Chính vì vậy tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu khảo sát giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường tại Việt Nam theo các đặc điểm cấu trúc và nguyên phụ liệu” nhằm đánh giá đặc điểm
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật: “Nghiên cứu khảo sát giầy cho
nữ bệnh nhân tiểu đường tại Việt Nam theo các đặc điểm cấu trúc và nguyên phụ liệu” do tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Văn Huấn Nội dung
nghiên cứu trong luận văn này do tác giả tìm hiểu và thực hiện không có sao chép bất
cứ công trình nghiên cứu nào khác Kết quả khảo sát thực tế và thí nghiệm hoàn toàn trung thực, không gian dối Tác giả xin cam đoan những lời trên là đúng sự thật, nếu
có gì sai phạm tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà nội, ngày 15 tháng 03 năm 2016
Người thực hiện
Vũ Tiến Hiếu
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành gửi đến PGS TS Bùi Văn Huấn lời cảm ơn sâu sắc, người đã tận tình chỉ dạy, dìu dắt tôi trong suốt quá trình thực hiện – hoàn thành luận văn Thạc sĩ kỹ thuật này cũng như trong quá trình giảng dạy Đó là điều vinh hạnh nhất đối với tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể quý thầy cô trong viện Dệt may – Da giầy và Thời trang, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã truyền dạy những kiến thức chuyên môn cho tôi trong suốt thời gian hai năm học vừa qua Tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Lê Phúc Bình, TS Trần Thị Phương Thảo, TS Vũ Mạnh Hải đã nhiệt tình giúp tôi thí nghiệm tại Trung tâm Thí nghiệm Vật liệu Dệt may – Da giầy, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Và tôi cũng gửi lời cảm ơn đến Trung Tâm Kỹ Thuật Tiêu Chuẩn Đo Lường 3 đã giúp đỡ tôi trong thời gian làm thí nghiệm
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô lãnh đạo của hai trường; Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và Trường Cao đẳng Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh
đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian hai năm học vừa qua
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 37 WHO - World Health Organization
8 CVC - Chief Value of Cotton
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
4 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của tác giả 4
1.1 Tổng quan về bệnh tiểu đường, bàn chân bệnh nhân tiểu đường 5
1.1.1 Tổng quan về bệnh tiểu đường 5
1.1.1.1 Bệnh tiểu đường 5
1.1.1.2 Tình hình bệnh tiểu đường trên thế giới 5
1.1.1.3 Tình hình bệnh tiểu đường ở Việt Nam 6
1.1.2 Tổng quan về bàn chân bệnh tiểu đường 8
1.2 Giầy cho bệnh nhân tiểu đường, yêu cầu đối với chúng 12
1.2.1 Giầy cho bệnh nhân tiểu đường 12
1.2.1.1 Vai trò của giầy tiểu đường 12
1.2.1.2 Các loại giầy cho bệnh nhân tiểu đường 13
1.2.2 Yêu cầu đối với giầy cho bệnh nhân tiểu đường 17
1.3 Nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất giầy 19
1.3.1 Vật liệu làm phần mũ giầy và yêu cầu đối với chúng 20
1.3.1.1 Vật liệu làm chi tiết bên ngoài 20
1.3.1.2 Vật liệu làm lớp lót mũ giầy 23
1.3.1.3 Vật liệu làm chi tiết tăng cường và yêu cầu đối với chúng 27
1.3.2 Vật liệu làm phần đế giầy 28
Trang 51.3.2.1 Vật liệu làm đế giầy 28
1.3.2.2 Vật liệu làm đế trong 31
1.3.2.3 Vật liệu làm lót giầy 31
1.4 Kết luận chương 1 34
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 35
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 35
2.2 Đối tượng nghiên cứu 35
2.3 Nội dung nghiên cứu 36
2.3.1 Phân tích cấu trúc giầy 36
2.3.2 Phân tích về nguyên phụ liệu sử dụng 36
2.3.3 Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng giầy 36
2.3.4 Đề xuất cấu trúc và nguyên vật liệu sử dụng cho giầy tiểu đường 37
2.4 Phương pháp nghiên cứu 37
2.4.1 Phương pháp xác định cấu trúc giầy 37
2.4.2 Phương pháp xác định vật liệu giầy 38
2.4.3 Phương pháp thử nghiệm các tính chất của vật liệu giầy 44
2.5 Kết luận chương 2 53
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 54
3.1 Kết quả phân tích cấu trúc của các mẫu giầy 54
3.1.1 Kết quả xác định loại, kiểu và phom dáng giầy 54
3.1.2 Kết quả phân tích hình dạng và kích thước các chi tiết 56
3.1.3 Kết quả phân tích phương pháp ráp nối các chi tiết giầy 60
3.2 Kết quả xác định vật liệu sử dụng làm các mẫu giầy 66
3.3 Kết quả thử nghiệm chất lượng mẫu giầy tiểu đường 68
3.3.1 Kết quả xác định các tiêu chí chất lượng vật liệu giầy 68
3.3.2 Kết quả xác định độ bền mối dán đế giầy với mũ giầy 71
3.4 Kết quả đề xuất cấu trúc và nguyên vật liệu sử dụng cho giầy tiểu đường 72
3.5 Kết luận chương 3 73
KẾT LUẬN CHUNG 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 1 81
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các dạng tổn thường bàn chân BTĐ 10
Bảng 2.1: Các mẫu giầy được lựa chọn để nghiên cứu 35
Bảng 2.2: Phân tích cấu trúc mũ giầy và nguyên vật liệu thực hiện theo các bước như sau (ví dụ đối với với mẫu giầy 5) 38
Bảng 3.1: Kết quả xác định loại, kiểu và phom dáng giầy của các mẫu giầy khảo sát 54 Bảng 3.2: Kết quả phân tích hình dạng và kích thước các chi tiết của các mẫu giầy khảo sát 57
Bảng 3.3: Cấu trúc các đường may ráp nối các chi tiết mũ giầy 60
Bảng 3.4: Các bước ráp nối chi tiết mũ giầy mẫu số 5 63
Bảng 3.5: Kết quả phân tích các mối ráp đế giầy 65
Bảng 3.6: Kết quả phân tích vật liệu sử dụng làm các mẫu giầy khảo sát 66
Bảng 3.7: Kết quả thử nghiệm các tiêu chí quan trọng của vật liệu làm mẫu giầy tiểu đường khảo sát 69
Bảng 3.8: Kết quả thử nghiệm độ bền mối dán đế giầy với mũ giầy 71
Bảng 3.9: Kết quả đề xuất cấu trúc và nguyên vật liệu sử dụng cho giầy tiểu đường 72
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Bàn chân Charcot [33] 9
Hình 1.2: Bệnh thần kinh ngoại vi [34] 10
Hình 1.3: Giầy cho bệnh nhân tiểu đường nguy cơ thấp [40] 14
Hình 1.4: Giầy cho bệnh nhân tiểu đường nguy cơ vừa [41] 14
Hình 1.5: Giầy cho nhóm nguy cơ cao bị loét chân [40] 15
Hình 1.6: Lót giầy cho bệnh nhân tiểu đường [40] 15
Hình 1.7: Giầy cho nhóm nguy cơ loét chân rất cao [40] 16
Hình 1 8: Giầy bít [42] 17
Hình 1 9: Giầy bít [43] 17
Hình 1.10: Một số mẫu giầy nữ cho bệnh nhân tiểu đường do Viện Nghiên cứu Da giầy Việt Nam sản xuất 17
Hình 1.11: Minh họa yêu cầu phần mũi giầy cho bệnh nhân tiểu đường 18
Hình 1.12: Cấu trúc mũ giầy 19
Hình 1.13: Cấu trúc đế giầy [44] 20
Hình 1.14: Cấu trúc giầy 20
Hình 1.15: Da bò thuộc [45] 20
Hình 1.16: Vải dệt thoi [46] 22
Hình 1.17: Giả da [47] 22
Hình 1.18: Da váng [48] 24
Hình 1.19: Da lợn cật [49] 24
Hình 1.20: Vải dệt thoi làm lót giầy [50] 25
Hình 1.21: Vải dệt kim interlock [51] 26
Hình 1.22: Ngoại hình vải không dệt Camprella [51] 27
Hình 1.23: Pho chemi – sheet [52] 28
Hình 1.24: Đế giầy PU [53] 29
Hình 1.25: Đế giầy cao su [54] 30
Hình 1.26: Đế giầy cao su + EVA [53] 30
Hình 1.27: Một số mẫu lót giầy làm bằng EVA đúc mặt dán da lợn [55] 33
Hình 1.28: Cấu trúc vải dệt kim “không gian” 33
Hình 2 1:Vị trí lấy mẫu thí nghiệm trên phần mặt mũ giầy, hình dạng và kích thước của mẫu da thí nghiệm 45
Hình 2 2: Phương pháp lắp các mẫu thử vào khe kẹp 45
Hình 2 3: Máy kéo đứt đa năng RT- 1250A 45
Trang 8Hình 2 4: Vị trí lấy mẫu thí nghiệm trên mặt mũ giầy, hình dạng và kích thước của
mẫu da thí nghiệm 46
Hình 2 5: Vị trí lấy mẫu thí nghiệm trên lót mũ giầy, hình dạng và kích thước của mẫu da thí nghiệm 46
Hình 2 6: Phương pháp lắp các mẫu thử độ bền đứt, độ giãn đứt vào khe kẹp 47
Hình 2.7: Vị trí lấy mẫu thí nghiệm và hình dạng kích thước mẫu xác định độ thông hơi, hấp thụ hơi nước phần mặt mũ giầy 48
Hinh 2 8: Vị trí lấy mẫu thí nghiệm và hình dạng kích thước mẫu xác định độ thông hơi, hấp thụ hơi nước phần lót mũ giầy 48
Hình 2 9: Vị trí lấy mẫu thí nghiệm và hình dạng kích thước mẫu xác định độ thông hơi, hấp thụ hơi nước phần lót giầy và đế trong 49
Hình 2 10: Cân chính xác 50
Hình 2 11: Buồng điều hòa mẫu 50
Hình 2 12: Vị trí lấy mẫu xác định độ bền mối dán 51
Hình 2 13: Vị trí của miếng mẫu thử trong ngoàm kẹp 51
Hình 2 14: Ví dụ về đồ thị lực/độ biến dạng 51
Hình 2 15: Vị trí lấy mẫu, hình dạng và kích thước mẫu xác định độ các đặc trưng đàn hồi của lót giầy 52
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Bệnh tiểu đường là một bệnh mãn tính không lây nhiễm, liên quan đến dinh dưỡng và lối sống, có tốc độ phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới Bệnh tiểu đường cũng là một nhóm các bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu mạn tính do hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của Insulin hoặc kết hợp cả hai Tăng glucose máu mãn tính trong bệnh tiểu đường làm tổn thương, rối loạn và suy yếu chức năng nhiều cơ quan khác nhau đặc biệt tổn thương mắt, thận, thần kinh và tim mạch [1]
Ở Việt Nam, số người mắc bệnh tiểu đường ngày càng tăng nhanh nhất là ở các
đô thị lớn Kết quả điều tra 5.416 người (trên 15 tuổi) ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1993 của Mai Thế Trạch và cộng sự [11] cho thấy tỷ lệ mắc BTĐ là 2,52% Năm 2000, Tô Văn Hải và cộng sự tiến hành điều tra trên 2017 người (trên 16 tuổi) tại Hà Nội, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường là 3,6% Kết quả điều tra tại các thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) năm 2001 của Tạ Văn Bình và các cộng sự cho thấy tỷ lệ BTĐ là 4,9% và tỷ lệ người có nguy cơ phát triển thành BTĐ là 38,5% [12] Năm 2002, bệnh viện Nội tiết Trung Ương tiến hành điều tra trên quy mô toàn quốc Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường trên toàn quốc là 2,7%, khu vực thành phố là 4,4%, miền núi và trung du là 2,1% và ở đồng bằng là 2,7% [13]
Loét bàn chân (LBC) là một biến chứng của BTĐ Đó là một biến chứng mãn tính, lâu dài, điều trị tốn kém, là nguyên nhân quan trọng của nhiễm trùng và cắt cụt chi Hậu quả của LBC không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế, chất lượng sống của người bệnh và gia đình mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế toàn xã hội Theo Tổ chức Y tế thế giới tháng 3 năm 2005, 15% số bệnh nhân tiểu đường có bệnh lý về bàn chân, 20% trong số họ nhập viện hàng năm là do LBC [10]
Tỷ lệ tổn thương bàn chân bệnh tiểu đường đã được báo cáo là 4,75% tại Hy Lạp (theo Papanas N, and Maltezos E 2009) [23] Theo Bakkerk và Foster AVA (2005), người ta ước tính rằng cứ 30 giây trôi qua thì có một chi dưới lại bị cắt cụt do BTĐ LBC do
Trang 10BTĐ là nguyên nhân hàng đầu của cắt cụt chi không do chấn thương ở phương Tây Tỷ
lệ cắt cụt chi ở bệnh nhân BTĐ cao gấp 15 lần so với các đối tượng không bị BTĐ [23]
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu trên 1.156 bệnh nhân bị BTĐ ở Sóc Trăng của Nguyễn Thị Lạc năm 2011 [14] cho thấy tỷ lệ LBC là 8,6%, tỷ lệ cắt cụt chi chiếm 3,5% Năm 2004, tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương, tỷ lệ LBC trên bệnh nhân đến khám lần đầu tại nhóm đối tượng nghiên cứu là 1,2% [15] Số liệu theo dõi từ tháng 6/2004 đến 8/2005 tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương [16] cho thấy 60 bệnh nhân BTĐ có LBC nhập viện điều trị, chiếm tỷ lệ 1,9% tổng số bệnh nhân BTĐ nhập viện cùng thời gian, trong đó
tỷ lệ cắt cụt chi trong số 60 bệnh nhân BTĐ có LBC kể trên là 51%
Do hiểu biết và nhận thức của bệnh nhân BTĐ về bệnh BTĐ tăng lên, cộng thêm điều kiện kinh tế ngày càng phát triển nên nhu cầu được điều trị LBC hiệu quả ngày càng tăng cao Bệnh nhân BTĐ ngoài việc kiểm soát tốt đường huyết, chế độ dinh dưỡng và lối sống hợp lý còn cần được chăm sóc bàn chân đúng cách, toàn diện
Để chăm sóc tốt bàn chân, bệnh nhân tiểu đường cần có giầy, dép thích hợp (đặc biệt
là các bàn chân bệnh nhân mất cảm giác) [5, 20, 21]
Ở Việt Nam, việc sử dụng giầy, dép hỗ trợ điều trị LBC còn khá mới đối với cả bệnh nhân BTĐ và các bác sĩ điều trị Hiện nay tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Đa số sản phẩm giầy cho bệnh nhân tiểu đường được nhập khẩu Mặc dù giầy cho bệnh nhân tiểu đường được các bác sỹ ủng hộ mạnh mẽ nhưng còn thiếu thông tin khoa học liên quan đến hiệu quả của chúng Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy rằng sự phát triển các vết loét mới trên bệnh nhân BTĐ có nguy cơ cao có thể được giảm đáng kể với các loại giầy được thiết kế riêng cho bàn chân người BTĐ [13] Hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiếu thông tin và chưa có hiểu biết toàn diện về giầy dép cho bàn chân BTĐ nên việc chỉ định giầy dép trong hỗ trợ điều trị, chăm sóc bàn chân BTĐ đạt hiệu quả thấp [26] Chính vì vậy tác giả tiến
hành nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu khảo sát giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường tại Việt Nam theo các đặc điểm cấu trúc và nguyên phụ liệu” nhằm đánh giá đặc điểm
cấu trúc, nguyên vật liệu sử dụng, tình hình sản xuất, nhập khẩu và sử dụng giầy cho
nữ bệnh nhân bệnh tiểu đường tại Việt Nam làm cơ sở để đề xuất cấu trúc và nguyên
Trang 11phụ liệu phù hợp với giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường nước ta là việc làm cần thiết
có tính khoa học và thực tiễn
2 Lịch sử nghiên cứu
Nhu cầu về sử dụng giầy dép cho bệnh nhân BTĐ ở Việt Nam và trên thế giới rất lớn và ngày càng tăng mạnh Do vậy trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã và đang quan tâm nghiên cứu về loại giầy hỗ trợ cho bệnh nhân BTĐ Nhiều nghiên cứu tập trung vào thiết kế, chế tạo các loại vật liệu làm lót giầy (da, vải dệt ) có tính đàn hồi cao, an toàn sinh thái [26, 29] Các loại vật liệu làm đế (cao su, EVA, PU ) có tính đàn hồi cao, giảm áp lực, tính chống trơn trượt cao [25], nghiên cứu thiết kế và chế tạo phom giầy cho bệnh nhân tiểu đường [27, 28], đặc biệt là các nghiên cứu về áp lực lên bàn chân bệnh nhân tiểu đường [24, 26] Ở nước ta, giầy cho bệnh nhân tiểu đường mới được quan tâm nghiên cứu thời gian gần đây [17], nhưng các kết quả nghiên cứu còn nhiều hạn chế Theo các công trình đã công bố, chưa thấy có các quy định, quy chuẩn về cấu trúc và nguyên vật liệu sử dụng cho giầy tiểu đường tại Việt Nam và trên thế giới
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là xác định được đặc trưng cấu trúc giầy và nguyên vật liệu làm giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường hiện đang có trên thị trường nước ta, các đặc tính về cơ, lý của nguyên phụ liệu được sử dụng để sản xuất loại giầy này, làm cơ sở để đề xuất cấu trúc và nguyên phụ liệu phù hợp với giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường sử dụng trong điều kiện khí hậu nước ta
Đối tượng nghiên cứu:
Một số mẫu giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường tiêu biểu (sản phẩm nhập ngoại và sản xuất trong nước) hiện đang có trên thị trường Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Trong nghiên cứu này, tập trung phân tích đặc điểm cấu trúc, nguyên liệu của một số mẫu giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường tiêu biểu nhập ngoại và sản xuất trong nước đang có trên thị trường nước ta
Đánh giá và tính chất cơ, lý tiêu biểu của vật liệu làm các chi tiết giầy (mũ giầy,
Trang 12lót mũ giầy, đế trong, lót giầy, đế giầy), độ bền mối ráp đế giầy với mũ giầy của một mẫu giầy tiêu biểu
4 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản
Nghiên cứu tổng quan về bệnh tiểu đường, giầy cho bệnh nhân tiểu đường theo kiểu dáng, cấu trúc, nguyên phụ liệu sử dụng làm cơ sở cho nghiên cứu thực nghiệm
Khảo sát thực tế các loại giầy sử dụng cho nữ bệnh nhân tiểu đường đang có trên thị trường, lựa chọn các mẫu giầy tiêu biểu để nghiên cứu
Phân tích cấu trúc các mẫu giầy theo kiểu dáng, hình dạng, kích thước các chi tiết, phương pháp liên kết các chi tiết, các loại nguyên phụ liệu sử dụng, kết cấu lớp vật liệu
Thử nghiệm các tính chất cơ lý cơ bản của nguyên vật liệu sử dụng làm giầy (nguyên vật liệu từ một số mẫu giầy)
Đánh giá so sánh cấu trúc và nguyên vật liệu các mẫu giầy tiểu đường nghiên cứu với giầy thông dụng, đề xuất cấu trúc và nguyên phụ liệu phù hợp với giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường sử dụng trong điều kiện khí hậu nước ta
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết kế thừa các kết quả nghiên cứu đã công bố làm cơ sở cho nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu khảo sát để lựa chọn đối tượng nghiên cứu (các mẫu giầy tiểu đường tiêu biểu)
Phương pháp phân tích cấu trúc giầy
Nghiên cứu thực nghiệm xác định tính chất cơ lý cũng như cấu trúc của giầy cho bệnh nhân BTĐ
Đánh giá so sánh các mẫu giầy tiểu đường với giầy thông dụng
6 Đóng góp của tác giả
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần phân tích đánh giá các cấu trúc giầy
và nguyên vật liệu đang được sử dụng để sản xuất giầy tiểu đường
Đề xuất cấu trúc và nguyên phụ liệu phù hợp với giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường sử dụng trong điều kiện khí hậu nước ta
Trang 13CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về bệnh tiểu đường, bàn chân bệnh nhân tiểu đường
1.1.1 Tổng quan về bệnh tiểu đường
1.1.1.1 Bệnh tiểu đường
Bệnh tiểu đường (BTĐ) hay còn gọi là đái tháo đường, bệnh dư đường, là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao Trong giai đoạn mới phát, thường làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu ban đêm và do đó làm khát nước Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo, điển hình là bệnh tim mạch vành, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt dương, hoại tử, v.v [1, 2]
Bệnh tiểu đường có hai thể bệnh chính: Bệnh tiểu đường loại 1 do tụy tạng không tiết insulin, và loại 2 do tiết giảm insulin và đề kháng insulin [2, 4]
Loại 1 (Type 1): Khoảng 5 ÷ 10% tổng số bệnh nhân tiểu đường thuộc loại 1, phần lớn
xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi (dưới 20 tuổi) Các triệu chứng thường khởi phát đột ngột và tiến triển nhanh nếu không điều trị Giai đoạn toàn phát có tình trạng thiếu insulin tuyệt đối gây tăng đường huyết và nhiễm Ceton
Loại 2 (Type 2): Bệnh tiểu đường loại 2 chiếm khoảng 90 ÷ 95% trong tổng số bệnh
nhân bệnh tiểu đường, thường gặp ở lứa tuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậm chí cả lứa tuổi thanh thiếu niên Bệnh nhân thường ít có triệu chứng và thường chỉ được phát hiện bởi các triệu chứng của biến chứng, hoặc chỉ được phát hiện tình cờ khi đi xét nghiệm máu trước khi mổ hoặc khi có biến chứng như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, khi bị nhiễm trùng da kéo dài bệnh nhân
nữ hay bị ngứa vùng kín do nhiễm nấm âm hộ, bệnh nhân nam bị liệt dương [1, 2, 4]
1.1.1.2 Tình hình bệnh tiểu đường trên thế giới
Trong những năm gần đây, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi, các bệnh nhiễm trùng có xu hướng ngày một giảm thì ngược lại các bệnh không lây nhiễm như: tim mạch, tâm thần, ung thư… đặc biệt là bệnh tiểu đường và các rối loạn chuyển hoá ngày càng tăng [3]
Trang 14Vào những năm cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21, các chuyên gia của WHO đã dự báo "Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và rối loạn chuyển hoá, đặc biệt BTĐ sẽ là bệnh không lây phát triển nhanh nhất" BTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư ở các nước phát triển Tỷ lệ mắc BTĐ đang gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới kéo theo những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế đối với toàn xã hội Số người mắc BTĐ trên toàn thế giới tăng từ 171 triệu năm
2000 lên 194 triệu năm 2003, đã tăng vọt lên 246 triệu năm 2006 và được dự báo tăng lên 380 - 399 triệu vào 2025 Trong đó ở các nước phát triển, tỷ lệ người mắc bệnh tăng 42% và ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 170% Trong đó chủ yếu là BTĐ type 2 (chiếm khoảng 85 ÷ 95% tổng số người mắc BTĐ) BTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 trên thế giới, gây giảm tuổi thọ trung bình từ 5 đến 10 năm, là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà và suy thận giai đoạn cuối, nguyên nhân hàng đầu của cắt cụt chi không do chấn thương Cứ 10 giây lại có một người chết do nguyên nhân BTĐ và các biến chứng; cứ 30 giây lại có một người BTĐ có biến chứng bàn chân bị cắt cụt chi [4]
Bệnh nhân BTĐ tăng nhanh nhất ở các nước có tốc độ phát triển nhanh như Ấn
Độ, Trung Quốc Do sự tăng lên của việc tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, của lối sống ít vận động và quá trình đô thị hóa nên số người bị BTĐ càng gia tăng trong khi tuổi chẩn đoán BTĐ giảm đi
Tỷ lệ BTĐ tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á cũng tương đối cao Tại Philippine, kết quả điều tra quốc gia năm 2008 cho thấy tỷ lệ BTĐ là 7,2%, suy giảm dung nạp glucose: 6,5% và rối loạn glucose máu lúc đói: 2,1% Tỷ lệ BTĐ khu vực thành thị là 8,3% và khu vực nông thôn là 5,8% Theo kết quả điều tra năm 2008, tỷ lệ BTĐ tại Indonesia là 5,7%, tỷ lệ suy giảm dung nạp glucose là 10,2% ở lứa tuổi trên
15 tuổi [4]
1.1.1.3 Tình hình bệnh tiểu đường ở Việt Nam
Ở Việt Nam, BTĐ đang có chiều hướng gia tăng theo thời gian và theo mức độ phát triển kinh tế cũng như đô thị hóa
Nghiên cứu của Phan Sỹ Quốc và cộng sự [5] năm 1991 trên 4.912 đối tượng
Trang 15trên 15 tuổi tại Quận nội ngoại thành Hà Nội (xác định bệnh theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới WHO năm 1985) cho thấy tỷ lệ mắc BTĐ tại Hà Nội là 1,2% trong
đó nội thành là 1,44%, ngoại thành 0,63%, tỷ lệ giảm dung nạp glucose máu là 1,6%
Năm 1993, kết quả điều tra trên 5.416 người từ 15 tuổi trở lên ở Tp Hồ Chí Minh của Mai Thế Trạch và cộng sự cho thấy tỷ lệ BTĐ là 2,52% [6]
Năm 2001, điều tra dịch tễ học BTĐ theo chuẩn quốc tế mới với sự giúp đỡ của các chuyên gia hàng đầu của WHO, được tiến hành ở 4 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng,
Đà Nẵng, Hồ Chí Minh Kết quả điều tra này thực sự là tiếng chuông cảnh báo về tình trạng BTĐ nói riêng và bệnh không lây nói chung ở Việt Nam Theo đó tỷ lệ mắc BTĐ tại 4 thành phố lớn khảo sát, ở đối tượng lứa tuổi 30 ÷ 64 tuổi là 4,9%, rối loạn dung nạp glucose máu là 5,9%, tỷ lệ rối loạn glucose máu lúc đói là 2,8%, tỷ lệ đối tượng có yếu tố nguy cơ BTĐ là 38,5%, đáng lo ngại là trên 44% số người mắc BTĐ không được phát hiện và không được hướng dẫn điều trị [4]
Năm 2001, nghiên cứu của Nguyễn Kim Hưng và cộng sự trên 2.932 đối tượng tại Tp Hồ Chí Minh cho kết quả là tỷ lệ BTĐ là 3,7%, rối loạn dung nạp glucose máu
là 2,4%, rối loạn glucose máu lúc đói là 6,9% [7]
Năm 2002, Bệnh viện Nội tiết Trung Ương tiến hành điều tra toàn quốc về BTĐ và yếu tố nguy cơ trên 9.122 người thuộc 90 phường, xã khu vực Tây nguyên là 1.833 đối tượng, đồng bằng 2.722 đối tượng, thành phố là 2.759 đối tượng, Nam chiếm 45%, Nữ 55% Người mắc BTĐ type 2 tăng gần gấp ba lần so với 10 năm trước [8]
Năm 2008, kết quả của điều tra quốc gia năm 2008, tỷ lệ BTĐ type 2 trong lứa tuổi từ 30 ÷ 69 khoảng 5,7% dân số, nếu chỉ tính ở khu vực Thành phố, Khu công nghiệp thì tỷ lệ bệnh từ 7,0% đến 10% [9]
Nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Diệp và cộng sự năm 2008 trên đối tượng 30 ÷
69 tuổi trong 2 cuộc điều tra trên cùng một cộng đồng tại Tp Hồ Chí Minh vào các thời điểm khác nhau là năm 2001 và năm 2008 với cùng một phương pháp do trung tâm dinh dưỡng tiến hành [10] Kết quả cho thấy tỷ lệ BTĐ type 2 năm 2008 là 7,04%,
và tỷ lệ BTĐ tăng dần theo nhóm tuổi Điều đáng lo ngại hơn là bệnh xuất hiện ở lứa
Trang 16tuổi trẻ ngày càng nhiều Tỷ lệ thừa cân, béo phì đang tăng nhanh ở lứa tuổi thiếu niên
là mối lo ngại cho BTĐ tuýp 2 Nhìn chung các nghiên cứu cho thấy BTĐ đang tăng nhanh không chỉ ở các khu công nghiệp, thành phố mà còn cả miền núi, trung du, nhận thức chung của cộng đồng về BTĐ còn thấp [4]
Năm 2013, trong kết quả công bố của “Dự án phòng chống Đái tháo đường Quốc gia” do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người tuổi 30 ÷ 69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã cho thấy tỷ lệ mắc BTĐ
là 5,7% (tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ là 7,2%, thấp nhất là Tây Nguyên 3,8%)
Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7% năm 2002 lên gần 12,8% năm 2012 Cũng theo nghiên cứu này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc đái tháo đường tuýp 2 cao gấp 4 lần những người dưới 45 tuổi Người bị huyết áp cao cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người khác hơn 3 lần Người có vòng
eo lớn nguy cơ mắc cao hơn 2,6 lần Như vậy, tỷ lệ mắc BTĐ ở Việt Nam 10 năm qua
đã tăng gấp đôi Đây là con số đáng báo động vì trên thế giới, phải trải qua 15 năm tỷ
lệ mắc BTĐ mới tăng gấp đôi Trong khi đó, 75,5% số người được hỏi đều có kiến thức rất thấp về BTĐ [4]
1.1.2 Tổng quan về bàn chân bệnh tiểu đường
BTĐ là bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và gây ra nhiều biến chứng Theo hiệp hội BTĐ quốc tế, BTĐ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 4 hoặc thứ 5
ở các nước phát triển và đang được coi là dịch bệnh ở các nước đang phát triển Khoảng 50% bệnh nhân BTĐ bị các biến chứng như bệnh mạch vành, tim mạch, đột quỵ, bệnh lý thần kinh do BTĐ, cắt đoạn chi (do các biến chứng bàn chân như lở loét, sưng, biến dạng bàn chân …), suy thận, mù mắt Biến chứng này dẫn đến tàn tật và giảm tuổi thọ [4]
- Bàn chân dễ bị tổn thương, do người bệnh bị giảm hoặc mất cảm giác bàn chân, khi bị tổn thương người bệnh không biết do vậy vết thương dễ nặng thêm
- Các vết thương bàn chân rất khó lành do thiếu ôxy, thiếu dưỡng chất, khả năng đề kháng giảm v.v
Trang 17- Bàn chân dễ bị tổn thương trước tác động của nhiệt độ môi trường cao hoặc thấp
- Da bàn chân dễ bị vi khuẩn tác động gây bệnh
- Các mạch máu và đầu dây thần kinh dễ bị tổn thương khi bị va chạm mạnh hoặc bị ép nén trong thời gian dài
- Da bàn chân nhạy cảm dễ bị tổn thương, cảm giác kém
- Bàn chân bị biến dạng do bị teo các cơ, sai lệch các khớp (hình1.1)
Trang 18Hình 1 2: Bệnh thần kinh ngoại vi [34]
Da: tổn thương mạch máu và thần kinh bàn chân sẽ gây mỏng da, khô, ngứa, lạnh, rụng lông, móng chân dầy, mất móng Đặc biệt là biến chứng vết thương ở bàn chân khó hoặc lâu lành hơn người bình thường do thiếu oxy, chất dinh dưỡng, máu nuôi các tế bào bạch cầu phản ứng kém với nhiễm trùng
Tổn thương thần kinh sợi nhỏ gây
biến dạng ngón chân hình búa
Lâm sàng: Khởi đầu bàn chân có
thể viêm tấy nhưng không đau
Trang 194
Bàn chân Charcot: Tổn thương
thần kinh sợi lớn làm co rút gân
Achilles và biến dạng duỗi khớp
cổ - bàn chân Tổn thương thần
kinh sợi nhỏ gây biến dạng ngón
chân hình búa (hammer toes)
Các biến dạng làm gia tăng nguy
cơ loét
5
X Quang hoặc CT scanner: có hình
ảnh loãng xương; hủy xương; gãy
Trang 209
Vết loét mu bàn chân
1.2 Giầy cho bệnh nhân tiểu đường, yêu cầu đối với chúng
1.2.1 Giầy cho bệnh nhân tiểu đường
1.2.1.1 Vai trò của giầy tiểu đường
Đôi giầy không thể thiếu đối với bệnh nhân tiểu đường, đôi giầy giúp kéo dài
tuổi thọ bệnh nhân Đi chân không dễ đạp lên mảnh chai, vật sắc nhọn, tạo vết thương
mà đôi khi người bệnh không hay biết Tránh tình trạng đi chân trần ngay cả đi trong nhà vì bàn chân bệnh nhân có thể giẫm phải những dị vật có thể làm tổn thương lòng bàn chân Luôn mang tất mềm, ít mối ráp nối để tránh những vết chai da do giầy, dép
cọ sát lâu ngày để lại Đế giầy hay dép phải thật mềm Người có bệnh tiểu đường cần thiết phải mang giầy có đế vững vàng và độ đàn hồi tốt, nên mang giầy vừa chân, tránh bó hẹp Một số chuyên gia đã lưu ý đối với người bệnh không nên mang sandal,
guốc hay dép, và cần thay đổi giầy sau khi mang liên tục 4 đến 5 giờ [13]
Năm 2011, Bus Sicco A và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 23 bệnh nhân BTĐ có bệnh lý thần kinh ngoại vi (17 nam, 6 phụ nữ) Trong đó 18 bệnh nhân có tiền
sử LBC 1 lần Tất cả bệnh nhân có ít nhất một bàn chân bị biến dạng (ngón chân vuốt thú, ngón chân cái búa, vẹo ngón cái, bàn chân Charcot, hạn chế tầm vận động, bàn chân bẹt hoặc bàn chân vòm) Giầy thiết kế cho bàn chân BTĐ hoặc lót đúc vòm trong giầy được sản xuất theo tiêu chuẩn Thời gian đi giầy thiết kế cho bàn chân BTĐ trung bình là 2 ÷ 3 tháng Kết quả cho thấy áp lực đỉnh lên lòng bàn chân giảm 24,3% (p <0,001) so với giầy dép thông thường, giảm áp lực toàn phần là 30,2% (từ 19 ÷ 50% trên toàn bộ bền mặt lòng bàn chân) Áp lực đỉnh lên lòng bàn chân cũng giảm theo từng vị trí khác nhau: ngón cái là 33,4% (từ 17,6 ÷ 51,8%), giảm 27,9% (17,2 ÷ 38,2), khu vực đầu xương bàn chân và giảm 29,7% (17,1 ÷ 40,0%) vùng giữa lòng bàn chân (p = 0,23) [24]
Trang 211.2.1.2 Các loại giầy cho bệnh nhân tiểu đường
a) Trên thế giới
Trên thế giới người ta thường sử dụng 2 loại giầy cho bệnh nhân tiểu đường: giầy được chế tạo theo bàn chân bệnh nhân và giầy “sâu rộng” được sản xuất hàng loạt [29]
Loại đầu tiên được sản xuất theo các đặc trưng nhân trắc (hình dạng và kích thước) bàn chân của từng bệnh nhân tiểu đường Chúng được làm từ các loại vật liệu rất mềm như da mềm với các chi tiết đóng mở linh hoạt như băng nhám (Velcro) với mục đích phòng các biến chứng như các vết trầy xước hoặc nhiễm trùng Loại giầy này còn sử dụng các chi tiết hỗ trợ vòm bàn chân, hỗ trợ gót chân và các chi tiết độn, chúng được thiết kế chính xác theo biên dạng và hình dạng bàn chân và chân người bệnh Tuy nhiên giá thành của loại giầy này thường khá cao
Loại giầy thứ hai là giầy “sâu rộng” với một số kiểu giầy tiêu biểu với lót giầy
có thể tháo rời Gọi là giầy “sâu rộng” là vì giầy này có khoảng không bên trong cao hơn, rộng hơn giầy bình thường, có nghĩa là thể tích bên trong giầy lớn hơn để có thể chứa lót giầy có độ dày lớn hơn ở giầy bình thường Lót có độ dày tối thiểu 3/16 inch (4,8 mm) đảm bảo độ giảm chấn, độ êm cho bàn chân người bệnh Giầy được giữ (đóng) trên bàn chân bằng dây giầy hoặc băng nhám velcro để có thể điều chỉnh được
độ vừa vặn của giầy với bàn chân sau khi đã đưa lót giầy vào Lót giầy có thể được chế tạo theo bàn chân người bệnh
Có một số kiểu giầy loại 2 cho bệnh nhân tiểu đường tùy thuộc vào mức độ bệnh hay nguy cơ bàn chân Thường chia thành 4 nhóm nguy cơ loét bàn chân bệnh nhân BTĐ [18]
Nhóm nguy cơ thấp: Cảm giác bảo vệ bàn chân bình thường
Nhóm nguy cơ vừa: Mất cảm giác bảo vệ bàn chân, không có biến dạng bàn chân, không có tiền sử loét bàn chân hoặc cắt cụt từ trước
Nhóm nguy cơ cao: Mất cảm giác bảo vệ bàn chân, có biến dạng bàn chân, không có tiền sử loét bàn chân hoặc cắt cụt từ trước
Nhóm nguy cơ rất cao: Mất cảm giác bảo vệ bàn chân, có biến dạng bàn chân,
Trang 22có tiền sử loét bàn chân hoặc cắt cụt từ trước
Giầy cho nhóm bệnh nhân nguy cơ thấp: Nhóm này lựa chọn giầy phù hợp với các
đặc điểm: Đế và mũi giầy mềm, có các kích cỡ bề ngang khác nhau thích hợp cho từng bệnh nhân, ví dụ như ở (hình 1 3)
Hình 1 3: Giầy cho bệnh nhân tiểu đường nguy cơ thấp [40]
Giầy cho nhóm bệnh nhân nguy cơ vừa: Bệnh nhân có nguy cơ vừa bị loét bàn chân
Lựa chọn loại giầy da rộng, mềm, dễ uốn, với kích cỡ cân đối, với áp lực thích hợp, vừa vặn với cung gan bàn chân cho đối tượng bệnh nhân này
Hình 1.4: Giầy cho bệnh nhân tiểu đường nguy cơ vừa [41]
a: Giầy da rộng, mềm, dễ uốn, vừa vặn với cung gan bàn chân
b: Giầy có sự phân bố áp lực phù hợp bên trong đế giầy
Giầy cho nhóm nguy cơ bị loét chân cao: Khi bị mất cảm giác bảo vệ sẽ gây
ra những biến dạng của bàn chân (lồi xương đốt bàn, ngón chân hình búa, ngón chân hình vuốt thú) Trong các trường hợp này ngón chân của bàn chân bị biến dạng, không thích hợp với đôi giầy đang mang từ trước, nhân tố quan trọng nhất là phần trên mũi giầy, sẽ gây cọ sát và làm gia tăng những vết loét ở phía trên ngoài và sau của vùng
Trang 23này Vị trí loét thường xuất hiện ở phía trên mu bàn chân và bên cạnh của ngón 1 và
ngón 5 [13]
Với những bệnh nhân này cần được tư vấn để lựa chọn giầy phù hợp: Chất liệu nên mềm, dễ uốn, tạo được sự thích nghi với bất kỳ sự thay đổi nào của bề mặt giúp phòng ngừa các tổn thương do cọ xát Với nhóm bệnh nhân này, sự biến dạng bàn chân có liên quan mật thiết với dáng đi của từng người Giầy cho nhóm bệnh nhân này
có đế giầy làm bằng chất liệu cao su, cho phép trải rộng áp lực bên trong ra cả vùng biên và đế giầy vững và có thể chuyển động dễ dàng Giầy làm bằng da mềm, có khoảng trống ở mũi giầy phù hợp với ngón chân bị biến dạng và tránh tăng áp lực quá mức từ mũi giầy [13]
Hình 1 5: Giầy cho nhóm nguy cơ cao bị loét chân [40]
Giầy cho nhóm nguy cơ loét chân rất cao: (Mất cảm giác bảo vệ, kèm biến
dạng bàn chân, tiền sử bị loét hoặc chấn thương)
Bệnh nhân tiểu đường bị mất cảm giác bảo vệ, bàn chân biến dạng cùng với tiền sử loét ở vùng gan bàn chân, hoặc trước đó có tháo ngón Ở các bệnh nhân này xuất hiện tình trạng tăng quá mức áp lực dưới chân trong khi họ đi lại, áp lực cao nhất thường xuyên xảy ra ở phía dưới của ngón chân bị lồi lên, liên quan đến vị trí của vết loét Để giảm áp lực đỉnh này cần sử dụng giầy phù hợp để phân bố đều áp lực lên các phần lòng bàn chân [13]
Hình 1 6: Lót giầy cho bệnh nhân tiểu đường [40]
Trang 24Nhóm này nên lựa chọn loại giầy với các đặc điểm: Đế giầy linh động và cứng, giầy nửa sau giúp giảm tải ở phần bàn chân trước và thúc đẩy sự lành vết loét lên đến 66% [13]
Hình 1.7: Giầy cho nhóm nguy cơ loét chân rất cao [40]
a) Giầy với đế cứng và mũi giầy rộng để chứa ngón chân biến dạng, và có nhiều miếng đệm ở bên trong
b) Giầy nửa đế trên, giúp không tạo áp lực lên vết loét bàn chân trước, do bệnh nhân đi bằng áp lực duy nhất ở vùng biên bàn chân
c) Giầy nửa đế dưới, giúp không tạo áp lực lên vết loét phần gót chân
b) Trong nước
Như đã trình bày ở trên, ở nước ta số người mắc bệnh tiểu đường ngày càng tăng nhanh Bệnh nhân tiểu đường không chỉ tăng mạnh ở khu vực thành phố mà còn tăng mạnh cả ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Bàn chân người tiểu đường rất
dễ bị tổn thương và cần có các loại giầy phù hợp Tuy nhiên cho đến nay chưa có loại giầy chuyên dụng cho các nhóm bệnh nhân tiểu đường Bệnh nhân tiểu đường ở nước
ta hoặc là không sử dụng giầy dép hoặc là sử dụng các loại giầy bình thường (thông dụng), do vậy nguy có chấn thương bàn chân là rất cao Các loại giầy cho các nhóm bệnh này nếu nhập ngoại khá đắt, ví dụ giầy nhập khẩu từ Thái Lan (hình 1 8) có giá khoảng 1 triệu đồng/đôi, chưa phù hợp với điều kiện kinh tế nước ta So với các nước phát triển bề mặt (đường xá, nền nhà v.v.) ở nước ta đường xá nhỏ hẹp hơn, thô ráp, gồ ghề hơn và bẩn hơn, nên bàn chân bệnh nhân tiểu đường có nguy cơ bị chấn thương cao hơn Do vậy vai trò của giầy bảo vệ bàn chân người tiểu đường càng quan trọng
Trang 25Hình 1 8: Giầy bít [42] Hình 1 9: Giầy bít [43] Vài năm gần đây Viện Nghiên cứu Da giầy có nghiên cứu sản xuất thử nghiệm một số mẫu giầy cho bệnh nhân tiểu đường [17] (hình 1.10) Tuy nhiên, để sản xuất các mẫu giầy này vẫn dùng các loại phom giầy thông thường, nên giầy chưa thực sự phù hợp với bàn chân bệnh nhân tiểu đường nước ta Bên cạnh đó giá thành giầy còn khá cao chưa phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay của bệnh nhân
Hình 1.10:Một số mẫu giầy nữ cho bệnh nhân tiểu đường
do Viện Nghiên cứu Da giầy việt Nam sản xuất
1.2.2 Yêu cầu đối với giầy cho bệnh nhân tiểu đường
Như đã đề cập ở trên, do bàn chân bị biến dạng (teo lớp đệm lòng bàn chân) nên áp lực lên lòng bàn chân không đều, tạo áp lực rất lớn ở phía dưới xương bàn chân, do vậy việc sử dụng giầy hợp lý còn giúp nâng đỡ bàn chân, phân bồ đều áp lực lên lòng bàn chân, làm giảm nguy cơ bị chai hoặc loét bàn chân [13]
Từ các đặc điểm bàn chân bệnh nhân BTĐ, kết hợp với các yêu cầu về mặt y học đối với giầy cho bệnh nhân tiểu đường [13] có thể đưa ra các yêu cầu chung sau đây đối với loại giầy này:
- Kiểu giầy thấp cổ hoặc cổ lửng có dây buộc hoặc dùng băng nhám (velcro) để
dễ điều chỉnh cho giầy vừa vặn với bàn chân Giầy có băng nhám còn thuận tiện cho các bệnh nhân gặp khó khăn khi cúi buộc dây giầy
Trang 26- Giầy có gót thấp từ 1,0 – 2,5 cm (gót không quá thấp) để đảm bảo phân bố áp lực bình thường nên bàn chân, đế giầy và gót rộng tạo độ vững chắc cho người bệnh khi đi đứng
- Giầy phải vừa chân, có phần mũi cao và rộng (hình 1.11) để tránh ép nén cục
bộ và tổng thể lên bàn chân, tổn thương da và các mạch máu, dây thần kinh hoặc làm trầy xước da [17]
Hình 1.11: Minh họa yêu cầu phần mũi giầy cho bệnh nhân tiểu đường (Mũi giầy cứng, rộng và sâu chứa đựng các ngón chân một cách thoải mái)
- Giầy bảo vệ bàn chân khỏi các tác động cơ học từ môi trường bên ngoài (các tác động va đập, đâm xuyên của các vật thể)
- Giầy mềm mại, lót êm không cộm để tránh tổn thương da bàn chân, tránh ép nén mạnh lên bàn chân khi đi lại (bẻ uốn)
- Lót giầy đảm bảo cho sự phân bố áp lực đều lên lòng bàn chân, giảm chấn (có
độ êm) cho bàn chân, nâng đỡ bàn chân Nếu có thể nên làm lót theo đặc thù bàn chân người bệnh
- Giầy bảo vệ bàn chân khỏi bị lạnh hoặc không bị quá nóng (giữ nhiệt độ ổn định cho bàn chân)
- Giầy hạn chế tối đa tác động của vi khuẩn làm hôi chân và có thể gây bệnh lý cho bàn chân
- Giầy đảm bảo các yêu cầu vệ sinh (độ hút ẩm, thải ẩm, thông hơi v.v.) đảm bảo cho bàn chân luôn khô ráo sạch sẽ Các yêu cầu vệ sinh của loại giầy này cần phải cao hơn giầy thông thường
- Giầy đảm bảo các yêu cầu sinh thái (hàm lượng CrVI, độ pH của da thuộc, độ
Trang 27bền màu, thuốc nhuộm azo gây ung thư hoặc dị ứng, hàm lượng kim loại nặng, hàm lượng formandehit trên vải v.v.) để không gây độc hại cho bàn chân Các yêu cầu sinh thái của loại giầy này cũng cần phải cao hơn giầy thông thường [17]
1.3 Nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất giầy
Giầy nói chung được cấu tạo từ 2 phần: Phần đế giầy và phần mũ giầy
Phần mũ giầy hay còn gọi tắt là mũ giầy bao phủ bề mặt mu bàn chân và thường
được cấu tạo từ 3 lớp chi tiết: lớp chi tiết bên ngoài (nhiều tài liệu gọi là mũ giầy
-upper), lớp chi tiết lót (lót mũ giầy – upper lining), các chi tiết tiếp xúc trực tiếp với
phần mu bàn chân, lớp chi tiết tăng cường - các chi tiết nằm giữa chi tiết bên ngoài và lót có tác dụng bảo vệ và làm ổn định hình dạng của mũ giầy
Hình 1.12: Cấu trúc mũ giầy Phần đế giầy che phủ phần lòng bàn chân cũng bao gồm 3 lớp: lớp chi tiết bên ngoài (đế giầy, gót giầy), lớp chi tiết đế trong (còn gọi là lót đế giầy) tiếp xúc trực tiếp với lòng bàn chân và lớp chi tiết đệm giữa (đế trung, độn đế)
Trang 28Hình 1.13: Cấu trúc đế giầy [44] Hình 1.14: Cấu trúc giầy
1.3.1 Vật liệu làm phần mũ giầy và yêu cầu đối với chúng
1.3.1.1 Vật liệu làm chi tiết bên ngoài
Để làm các chi tiết bên ngoài của mũ giầy người ta thường sử dụng da thuộc, vải dệt thoi và giả da (còn gọi là vải tráng phủ), cũng như kết hợp một số vật liệu khác
Da thuộc: Da thuộc được sử dụng nhiều để làm các chi tiết bên ngoài và lót mũ
giầy, làm các chi tiết phần đế giầy như đế trong, lót giầy do chúng có tính tiện nghi tốt (hút ẩm, nhả ẩm, hút nước, thải nước, thông hơi tốt, thân thiện với da cơ thể người v.v.) và thỏa mãn các yêu cầu công nghệ sản xuất (độ giãn, tính đàn hồi, tính ổn định hành dạng v.v.)
Thành phần cấu tạo chính của da là protit colagen Các tính chất của da phụ thuộc chủ yếu vào tính chất của colagen Tính chất của colagen được xác định bởi cấu tạo hóa học, dạng và các đặc điểm của các nhóm hoạt tính và các mối liên kết xuất hiện giữa chúng với colagen [30]
Hình 1.15: Da bò thuộc [45]
Trang 29Để làm mũ giầy cho bệnh nhân tiểu đường thường sử dụng da cật và da váng Thông thường người ta sử dụng da bò hoặc dê, da cừu mềm (hoặc rất mềm) thuộc crom có độ dày từ 1,0 đến 1,5 mm Các loại da này có thể là da cật nguyên (không xẻ) hoặc da cật xẻ Đôi khi người ta dùng các loại da váng (da lớp 2) để làm chi tiết bên ngoài cho một số loại kiểu giầy Da váng có thể được hoàn tất bằng cách tráng phủ và tạo vân hoa bề mặt nhằm tăng độ bền của da, tạo cho da có ngoại hình của da cật Tuy nhiên các tính chất cơ lý và tính vệ sinh của loại da này kém hơn so với da cật, chúng được sử dụng để làm mũ giầy có chất lượng thấp [30]
Vải dệt thoi: Vải ngày càng được sử dụng nhiều trong công nghiệp sản xuất giầy
một phần do nhu cầu về giầy dép ngày càng tăng, trong khi đó sản lượng da thuộc không đủ để đáp ứng nhu cầu này, mặt khác do chúng có các tính chất đảm bảo các yêu cầu vệ sinh (hút ẩm, hút nước tốt, thải ẩm tốt, thông hơi, thông khí rất tốt v.v.), công nghệ và giá thành rẻ hơn so với da thuộc Để làm chi tiết bên ngoài của giầy thông dụng người ta sử dụng chủ yếu là vải đi từ xơ sợi bông hoặc vải pha bông với
xơ sợi tổng hợp như Pe/co Tuy nhiên vải bông pha có các tính chất tiện nghi bị giảm nên người ta thường dùng vải bông 100% [30]
Để làm chi tiết bên ngoài của mũ giầy có thể dùng vải dệt thoi với độ dày, chi
số sợi khác nhau và có khối lượng từ 250 đến 400 g/m2
Vải dệt thoi là loại vải có kết cấu bền chắc chắn, liên kết của sợi ngang và sợi dọc trong cấu trúc vải khá chặt chẽ, do có độ bền cao nên rất thuận tiện cho việc chế tạo nhiều sản phẩm trong đó có các chi tiết mũ giầy
Vải bông làm mũ giầy thường là vải bạt dày dệt từ sợi bông hoặc sợi bông pha được sản xuất theo kiểu dệt vân điểm có khối lượng mét vuông từ 250 đến 400 g/m2, mật độ sợi khoảng từ 100 đến 200 sợi/10 cm
Trang 30Hình 1.16: Vải dệt thoi [46]
Giả da: Giả da được xem là da nhân tạo hay còn gọi là vải tráng phủ, thường
được tạo bởi việc kết hợp một lớp vải nền hoặc lớp đệm xơ với lớp tráng phủ bên trên Vải nền có thể được tạo bởi nguyên liệu tự nhiên hoặc nguyên liệu tổng hợp, còn đệm
xơ thường làm từ xơ tổng hợp như polieste Nhựa tráng phủ trên lớp nền, hoặc kết dính xơ của lớp đệm xơ và tạo nên lớp màng phủ thường là PVC hoặc PU Để tăng tính thẩm mỹ cho sản phẩm giả da người ta có thể tạo ra nhiều sản phẩm giả da khác nhau bằng cách tạo nhiều hoa văn và màu sắc, cũng có thể cán ép vân hình để tạo cho
da có hình thức đẹp đáp ứng nhu cầu khách hàng
So với da thuộc, giả da có tính vệ sinh kém (hút ẩm, hút nước, thông hơi, thông khí kém) tính chất cơ học như độ giãn, độ bền xé, đàn hồi, khả năng ổn định hình dạng kém do vậy không nên sử dụng loại vật liệu này làm mũ giầy cho bệnh nhân tiểu đường [17]
Hình 1.17: Giả da [47]
Các yêu cầu cơ bản đối với vật liệu làm các chi tiết bên mũ giầy:
Mũ giầy là phần che phủ toàn bộ mu (phần trên) của bàn chân và ống chân Các chi tiết bên ngoài là nhóm chi tiết quan trọng có chức năng bảo vệ và chức năng làm đẹp cho giầy Các chi tiết bên ngoài của giầy chịu tác động mạnh mẽ nhất từ môi
Trang 31trường sử dụng: Tác động cơ học (va đập, ép nén, mài mòn, kéo giãn, bẻ uốn v.v.), tác động nhiệt, tác động vật lý (ẩm, nước, bức xạ v.v.) Các tác động này luôn thay đổi, nhưng mang tính lặp lại Các chi tiết bên ngoài cũng chịu tác động từ phía bàn chân, như bẻ uốn, ép nén v.v Chóp mũi và lắc (phần phía trước của giầy) là các chi tiết bên ngoài chịu tác động lớn nhất từ môi trường, từ bàn chân và chúng có chức năng bảo vệ cao nhất
Vật liệu, hình dạng và kích thước các chi tiết bên ngoài cơ bản quyết định kiểu giầy, vẻ đẹp ngoại hình giầy Vật liệu làm chi tiết bên ngoài cần thỏa mãn các yêu cầu theo tiêu chuẩn ISO 20879:2007
1.3.1.2 Vật liệu làm lớp lót mũ giầy
Da thuộc: Da thuộc được sử dụng nhiều để làm lót giầy, trong đó có giầy cho
bệnh nhân tiểu đường vì có tính vệ sinh tốt (hút ẩm, hút nước, thải ẩm, thải nước, thông hơi tốt, tính cách nhiệt tốt) có độ bền mài mòn khô và ướt cao, da mềm mại và thân thiện với bàn chân
Da làm lót giầy có loại da cật và loại da váng (từ da lợn, bò, trâu nguyên liệu)
Da lót cật thường là các loại da có chất lượng thấp không phù hợp làm da cho mũ giầy Da váng được sử dụng nhiều để làm lót vì có các tính chất tiện nghi tốt, giá thành thấp Da làm lót giầy thường yêu cầu độ mền mại do đó thường dùng da thuộc crôm và được tẩm dầu (mỡ)
Da váng dùng để làm lót giầy hiện đang được sử dụng phổ biến trên thị trường
do chúng có cấu tạo từ các chùm xơ colagen mỏng đan xen vào nhau nên rất mềm mại, khả năng thẩm thấu không khí và hơi nước tốt tương tự da mặt cật Một yếu tố quan trọng nữa là loại da này có giá thành rẻ hơn nhiều so với da mặt cật, nên hợp lý
để làm lớp lót giầy
Trang 32Vải dệt thoi: Để làm lót mũ giầy người ta có thể dùng vải dệt thoi (vải bạt
bông) bởi vì vải bông có các tính chất vệ sinh tốt đảm bảo được các yêu cầu vệ sinh và công nghệ cho nhiều loại giầy Vải bông làm lớp lót giầy thường là vải bạt mỏng dệt
từ sợi bông được sản xuất theo một số kiểu dệt chính sau: Kiểu dệt vân điểm, vân chéo hoặc vân đoạn Do vải bông 100% có độ bền mài mòn ướt không cao nên chúng thường không được sử dụng làm lót phần gót giầy, mà chủ yếu được sử dụng làm lót phầm mũi mũ giầy
Trang 33Hình 1.20: Vải dệt thoi làm lót giầy [50]
Để tăng độ êm xốp cho giầy người ta có thể sử dụng cấu trúc vải dệt thoi + mút xốp Các lớp vật liệu này được bồi dán keo với nhau trước khi pha cắt Tuy nhiên tính
vệ sinh của hệ vật liệu này bị giảm do có mặt của màng keo [17]
Để tăng tính vệ sinh cho giầy, có thể sử dụng các mặt hàng vải dệt có xử lý kháng khuẩn [31] Mặt hàng này rất phù hợp cho loại giầy cho bệnh nhân tiểu đường
để phòng tránh nhiễm trùng bàn chân do vi khuẩn
Vải dệt kim: Vải dệt kim được tạo ra bằng sự liên kết các vòng sợi với nhau
theo một quy luật nhất định Do được tạo thành bởi các vòng sợi nên vải dệt kim thường có tính đàn hồi, xốp và thẩm thấu không khí tốt hơn các loại vật liệu khác Để sản xuất vải dệt kim dùng làm lớp lót giầy và lót giầy người ta thường sử dụng một số kiểu dệt sau đây: Kiểu dệt single, dệt rib, dệt interlock [30]
Mặt hàng vải dệt kim dùng trong để làm lót mũ giầy bảo vệ khá đa dạng Số lượng vải dệt kim sử dụng trong ngành Giầy nói chung và trong sản xuất lót giầy nói riêng ngày càng tăng nhanh do chúng có ưu điểm như giá thành rẻ hơn so với vải dệt, tính giữ nhiệt tốt, các tính chất cơ lý của vải dệt kim cho phép dễ dàng tiến hành các công đoạn định hình lót giầy và cấu trúc lỏng lẻo cho phép thoát hơi ẩm nhanh
Tuy nhiên do độ giãn quá cao, độ đàn hồi lớn nên không được dùng làm lót cho các phần mũ giầy chịu biến dạng lớn trong sản xuất vì không đảm bảo độ ổn định hình dạng Do vậy chúng thường được dùng kết hợp với lớp mút xốp hoặc với EVA xốp,
PU xốp để làm lót giầy và làm lót phần gót cho mũ giầy [30]
Trang 34Hình 1.21: Vải dệt kim interlock [51]
Vải không dệt: Vải không dệt cấu tạo từ đệm xơ liên kết với nhau bằng phương
pháp hóa học, cơ học và hóa lý v.v Do được cấu tạo từ đệm xơ nên vải không dệt có
độ bền thấp, độ giãn lớn và sự không đồng đều về tính chất nên được sử dụng hạn chế
để làm các chi tiết bên ngoài của mũ giầy mà chủ yếu dùng làm các chi tiết lót, đệm giữa của mũ giầy hoặc làm lót giầy một lớp
Vải không dệt dùng để làm lớp lót giầy chủ yếu là vải không dệt khâu đan có lông trên bề mặt được làm từ xơ bông Vải không dệt khâu đan được sản xuất bằng cách gắn kết hai hệ sợi, sợi dọc và sợi ngang đặt chồng lên nhau bằng hệ sợi thứ ba nhờ sử dụng đường may ziczắc một chỉ Đệm xơ của vải có thể được gắn kết bởi kiểu dệt kim đan dọc đơn và dệt kim đan dọc kép Loại vải này bền và có độ xốp lớn, tính giữ nhiệt tốt rất thích hợp để làm lót giầy đi mùa đông
Ngành sản xuất vải không dệt phát triển rất mạnh bởi vì ngành này sử dụng nguyên liệu xơ cấp thấp và phế liệu trong sản xuất, trang thiết bị có năng suất cao và diện tích nhà xưởng nhỏ Ngoài những yếu tố kể trên thì yếu tố quyết định vẫn là loại vải này có giá thành thấp hơn so với các loại vải khác Ngày nay người ta sử dụng nhiều loại vải không dệt mới được sản xuất từ các chất chống được tác dụng của vi khuẩn và có lớp màng dẻo để dán với các chi tiết mũ giầy, đế giầy Các vật liệu này đảm bảo không tạo thành môi trường vi khuẩn và nấm mốc trên bề mặt bên trong của
mũ giầy, duy trì độ thẩm thấu không khí và thấm hút mồ hôi cần thiết của giầy [30]
Vải không dệt ngày càng được sử dụng nhiều để làm lót mũ giầy, đặc biệt là các loại vải không dệt mới như Camprela (hình 1.20) [31] có khả năng thông hơi tốt nhưng có độ kháng thấm nước cao phù hợp cho các loại giầy yêu cầu có tính bảo vệ khỏi nước
Trang 35Hình 1.22: Ngoại hình vải không dệt Camprella [51]
Lót mũ giầy là lớp tiếp xúc với mu bàn chân, chịu tác động mạnh mẽ từ bàn chân, và cũng có ảnh hưởng lớn, trực tiếp đến bàn chân Lớp lót có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính vệ sinh của giầy Độ bền mài mòn (khô và ướt) của lớp lót ảnh hưởng lớn đến độ bền của giầy Vật liệu làm lớp lót cần đáp ứng yêu cầu theo tiêu chuẩn ISO 20882:2007 Ngoài ra lót giầy quyết định khá lớn đến cảm giác tiếp xúc của bàn chân, do vậy vật liệu làm lót cần phải mềm mại, êm xốp, không thô ráp
1.3.1.3 Vật liệu làm chi tiết tăng cường và yêu cầu đối với chúng
Chi tiết tăng cường trong mũ giầy bao gồm chi tiết tăng bền (các chi tiết tăng cường ôdê, cánh lắc v.v.) và chi tiết đảm bảo tính ổn định hình dạng của giầy và tính năng bảo vệ (pho hậu và pho mũi)
Chi tiết tăng cường thường sử dụng khi vật liệu làm mũ giầy và làm lót có độ dày nhỏ hoặc có độ bền kéo đứt kém Khi đó người ta thường sử dụng vải dệt thoi vân điểm cotton pha polieste CVC mỏng khối lượng 80 - 120 g/m2 để dán vào giữa chi tiết bên ngoài và chi tiết lót nhằm tăng độ bền và tính ổn định hình dáng cho mũ giầy Vật liệu làm giầy cho bệnh nhân tiểu đường có độ dày nhỏ nên có thể cần đến các chi tiết này
Vật liệu làm pho hậu và pho mũi: Pho hậu và pho mũi có tác dụng tạo dáng cho
mũ giầy có hình dạng phần hậu và phần mũi của phom và duy trì hình dạng này trong quá trình sử dụng Pho hậu và pho mũi còn có tác dụng bảo vệ phần hậu và phần mũi bàn chân khỏi các tác động va đập từ bên ngoài
Da thuộc được sử dụng làm pho hậu và pho mũi do có tính vệ sinh tốt, tính đàn hồi và tính ổn định hình dạng cao, nên chất lượng pho rất tốt Tuy nhiên việc sử dụng
Trang 36da thuộc làm pho hậu kéo theo công nghệ sản xuất giầy phức tạp hơn, năng suất giảm
và giá thành pho hậu, giá thành giầy cao hơn Do vậy da thuộc thường dùng làm pho hậu cho giầy da cao cấp, sản xuất thủ công
Hiện nay để sản xuất các loại giầy thông thường, sử dụng pho hậu và pho mũi làm từ mex (chemi sheet) Đây là loại vải không dệt (mex) cứng có độ dày từ 0,8 đến 2,5 mm, sản xuất ở dạng cuộn Trong quá trình sản xuất, sử dụng chất xử lý – các dung môi làm mềm, tan lớp keo liên kết các xơ trong mex Sau khi định hình và gia nhiệt, dung môi bay hơi và lớp nhựa đóng rắn, tạo cho pho gót và pho mũi có độ rắn cứng cần thiết và duy trì hình dạng pho gót trong quá trình sử dụng Tuy nhiên yếu điểm của loại pho này là tính đàn hồi kém pho gót làm từ da thuộc
Hình 1.23: Pho chemi – sheet [52]
Để sản xuất giầy người ta còn sử dụng pho nhựa PVC Pho hậu được sản xuất ở dạng đúc thành pho hậu thành phẩm Trong quá trình sản xuất giầy, pho hậu được gia nhiệt trở lên mềm, được định hình theo hình dạng phần hậu phom, sau khi làm nguội trở lên cứng và duy trì hình dạng pho hậu trong quá trình sử dụng Tuy nhiên loại pho này có giá thành cao, phải bổ xung công đoạn định hình pho trong quá trình sản xuất Vật liệu làm các chi tiết pho mũi và pho gót cần đáp ứng yêu theo tiêu chuẩn ISO 20648:2007
1.3.2 Vật liệu làm phần đế giầy
1.3.2.1 Vật liệu làm đế giầy
Các chi tiết phần đế nằm giữa bàn chân và bề mặt tiếp xúc Chúng chịu tác động lớn nhất trong quá trình sử dụng giầy
Ở các cấu trúc giầy bình thường, đế giầy thực hiện công việc tương đối lớn Nó
bị mài mòn và uốn cong nhiều lần Bán kính độ cong bẻ uốn của đế thường là 4 – 8
cm, tuỳ thuộc vào cấu trúc và tính chất cơ lý của vật liệu làm phần đế giầy, mà chủ
Trang 37yếu là độ dày và độ cứng của chúng Tuỳ thuộc vào cấu tạo phần mũi bàn chân và kiểu
đi của người sử dụng mà lớp ngoài của đế chịu áp lực riêng khác nhau Ở các trường hợp riêng biệt, áp suất riêng đạt tới 106 Pa và lớn hơn Thường nó đạt (4 – 7)105 Pa ở phần mũi của đế và khoảng 2.105 Pa ở phần khớp ngón [30]
Để làm đế giầy thông thường, người ta có thể sử dụng đế làm bằng da thuộc Tuy nhiên loại đế này có độ dày hạn chế, khó tạo hoa văn bề mặt để chống trơn trượt, nhanh bị mài mòn, chống thấm nước kém, sản xuất phức tạp nên người ta thường sử dụng các loại đế cao su, đế PU hoặc đế kết hợp cao su với EVA v.v
Đế giầy từ PU (Polyurethane) có ưu điểm là khá nhẹ do cấu trúc xốp, được đúc sẵn, nhưng có nhược điểm là đắt hơn nhiều so với đế cao su, kém mềm bẻ uốn hơn đế cao su, lão hóa nhanh Do nhẹ và xốp (giảm chấn cho bàn chân) nên phù hợp làm đế giầy cho bệnh nhân tiểu đường Tuy nhiên khi sản xuất giầy theo bàn chân khách hàng, giầy sẽ có giá thành cao
Hình 1.24: Đế giầy PU [53]
Đế cao su được sử dụng nhiều để làm giầy nói chung và giầy cho bệnh nhân tiểu đường nói riêng với nhiều đặc tính vượt trội hơn so với các loại vật liệu khác để làm đế giầy, cụ thể [30]
Trang 38- Dễ dán với bề mặt da của mũ giầy tạo nên mối dán ráp đế giầy bền vững
- Có thể sử dụng nhiều phương pháp ráp đế khác nhau như dán, khâu, vít, dùng đinh hoặc kết hợp các phương pháp
- Độ lão hóa chậm hơn nhiều so với PU
- Giá thành thấp, công nghệ sản xuất đơn giản và dễ thay đổi thành phần hóa chất
- Độ mềm dẻo cao, nên tạo độ mềm uốn cho phần đế giầy
Hình 1.25: Đế giầy cao su [54]
Đế kết hợp cao su và EVA được sử dụng nhiều để làm giầy cho bệnh nhân tiểu đường vì kết hợp được mặt mạnh của hai loại vật liệu này làm cho đế giầy vừa bền, vừa nhẹ và êm xốp, có thể chế tạo nhiều loại đế khác nhau, đặc biệt là đế giầy theo bàn chân bệnh nhân với chi phí hợp lý
Hình 1.26: Đế giầy cao su + EVA [53]
Để làm giầy cho bệnh nhân tiểu đường yêu cầu đế giầy phải đảm bảo độ chống trượt, tính bảo vệ và độ mềm dẻo, đồng thời phải nhẹ và êm xốp Có thể sử dụng cấu trúc đế liền gót hoặc đế giầy có gót rời Yêu cầu đối với các chi tiết đế ngoài thể hiện trong tiêu chuẩn ISO 20880:2007
Trang 391.3.2.2 Vật liệu làm đế trong
Để làm đế trong người ta thường sử dụng các vật liệu: Da thuộc, texon, mex
Da thuộc: Da thuộc là vật liệu rất tốt để làm đế trong Nó hội tụ đầy đủ các tính
chất tốt mà đế trong cần có như độ bền bẻ uốn, độ đàn hồi, độ bám dính keo, độ chắc chắn cho các vật liên kết (chỉ, đinh v.v.) hút nước, hút ẩm, thải nước, thải ẩm tốt v.v
Do vậy da thuộc được sử dụng cho các loại giầy cao cấp
Texon: Là vật liệu được sử dụng phổ biến nhất để làm giầy dép nói chung và
giầy cho bệnh nhân tiểu đường nói riêng Với các ưu điểm như đảm bảo độ cứng, độ đàn hồi, hút ẩm, thải ẩm tốt (do được làm từ nguyên liệu thiên nhiên), giá thành vừa phải nên đế trong làm từ texon đảm bảo các yêu cầu cần thiết của nhiều loại giầy
Mex: Để làm đế trong giầy có thành phần cơ bản là xơ polieste Đệm xơ polieste
được ép nén, gia nhiệt để các xơ liên kết với nhau Mex mềm hơn so với da thuộc và texon, có độ bền mài mòn tốt, độ bền nhiệt và cách nhiệt tốt, hút nước, thải nước tốt,
do vậy ngày càng được sử dụng nhiều để sản xuất giầy có sử dụng công nghệ dán keo
đế [17]
Đế trong là chi tiết có vai trò quan trọng trong quá trình gò ráp mũ giầy với đế giầy, góp phần đảm bảo tính vệ sinh cho giầy Yêu cầu đối với vật liệu làm đế trong phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp ráp đế
Đối với giầy cho bệnh nhân tiểu đường có thể không sử dụng đế trong để tăng cường độ mềm uốn cho phần đế giầy Khi đó người ta sử dụng mặt tẩy để may với chân gò mũ giầy và định hình cưỡng bức Trong các trường hợp này có thể sử dụng vải dệt thoi hoặc da thuộc để làm lót tẩy Yêu cầu đối với các chi tiết đế trong thể hiện trong tiêu chuẩn ISO 20881:2007
1.3.2.3 Vật liệu làm lót giầy
Lót giầy là chi tiết rất quan trọng của giầy cho bệnh nhân tiểu đường, có tác dụng giảm chấn cho bàn chân, phân bố đều áp lực lên lòng bàn chân, giữ vệ sinh cho bàn chân Ở các loại giầy da thông thường, lót mặt thường được làm từ lớp da mỏng (0,8–1,0 mm) sử dụng làm lót mũ giầy Đối với giầy cho bệnh nhân tiểu đường sử dụng các loại vật liệu sau:
Trang 40Da thuộc: Tương tự như ở giầy da, người ta có thể sử dụng lớp da làm lót mũ
giầy bảo vệ để làm lót mặt và dán trực tiếp lên bề mặt đế trong Tuy nhiên phương án này thường không hợp lý từ góc độ tính vệ sinh của giầy, do lót mặt có tính giảm chấn, tính hút ẩm, nhả ẩm kém, hạn chế đế trong hút ẩm, thải ẩm, khó vệ sinh Do vậy người ta sử dụng da thuộc dạng này để làm lót mặt đa lớp (lớp da ở bên trên, lớp vật liệu đệm và lớp vật liệu lót bên dưới) và lót mặt không dán với đế trong mà được đặt vào trong giầy
Người ta có thể sử dụng da cứng dày như da dùng làm đế trong để làm lót mặt một lớp Lót mặt làm từ loại da này có các tính chất cơ lý và vệ sinh tốt, bền mài mòn khô và ướt, mềm mại khi hút ẩm, hút ẩm tốt nhưng không ướt bề mặt, thải ẩm tốt Loại lót mặt này được cắt thành chi tiết và đặt vào trong giầy Để tăng tính vệ sinh của giầy có thể xử lý kháng khuẩn cho loại da này để giảm mùi hôi cho giầy
Lót giầy có kết cấu vật liệu từ các tổ hợp vải dệt kim hoặc dệt thoi (vải làm lót
mũ giầy) kết hợp với EVA dày 3 - 4 mm để làm lót giầy Loại lót này có tính giảm chấn tốt (êm) nhưng có tính vệ sinh kém do EVA hút ẩm kém, mặt khác sau một thời gian sử dụng EVA bị ép nén lại độ dày giảm đi
Trong nghiên cứu [19] đã đánh giá các đặc trưng biến dạng nén và tính vệ sinh (độ hút nước và thải nước) của 12 mẫu lót giầy đàn hồi tiêu biểu đang được sử dụng ở nước ta Trên cơ sở tiêu chuẩn ASTM D 395:2008, các tác giả đã tiến hành đánh giá đặc trưng nén là độ biến dạng còn lại và biến dạng toàn phần của các mẫu lót giầy sau khi bị ép nén 24h, 48h và 72h dưới tải trọng xác định tương đương với tải trọng lót giầy phải chịu trong quá trình sử dụng Độ hút nước và thải nước của lót giầy đàn hồi được xác định trên cơ sở tiêu chuẩn ISO 17699 Kết quả nghiên cứu cho thấy: Lớp lót đàn hồi làm từ EVA hoặc EVA pha cao su độ hút nước kém, độ thải nước tốt nên cần
sử dụng các loại vật liệu làm lớp phủ mặt có độ hút nước tốt Cần thử nghiệm độ đàn hồi và độ cứng của EVA, đặc biệt là các loại EVA định hình sẵn Các loại vật liệu như xốp latex từ cao su tự nhiên, PU hoặc PU kết hợp với EVA có tính đàn hồi, mềm xốp, rất phù hợp làm lót giầy đàn hồi Các loại vật liệu này có độ hút nước rất tốt nhưng có
độ thải nước kém, do vậy nên sử dụng kết hợp với vật liệu có độ thải nước tốt để làm