hoa Kỳ, Hoàng Kháng, Tô Diệu Lan, và Lê

Lưu Diệu Đức dịch, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, TP

Hồ Chí Minh, 2009, tr 18

[2] “Đại học” Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2013

Trang 7

[3] “Higher education” Encyclopedia Britannica Truy cập

ngày 19 tháng 11 năm 2013

[4] Michael Simkovic,Risk-Based Student Loans(2013)

[5] OECD, Education at a Glance (2011)

[6] “Lịch sử độc lập và nội các đầu tiên Việt Nam”(PDF)

Việt Đông xuất bản cục 1945 Truy cập ngày 20 tháng

11 năm 2013

[7] “Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967” Wikisource

[8] Nguyễn anh Liêm, Giáo dục ở miền Nam tự do trước

1975 (Education in South Vietnam before 1975), Lê Văn

Duyệt Foundation, California, 2006

[9] Huy Đức, Bên thắng cuộc Cuốn II yền bính

(OsinBook, 2012), tr.47-56

[10] Bức điện Ban Giáo dục Chuyên nghiệp tỉnhNghĩa Bình

gởi báoanh Niênvào mùa hè năm 1987, nhân vụ ông

Nguyễn Mạnh Huy thi đậu đại học nhưng không được

học vì “cha chết trận”, có đoạn: “Về việc tuyền sinh vào

các trường đại học, trong tổng kết năm 1986, Giáo sư,

ứ trưởng Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp

Mai Hữu Khuê đã nói: Công tác tuyển sinh khẳng định

là phải mang tính chất giai cấp Ở bất cứ chế độ xã hội

nào đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công

nhân kỹ thuật, đội ngũ đó phải trung thành với chế độ

và phục vụ một cách có hiệu quả cho chế độ đó.” eo

Huy Đức, sách đã dẫn, tr 48-49

[11] Điều 41, Hiến pháp Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt

Nam 1980 cũng quy định: “Sự nghiệp giáo dục do Nhà

nước thống nhất quản lý Nhà nước chăm lo phát triển

cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầm non, giáo dục

phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học;

phát triển các trường dạy nghề, trường vừa học vừa làm,

hệ thống học tại chức; hoàn thành thanh toán nạn mù

chữ, tăng cường công tác bổ túc văn hoá, không ngừng

nâng cao trình độ văn hoá và nghề nghiệp của toàn dân

Đoàn anh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, gia đình và xã

hội cùng với nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh

niên, thiếu niên và nhi đồng.”

[12] Lâm ang iệp.“Hệ thống giáo dục sau trung học

Việt Nam và vấn đề phân tầng” Trung tâm Đào tạo và

Phát triển Nguồn Nhân lực,Đại học ốc gia Tp Hồ

Chí Minh Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2013 Loại

hình university (viện đại học – đại học): Để khắc phục

thiếu sót của hệ thống giáo dục đại học trong thời kỳ

kinh tế kế hoạch hóa tập trung, vào năm 1993 một loạt

trường đại học đa lĩnh vực (thường được gọi là university

ở Mỹ và nhiều nước) đã được thành lập trên cơ sở sáp

nhập một sốtrường đại họcđơn ngành đơn lĩnh vực

Đây là một loại hình trường đại học mới, chưa có ở nước

ta trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tuy rằng

đã tồn tại ở nước ta dướithời Pháp thuộcvào thập niên

1940, cũng như ởMiền Namtrước năm 1975, và đã được

gọi là viện đại học (Viện Đại học Đông Dương,Viện Đại

học Sài Gòn, v.v…) Để đặt tên cho loại hình trường đại

học mới, các văn bản nhà nước lúc đó không sử dụng

thuật ngữ viện đại học đã có trong lịch sử mà đưa vào

một thuật ngữ mới là "đại học”

[13] “Luật Giáo dục Đại học” Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

[14] Đại học cần được cấu trúc lại, tuoitre, 22/09/2015

[15] Do, Khe Ba (1970) e Community Junior College Concept: A Study of Its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam Los Angeles, California:

University of Southern California

[16] Lâm ang iệp (2004), Về xu hướng hội nhập giáo dục đại học trên thế giới và những đổi mới của giáo dục đại học Việt Nam Trích từ Kỷ yếu Hội thảo "Đổi mới giáo

dục đại học Việt Nam, Hội nhập và ách thức”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 3/2004

[17] “Cơ cấu tổ chức của Đại học ốc gia Hà Nội” Đại học

ốc gia Hà Nội Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2013 [18] “Cơ cấu tổ chức của Đại học ốc gia ành phố Hồ Chí Minh” Đại học ốc gia ành phố Hồ Chí Minh Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2013

[19] “Báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận ở tổ của đại biểu quốc hội về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 28 tháng 10 năm 2009 (mục 8)” Báo Giáo dục ời đại Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2013

[20] “Cao đẳng” Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2013

[21] Académie (học khu) là một đơn vị quản lý hành chánh

của Bộ ốc gia Giáo dục và Bộ Giáo dục Đại học và Nghiên cứu.Pháphiện có 26 học khu Đứng đầu mỗi

học khu là một recteur d'académie (giám đốc học khu)

được bầu ra trong số các giáo sư đại học và đượctổng thốngbổ nhiệm

[22] “Educational Aainment in the United States: 2003”

(PDF) U.S Census Bureau Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2006

[23] “QS World University Rankings” Topuniversities Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2011

[24] “Top 200 – e Times Higher Education World University Rankings 2010–2011” Timeshighereducation.co.uk Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2011

6 Đọc thêm

• Rhodes, Frank H T (2009) Tạo dựng tương lai: Vai trò của các viện đại học Hoa Kỳ Hoàng Kháng, Tô Diệu Lan, và Lê Lưu Diệu Đức dịch TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn Nguyên

tác: Rhodes, Frank H T (2001) e Creation of the

Future: e Role of the American University Ithaca:

Cornell University Press.ISBN 0-8014-3937-X

• Ngô Bảo Châu, Piere Dariulat, Cao Huy uần,

Hoàng Tụy, Nguyễn Xuân Xanh, và Phạm Xuân Yêm chủ biên (2011).Kỷ yếu Đại học Humboldt 200 năm (1810-2010): Kinh nghiệm thế giới & Việt Nam

Hà Nội: Nhà xuất bản Tri ức

Trang 8

8 7 LIÊN KẾT NGOÀI

• Kennedy, Donald (2012) Nghĩa vụ học thuật

Hoàng Kháng, Tô Diệu Lan, và Cao Lê anh Hải

dịch Hà Nội: Nhà xuất bản Tri ức Nguyên

tác: Kennedy, Donald (1997) Academic Duty.

Cambridge: Harvard University Press ISBN

0-674-00222-9

• Do, Khe Ba (1995).“e Difficult Path Toward an

Integrated University and Community College

System in Vietnam” (PDF) khiemdo.net In

trong: Yee, Albert H (ed.), East Asia Higher

Education: Traditions and Transformations

(Oxford: Pergamon, 1995), tr 135-154

• Do, Khe Ba (1970) e Community Junior

College Concept: A Study of Its Relevance to

Postwar Reconstruction in Vietnam Los Angeles,

California: University of Southern California

Luận án Tiến sĩ

• Douglass, John A and Todd Greenspan, eds.“e

History of the California Master Plan for Higher

Education” University of California, Berkeley

• Green, Madeleine, F., ed 1988 Leaders for a New

Era: Strategies for Higher Education New York:

Macmillan

• Hồ Tú Bảo và các cộng sự (2006).“Sử dụng trí thức

Việt kiều để xây dựng giáo dục đại học chất lượng

cao tại Việt Nam: Một đề án” ời đại mới, số 9,

tháng 11/2006

• Nguyễn iện Tống (2013).“Việt Nam cần hướng

đến mô hình viện đại học đa lĩnh vực” Giáo dục

Việt Nam, ngày 14/09/2013.

e Origin of Universities(Nguồn gốc các viện đại

học) Bản liệt kê của GS Jerome Bump ởViện Đại

học Texas-Austin

Giáo dục đại học Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt

Nam

Giáo dục các nước Viện Nghiên cứu Phát triển

Giáo dục Có một số chương sách rút từ cuốn Kỷ

yếu Đại học Humboldt 200 năm.

Ethical Principles in University Teaching Society

for Teaching and Learning in Higher Education,

Canada Bản dịch tiếng Việt: Những nguyên tắc

đạo đức trong giảng dạy đại học, báo Tia Sáng

Tertiary Education(Giáo dục sau trung học) Ngân

hàng ế giới

League of European Research Universities (Liên

đoàn các Viện Đại học Nghiên cứu châu Âu): Các

bài viết về giáo dục đại học, chẳng hạn“What are

Universities for?"(Mục đích của các viện đại học

là gì?)

• ông tin giáo dụcPháp,Vương quốc Anh,Đức,

vàHoa Kỳtrêntrang mạngcủa cơ quan ngoại giao

và văn hóa các nước này tại Việt Nam

Trang 9

8 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh

8.1 Văn bản

• Giáo dục đại học Nguồn:https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c_%C4%91%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc?oldid=

26680305Người đóng góp: Mekong Bluesman, Chobot, Lưu Ly, Vinhtantran, Newone, Dung005, Trungda, Escarbot, JAnDbot, Squall282,

VolkovBot, TXiKiBoT, Synthebot, Vieted, SieBot, TVT-bot, Qbot, MelancholieBot, Luckas-bot, SilvonenBot, ick thi sock, Kemmue, Porcupine, Xqbot, Trần Nguyễn Minh Huy, HalcyonL, Zaahuu, Dinhtuydzao, EmausBot, ZéroBot, Minhthu.151, WikitanvirBot, Mjbmrbot, Movses-bot, Cheers!-bot, Nathanh, MerlIwBot, Hamhochoilatoi, DanGong, Wkpda, Alphama, AlphamaBot, Hugopako, Addbot, itxongkhoiAWB, Alsips, Tuanminh01, TuanminhBot, Én bạc AWB và 15 người vô danh

8.2 Hình ảnh

• Tập_tin:Commons-logo.svg Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/4a/Commons-logo.svgGiấy phép: Public domain Người đóng góp: is version created by Pumbaa, using a proper partial circle and SVG geometry features (Former versions used to be slightly warped.) Nghệ sĩ đầu tiên: SVG version was created byUser:Grunt and cleaned up by 3247 , based on the earlier PNG version, created by Reidab

• Tập_tin:Folder_Hexagonal_Icon.svg Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/48/Folder_Hexagonal_Icon.svg

Giấy phép: CC-BY-SA-3.0 Người đóng góp: Own work based on:Folder.gif Nghệ sĩ đầu tiên: Original:John Cross

Vectorization:Shazz

• Tập_tin:HCMvaVudinhhoe.jpg Nguồn:https://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/e/e9/HCMvaVudinhhoe.jpgGiấy phép: Phạm vi công cộng Người đóng góp: ? Nghệ sĩ đầu tiên: ?

• Tập_tin:Humboldt_Universitaet_Berlin.jpg Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/27/Humboldt_ Universitaet_Berlin.jpgGiấy phép: CC-BY-SA-3.0 Người đóng góp:German WikipediaNghệ sĩ đầu tiên:Mussklprozz

• Tập_tin:Huế_University.jpg Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/72/Hu%E1%BA%BF_University.jpg Giấy phép: CC BY-SA 3.0 Người đóng góp: Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra Nghệ sĩ đầu tiên:Lưu Ly

• Tập_tin:Keble_College_Chapel_-_Oct_2006.jpg Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/b4/Keble_College_ Chapel_-_Oct_2006.jpgGiấy phép: CC BY 2.5 Người đóng góp: Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra Nghệ sĩ đầu tiên:Diliff

• Tập_tin:Nassau_Hall,_Princeton.jpg Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d4/Nassau_Hall%2C_Princeton jpg Giấy phép: CC0 Người đóng góp:http://en.wikipedia.org/wiki/File:Nassau_Hall_Princeton.JPG Nghệ sĩ đầu tiên: Smallbones,

cropped by Inabluemn

• Tập_tin:Saigon_University.JPG Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/72/Saigon_University.JPG Giấy phép: Public domain Người đóng góp: e-gioi Tu-do Nghệ sĩ đầu tiên: USIA

• Tập_tin:UCBerkeleyCampus.jpg Nguồn:https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/7f/UCBerkeleyCampus.jpgGiấy phép:

CC BY 2.0 Người đóng góp:FlickrNghệ sĩ đầu tiên:brainchildvn on Flickr

• Tập_tin:Wiktionary_small.svg Nguồn:https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f9/Wiktionary_small.svgGiấy phép: CC BY-SA 3.0 Người đóng góp: ? Nghệ sĩ đầu tiên: ?

8.3 Giấy phép nội dung

Creative Commons Aribution-Share Alike 3.0

Ngày đăng: 21/07/2017, 01:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình phân mảnh ngành học và phân mảnh cơ sở giáo - Mô hình các cơ sở giáo dục đại học việt nam
Hình ph ân mảnh ngành học và phân mảnh cơ sở giáo (Trang 3)
Hình mẫu cho các trường kỹ thuật. Giáo dục Đức thì tạo ảnh hưởng thông qua những khái niệm triết học liên quan đến vai trò của các viện đại học - Mô hình các cơ sở giáo dục đại học việt nam
Hình m ẫu cho các trường kỹ thuật. Giáo dục Đức thì tạo ảnh hưởng thông qua những khái niệm triết học liên quan đến vai trò của các viện đại học (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm