1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Văn hóa hà nội viêt nam

32 317 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy là thủ đô, trung tâm văn hóa của Việt Nam, nhưng một số sự kiện văn hóa tổ chức ở Hà Nội đã xảy ra nhiều sự việc đáng chú ý, điển hình là vụ tàn phá hoa của người Hà Nội tại Lễ hộiho

Trang 1

Văn hóa Hà Nội viêt nam

Trang 2

Mục lục

1.1 Cung văn hóa 1

1.2 Nhà hát 1

1.3 Rạp chiếu phim 1

1.4 ư viện 2

1.5 Viện bảo tàng 2

1.6 Ứng xử 3

1.7 Hà Nội trong văn học, nghệ thuật 4

1.7.1 Âm nhạc 4

1.7.2 Văn học 4

1.7.3 Điện ảnh 5

1.8 am khảo 5

1.9 Liên kết ngoài 5

2 Văn hóa Việt Nam 6 2.1 Đặc trưng cơ bản 7

2.2 Tổ chức xã hội 7

2.3 Văn hóa Việt Nam theo quan điểm dân tộc học 8

2.3.1 Tín ngưỡng 8

2.3.2 Tôn giáo 9

2.3.3 Ngôn ngữ 10

2.4 Tính truyền thống qua phong tục, tập quán 12

2.4.1 Phong tục 12

2.4.2 Ẩm thực 12

2.4.3 Trang phục 13

2.4.4 Lễ hội 14

2.4.5 Võ thuật 16

2.5 Nghệ thuật 17

2.5.1 Văn học 17

2.5.2 Kiến trúc 17

2.5.3 Điện ảnh 20

2.5.4 Mỹ thuật 20

2.5.5 Sân khấu 22

i

Trang 3

ii MỤC LỤC

2.5.6 Âm nhạc 22

2.6 Chú thích 22

2.7 Sách tham khảo 22

2.8 Liên kết ngoài 23

2.9 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 28

2.9.1 Văn bản 28

2.9.2 Hình ảnh 28

2.9.3 Giấy phép nội dung 29

Trang 4

Chương 1

Văn hóa Hà Nội

Hà Nộilà một trong những trung tâmvăn hóalớn nhất ởViệt Nam.[1] Trên địa bàn thành phố tập trung rấtnhiều thư viện, bảo tàng, nhà hát cũng như các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh Các hoạt động biểu diễnnghệ thuật ở Hà Nội cũng diễn ra rất sôi nổi và đa dạng

1.1 Cung văn hóa

Cung văn hóalà nơi vừa tổ chức các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, vừa tổ chức các sinh hoạt văn hóa cho cộngđồng như các lớp học nghệ thuật, các cuộc thi về văn hóa Cung văn hóa lớn nhất của Hà Nội làCung văn hóahữu nghị Hà Nội(hay còn gọi là Cung văn hóa hữu nghị Việt Xô[2]) Ngoài ra Hà Nội còn một số cung văn hóakhác:

Cung văn hóa thiếu nhi(bao gồm cảrạp Khăn quàng đỏ)[3]

Cung văn hóa thanh niênnằm trênphố Tăng Bạt Hổ

1.2 Nhà hát

Nhà hát lớn nhất Hà Nội làNhà hát lớn Hà Nội(thời xưa gọi là Nhà hát Tây[4]), nơi tổ chức các buổi hòa nhạchoặc các buổi biểu diễn lớn Ngoài ra thành phố cũng còn rất nhiều địa điểm biểu diễn nghệ thuật ở Hà Nội:

Nhà hát chèo Trung ương

Nhà hát múa rối Trung ương

Trang 5

2 CHƯƠNG 1 VĂN HÓA HÀ NỘI

ư viện Hà Nội

ư viện Khoa học Kỹ thuật

ư viện Khoa học Xã hội

Viện Bảo tàng Lịch sử ân sự Việt Nam(trước là Viện Bảo tàng ân đội)

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Trang 6

1.6 ỨNG XỬ 3

Bảo tàng lịch sử Việt Nam

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

1.6 Ứng xử

Nhìn chung người Hà Nội thường có tính tự hào về xuất xứ của mình là người Hà Nội Cùng với Huế, Hà Nội làmột trong hai địa phương mà người dân có tính tự tôn địa danh rất cao

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

Tuy là thủ đô, trung tâm văn hóa của Việt Nam, nhưng một số sự kiện văn hóa tổ chức ở Hà Nội đã xảy ra nhiều

sự việc đáng chú ý, điển hình là vụ tàn phá hoa của người Hà Nội tại Lễ hộihoa anh đàodiễn ra giữa thủ đô năm

2008,[5]hay những hành động thiếu ý thức, kém văn minh và đáng xấu hổ tạiLễ hội phố hoa Hà NộivàoTếtDương lịch 2009tổ chức tại hồ Hoàn Kiếm.[6]Nhà vănBăng Sơnphát biểu: "Tôi cảm thấy buồn và xấu hổ Người

Hà Nội làm xấu Hà Nội đi Bao nhiêu năm hội hoa ở Đà Lạt , ở TP HCM mà không phải làm hàng rào vẫn giữ được cho đến ngày cuối cùng" Những vụ việc trên đã dấy lên làn sóng phản đối mạnh mẽ từ dư luận cả nước trên các

phương tiện thông tin đại chúng, đặt câu hỏi lớn về “văn hóa người Tràng An” trong thời đại ngày nay.[7] Cónhiều ý kiến nhận xét lối cư xử nhã nhặn, thanh lịch của người Hà Nội đang mất dần, thay vào đó là cách cư xử

xô bồ, tục tĩu, huỵch toẹt, thiếu văn hóa nhất là ở giới trẻ Hà Nội[8][9][10] ậm chí còn có nhận xét "Người Hà Nội chửi bậy như hát hay, khó sửa!".[11]Hà Nội còn nổi tiếng với "bún mắng, cháo chửi" ngày càng trở nên phổ

biến đã bị nhiều báo phản ánh và phê phán tuy nhiên các quán ăn có phong cách phục vụ vô văn hóa, thô lỗ,xem thường, xúc phạm khách hàng này vẫn thu hút được nhiều người đến ăn[12][13][14][15][16][17][18] Năm 2015,nhân dịp Công viên nước Hồ Tây mở cửa miễn phí, hàng nghìn người đua nhau trèo rào để có cơ hội tắm miễnphí gây nên hình ảnh thiếu văn minh Hơn nữa, nhiều phụ nữ ở bể bơi bị sờ soạng bởi nhiều thanh niên.[19][20][21]

Trang 7

4 CHƯƠNG 1 VĂN HÓA HÀ NỘI

1.7 Hà Nội trong văn học, nghệ thuật

Có nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật được sáng tác với chủ đề về chính Hà Nội và con người Hà Nội

1.7.1 Âm nhạc

• Bài ca Hà Nội- Nhạc và lời:Vũ anh

• Em ơi, Hà Nội phố- Nhạc:Phú ang, Lời: thơPhan Vũ

• Gửi người em gái- Nhạc và lời:Đoàn Chuẩn

• Hà Nội đêm trở gió- Nhạc:Trọng Đài, Lời:Chu Lai- Trọng Đài

• Hà Nội mùa thu- Nhạc và lời: Vũ anh

• Hà Nội mùa vắng những con mưa- Nhạc:Trương ý Hải, Lời: dựa thơBùi anh Tuấn

• Hà Nội ngày trở về- Nhạc: Phú ang, Lời:Doãn anh Tùng

• Hà Nội niềm tin và hy vọng- Nhạc và lời:Phan Nhân

• Hà Nội và tôi- Nhạc và lời:Lê Vinh

• Hà Nội và tôi- Nhạc và lời:Trần iện anh

• Khúc hát người Hà Nội- Nhạc và lời:Trần Hoàn

• Người Hà Nội- Nhạc và lời:Nguyễn Đình i

• Nhớ mùa thu Hà Nội- Nhạc và lời:Trịnh Công Sơn

• Nhớ về Hà Nội- Nhạc và lời:Hoàng Hiệp

• Hà Nội ngày tháng cũ- Nhạc và lời:Song Ngọc

• Hướng về Hà Nội- Nhạc và lời:Hoàng Dương

• Nỗi lòng người đi- Nhạc và lời:Anh Bằng

• Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội- Nhạc và lời:Phạm Đình Chương

• Phố nghèo- Nhạc và lời:Trần Tiến

• Một thoáng Hồ Tây của Phó Đức Phương

• Hà Nội, tình yêu của tôi của Văn Dung

• Khúc hát người Hà Nội Trần Hoàn

• Hà Nội và tôi Lê Vinh

1.7.2 Văn học

• Hà Nội phố- thơ củaPhan Vũ

• Phố- tiểu thuyết củaChu Lai

• Sống mãi với thủ đô- tiểu thuyết củaNguyễn Huy Tưởng

• Hà Nội ba mươi sáu phố phường- Tạp bút củaạch Lam

• ương nhớ 12- tạp ghi củaVũ Bằng

• Nỗi buồn chiến tranh-Bảo Ninh(một vài chương)

Trang 8

1.8 THAM KHẢO 5

1.7.3 Điện ảnh

• Em bé Hà Nội- Đạo diễn:Hải Ninh

• Hà Nội mùa đông năm 46- Đạo diễn:Đặng Nhật Minh

• Mùa hè chiều thẳng đứng- Đạo diễnTrần Anh Hùng

1.8 Tham khảo

[1] Ngọc iện Nguyễn, Sĩ Vịnh Hồ Đề cương về văn hóa Việt Nam chặng đường 60 năm Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia, 2003 Trang 305

[2] “Cung văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô” Truy cập 15 tháng 2 năm 2015

[3] “Giới thiệu thông tin về cung thiếu nhi hà Nội” Truy cập 15 tháng 2 năm 2015

[4] Minh Trị Lưu Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam: ăng Long-Hà Nội Nhà xuất bản Văn hoá-thông tin, 2002 Trang

[8] “1001 thói xấu của người Hà Nội hiện đại” 10 tháng 12 năm 2012 Truy cập 15 tháng 2 năm 2015

[9] “an chức văn hóa đau lòng vì Hà Nội” 4 tháng 1 năm 2013 Truy cập 15 tháng 2 năm 2015

[10] “Vài lời tâm sự về văn hóa của một người Tây Nguyên gửi người Hà Nội” 25 tháng 8 năm 2012 Truy cập 15 tháng 2năm 2015

[11] Người Hà Nội chửi bậy như hát hay, khó sửa!, Vietnamnet, 26/06/2015

[12] ““Bún mắng, cháo chửi” đang ngày càng phổ biến ở Hà Nội”.Báo điện tử Dân Trí 21 tháng 9 năm 2013 Truy cập 15tháng 2 năm 2015

[13] “Bún 'mắng', cháo 'chửi' - VnExpress”.VnExpress - Tin nhanh Việt Nam Truy cập 15 tháng 2 năm 2015

[14] “'Không buồn với bún mắng, cháo chửi ở Hà Nội'” Báo Tuổi Trẻ ủ Đô Truy cập 15 tháng 2 năm 2015

[15] “Bún 'mắng', cháo 'chửi', phở xếp hàng vẫn đắt khách” Báo Điện tử Tiền Phong Truy cập 15 tháng 2 năm 2015.[16] “Nói người bán phở Hà Nội thô lỗ cũng chẳng oan sai” 21 tháng 2 năm 2013 Truy cập 15 tháng 2 năm 2015.[17] “Biết “bún mắng, cháo chửi” nhưng sao thực khách ở Hà Nội vẫn cứ ăn?” 16 tháng 7 năm 2012 Truy cập 15 tháng 2năm 2015

[18] ““Bún mắng, cháo chửi” ở Hà Nội chỉ là một vài trường hợp cá biệt?” 1 tháng 3 năm 2013 Truy cập 15 tháng 2 năm2015

[19] “Đua nhau trèo rào vào công viên tắm miễn phí - VnExpress”.VnExpress - Tin nhanh Việt Nam Truy cập 25 tháng 4năm 2015

[20] “Người Nhật nói thẳng vụ tắm miễn phí công viên Hồ Tây” Báo Đất Việt Truy cập 25 tháng 4 năm 2015

[21] “Phụ nữ bị quấy rối ở công viên nước Hồ Tây: Sự mông muội trong lốt văn minh” Báo ể thao & Văn hóa - ôngtấn xã Việt Nam Truy cập 25 tháng 4 năm 2015

1.9 Liên kết ngoài

Hà Nội lịch sử và văn hóa truyền thống

Giao lưu trực tuyến với Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc

Hà Nội - 1000 năm “ành phố nằm giữa các con sông”

Trang 9

Chương 2

Văn hóa Việt Nam

Một số đặc trưng của văn hóa Việt Nam: Phụ nữ Việt Nam với áo tứ thân , áo dài , nón quai thao đang chơi các nhạc cụ như đàn bầu , tam thập lục , đàn tứ , k'lông pút Trên tường treo đàn nguyệt , đàn tỳ bà , đàn nhị cùng tranh Tố Nữ

Văn hóa Việt Nam được hiểu và trình bày dưới các quan niệm khác nhau:

• an niệm thứ nhất: đó là đồng nhất văn hóa Việt Nam với văn hóa củangười Việt, trình bày lịch sử vănhóa Việt Nam chỉ như là lịch sử văn minh của người Việt

• an niệm thứ hai: Văn hóa Việt Nam là toàn bộ văn hóacác dân tộc Việt Namcư trú trên mảnh đất ViệtNam, chỉ có văn hóa từng tộc người, không có văn hóa dân tộc/quốc gia

• an niệm thứ ba: Văn hóa Việt Nam là cộng đồng văn hóa dân tộc/quốc gia, đây là nền văn hóa dân tộc

thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người Khái niệm dân tộc/quốc gia chỉ một quốc gia

có chủ quyền, trong đó phần lớn công dân gắn bó với nhau bởi những yếu tố tạo nên một dân tộc anniệm thứ ba này hiện nay đang là quan niệm chiếm số đông bởi các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý tronglĩnh vực văn hóa Việt Nam, vì vậy nội dung về văn hóa Việt Nam sẽ được trình bày theo quan niệm thứ

ba, văn hóa Việt Nam theo hướng văn hóa dân tộc[1]

6

Trang 10

• Đặc trưng thứ hai: Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những

vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ởđồng bằngsông Hồngcủangười Việtchủ đạo với nền văn hóaKinh Kỳ, văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đếnnhững sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tạiTây bắcvàĐông bắc Từ các vùng đất biên viễn của ViệtNam thời dựng nước ởBắc Trung bộđến sự pha trộn với văn hóaChăm Pacủangười ChămởNam Trung

Bộ Từ những vùng đất mới ởNam Bộvới sự kết hợp văn hóa các tộcngười Hoa,người Khmerđến sự đadạng trong văn hóa và tộc người ởTây Nguyên

• Đặc trưng thứ ba: Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của

các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thờiHồng Bàngđến những ảnh hưởng từ bênngoài trong hàng nghìn năm nay Với những ảnh hưởng từ xa xưa củaTrung ốcvàĐông Nam Áđếnnhững ảnh hưởng củaPháptừ thế kỷ 19,phương Tâytrong thế kỷ 20 vàtoàn cầu hóatừ thế kỷ 21 ViệtNam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng cónhững khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại

Một số yếu tố thường được coi là đặc trưng của văn hóa Việt Nam khi nhìn nhận từ bên ngoài bao gồmtôn kính

tổ tiên, tôn trọng các giá trị cộng đồng và gia đình, thủ công mỹ nghệ, lao động cần cù và hiếu học.Phương Tâycũng cho rằng những biểu tượng quan trọng trong văn hóa Việt Nam bao gồmrồng,rùa,hoa senvàtre

Trước đây hầu hết các cư dân ở một địa phương có quan hệ huyết thống Điều đó thực tế vẫn còn thấy trong tênlàng như Đặng Xá (nơi có ngườihọĐặng là chủ yếu), Châu Xá, Lê Xá… Ở vùngTây Nguyêntruyền thống nhiềugia đình trong một gia tộc cư trú trong một nhà dài vẫn còn phổ biến Ở nông thôn Việt Nam ngày nay, ta vẫn

có thể thấy ba hay bốn thế hệ sống dưới một mái nhà

Bởi vì mối quan hệ họ hàng có vai trò quan trọng trong xã hội, nên tồn tại một hệ thống phân cấp phức tạp cácmối quan hệ Trong xã hội Việt Nam, có chín thế hệ khác nhau Người trẻ tuổi có thể có một vị trí cao hơn trong

hệ thống phân cấp của gia đình hơn và vẫn phải được tôn trọng như một người lớn tuổi Ví dụ, nếu cha mẹ, củamột đứa trẻ lớn tuổi, có một người anh/chị lớn tuổi có con trẻ hơn so với con mình, thì con họ sẽ ở vị trí thấphơn trong gia đình Nói cách khác, bạn phải đối xử với người anh em họ của bạn trẻ tuổi như một người lớn tuổi,nếu cha của bạn là em trai của bố người anh em họ đó

Hệ thống phức tạp của các mối quan hệ, là kết quả của cảNho giáovà các chuẩn mực xã hội được chuyển tảithông qua việc sử dụng rộng rãi của các đại từ khác nhau trongtiếng Việt, trong đó có một mảng rộng lớn của

sự kính trọng để biểu thị trạng thái của người nói liên quan đến những người mà họ đang nói chuyện đến Xưng

hô trong tiếng Việt đã trở thành đặc trưng của văn hóa Việt Nam.[2]

Trang 11

8 CHƯƠNG 2 VĂN HÓA VIỆT NAM

2.3 Văn hóa Việt Nam theo quan điểm dân tộc học

2.3.1 Tín ngưỡng

Tín ngưỡng thờ bà Ponagar/Thiên Y A Na được cả người Chăm và người Việt thờ tại Nha Trang

Như mọi nơi trên thế giới, từ thuở xa xưa các dân tộc trên đất Việt Nam đã thờ rất nhiều thần linh Các dân tộcthờ tất cả các thế lực vô hình và hữu hình mà thực chất là các hiện tượng thiên nhiên và xã hội chưa thể giảithích được vào thời đó Ngày nay nhờ những nghiên cứu, những lễ hội, những phong tục hiện hữu chúng ta biếtnhiều hơn về cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của các dân tộc Việt Nam cổ nói chung và tín ngưỡng của

họ nói riêng[3]

Người xưa cho rằng bất cứ vật gì cũng có linh hồn, nên người ta thờ rất nhiều thần, nguyên thủy họ thờ thầnMặt Trời, thần Mặt Trăng, thần Đất, thần Sông, thần Biển, thần Sấm, thần Mưa,…những vị thần gắn với nhữngước mơ thiết thực của cuộc sống người dân nông nghiệp Đi sâu vào cuộc sống hằng ngày họ thờ thần Nông làthần trông coi việc đồng áng, thần Lúa, thần Ngô với hy vọng lúc nào ngô lúa cũng đầy đủ Không chỉ các vịthần gắn với đời sống vật chất, các dân tộc còn thờ các vị thần gắn với đời sống tinh thần của họ.người Việtthờcác thầnành Hoàng, các vịanh hùng dân tộc, các vị thần trongđạo mẫu Họ là các vị thần có công lớn với đấtnước, với làng xã, dân chúng thờ phụng các vị thần này để tỏ lòng biết ơn và cầu mong các vị phù hộ họ Cũngnhư người Việt,người Hoathờ các vị thầnan Công,ần Tài.Người Chămthờ các vị thần nhưPo Nagar,PoRome,…

ờ cúng tổ tiênvà cúnggiỗngười đã mất là một tục lệ lâu đời của người Việt và một số dân tộc khác Họ tinrằng linh hồn của tổ tiên cũng ở bên cạnh con cháu và phù hộ cho họ Chính vì như vậy nên gia đình nào cũng

có bàn thờ tổ tiên và bàn thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong nhà Ngoài các ngày giỗ, tết thì các ngày mùngmột, ngày rằm họ thắp hương như một hình thức thông báo với tổ tiên ông bà Nói đến tục thờ cúng tổ tiên,người ta đều biết tới một ngày giỗ tổ chung cho cho người Việt đó là ngàygiỗ tổ Hùng Vươngvào ngày 10 tháng

3 (âm lịch)

Trang 12

2.3 VĂN HÓA VIỆT NAM THEO QUAN ĐIỂM DÂN TỘC HỌC 9

Cụ già mặc áo dài the cúng Tất Niên nhân dịp Tết Nguyên Đán

2.3.2 Tôn giáo

Trên danh nghĩa, các tôn giáo ở Việt Nam gồm:Phật giáo Đại thừa,Khổng giáovàĐạo giáo(được gọi là “Tamgiáo”) Có một số tôn giáo khác nhưCông giáo Rôma,Cao ĐàivàHòa Hảo Những nhóm tôn giáo có ít tín đồhơn khác gồmPhật giáo Tiểu thừa,Tin LànhvàHồi giáo

Phần đông đa số người dân Việt Nam xem họ là nhưng người không có tín ngưỡng, mặc dù họ cũng có đi đếncác địa điểm tôn giáo vài lần trong một năm Người Việt Nam được cho là ít có tinh thần tôn giáo, các tôn giáothường được tập trung ở mặt thờ cúng, mặt giáo lý ít được quan tâm

Với sự biến động của lịch sử các dân tộc tại Việt Nam, trải qua hơn 10 thế kỷBắc thuộc, đời sống tinh thần nóichung của người dân Việt Nam bị ảnh hưởng rất nhiều của văn hoá Trung Hoa Với ba hệ tư tưởngTam giáo

đã thâm nhập vào đời sống tinh thần cũng như vào tôn giáo của người Việt Nam làĐạo giáo,Nho giáovàPhậtgiáo Đạo giáo và Nho giáo có nguồn gốc từ Trung ốc và thâm nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu côngnguyên qua tầng lớp thống trị người Trung Hoa[3]

Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ và có hai phái đã du nhập vào Việt Nam bằng hai ngả khác nhau: pháiĐại thừavào Việt Nam qua Trung ốc cùng với Đạo giáo và Nho giáo Còn pháiTiểu thừaqua các nướcĐông Nam Áláng giềng vào Việt Nam thịnh hành ở cộng đồngngười KhmerởĐồng bằng sông Cửu Long

Tam giáo có những thời kỳ phát triển rất mạnh và cũng có lúc mờ nhạt tại Việt Nam, nhưng nhìn chung ảnhhưởng của Tam giáo rất sâu rộng trong các tầng lớp dân chúng, nhất làPhật giáo Và đến lượt mình, các tầnglớp dân chúng tại Việt Nam đã tiếp thu các tôn giáo mới một cách có chọn lọc và sáng tạo, hay nói cách kháccác tôn giáo mới du nhập đã được bản địa hoá để phù hợp với phong tục tập quán và tín ngưỡng của người dânđịa phương

Công giáođược du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16, tuy việc truyền đạo lúc bấy giờ gặp nhiều khó khăn nhưng

ở Việt Nam từ lúc đầu cũng đã có một số lượng người theo Công giáo, từ cuối thế kỷ 19 khithực dân Phápđãxâm lược hoàn toàn Việt Nam thì việc truyền đạo mới được tự do dễ dàng Hiện nay Việt Nam có khoảng 8% dân

Trang 13

10 CHƯƠNG 2 VĂN HÓA VIỆT NAM

Tín đồ đạo Cao Đài ở Tây Ninh

số là tín đồ Công giáo, đứng hàng thứ 2 ở Đông Nam Á sauPhilippines

Cùng với Công giáo, một hệ phái khác củađạo Cơ đốclàTin Lànhcũng xâm nhập vào Việt Nam từ đầu thế

kỷ 20, đạo Tin Lành được phổ biến tới các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, Tây Nguyên,…ước tính hiện nay cókhoảng hơn 1 triệu người theo đạo

Đạo Hồilà tôn giáo của một bộ phậnngười Chămở Việt Nam, được du nhập vào từ thế kỷ 15 tạivương quốcChăm Paởmiền Trung Việt Nam, sau đó theo chân một bộ phận người Chăm di cư tới vùngAn Giang,Tây Ninhvào thế kỷ 19

Ngoài các tôn giáo du nhập từ bên ngoài trên, tại miền Nam Việt Nam có các tôn giáoHoà HảovàCao Đài Đây

là hai tôn giáo bản địa Việt Nam, đạo Hoà Hảo được sáng lập từ năm 1939 và đạo Cao Đài được sáng lập từ năm

1926 Hiện nay hai tôn giáo bản địa này phát triển mạnh khắp Nam Bộ và ra cả một số tỉnh ởmiền TrungvàTâyNguyênvà miền Bắc

2.3.3 Ngôn ngữ

Về mặt ngôn ngữ, các nhà dân tộc học đã chia các dân tộc ở Việt Nam thành 8 nhóm ngôn ngữ của họ:

• Nhóm Việt-Mường: gồm người Việt, người Mường, người Chứt, người ổ

• Nhóm Tày-ái: gồm người Tày, ái, Nùng, Bố Y, Sán Chay, Lào,…

• Nhóm Dao-Hmông: gồm người Hmông, Dao, Pà ẻn,…

• Nhóm Tạng-Miến: gồm người Hà Nhì, Lô Lô, Si La, La Hủ,…

• Nhóm Hán: gồm người Hoa, Sán Dìu, Ngái,…

Trang 14

2.3 VĂN HÓA VIỆT NAM THEO QUAN ĐIỂM DÂN TỘC HỌC 11

Một trang Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum tức Từ điển Việt-Bồ-La in năm 1651

• Nhóm Môn-Khmer: gồm người Khmer, Kháng, Hrê, Xơ Đăng, Ba Na, Khơ Mú, Cơ Ho, Mạ, Xinh Mun,…

• Nhóm Mã Lai-Đa đảo: gồm người Chăm, Gia Rai, Ê Đê, Ra Glai, Chu Ru,…

• Nhóm hỗn hợp Nam Á: gồm la Chí, La Ha, Pu Chéo, Cơ Lao,…

Tiếng Việtthuộc về ngôn ngữ Việt-Mường, hiện nay là ngôn ngữ chính thức của nước Việt Nam, là tiếng mẹ đẻ

Trang 15

12 CHƯƠNG 2 VĂN HÓA VIỆT NAM

củangười Việtvà đồng thời là ngôn ngữ hành chính chung của 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, tiếngViệt được 86% người dân sử dụng Mặc dù là ngôn ngữ chung của người Việt nhưng nó có sự khác biệt về mặtngữ âmvàtừ vựngở các vùng miền dẫn tớiphương ngữ tiếng Việtđược phân chia làm nhiều vùng phương ngữkhác nhau từ miền Bắc, miền Trung và miền Nam

Về nguồn gốc, tiếng Việt được xem là có nguồn gốc với ngôn ngữ Nam Á về mặttừ vựngkết hợp với ngôn ngữTày-ái về mặtthanh điệu Trong quá trình phát triển Tiếng Việt đã tiếp thu và đồng hoá nhiều từ Hán và đượcgọi là từ Hán-Việt, ngoài ra tiếng Việt còn tiếp thu một số lượng khá lớn các từ khoa học kỹ thuật của các ngônngữ Pháp, Nga, Anh từ đầu thế kỷ 20 đến nay[3]

Về chữ viết, theo một số nghiên cứu khảo cổ, từ thờiHùng Vươngngười Việt đã có chữ viết riêng gọi làchữKhoa Đẩumà người Trung ốc miêu tả là giống đàn nòng nọc đang bơi Tới thờiBắc thuộc,chữ Hánlà chữviết chính thức ở Việt Nam Sau khi dành độc lập từ thế kỷ 10, với ý thức dân tộc cũng như các từ vựng không

có trong chữ Hán, người Việt đã sáng tạo rachữ Nômdùng song hành với chữ Hán chữ Nôm được hoàn chỉnhvào thế kỷ 12 và phát triển rực rỡ vào thế kỷ 18 Tuy nhiên chữ Nôm chỉ được dùng trong lĩnh vực văn chương,còn trong hành chính thì vẫn dùng chữ Hán

Từ thế kỷ 17, khi các nhà truyền giáo phương Tây vào Việt Nam truyền đạoCông giáođã dựa trên ký tự Latinh

để chuyển âm tiếng Việt sang chữ Lalinh và đây là cơ sở cho sự ra đời củachữ ốc ngữhiện nay của Việt Nam.Mặc dù chữ quốc ngữ đã có từ thế kỷ 17 nhưng phải tới đầu thế kỷ 20 khi người Pháp đô hộ hoàn toàn Việt Namthì họ mới cho phổ biến chữ ốc ngữ làm thành một công cụ giao tiếp thuận lợi trong xã hội Việt NamNgoài chữ ốc ngữ là chữ viết chung của người Việt và của Việt Nam, một số dân tộc khác cũng sử dụng songhành chữ viết của dân tộc mình nhưchữ Khmercủangười Khmerở Nam Bộ,chữ Akhar rahcủangười Chăm,chữ áicủangười áiở vùng Tây bắc,chữ Mnôngcủangười Mnôngở Tây Nguyên,…nhằm gìn giữ văn hoácủa dân tộc mình cũng như tiếp nhận các tri thức mới từ chữ quốc ngữ dịch sang eo thống kê hiện nay có 26dân tộc thiểu số tại Việt Nam có chữ viết riêng của mình ngoài chữ ốc ngữ

2.4 Tính truyền thống qua phong tục, tập quán

2.4.1 Phong tục

eo nghĩa Hán-Việt, Phong là nền nếp đã lan truyền rộng rãi và Tục là thói quen lâu đời Phong tục ở Việt Nam

có truyền thống lâu đời hàng ngàn năm nay, nó đã trở thành luật tục, sâu đậm và gắn chặt trong người dân cósức mạnh hơn cả những đạo luật eo sự thăng trầm của lịch sử của dân tộc, phong tục của người Việt Namcũng không ngừng biến đổi theo trào lưu biến đổi văn hoá xã hội Tuy nhiên có những phong tục mất đi nhữngcũng có nhưng phong tục khẳng định được tính đúng đắn, cái hay, cái đẹp của nó qua việc những phong tục đócòn hiện hữu trong cuộc sống ngày nay của người Việt Nam[4]

Sớm nhất được nhắc đến trong lịch sử làtục ăn trầucó từ thờiHùng Vươngtrải qua hàng nghìn năm người Việtcùng một số dân tộc khác vẫn giữ được tập tục này trong cuộc sống ngày nay, tục ăn trầu bắt nguồn từ truyện

sự tích Trầu Cauđể rồi thành biểu tượng cho tình anh em, vợ chồng của người Việt, theo thời gian ý nghĩa củatục ăn trầu được mở rộng sang việc giao hiếu, kết thân của người Việt Nam[5]

Cùng ra đời từ xa xưa với tục ăn trầu là phong tục đón năm mới hay còn gọi làTết, Tết vừa là một phong tụcđồng thời cũng là mộttín ngưỡngvà cũng là mộtlễ hộicủa người Việt cùng một số dân tộc khác Một số dântộc khác đón năm mới trong thời gian khác và tên gọi đặc trưng của mình nhưChol Chnam may(khoảngtháng 4) của người Khmer,Katê(khoảng tháng 10) củangười ChămBàlamôm,…TừTết Nguyên Đánđón nămmới, theo thời gian với những ảnh hưởng từ Trung ốc, người Việt Nam bổ sung thêm vào những phong tụcTết khác nhưTết Nguyên tiêu,Tết Hàn thực,Tết Đoan ngọ,Tết Trung thu,Tết anh minh[6]

Không thấy nhắc đến sớm trong sử sách nhưng các phong tụchôn nhân,sinh đẻ,tang lễ, cũng đã song hành vớingười Việt Nam từ xa xưa và đến ngày nay vẫn là những phong tục gắn liền với đời sống người Việt Nam

2.4.2 Ẩm thực

Trang 16

2.4 TÍNH TRUYỀN THỐNG QUA PHONG TỤC, TẬP QUÁN 13

Đám cưới của người Ê Đê ở Đắk Lắk, một phong tục ít nhiều ảnh hưởng từ đám cưới của người Việt

Ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ Bởi vậy trong hệ thống

ẩm thực người Việt ít có những món hết sức cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ nhưẩm thực Trung Hoa, cũng không thiên

về bày biện có tính thẩm mỹ cao độ nhưẩm thực của Nhật Bản, mà thiên về phối trộn gia vị một cách tinh tế đểmón ăn được ngon, hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn thưởng thức rất thú vị dù không thực sự bổ béo.Trong thực tế nhiều người nhận thấy, một cách cảm tính, đặc trưng ẩm thực Việt Nam là sự trung dung trongcách pha trộn nguyên liệu không quácay, quángọthay quá béo Các nguyên liệu phụ (gia vị) để chế biến món

ăn Việt Nam rất phong phú, bao gồm nhiều loạirau thơm, gia vị thực vật, quả hoặc lá non; các gia vị lên men vàcác gia vị đặc trưng của các dân tộcĐông Nam Ánhiệt đới nói trên được sử dụng một cách tương sinh hài hòavới nhau và thường thuận theo nguyên lý "âm dương phối triển”

Số lượng món ăn và cách thức kết hợp thực phẩm trong món ăn Việt Nam là vô cùng đa dạng do có sự kết hợpĐông Tây,ẩm thực Trung Hoavà ẩm thực các nước Đông Nam Á, đặc biệt là sự sáng tạo củangười Việtđể bảnđịa hóa và tìm ra những phương thức thích hợp nhất Có những món ăn không hề thay đổi trong hàng nghìnnăm qua (Danh sách các món ăn Việt Nam)

Năm 2015, CNN đã công bố Top 8 nền ẩm thực mới nổi có sức lan tỏa nhất thế giới, trong đó có Việt Nam[7].Tuy nhiên việc thịnh hành ẩm thực phương Tây nhất là ở các đô thị, trong một bộ phận dân chúng nhất là ngườigiàu và sính ngoại đe dọa đến bản sắc ẩm thực Việt Nam, và cả nông sản Việt Nam

Ngày đăng: 12/07/2017, 10:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN