1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

BÁO CÁO KHOA HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM

15 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 314,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂNBÁO CÁO KHOA HỌC ĐỀ TÀI: ĐỂ HIỂU PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA VÀ PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY SINH VIÊN THỰC HIỆN: 1.. Các tông phái trong Đại thừa và Phật Giáo Nguyên Thủ

Trang 1

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÁO CÁO KHOA HỌC

ĐỀ TÀI:

ĐỂ HIỂU PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA

VÀ PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

SINH VIÊN THỰC HIỆN:

1 TRƯƠNG THÁI KHIÊM

2 NGỤY THỊ MỸ LỆ

3 HUỲNH THỊ THÚY ÁI

4 LÊ VĂN PHÚ

Trang 2

MỤC LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO 2

LỜI NÓI ĐẦU 3

I SƠ LƯỢC VỀ TIẾN TRÌNH PHÂN CHIA HAI HỆ PHÁI 4

II CÁC TÔNG PHÁI NHỎ TRONG MAHAYANA VÀ THERAVADA 5

A CÁC TÔNG NGUYÊN THỦY 5

1 Câu-xá tông 5

2 Thành thật tông 7

3 Luật tông 7

B CÁC TÔNG ĐẠI THỪA 8

1 Pháp tướng tông 8

2 Tam luận tông 8

3 Thiên thai tông 9

4 Hoa nghiêm tông 9

5 Chân ngôn tông 10

6 Thiền tông 10

7 Tịnh độ tông 10

III ĐIỂM KHÁC BIỆT CHÍNH CỦA HAI TÔNG PHÁI 11

Trang 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Thích Minh Tuệ (1993), Lược sử Phật Giáo Việt Nam Chùa Xá Lợi Sài Gòn

[2] Lê Minh Qui (1981), Hòa thượng Hộ Tông Trung tâm Narada, Seatle

[3] Thích Minh Châu và Minh Chi (1991), Từ điển Phật học Việt Nam NXB Khoa học

xã hội, Hà Nội

[4] Thích Đức Nhuận (1983), Phật học tinh hoa Phật học viện Quốc tế, California

[5] Thích Nhất Hạnh (1990), Con đường chuyển hóa NXB Lá Bối, San Jose

[6] Hán Dịch: Thích Diễn Bồi - Việt Dịch: Thích Quảng Độ (1969), Đại thừa Phật giáo

tư tưởng luận, NXB Tôn giáo – Chương 4: Tinh thần của đại thừa

[7] Từ điển Phật học, Nguyên Hảo, Về nguồn xuất bản - Canada 1999

[8] Từ điển Phật học, Ban biên dịch Đạo Uyển, NXB Thời Đại - 2011

[9] Phật học phổ thông, HT Thích Thiện Hoa, Thành hội PG TP HCM ấn hành - 1992 [10] Những tôn giáo lớn trong đời sống nhân loại, TS Floyd H Ross & GS Tynette Hills Dịch giả Tâm Quang, NXB Tôn giáo - 2007

[11] Thế giới Phật giáo Phương diện Lịch sử Văn hóa và Minh triết, Điền Đăng Nhiên, Dịch giả Thích Ngộ Thành - 2009

[12] Lịch sử Phật giáo, Nguyễn Tuệ Chân biên dịch, NXB Tôn giáo - 2011

[13] “Theravada & Mahayana Buddhism” của Hòa Thượng Tiến sĩ W Rahula, in trong tuyển tập “Gems of Buddhist Wisdom” (Những Viên ngọc Trí tuệ Phật giáo), năm 1996

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Phật giáo ngày nay có nhiều tông phái với các truyền thống khác nhau Tuy nhiên, chúng

ta thường phân biệt hai tông phái chính: Phật Giáo Đại thừa - Mahayana, và Phật Giáo Nguyên thủy - Theravada Phật Giáo Mahayana thịnh hành ở các nước Tây Tạng, Mông

Cổ, Trung Hoa, Triều Tiên, và Nhật Bản Trong khi đó, Phật Giáo Theravada được lưu truyền rộng rãi ở Tích Lan (Sri Lanka), Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cam Bốt

Riêng Việt Nam có lẽ là một quốc gia Á Châu đầu tiên mà cả hai tông phái lớn này đều được chính thức thừa nhận và đã cộng tác hoạt động trong nhiều thập niên qua Tông phái Đại thừa có một truyền thống lâu đời và đã có mặt tại Việt Nam do các tu sĩ Ấn Độ truyền sang vào cuối thế kỷ thứ II C.N [1, t 47] Tông phái Nguyên thủy cũng có mặt tại vùng đất này qua nhiều thế kỷ trong các cộng đồng người Khơ–me (Cao Miên) tại miền Nam Việt Nam, và được truyền bá đến các Phật tử người Việt trong thập niên 1940 [2, t 15] Trong những năm gần đây lại có những dự án dịch thuật các kinh điển của cả hai truyền thống, từ các văn bản gốc tiếng Hán và tiếng Pali, sang tiếng Việt hiện đại

Trong bài luận văn này, chúng em không nhằm mục đích trình bày về hai hệ phái này một cách chi tiết hoàn mỹ, mà chỉ là những khái quát chung về những khía cạnh căn bản nhất để minh họa cho những lý luận đã có Qua đó thể hiện được nét độc đáo của đạo Phật mà không một tôn giáo nào có được Với khuynh hướng trên, bài viết sẻ được trình bày theo 3 phần chính sau:

1 Sơ lược về tiến trình phân chia hai hệ phái

2 Các tông phái trong Đại thừa và Phật Giáo Nguyên Thủy

3 Các điểm khác nhau chính của hai tông phái

Mong rằng bài viết như là một quá trình tìm hiểu qua những khía cạnh văn hóa mà chúng

em là những người có tinh thần Phật pháp Trong bài viết, để câu văn được lưu loát cũng

như dễ hiểu, chúng em đã thay từ “Phật giáo Nguyên Thủy” thành “Tiểu thừa” để dễ

hình dung hơn vì từ này được sử dụng khá lâu và phổ biến Nhân bài viết này, chúng em xin kính thành cảm ơn đến sự giúp đỡ của Đại đức Thích Nhật Từ, chư vị tôn đức Chùa Giác Ngộ, Chùa CHANDARAMSYA đã tận tình chỉ giáo cũng như cung cấp những bài giảng cùng tài liệu quý để chúng em hoàn thành tốt bài viết này Mặc dầu đã cố gắng tập trung để viết, nhưng với kiến thức còn hạn chế nên vẫn không sao tránh khỏi những sai sót trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và trích dẫn Kính mong Thầy sau khi đọc hoan

hỷ chỉ giáo thêm để chúng em rút kinh nghiệm cho những bài viết sau

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

I SƠ LƯỢC VỀ TIẾN TRÌNH PHÂN CHIA HAI HỆ PHÁI

Nhân duyên phân biệt giữa Tiểu-thừa và Đại-thừa, đại ước có ba điểm:

1 Do hoàn cảnh: Đại-thừa Phật-giáo bộc hưng, một phần do ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài Xét theo lịch sử, từ đời A-Dục-Vương về sau, quần chúng miền Bắc-Ấn thường giao thiệp với dân tộc hai xứ Hy-Lạp, Ba-Tư Những nhà học Phật ở Bắc-Ấn lúc

ấy càng ngày càng đông Do sự tiếp xúc với ngoại nhân, họ lần lần chịu ảnh hưởng tư tưởng tôn-giáo của hai xứ đó, nên có nhiều nhà học Phật chủ trương sùng bái cầu nguyện Bởi nguyên nhân nãy, thuyết tha-lực vãng sanh đã sẵn có trong Kinh-điển Phật-giáo được

đề khởi lên Thời bấy giờ, phong trào cầu vãng sanh về cõi Đâu-Suất của Di-Lặc Bồ-Tát, cõi Cực-Lạc của Phật Di-Đà, cõi Lưu-Ly của Phật Dược-Sư, cõi Diệu-Hỷ của Phật A-Súc-Bệ rất thịnh hành Trong đây chỉ có thuyết vãng sanh Cực-Lạc là được lưu thông hơn

cả Người ta gọi phong trào nầy là Chủ-tình-đại-thừa-giáo

Mặt khác, sau Phật diệt độ 500 năm, các phái ngoại-đạo lần lần phục hưng, lý thuyết của

họ càng ngày càng được cải cách thêm đến mức siêu việt Song song với phong trào đó, kho tàng Phật-giáo cũng phải được khai thác triệt để, mới có thể đối phó với ngoại-đạo và giải quyết đầy đủ mối nghi ngờ của học giả Vì thế, Đại-thừa Phật-giáo phải ra đời để thích ứng với thời đại

2 Do trào lưu tư tưởng: Khởi nguyên tư tưởng Đại-thừa Phật-giáo lẽ dĩ nhiên đã có

từ khi Ðức Như-Lai còn tại thế Sau khi Ðức Thế-Tôn diệt độ 100 năm, giáo đoàn đạo Phật chia thành Thượng-Tọa-bộ và Đại-Chúng-bộ, rồi lần lần phát sanh ra các chi phái Giáo nghĩa của các bộ phái đó phần nhiều bao hàm cả đạo lý Đại-thừa Tư tưởng của học giả cũng biến thiên theo trào lưu, từ đời A-Dục đến đời Ca-Nị-Sắc-Ca, quan niệm Đại-thừa-giáo càng ngày càng phát hiện thêm rõ rệt

Trên phương diện địa lý, tư tưởng nầy bắt nguồn từ xứ An-Đạt-La thuộc Nam-Ấn-Độ Giáo nghĩa nẩy nở đầu tiên là Ma-Ha-Bát-Nhã, phát xuất từ Đại-Chúng-bộ Trong kinh Bát-Nhã có đoạn Phật dự ký: “Sau khi Như-Lai niết-bàn, kinh nầy được truyền về phương nam, rồi từ đó lưu chuyển đến phương tây và lên phương bắc” Lời dự ký nầy đã chứng minh cho Đại-thừa Bát-Nhã xuất phát từ phương nam Đại-thừa Phật-giáo ở Bắc-Ấn-Độ phát nguyên từ địa phương nào, sự kê khảo chưa được chính xác Nhưng theo ngài Huyền-Trang thì tại xứ Câu-Tát-La (Kosala), Kinh-điển Đại-thừa rất nhiều, Phật-pháp ở đây cực thịnh và được truyền bá đi các nơi khác Hoặc giả địa phương nầy là chỗ phát nguyện của Đại-thừa Phật-giáo miền Bắc-Ấn chăng?

3 Do các học giả phát khởi: Sau khi Phật diệt độ, một mặt do trào lưu tư tưởng lần lần biến thiên, nên sự đòi hỏi thích ứng với quan niệm quần chúng càng ngày càng thêm

Trang 7

cần thiết Mặt khác, giáo nghĩa của ngoại-đạo cũng lần lần được cải tiến, họ biết rút lấy cái hay của các phái khác trong ấy có cả đạo Phật, để bổ khuyết thêm cho học thuyết của mình Vì thế, lập luận của họ càng ngày thêm vững vàng, trong đó các phái Thắng-luận, Số-luận, Phệ-Ðàn-Đà luôn luôn bài xích Phật-giáo Giữa lúc ấy, phần đông chư Tăng lại thiên về khuynh hướng giải thoát, bảo thủ lấy truyền thống xưa, nên thanh thế Phật-giáo lần lần thấy sút kém trước ảnh hưởng của ngoại-đạo Để cứu vãn tình thế và thích ứng thời cơ, sau Phật diệt độ 700 năm, hai ngài Mã-Minh, Long-Thọ nối nhau xuất hiện, trứ tác các bộ như: Đại-Thừa-Khởi-Tín-Luận, Đại-Trang-Nghiêm-Luận-Kinh, Trí-Độ-Luận, Thập-Trụ-Tỳ-Bà-Sa-Luận, Trung-Quán-Luận để phát huy ý nghĩa Đại-thừa Phật-giáo Kế tiếp sau hai ngài, có các vị như Đề-Bà, La-Hầu-La, Bạt-Đà-La, Vô-Trước, Thế-Thân cũng cực lực đề xướng đạo lý nầy

Xét ra, đứng về mặt bao quát, Đại-thừa kiêm cả Tiểu-thừa Nhưng Đại-thừa giáo sở sĩ được biệt lập là để đối kháng với quan niệm bảo thủ và xu hướng tự giải thoát của phần đông chư Tăng thời bấy giờ Nhưng hoàn cảnh hoặc trào lưu tư tưởng chỉ là nhân duyên phát khởi, mà thành quả lại do sự xướng lập của chư đại-đức Mã-Minh, Long-Thọ, Vô Trước, Thế-Thân Cho nên người sau thường gọi các ngài là những nhà cách mạng Phật-giáo

Vậy, khởi nguyên của Đại-thừa Phật-giáo là bởi ba lý do trên Quan niệm phân biệt, khen chê giữa Đại-thừa và Tiểu-thừa sau nầy, thật ra cũng có Nhưng sự đối lập giữa hai tập đoàn lớn trong Phật-giáo là một lẽ tất nhiên của thời đại, mà dù muốn dù không, người ta vẫn không thể tránh

A CÁC TÔNG NGUYÊN THỦY

1 Câu-xá tông

Bồ-tát Thế Thân khi còn theo học bên Tiểu thừa, lấy ý nghĩa trong sách Mahavibhasa Castra mà làm sách Câu-xá luận, rồi theo sách ấy mà thành sau có Câu-xá tông

Câu-xá tông chia vạn hữu ra làm Vô vi pháp và Hữu vi pháp Vô vi pháp chỉ về cảnh giới thường trụ, không sanh diệt, tức là lý thể Hữu vi pháp chỉ về vạn hữu trong hiện tượng giới, sinh diệt vô thường

Theo thuyết của Hữu bộ bên Tiểu thừa thì pháp thể là hằng hữu trong ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai Theo thuyết của Câu-xá tông thì chỉ có hiện tại là hữu thể, còn quá khứ, vị lai là vô thể

Trang 8

Pháp thể gồm cả tâm và vật kết thành do sức của duyên và nghiệp, tức là nói pháp thể là kết quả của mê hoặc Sức của hoặc và nghiệp tuần hoàn vô thủy vô chung, làm cho tâm thân cứ biến chuyển luân hồi mãi

Câu-xá tông chia nhân ra làm sáu nhân, chia duyên ra làm bốn duyên, và chia quả ra làm năm quả

Sáu nhân là:

1 Năng tác nhân là nhân phổ biến rất rộng, bao quát cả các nhân khác

2 Câu hữu nhân là nhân của vạn vật đều phải nương tựa nhau, nhân quả đồng thời cùng có

3 Đồng loại nhân là nhân chung cả hiện tượng trước và hiện tượng sau

4 Tương ứng nhân là nhân khi tâm vương tác dụng thì có nhiều tâm sở đồng ứng

5 Biến hành nhân là nhân cùng một loại với đồng loại nhân, nhưng đồng loại nhân thì phổ biến ở nơi vạn hữu, mà biến hành nhân thì chỉ ở trong phiền não, nơi tâm sở

6 Dị thục nhân là nhân làm cho người ta phải chịu kết quả tốt xấu, lành dữ

Bốn duyên là:

1 Nhân duyên là duyên làm cho nhân thành ra quả

2 Đẳng vô gián duyên là duyên nói riêng về sự phát động của tâm Tâm trước diệt thì làm cái duyên phát động của hiện tượng sau, không có gián cách ở khoảng nào cả

3 Sở duyên duyên là nói khi tâm khởi lên thì dựa vào cảnh khách quan mà khởi Cái khách quan ấy gọi là sở duyên, nghĩa là cái bởi đó mà thành duyên

4 Tăng thượng duyên cũng như năng tác nhân nói trên, cũng gọi là công duyên

Năm quả là:

1 Thị dục quả, là quả do thị dục nhân mà có Do nghiệp lực quá khứ hoặc thiện hoặc ác thành ra

2 Đẳng lưu quả là quả do đồng loại nhân hay do biến hành nhân mà có Ấy là chỉ nhìn cái kết quả của hiện tượng nào cũng đồng đẳng, đồng loại với nguyên nhân của hiện tượng trước

3 Ly hệ quả là quả không do sáu nhân, bốn duyên nói trên mà có, mà do trí chân thật vô lậu, thoát ly sự hệ phược của vô minh phiền não và chứng được cảnh Niết-bàn

4 Sĩ dụng quả là quả do câu hữu nhân và tương ứng nhân nương dựa nhau mà thành, cũng như các thứ nghiệp dựa vào sự tác dụng của sĩ phu mà có

Trang 9

5 Tăng thượng quả là quả kết thành bởi năng tác nhân và tăng thượng duyên.

Vạn vật do sáu nhân, bốn duyên hòa hợp mà sinh ra, nhưng xét đến cùng ngoài năm uẩn thì không có vật gì cả Vậy nói rằng có cái “ngã” chi phối ta để chuyển biến qua đời sau

là mê hoặc, là không tưởng Cho nên không nên chấp có hữu vi vô thường, mà chỉ nên trông ở cõi Niết-bàn thường trụ

Nhân sinh là khổ não, là ô trược, là mê hoặc, cho nên cần phải giải thoát Phương thức giải thoát gồm có giới, định, tuệ Giới là giới luật, ngăn không cho làm những điều tà vạy, bất chánh Định là thiền định, là định tâm, để giữ tâm trí gom về một mối Tuệ là trí tuệ, phân biệt thật tướng của sự vật, hiểu rõ lý nhân quả, Tứ diệu đế Dùng ba môn học ấy mà

đi tới giải thoát, tức là vào Niết-bàn

2 Thành thật tông

Tông này đồng thời phát hiện với Câu-xá tông, do Ha-lê Bạt-ma lập ra, lấy thuyết của Không bộ bên Tiểu thừa làm gốc

Thành thật tông chia thế giới quan ra làm hai môn: Thế gian môn và Đệ nhất nghĩa môn Thế gian môn có hai phương diện Một phương diện là xét theo các pháp sinh diệt vô thường thì không có cái thật ngã Nhưng xét theo phương diện khác thì cái thân ta hành động và cái tâm ta biết phân biệt, biết liên lạc những tư tưởng suy nghĩ trước sau, mà lại bảo là không có ngã thì thật là trái với chỗ hiểu biết thông thường

Song lấy cái ngã tạm bợ kia mà phân tích cho đến chỗ vi tế, bỏ cả năm uẩn ra thì không thể nhận được một vật gì cả

Đệ nhất nghĩa môn lấy lẽ rằng trước cho thế gian môn lấy chỗ biết thường thường làm chuẩn đích mà đặt ra bản ngã là tạm có, rồi do cái kết quả sự phân tích mà biết rằng pháp thực có kia cũng chẳng qua là do vọng tưởng của ta phân biệt là tạm có mà thôi

Cái thật có đã không nhận, thì ngoài cái trí hư vọng phân biệt của ta ra, không có vật gì

cả Vọng, biết là mê, không phải là thật, cho nên hết thảy đều là không cả Chân ngã không có, thật pháp cũng không có Người và pháp cả hai đều không Thành thật tông do

đó chủ trương việc cấm dục để cầu tịch diệt

3 Luật tông

Tông này chủ trương lấy Luật tạng mà tu đạo, cốt răn điều ác, khuyên điều thiện Cho rằng nhờ có giới luật mới có thiền định, có thiền định thì trí tuệ mới phát khởi Có trí tuệ mới tu được đến chỗ giải thoát

Trang 10

B CÁC TÔNG ĐẠI THỪA

1 Pháp tướng tông

Tông này phát khởi từ ba vị Vô Trước, Thế Thân và Hộ Pháp, lấy Thành duy thức luận làm gốc, cho rằng vạn pháp đều do thức biến ra

Thức có tám loại là: nhãn thức, nhĩ thức, vị thức (hay tỉ thức), thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-na thức và a-lại-da thức Trong tám thức ấy, a-lại-da thức là căn bản

A-lại-da thức còn gọi là Tạng thức, bao tàng hết các chủng tử, rồi do những chủng tử ấy

mà phát sinh ra vạn tượng Vạn tượng tan thì các chủng tử lại mang nghiệp trở về a-lại-da thức Chủng tử lại vì nhân duyên mà sinh hóa mãi Vậy nhân duyên là nhân duyên của các chủng tử A-lại-da thức thì chứa hết thảy các chủng tử để sinh khởi nhất thiết chư pháp

Như thế là vạn pháp do thức mà biến hiện ra, cho nên nói rằng: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.”

Ngài Huyền Trang đời Đường sang Ấn Độ theo học với ngài Giới Hiền, rồi đem Pháp tướng tông về truyền ở Trung Hoa

2 Tam luận tông

Tông này lấy Trung luận và Thập nhị môn luận của Bồ-tát Long Thụ và bộ Bách luận của Đề-bà làm căn bản, nên mới gọi là Tam luận

Tam luận tông cho rằng hết thảy vạn hữu trong hiện tượng giới đều sanh diệt vô thường

Đã sanh diệt vô thường là không có tự tính, chỉ bởi nhân duyên làm mê hoặc mà biến hóa

ra vạn hữu

Kẻ phàm tục vì vọng kiến cho nên mới chấp lấy cái có tạm bợ ấy Bậc chân trí thì không nhận cái tạm có mà thấy rằng hết thảy đều là không

Các pháp tuy là hiện hữu nhưng không phải là thường có Có mà không phải là thường có tức là chỉ tạm có Tạm có nên tuy là có mà không phải là có Có mà không phải là thật có thì cũng chẳng khác gì không Vậy nên các pháp tuy là đều có, nhưng thật tướng là không

Lý thể của chân như tuy là không tịch, bất sanh bất diệt, nhưng bởi nó sanh ra các pháp, cho nên nó là nguồn gốc của cái tạm có Đã là nguồn gốc, thì lý thể của chân như là không Như thế, chân như là không mà không phải thật là không, cho nên đối với có không khác gì Vì thế chân như tuy là không tịch mà rõ ràng là có

Ngày đăng: 19/09/2017, 19:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w