1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sử dụng vật liệu dệt trong thiết kế và chế tạo giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường tại việt nam

180 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 7,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng được hệ thống kích thước bàn chân nữ BNTĐ, xây dựng hệ thống cỡ số, thiết kế và chế tạo phom giầy cho nữ BNTĐ, sửdụng vật liệu dệt phù hợp tro

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những kết quả được trình bày trong luận án là do tôi thực hiện.Các số liệu và kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được tác giả kháccông bố

Nghiên cứu sinh và Giảng viên hướng dẫn đã công bố kết quả nghiên cứu củaluận án trong 6 bài báo (Các công trình được trình bày trong danh mục các côngtrình đã công bố của luận án)

Hà Nội, ngày 04 tháng 03 năm 2021

PGS.TS Bùi Văn Huấn NCS Cao Thị Kiên Chung

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Phó giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Huấn, thầy đã tận tình hướng dẫn, trao đổi, góp ý và luôn động viên cho tác giả trong quá trình thực hiện luận án.

Thứ hai, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy/Cô giáo thuộc Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả để hoàn thành luận án.

Tiếp theo, tác giả xin trân trọng cảm ơn Trung tâm thí nghiệm Vật liệu dệt may

Da giầy, Viện Dệt may - Da giầy và Thời trang, Trung tâm thí nghiệm Viện Dệt may

478 Minh Khai Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để cho tác giả thực hiện các nghiên cứu tại các cơ sở này.

Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, Khoa Công nghệ May và Thời trang nơi tác giả công tác, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập.

Tác giả cũng xin được cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ, động viên tác giả trong mọi thời điểm khó khăn để hoàn thành luận án.

Cuối cùng, Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả về thời gian, tinh thần cũng như vật chất để tác giả tập trung nghiên cứu, hoàn thành luận án này.

Tác giả

2

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU 10

MỞ ĐẦU 12

CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 16

1.1 Khái quát bàn chân bệnh nhân tiểu đường 16

1.1.1 Bệnh tiểu đường và biến chứng bàn chân người bệnh tiểu đường 16

1.1.2 Giầy cho bệnh nhân tiểu đường 23

1.2 Cơ sở thiết kế giầy cho bệnh nhân tiểu đường 34

1.2.1 Nghiên cứu nhân trắc học bàn chân bệnh nhân tiểu đường 34

1.2.2 Các hệ thống đo áp lực giầy lên bàn chân 37

1.2.3 Các phương pháp và kỹ thuật thiết kế phom, thiết kế giầy cho bệnh nhân tiểu đường 42

1.3 Vải dệt kim và ứng dụng trong sản xuất giầy 47

1.3.1 Đặc điểm cấu trúc của vải dệt kim 47

1.3.2 Đặc tính của vải dệt kim 49

1.3.3 Ứng dụng vải dệt kim trong sản xuất giầy 50

1.4 Kết luận chương 1 54

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 57 2.1 Đối tượng nghiên cứu 57

2.1.1 Bàn chân nữ BNTĐ 57

2.1.2 Hệ vật liệu từ vải dệt kim trong sản xuất giầy 57

2.1.3 Hệ thống đo áp lực của giầy lên bàn chân người sử dụng 58

2.1.4 Phom giầy cho BN tiểu đường 58

2.2 Nội dung nghiên cứu 58

2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm nhân trắc bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường và đề xuất yêu cầu đối với giầy cho bệnh nhân 60

2.2.2 Nghiên cứu sử dụng hệ vải dệt kim làm mũ giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường 61

2.2.3 Nghiên cứu thiết kế, chế tạo phom giầy và giầy cho nữ BNTĐ, đánh giá kết quả lựa chọn vật liệu 63

2.3 Phương pháp nghiên cứu 64

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm nhân trắc bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường và khảo sát yêu cầu đối với giầy cho bệnh nhân 65

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu sử dụng vải dệt kim làm mũ giầy cho nữ BNTĐ 72

2.4 Kết luận chương 2 87

Trang 4

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 89

3.1 Kết quả nghiên cứu đặc điểm nhân trắc học bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường và khảo sát yêu cầu đối với giầy cho bệnh nhân 89

3.1.1 Đặc điểm bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường 89

3.1.2 Xây dựng hệ thống kích thước bàn chân nữ bệnh nhân tiểu đường 97

3.1.3 Kết quả nghiên cứu sự thay đổi kích thước bàn chân của nữ BNTĐ sau 1 năm 102 3.1.4 Kết quả đề xuất yêu cầu đối với giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường 103

3.2 Kết quả nghiên cứu sử dụng vải dệt kim làm mũ giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường

106 3.2.1 Kết quả nghiên cứu thiết lập hệ thống đo áp lực của giầy lên bàn chân người sử dụng 106

3.2.2 Kết quả xác định áp lực cho phép của mũ giầy lên phần khớp ngón của mu bàn chân 113

3.2.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mũ giầy đến áp lực lên phần khớp ngón của mu bàn chân 116

3.2.4 Kết quả lựa chọn vải dệt kim làm mũ giầy theo áp lực cho phép lên phần khớp ngón của mu bàn chân 120

3.3 Kết quả nghiên cứu thiết kế, chế tạo phom giầy và giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường, đánh giá kết quả lựa chọn vật liệu dệt 121

3.3.1 Kết quả nghiên cứu thiết lập hệ thống cỡ số, thiết kế và chế tạo phom giầy cho nữ bệnh nhân tiểu đường 121

3.3.2 Kết quả thiết kế, chế tạo giầy thử nghiệm và đánh giá kết quả lựa chọn vật liệu .126

3.4 Kết luận chương 3 133

KẾT LUẬN CỦA LUẬN ÁN 135

HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 136

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN 137

TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

PHỤ LỤC 148

4

Trang 5

World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)Intergrated Circuit (Vi mạch)

Input/Output (Khối điều khiển dữ liệu đầu vào và đầu ra)Universal Serial Bus (Cổng kết nối)

CottonComputer Numerical Control (Công nghệ điều khiển bằngmáy tính)

Đại học Bách khoaEthylene Vinyl Acetate

Áp lực đỉnhComputer Aided Design/Computer Aided Manufacturing (Kỹthuật thiết kế và sản xuất thông qua sự hỗ trợ của máy tính)

Trang 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Đặc điểm giải phẫu hệ thống xương bàn chân 17

Hình 1.2 Cơ chế bệnh sinh loét bàn chân do bệnh tiểu đường 18

Hình 1.3 Biến đổi ngoài da bàn chân BNTĐ 18

Hình 1.4 Các vết chai chân của bàn chân BNTĐ 18

Hình 1.5 Bàn chân BNTĐ bị biến dạng 19

Hình 1.6 a Mạch máu của bàn chân thông thường và bàn chân BNTĐ 19

b Các vết loét trên bàn chân BNTĐ 19

Hình 1.7 Biến chứng loét bàn chân BN tiểu đường 19

Hình 1.8 Các vị trí bị biến dạng trên bàn chân BNTĐ 19

Hình 1.9 a Kết quả thống kê vị trí ảnh hưởng trên lòng bàn chân BNTĐ; b Các vị trí trên lòng bàn chân BNTĐ 20

Hình 1.10 a Kết quả thống kê vị trí ảnh hưởng ở cạnh ngoài mu bàn chân BNTĐ; b các vị trí ở cạnh ngoài mu bàn chân BNTĐ 20

Hình 1.11 a Kết quả thống kê vị trí ảnh hưởng ở cạnh trong mu bàn chân BNTĐ; b Các vị trí ở cạnh trong mu bàn chân BNTĐ 21

Hình 1.12 Các vị trí thường bị loét trên lòng bàn chân 22

Hình 1.13 Hình ảnh minh họa cấu trúc sản phẩm giầy 24

Hình 1.14 Giầy thiết kế riêng cho từng BN 24

Hình 1.15 Mẫu giầy cho nữ BNTĐ của Viện NC Da giầy 25

Hình 1.16 Giầy được chèn các miếng đệm 26

Hình 1.17 Dụng cụ sử dụng nghiên cứu nhân trắc bàn chân 35

Hình 1.18 Các hệ thống đo áp lực đế phẳng: a emed® của Novel ; b Zebris Medical GmbH; c MobileMat của Tekscan 39

Hình 1.19 Các hệ thống đo áp lực bên trong giầy: a Pedar © Novel; 39

Hình 1.20 Các vị trí gắn cảm biến trong giầy cao gót 39

Hình 1.21 Vị trí đặt 8 cảm biến đo áp lực trên mu bàn chân 40

Hình 1.22 Vị trí đặt 54 cảm biến đo áp lực 8 vùng trên mu bàn chân 40

Hình 1.23 Vị trí xác định áp lực và đánh giá cảm nhận tại lòng và mu bàn chân 40 Hình 1.24 Vị trí đặt cảm biến đo áp lực trên mu bàn chân 40

Hình 1.25 Vị trí cảm biến của hệ thống WalkinSense® 41

Hình 1.26 Vị trí cảm biến trên đế giầy 41

Hình 1.27 Vị trí bảy cảm biến trên đế giầy và giầy hoàn chỉnh 41

Hình 1.28 Vị trí đặt 5 cảm biến trên tấm lót 41

Hình 1.29 Vị trí đặt 3 cảm biến tại lòng bàn chân 41

Hình 1.30 Vị trí đặt 15 cảm biến tại lòng bàn chân 41

Hình 1.31 Thiết bị đo áp lực của trang phục lên cơ thể người sử dụng cảm biến 42

Flexiforce A201 42

Hình 1.32 Mối tương quan khi thiết kế phom giầy 42

Hình 1.33 Quy trình thiết kế phom giầy cho BNTĐ 43

6

Trang 7

Hình 1.34 Bốn bước để định hướng bàn chân/phom giầy 45

Hình 1.35 Các số đo đặc trưng nhất của phom giầy 46

Hình 1.36 So sánh kích thước bàn chân và phom được chỉnh sửa 46

Hình 1.37 a Sự thay đổi áp lực đỉnh trung bình theo các thông số hình học của đế cong (rocker sole); Xu thế giảm áp lực ở phần mũi bàn chân có thể đạt được theo kích thước hình học của đế cong 46

Hình 1.38 Cấu trúc của vải dệt kim phẳng (2D) 48

Hình 1.39 Hình ảnh vải dệt kim không gian 48

Hình 1.40 Cấu trúc của vải dệt kim nhiều lớp (3D) 48

Hình 1.41 Một số loại vải dệt kim nhiều lớp (3D) 49

Hình 1.42 Vải dệt kim được bồi dán với mút xốp và với vải tricot 49

Hình 1.43 Hình ảnh a- vải dệt kim 3D; b - vải dệt kim 3D định hình (Mũ giầy); c-giầy làm từ vải dệt kim 3D định hình 50

Hình 1.44 Giầy cho BNTĐ của hãng Orthofeet 51

Hình 1.45 Mối quan hệ giữa độ dày và áp lực của vải 52

Hình 1.46 Ba loại lót giầy thử nghiệm 53

Hình 1.47 Kết quả áp lực tại lòng bàn chân 53

Hình 2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu của Luận án 59

Hình 2.2 Lưu đồ quá trình nghiên cứu nhân trắc bàn chân nữ BNTĐ 65

Dụng cụ lấy dấu bàn chân (hình 2.4 a): Gồm có khung gỗ, trên mép được căng lớp vải lưới, trên tấm vải lưới có lớp nhựa mềm để bàn chân đứng lên 69

Hình 2.4 a Khung lấy dấu bàn chân; b Thước đo chiều cao; c Thước dây; d Máy ảnh 69

Hình 2.6 Sơ đồ khối mạch đo áp lực 73

Hình 2.7 Cảm biến Flexiforce A301 73

Hình 2.8 a Vị trí cảm biến theo hình phủ bàn chân trung bình; b Dán cố định cảm biến lên lót; c Tấm lót cảm biến hoàn chỉnh; d Cảm biến tách rời để đo trên mu bàn chân 73

Hình 2.9 Kệ đứng của thiết bị đo 75

Hình 2.10 Bán kính của vòng khớp ngón bàn chân nữ BNTĐ 76

Hình 2.11 Hình dạng 3D bàn chân nữ BNTĐ trung bình và vùng khớp ngón mu bàn chân 77

Hình 2.12 a Mẫu thử nghiệm; b Phương pháp may mẫu thử nghiệm 77

Hình 2.13 Các pha của chu kỳ bước chân 78

Hình 2.14 4 tư thế đo áp lực trên mu bàn chân: a Tư thế 1; b Tư thế 2; c Tư thế 3; d Tư thế 4 78

Hình 2.15 Sự bẻ uốn bàn chân 79

Hình 2.16 Vị trí đặt cảm biến trên mu bàn chân 79

Hình 2.17 Sơ đồ quy trình xây dựng hệ cỡ và thiết kế phom giầy cho BNTĐ 82

Hình 2.18 Các thông số phom cần kiểm soát khi thiết kế phom giầy trên phần mềm Shoes Last Design 85

Hình 2.19 Máy in 3D đa chức năng ProJet MJP3600 85

Hình 2.20 Các tư thế đo khi đối tượng đi giầy mẫu thử 87

Trang 8

Hình 3.1 Tỷ lệ nữ BNTĐ tương ứng với các độ tuổi khác nhau 89

Hình 3.3 Biểu đồ phân phối lý thuyết và thực tế vòng khớp ngón bàn chân 98

Hình 3.4 Ý kiến về kiểu mũi giầy 103

Hình 3.5 Ý kiến về độ cao gót giầy 103

Hình 3.6 Ý kiến về kiểu giầy 103

Hình 3.7 Ý kiến về mức độ ôm chân của giầy 103

Hình 3.8 Ý kiến về vị trí giầy gây tổn thương trên bàn chân 103

Hình 3.9 Ý kiến về độ mềm của mũ giầy và độ cứng bẻ uốn của giầy 103

Hình 3.10 Ý kiến về độ cứng của hệ vật liệu đế giầy 103

Hình 3.11 Ý kiến về vật liệu lót mũ giầy 103

Hình 3.12 Giao diện phần mềm đo áp lực 106

Hình 3.13 Biểu đồ kết quả 10 lần đo của cảm biến với các khối lượng tải trọng từ 10 g đến 1500 g 107

Hình 3.14 Biểu đồ đường chuẩn của thiết bị đo 108

Hình 3.15 Bộ thiết bị đo áp lực của giầy lên bàn chân 108

Hình 3.16 Kệ giữ cố định dáng khi đo nhìn từ phái trước (a), từ phía sau (b) 109

Hình 3.17 Biểu đồ mối quan hệ giữa lực kéo giãn và độ giãn đến 30% của 5 mẫu vật liệu 110

Hình 3.18 Biểu đồ tương quan giữa độ giãn vật liệu và áp lực thực nghiệm đo được bằng thiết bị đo trên 3 đối tượng đo 111

Hình 3.19 Biểu đồ tương quan giữa áp lực thực nghiệm và áp lực tính của 3 mẫu vải lên mu bàn chân 111

Hình 3.20 Biểu đồ tương quan giữa áp lực thực nghiệm và lực kéo giãn: a Mẫu vật liệu 1; b Mẫu vật liệu 2; c Gộp 2 mẫu vật liệu 112

Hình 3.21 Tần số với 5 mức độ cảm nhận chủ quan của 5 mẫu vật liệu 113

Hình 3.22 Tần số với 5 mức độ cảm nhận chủ quan của 5 mẫu vật liệu theo 4 tư thế đo 114

Hình 3.23 Áp lực của vật liệu lên mu bàn chân tương ứng với mức độ cảm nhận 1, 2, 3, 4 và 5 114

Hình 3.24 Áp lực tại mức cảm nhận 2 (dễ chịu) của 4 tư thế đo 115

Hình 3.25 Áp lực giới hạn mức cảm nhận 2 (dễ chịu) tại mu bàn chân 116

Hình 3.26 Mối tương quan giữa độ giãn và áp lực của mẫu vật liệu M1 lên mu bàn chân đo ở 4 tư thế 117

Hình 3.27 Mối tương quan giữa độ giãn và áp lực của 5 mẫu vật liệu lên mu bàn chân 119

Hình 3.28 Mối tương quan giữa lực kéo giãn và áp lực thực nghiệm (dưới 100 mmHg) của 5 mẫu vật liệu ở tư thế 1 120

Hình 3.29 Bề mặt 3D của phom giầy cho nữ BNTĐ thiết kế được trên phần mềm Shoe Last Design 125

Hình 3.30 Hình ảnh phom mẫu được in 3D 125

Hình 3.31 Nhân cỡ số phom giầy cho nữ BNTĐ 126

Hình 3.32 Mẫu giầy cho nữ BNTĐ 126 Hình 3.33 Thiết kế các chi tiết mũ giầy (a), đế trong mềm và lót giầy (b) trên phần

8

Trang 9

mềm Shoes Design 127Hình 3.34 Lót giầy dùng cho giầy thử nghiệm 127Hình 3.35 Giầy mẫu thử nghiệm được chế tạo từ 3 mẫu vải dệt kim: a Mẫu vảiM1; b Mẫu vải M2; c Mẫu vải M3 128Hình 3.36 So sánh áp lực của các mẫu vật liệu lên mu bàn chân đo ở tư thế 1 (TT1)

và tư thế 4 (TT4) khi đi mũ giầy mô phỏng và khi đi giầy mẫu thử nghiệm: a Nhómđối tượng 1 (N1); b Nhóm đối tượng 2 (N2); c Nhóm đối tượng 3 (N3) 129Hình 3.37 So sánh áp lực của các mẫu vật liệu tại lòng bàn chân chân đo ở tư thế 1(TT1) và tư thế 4 (TT4) khi đi giầy mẫu thử nghiệm làm từ: a Mẫu vật liệu M1; b.Mẫu vật liệu M2; c Mẫu vật liệu M3 132

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Mức độ bị ảnh hưởng của các vị trí trên bàn chân nữ BNTĐ 21

Bảng 1.2 Khuyến cáo giầy dép cho BNTĐ theo phân loại nguy cơ bàn chân 28

Bảng 1.3 Đặc điểm của giầy dép cho BNTĐ 29

Bảng 1.4 Giá trị các thông số cơ bản của bàn chân nữ BNTĐ tại Tp Hồ Chí Minh, mm 36

Bảng 1.5 Mối quan hệ giữa các đặc trưng thiết kế giầy dép, mục tiêu cơ sinh học và các thông số phom phải được chỉnh sửa 43

Bảng 2.1 Hình ảnh các hệ mẫu vải dệt kim nghiên cứu 57

Bảng 2.2 Các đặc trưng cơ bản của các loại hệ vật liệu mũ giầy nghiên cứu 58

Bảng 2.3 Các số đo bàn chân nữ BN tiểu đường cần đo 68

Bảng 2.4 Bước nhảy của các kích thước bàn chân các cỡ liền kề (theo chiều dài) được làm tròn đến mm 84

Bảng 2.5 Bước nhảy của các kích thước bàn chân các cỡ liền kề (theo độ đầy hay chu vi vòng khớp ngón) được làm tròn đến mm 84

Bảng 3.1 Thông tin chung của nữ BNTĐ 89

Bảng 3.2 Đặc điểm nghề nghiệp của nữ BNTĐ 89

Bảng 3.3 Tình hình sử dụng giầy dép của BN 90

Bảng 3.4 Tình trạng tổn thương bàn chân nữ BNTĐ khảo sát 90

Bảng 3.5 Giới hạn chênh lệch về giá trị giữa các số đo của các bàn chân phải và bàn chân trái nữ BNTĐ, mm 92

Bảng 3.6 Giá trị các thông số cơ bản của bàn chân nữ BNTĐ, mm 92

Bảng 3.7 Kích thước bàn chân nữ BNTĐ theo nhóm đối tượng đo 94

Bảng 3.9 Kết quả tính các giá trị đánh giá phân phối chuẩn của chiều dài và vòng khớp ngón bàn chân nữ BNTĐ 98

Bảng 3.10 Các phương trình hồi quy của bàn chân nữ BNTĐ 99

Bảng 3.11 Kết quả tính cơ cấu cỡ số theo chiều dài bàn chân theo hệ cỡ Pháp 100

Bảng 3.12 Kết quả xác định độ đầy (giá trị Vkng) trung bình của các cỡ bàn chân và số cỡ độ đầy theo hệ Pháp 100

Bảng 3.13 Kết quả tính toán cỡ bàn chân theo độ đầy 100

Bảng 3.14 Các kích thước bàn chân cỡ 230 với 3 độ đầy 101

Bảng 3.15 Sự thay đổi kích thước bàn chân nữ BNTĐ sau 1 năm 102

Bảng 3.16 Yêu cầu đối với giầy cho nữ BNTĐ 105

Bảng 3.17 Kết quả đánh giá sai số của cảm biến 1 106

Bảng 3.18 Giá trị áp lực lên mu bàn chân trái (T, mmHg) và phải (P, mmHg) của 2 mẫu vải ở 5 mức kéo giãn 109

Bảng 3.19 Phương trình hồi quy giữa lực kéo giãn và độ giãn của 5 mẫu vật liệu 110 Bảng 3.20 Giá trị áp lực đo được và tính theo Laplace của 2 mẫu vật liệu lên mu bàn chân 3 đối tượng đo 110 Bảng 3.21 So sánh giá trị áp lực giữa mức độ cảm nhận 2 và mức độ cảm nhận 4 115

10

Trang 11

Bảng 3.22 Giá trị áp lực của vật liệu lên mu bàn chân tương ứng với mức độ cảmnhận 2 (dễ chịu) tại 4 tư thế đo 115Bảng 3.23 Độ giãn (f) của mẫu vật liệu M1 theo các pha của bước chân (tư thế đo)117

Bảng 3.24 Áp lực, mmHg, của các mẫu vật liệu lên mu bàn chân đo ở tư thế 1(TT1) và tư thế 4 (TT4) 118Bảng 3.25 Độ giãn (f), áp lực trung bình (P), độ lệch chuẩn (SD) và mức ý nghĩa thống kê(p) của 5 mẫu vật liệu lên mu bàn chân của 10 đối tượng đo ở tư thế 1 118Bảng 3.26 Tổng hợp các công thức và kết quả tính kích thước thông số phom giầy

từ số đo bàn chân 121Bảng 3.27 Các thông số hệ cỡ phom 124Bảng 3.28 Áp lực, mmHg, của các mẫu vật liệu lên mu bàn chân đo ở tư thế 1(TT1) và tư thế 4 (TT4) của nhóm đối tượng 1 (N1), nhóm đối tượng 2 (N2), nhómđối tượng 3 (N3) khi đi mũ giầy mô phỏng và giầy mẫu thử nghiệm 129Bảng 3.29 Áp lực, kPa, lên lòng bàn chân các nhóm đối tượng thử nghiệm giầymẫu 130

Trang 12

MỞ ĐẦU

Bệnh tiểu đường (BTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môninsulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đườngtrong máu luôn cao Số lượng bệnh nhân (BN), đặc biệt là BN nữ có xu hướng tăngnhanh ở nước ta và trên thế giới Ở nước ta số người mắc BTĐ ngày càng tăngnhanh, hiện nay chiếm khoảng 5,5% dân số, tương đương khoảng 5 triệu người BNtiểu đường không chỉ tăng mạnh ở khu vực thành phố mà còn tăng mạnh cả ở cácvùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa [1]

Bệnh nhân tiểu đường (BNTĐ) thường bị các biến chứng như bệnh mạch vành,tim mạch, đột quỵ, bệnh lý thần kinh, suy thận, mù mắt, cắt đoạn chi… Bàn chânBNTĐ thường bị tổn thương như đau bàn chân, biến đổi ngoài da, chai chân, biếndạng bàn chân, loét chân, cắt cụt chân Bàn chân dễ bị tổn thương, do người bệnh bịgiảm hoặc mất cảm giác bàn chân [2, 3, 4] Khi bàn chân bị tổn thương, người bệnhkhông biết do vậy vết thương dễ nặng thêm Các vết loét bàn chân rất khó lành dothiếu ôxy, thiếu dưỡng chất, khả năng đề kháng giảm v.v., hậu quả dẫn đến là khảnăng phải cắt chi

Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy đôi giầy chuyên dụng (giầy trịliệu) có tác dụng giảm tỷ lệ tổn thương, loét chân BN, giúp kéo dài tuổi thọ BN [5,

6, 7, 8, 9] Tuy nhiên việc sử dụng giầy không phù hợp cũng là nguyên nhân gây

loét bàn chân BN [10] Do vậy, các loại giầy (giầy được chế tạo theo bàn chân BN

và giầy “sâu rộng” được sản xuất hàng loạt) đã được nghiên cứu thiết kế và sản xuất

ở nhiều nước để dành riêng cho BNTĐ [11, 12]

Ở nước ta, việc sử dụng giầy để bảo vệ, giảm thiểu tổn thương, loét bàn chân cònkhá mới đối với BNTĐ và các bác sĩ điều trị Các BN thường không sử dụng giầy

hoặc sử dụng giầy thông thường Do đó tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu sử dụng

vật liệu dệt trong thiết kế và chế tạo giầy cho nữ BN tiểu đường tại Việt Nam” Mục

đích nghiên cứu của luận án là xây dựng được hệ thống kích thước bàn chân nữ

BNTĐ, xây dựng hệ thống cỡ số, thiết kế và chế tạo phom giầy cho nữ BNTĐ, sửdụng vật liệu dệt phù hợp trong thiết kế giầy đáp ứng yêu cầu sử dụng của BN Giầycho BNTĐ không có chức năng chữa bệnh mà là loại giầy có tính tiện nghi cao nhằmbảo vệ bàn chân BN, phòng tránh các nguyên nhân gây tổn thương bàn chân và loétchân, hỗ trợ BN điều trị bệnh, tạo điều kiện thuận lợi trong sinh hoạt và lao động

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN

Bàn chân BNTĐ thường bị tổn thương như đau bàn chân, biến đổi ngoài da, chaichân, biến dạng bàn chân, loét chân, cắt cụt chân Nhiều nghiên cứu trên thế giới đãminh chứng hiệu quả của việc sử dụng giầy y tế trong việc phòng ngừa tổn thương,loét bàn chân BNTĐ [5, 6, 7, 8, 9] Do vậy ở nhiều quốc gia, ví dụ như ở Mỹ,BNTĐ được nhận giầy chuyên dụng hay còn gọi là giầy trị liệu (Therapeutic Shoesfor Persons with Diabetes) tùy thuộc vào tình trạng bàn chân theo đơn bác sỹ kê vàđược bảo hiểm y tế chi trả [12] BNTĐ có bàn chân bị biến chứng nhẹ sử dụng giầysâu và rộng, có 3 độ đầy để đảm bảo độ vừa chân, lựa chọn loại lót giầy phù hợp.Bàn chân có biến chứng nặng hơn sử dụng giầy có lót được thiết kế, chế tạo theohình dạng và kích thước lòng bàn chân BN Bàn chân bị loét, bị biến dạng hay tổn

12

Trang 13

thương nặng được làm giầy tùy chỉnh theo bàn chân, tuy nhiên, giầy này đắt vì phảithiết kế, chế tạo phom giầy và giầy riêng cho bàn chân từng BN [12, 13, 14].

Cho đến nay, phần lớn các nghiên cứu tập trung giải quyết các vấn đề liên quanđến giảm thiểu áp lực đỉnh lên lòng bàn chân (nguyên nhân gây loét lòng bàn chân)bằng các giải pháp lựa chọn vật liệu và thiết kế lót giầy theo hình dạng và kíchthước lòng bàn chân [15, 16, 17, 18, 19] Trong khi đó, nhiều nghiên cứu cho thấy

tỷ lệ khá lớn bàn chân BN bị tổn thương, bị loét ở mu bàn chân [20, 21, 22, 23] Dovậy cần thiết nghiên cứu giảm thiểu áp lực mũ giầy lên phần mu bàn chân

Với ưu điểm là có độ đàn hồi tốt, thông hơi, thoáng khí, nhẹ và mềm mại, tạocảm giác êm chân, nên vải dệt kim ngày càng được sử dụng nhiều trong sản xuấtcác loại giầy có tính tiện nghi cao [24, 25] Mũ giầy được làm bằng vải dệt kim có

độ giãn đàn hồi tốt nên giầy định hình và có khả năng tùy chỉnh tốt theo bàn chânngười sử dụng, nên làm giảm áp lực cục bộ lên mu bàn chân Điều này rất cần thiếtđối với bàn chân BNTĐ Những năm gần đây, vải dệt kim 3D ngày càng được sửdụng nhiều do loại vải này đã tích hợp được các lớp chi tiết bên ngoài, lớp đệm xốp

và lớp vải lót để làm mũ giầy Do vậy, việc sử dụng vải dệt kim để kết hợp với cácloại vật liệu khác nhằm tăng tính tiện nghi (giảm áp lực lên mu bàn chân, giảm độcứng, tạo cảm giác êm chân …) và tính vệ sinh (thông hơi, thông khí …) của giầycho BNTĐ là việc làm cần thiết

Bên cạnh việc sử dụng vật liệu phù hợp, để thiết kế và chế tạo giầy phù hợp vớiyêu cầu sử dụng của BNTĐ cần phải có cách tiếp cận mang tính hệ thống từ việcnghiên cứu đặc điểm nhân trắc bàn chân BN, đặt ra các yêu cầu đối với giầy, thiếtlập hệ thống cỡ số, thiết kế và chế tạo phom giầy, thiết kế giầy cho BN Hiện nay,trên thế giới, các nghiên cứu mới đưa ra các đề xuất, khuyến cáo các yêu cầu đối vớiphom giầy và giầy cho BNTĐ mà chưa có các tiêu chuẩn đối với loại giầy này [13,

26, 27, 28] Ở nước ta, cho đến nay, chưa có công bố nào mang tính hệ thống về cácvấn đề này

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

Nghiên cứu sử dụng các loại vải dệt kim phù hợp để làm mũ giầy nhằm tăng tínhtiện nghi của giầy cho BNTĐ theo tiêu chí áp lực cho phép của giầy lên mu bànchân, giảm nguy cơ chấn thương, loét bàn chân BN

Đánh giá được các đặc trưng nhân trắc của bàn chân nữ BNTĐ tại Việt Nam, xâydựng được hệ thống kích thước bàn chân, hệ thống cỡ số phom giầy, thiết kế và chếtạo được phom giầy, chế thử giầy cho BN sử dụng dụng vật liệu dệt

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

Bàn chân nữ BNTĐ tuýp 2, tuổi trên 35 có nguy cơ biến chứng bàn chân thấp,vừa

Hệ vật liệu từ vải dệt kim trong sản xuất giầy

Hệ thống đo áp lực của giầy lên bàn chân người sử dụng gồm thiết bị đo áp lực

sử dụng cảm biến áp lực và kệ đứng cho người thí nghiệm

Phom giầy cho nữ BNTĐ

IV NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

Nghiên cứu đặc điểm nhân trắc học bàn chân nữ BNTĐ và đề xuất yêu cầu đối

Trang 14

với giầy cho BN.

Nghiên cứu sử dụng hệ vật liệu từ vải dệt kim làm mũ giầy cho nữ BNTĐ

Nghiên cứu thiết kế, chế tạo phom giầy và giầy cho nữ BNTĐ, đánh giá kết quảlựa chọn vật liệu

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

Phương pháp khảo cứu tài liệu;

Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Thu thập thông tin về nữ BNTĐ và thông tin

Phương pháp thử nghiệm: Thiết kế phom trên phần mềm chuyên dụng và chế tạophom giầy thử nghiệm trên máy in 3D, đi thử nghiệm giầy để đánh giá chất lượnggiầy

VI Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

Xác lập cơ sở khoa học, phương pháp nghiên cứu các đặc trưng nhân trắc bànchân của những người bị các bệnh có biến chứng bàn chân (bệnh TĐ, bệnh gout…)xét trên quan điểm sử dụng dữ liệu bàn chân trong thiết kế giầy

Góp phần hoàn thiện lý thuyết chung về thiết kế phom giầy cho BN trên cơ sởphân tích mối quan hệ giữa hình dạng, kích thước bàn chân và hình dạng, kíchthước phom giầy và các yêu cầu đối với giầy

Là cơ sở khoa học để nghiên cứu chế tạo thiết bị thương mại đo áp lực lên bànchân phục vụ nghiên cứu bệnh lý bàn chân, lựa chọn giầy phù hợp bàn chân cũngnhư trong thiết kế và lựa chọn vật liệu để làm giầy y tế

Xác lập cơ sở khoa học lựa chọn vật liệu để làm mũ giầy theo tiêu chí áp lực chophép của giầy lên mu bàn chân cho các đối tượng sử dụng khác nhau

VII GIÁ TRỊ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

Xây dựng được hệ thống kích thước bàn chân nữ BNTĐ, ngoài việc phục vụ thiết

kế phom, còn được sử dụng để xác định cơ cấu cỡ số trong sản xuất giầy, phục vụthiết kế bít tất cho BN

Xây dựng được hệ thống cỡ số phom giầy cho nữ BNTĐ để thiết kế phom và lựachọn giầy phù hợp bàn chân BN Việc thiết kế và chế tạo được phom giầy là tiền đềrất quan trọng để thiết kế và sản xuất giầy đáp ứng yêu cầu của BNTĐ

Thiết kế và chế tạo được phom giầy phù hợp bàn chân và yêu cầu đối với giầycho BNTĐ phục vụ thiết kế và sản xuất giầy cho BN

Đã thiết lập hệ thống đo áp lực lên bàn chân bao gồm thiết bị đo áp lực và kệđứng Hệ thống sử dụng cảm biến lực, có giá thành hợp lý, thuận tiện sử dụng, phùhợp để đo áp lực của giầy lên bàn chân

14

Trang 15

Xây dựng được phương trình tương quan giữa lực kéo giãn vải dệt kim đàn hồilàm mũ giầy và áp lực của chúng lên mu bàn chân với hệ số tương quan rất chặtchẽ Phương trình này là cơ sở để lựa chọn được hệ vật liệu phù hợp để làm mũ giầy

có tính tiện nghi cao

Sử dụng vải dệt kim chế thử giầy đảm bảo tính tiện nghi áp lực, đáp ứng yêu cầu

sử dụng cho nữ BNTĐ

VIII NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN

Cơ bản làm rõ được đặc điểm nhân trắc bàn chân nữ BNTĐ tại Việt Nam và xâydựng được hệ thống kích thước bàn chân nữ BNTĐ đây là cơ sở quan trọng để thiết

kế phom giầy, thiết kế giầy cũng như bít tất cho BN

Xây dựng được hệ thống cỡ số phom giầy, thiết kế và chế tạo được phom giầycho nữ BNTĐ trên cơ sở hình dạng và kích thước bàn chân BN và các yêu cầu cụthể xác lập được đối với giầy cho BNTĐ

Xác định được áp lực cho phép của giầy lên phần khớp ngón của mu bàn chânphụ nữ, đánh giá được sự thay đổi áp lực mũ giầy lên bàn chân theo các pha củabước đi; xây dựng được phương trình tương quan giữa lực kéo giãn của các hệ vậtliệu từ vải dệt kim đàn hồi làm mũ giầy và áp lực của chúng lên mu bàn chân làm

cơ sở để lựa chọn vải dệt kim phù hợp làm mũ giầy cho BNTĐ

IX KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm ba chương: Chương 1: Nghiên cứu tổng quan, Chương 2: Đốitượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu, Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bànluận Phụ lục

Trang 16

CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN

1.1 Khái quát bàn chân bệnh nhân tiểu đường

1.1.1 Bệnh tiểu đường và biến chứng bàn chân người bệnh tiểu

đường

1.1.1.1 Bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường (BTĐ) (còn gọi là bệnh đái tháo đường, bệnh dư đường) là mộtnhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat, mỡ và protein khi hoóc môn insulincủa tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trongmáu luôn cao [2, 3, 29]

Bệnh tiểu đường gồm 3 loại chính [2]:

Bệnh TĐ tuýp 1 là BTĐ vị thành niên hoặc BTĐ phụ thuộc insulin, trong đó tuyến

tụy sản xuất ít hoặc không có insulin Khoảng 5 - 10% tổng số BNTĐ thuộc tuýp 1,phần lớn xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi (dưới 20 tuổi)

Bệnh TĐ tuýp 2 là BTĐ không phụ thuộc insulin (noninsulin), cơ thể không sản

xuất đủ insulin làm ảnh hưởng đến chuyển hóa đường (glucose), nguồn năng lượngchính của cơ thể BTĐ tuýp 2 chiếm khoảng 90 - 95% trong tổng số BNTĐ, thườnggặp ở lứa tuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậmchí cả lứa tuổi thanh thiếu niên

Bệnh TĐ thai kỳ là loại BTĐ xảy ra ở một số phụ nữ mang thai và bệnh chấm dứt

sau khi sinh Phụ nữ bị BTĐ thai kỳ có thể phát triển thành BTĐ tuýp 2

1.1.1.2 Tình hình bệnh tiểu đường trên thế giới và Việt Nam

a Trên thế giới

Vào những năm cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21, các chuyên gia của

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã dự báo "Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của các bệnh nộitiết và rối loạn chuyển hoá, đặc biệt BTĐ sẽ là bệnh không lây phát triển nhanhnhất" Kết quả nghiên cứu xác định tỷ lệ bệnh TĐ cho 216 quốc gia dựa theo tiêuchuẩn của Tổ chức Y tế thế giới và Hội tiểu đường Mỹ của Shaw JE và cộng sự[30] cho thấy, tỷ lệ BTĐ ở độ tuổi từ 20 đến 79 năm 2010 trên toàn thế giới là 6,4%(285 triệu người) và sẽ tăng lên 7,7% (439 triệu người) vào năm 2030

Theo ước tính của Liên đoàn Tiểu đường Quốc tế (IDF) năm 2013 [31] trên thếgiới có hơn 250 triệu người mắc BTĐ Theo thống kê của IDF năm 2017 [32], trêntoàn thế giới có khoảng 424,9 triệu người có độ tuổi 20 đến 79 mắc BTĐ (khoảng8,8%) và dự kiến sẽ tăng lên 628,6 triệu người vào năm 2045 (tương ứng 9,9%)

b Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, BTĐ đang có chiều hướng gia tăng theo thời gian và theo mức độphát triển kinh tế cũng như đô thị hóa Năm 2008, kết quả của điều tra quốc gia, tỷ lệBTĐ tuýp 2 trong lứa tuổi từ 30 đến 69 khoảng 5,7% dân số, nếu chỉ tính ở khu vựcthành phố, khu công nghiệp thì tỷ lệ bệnh từ 7,0% đến 10% [33] Kết quả nghiên cứucủa Đỗ Thị Ngọc Diệp và cộng sự năm 2008 [34] trên đối tượng 30 đến 69 tuổi chothấy, tỷ lệ BTĐ tuýp 2 là 7,04%, và tỷ lệ BTĐ tăng dần theo nhóm tuổi

Nghiên cứu [35] của Nguyễn Thy Khuê năm 2012 cho thấy, tỷ lệ người Việt Nammắc BTĐ chiếm 5,4% Năm 2013, “Dự án phòng chống BTĐ Quốc gia” [1] doBệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện nghiên cứu trên 11.000 người tuổi 30 đến

16

Trang 17

69 tại 6 vùng gồm: miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, duyên hải miềnTrung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã xác định tỷ lệ mắc BTĐ là5,7% (cao nhất ở Tây Nam Bộ là 7,2%, thấp nhất là Tây Nguyên 3,8%) Tỷ lệ rốiloạn dung nạp glucose cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7% năm 2002 lên gần 12,8%năm 2012 Cũng theo nghiên cứu này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắcBTĐ tuýp 2 cao gấp 4 lần những người dưới 45 tuổi Người bị huyết áp cao cũng cónguy cơ mắc bệnh cao hơn những người khác hơn 3 lần Người có vòng eo lớn nguy

cơ mắc bệnh cao hơn 2,6 lần Theo thống kê của IDF năm 2017 [32], Việt Nam có3,5 triệu người mắc BTĐ trong nhóm tuổi từ 20 đến 79 tuổi tương ứng với 6% vàcon số này dự kiến sẽ tăng lên khoảng 6,128 triệu người mắc vào năm 2045

1.1.1.3 Đặc điểm bàn chân người bệnh tiểu đường

Theo WHO, bàn chân tiểu đường được định nghĩa là bàn chân của người BTĐvới loét, nhiễm trùng hoặc phá hủy mô sâu, kết hợp với bất thường thần kinh và cácmức độ khác nhau của bệnh mạch máu ngoại biên ở chi dưới [36]

Chức năng của bàn chân có 4 nhiệm vụ chính: nâng đỡ trọng lượng cơ thể, điềuchỉnh bàn chân khi tiếp xúc với những bề mặt không bằng phẳng, chống sốc khi vậnđộng, đòn bẩy để đưa cơ thể tiến về phía trước Bàn chân được tạo nên bởi một hệthống phức tạp bao gồm 26 xương, 36 khớp, hơn 100 các cơ, gân, dây chằng vàđược nuôi dưỡng bởi hệ thống các động mạch bàn chân, được bảo vệ bởi hệ thốngcác dây thần kinh cảm giác, vận động, tự động cũng như các lớp da, tổ chức dưới da

và móng chân [37]

Đốt ngón 5

Hình 1.1 Đặc điểm giải phẫu hệ thống xương bàn chân [37]

Cơ chế bệnh sinh hình thành tổn thương loét bàn chân do BTĐ được chia thành 5yếu tố chính [4]: Biến chứng thần kinh ngoại vi; Bệnh động mạch ngoại vi; Nhiễmtrùng bàn chân; Hạn chế vận động khớp; Yếu tố ngoại sinh: giầy dép, vệ sinh vàchăm sóc bàn chân

Sự phối hợp của các yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành loét bàn chânBTĐ được thể hiện trong hình 1.2

Trang 18

Bệnh tiểu đường

Mạch máuThần kinh

Cảm giácVận động

Tự động

ĐộngTổn thương

Hạn chế Teo cơ Giảm cảm

mạch chi

vi mạch

dướikhớp

Giảm tiết Tăng động

Hình 1.2 Cơ chế bệnh sinh loét bàn chân do bệnh tiểu đường [4]

1.1.1.4 Biến chứng bàn chân người bệnh tiểu đường

Tổn thương thần kinh ở chân và giảm lưu thông máu ở chân làm tăng nguy cơcủa nhiều biến chứng trên bàn chân BNTĐ Một số dạng biến chứng bàn chânBNTĐ:

Đau bàn chân và chân: liên quan tới bệnh lý thần kinh hoặc tổn hại mạch máu.

Dấu hiệu sớm của tổn thương thần kinh ở BNTĐ là sự giảm cảm giác, chủ yếu

ở bàn chân có thể lan lên cẳng chân Tê bì, cảm giác như kiến bò ở bàn và ngón

chân Đau nóng rát hai bàn chân, nhất là gan bàn chân [2, 3]

Biến đổi ngoài da: da khô, bong da hoặc nứt nẻ do dây thần kinh điều khiển các

hoạt động làm ẩm da bị tổn thương [2, 3]

Trang 19

Hình 1.3 Biến đổi ngoài da bàn

Trang 20

Các chai chân cũng thường gặp ở người bình thường nên các BN thường chủ quan

và ít để ý triệu chứng này Vì vậy, các vết chai này có điều kiện phát triển nhiềuhơn, trở nên nứt, loét và hình thành các ổ nhiễm trùng [2, 3]

Biến dạng bàn chân: Do biến chứng thần kinh dẫn đến bàn chân bị mất cảm giác.

Khi đứng người bệnh không điều khiển được tư thế bàn chân nên những vị trí chịu

áp lực nhiều sẽ có những biến đổi về cơ, da và kéo theo biến đổi về khớp Do vậy,bàn chân bị biến dạng và rất dễ bị loét [2, 3]

Hình 1.5 Bàn chân BNTĐ bị

biến dạng [3] Hình 1.6 a Mạch máu của bàn chân thông thường và bàn chân BNTĐ

b Các vết loét trên bàn chân BNTĐ [22]

Loét chân: Các vi mạch máu và các sợi dây thần kinh ngoại biên bị tổn thương

gây mất cảm giác Ngoài ra, do áp lực lặp đi lặp lại của trọng lượng cơ thể lên bànchân khi đi nên dễ bị tổn thương Thông thường những biến chứng bàn chân BNTĐbắt đầu là hiện tượng loét da [38]

Các nghiên cứu [39, 40] cho thấy phần lớn các vết loét thường ở ngón chân cái,

vì ngón chân cái là vị trí chịu áp lực cao hơn so với áp lực ở các ngón chân khác

Hình 1.7 Biến chứng loét bàn chân BN tiểu đường [2, 22]

Chân biến dạng thường dẫn đến loét tại các vị trí xương nhô ra đó là do áp lực cơhọc cao lên da, nhưng do không có cảm giác đau nên giảm sự bảo vệ tự nhiên, đặcbiệt khi đi đôi giầy không phù hợp [39]

Hình 1.8 Các vị trí bị biến dạng trên bàn chân BNTĐ [39]

Cắt cụt chân: vết loét của BNTĐ thường rất khó liền vì vùng tổn thương vừa

không được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và oxy, vừa không có nhiều các tếbào bạch cầu để tấn công vi khuẩn và dọn dẹp các tế bào chết kịp thời Do đó các

19

Trang 21

vết thương rất dễ bị nhiễm trùng lan rộng, dẫn đến phải cắt cụt Đặc biệt là các đoạnđộng mạch bị tắc hẹp ở cẳng chân hoặc cao hơn như là đùi nên một số trường hợptuy chỉ nhiễm trùng bàn chân nhưng lại phải cắt cụt đến trên gối [38].

Nghiên cứu [21] chỉ ra tỷ lệ BNTĐ tuýp 2 có tổn thương chân, đặc biệt có nguy

cơ loét bàn chân là rất cao Ngón chân cái hoặc các ngón chân bị biến đổi cấu trúclàm hạn chế tính linh hoạt khi vận động, và đây được coi là những yếu tố có liênquan nhất đến việc tăng áp lực lên trên một diện tích nhỏ của lòng bàn chân khi đi.Việc tăng áp lực lên vùng tiếp xúc của lòng bàn chân có thể gây viêm loét dưới đầuxương bàn chân và ngón chân cái Trong thời gian đi bộ, áp lực đỉnh lên phần mũibàn chân ở BNTĐ cao hơn phía gót Do đó, áp lực lên ngón chân cái bị lặp lại hoặcquá mức, kết hợp với sự thay đổi cấu trúc, làm tăng nguy cơ loét ở ngón chân cái.Năm 2014, Jerry Irmiya Tagang [22] đã nghiên cứu trên 156 BNTĐ (75 BN nam

và 81 BN nữ) tại Nigeria Tác giả đã thực hiện khảo sát mức độ tổn thương (nhưđau, có vết thương, vết loét, hoại tử v.v.) tại 3 vùng của bàn chân BNTĐ: lòng bànchân (hình 1.9 b), cạnh ngoài mu bàn chân (hình 1.10 b) và cạnh trong mu bàn chân(hình 11.b) Kết quả (hình 1.9 a) cho thấy: Các tổn thương ở lòng bàn chân xảy ranhiều nhất ở vị trí vùng ngón chân thứ 2 đến thứ 5 (vùng 'b') với tỷ lệ lên đến 36%đối với nữ và 27% đối với nam giới; thứ hai là vị trí 'a', lên đến 18% đối với cả nam

và nữ Như vậy, phần ngoại biên của bàn chân hoặc các đốt ngón dưới lòng bànchân sẽ bị ảnh hưởng lớn nhất

Trang 22

Năm 2002, nhóm tác giả [23] đã thực hiện nghiên cứu trên 298 BNTĐ (gồm 185nam, 113 nữ) tại Phòng khám bàn chân BNTĐ Manchester Kết quả cho thấy: Tỉ lệ

BN bị loét bàn chân là 86,7%, trong đó loét phần mũi bàn chân chiếm 76,7% Bànchân Charcot chiếm 2,1%; BN bị ảnh hưởng từ giầy dép, phẫu thuật cắt bỏ, chămsóc bàn chân đặc biệt chiếm 11,2% Hầu hết các BN đều có một vết loét trên bànchân, 16% BN có nhiều vết loét; trong đó chân phải chiếm 50,4%, chân trái chiếm45,8% và cả hai chân chiếm 3,8%

Bảng 1.1 Mức độ bị ảnh hưởng của các vị trí trên bàn chân nữ BNTĐ [23]

Năm 2007, nghiên cứu của Abbas & Archibald [39] cho thấy, 40% số BNTĐ bịbiến chứng bàn chân như đau, viêm loét, mụn nước, trầy xước Theo dữ liệu củaViện Y tế Quốc gia Mỹ năm 2011 [41], gần 30% số người mắc BTĐ từ 40 tuổi trởlên đã bị suy giảm cảm giác ở bàn chân

Năm 2009, nhóm tác giả [42] tại Trung tâm nghiên cứu - Viện Khoa học Y tếAmrita - Ấn Độ đã nghiên cứu tỷ lệ chấn thương bàn chân của 361 BNTĐ tuýp 2.Kết quả cho thấy, tỷ lệ bàn chân bị chấn thương: ngón chân cái: 11,9%, giữa bàn

21

Trang 23

chân: 7,5%, mũi bàn chân và các ngón còn lại: 15,5%, dị tật ngón chân: 4,2%, cơ:37,4%, xương: 6,4%.

Một số nghiên cứu [43, 44, 45] đã kết luận: Các vị trí thường bị viêm loét dướilòng bàn chân đó là các ngón chân và đầu xương bàn chân Theo nghiên cứu củaWaaijam và các cộng sự [46], khớp xương bàn chân cái là vị trí bị loét phổ biếnnhất chiếm 27% Các ngón chân ở giữa (thứ 2 và thứ 3) chiếm 18% Các khu vựcnày nhô ra trên lòng bàn chân, diện tích bề mặt tiếp xúc nhỏ nhỏ nên chịu lực ép lớnhơn [44]

Hình 1.12 Các vị trí thường bị loét trên lòng bàn chân [46]

Năm 2002, nghiên cứu [20] tại Việt Nam của Bùi Minh Đức đã thống kê được tỉ

lệ loét bàn chân BNTĐ: ở đầu các ngón chân chiếm 31,5%, mu bàn chân, gót chân,

kẽ ngón chân có tỉ lệ bằng nhau chiếm 9,3% Nghiên cứu này cũng cho thấy tỷ lệtổn thương xương bàn, ngón chân trên phim XQ ở nhóm có hoại tử là 2,4%, trong

đó ở nhóm không hoại tử là 18,2%

Năm 2011, Đặng Thị Mai Trang [47] đã xác định được tỉ lệ của vị trí loét bànchân BNTĐ thường gặp: ở ngón chân: 28,9%, ở gan bàn chân: 17,7% và gótchân:15,6%

Năm 2016, nghiên cứu [48] thực hiện trên 90 BNTĐ (6 nữ BN và 84 nam BN)cho thấy không có BN nào tổn thương bàn chân phải cắt cụt, có 01 BN bị loét bànchân chiếm tỷ lệ 1%, có 03 BN bị ở mức chai chân chiếm 3,3%, và 06 BN bàn chân

có biến đổi ngoài da chiếm 6,7%, còn lại 80 BN không có biến chứng tổn thươngbàn chân chiếm tỷ lệ 89%

Năm 2018, Lê Bá Ngọc [49] đã thực hiện nghiên cứu trên 58 nam BNTĐ và 36

nữ BNTĐ tại Việt Nam về nguyên nhân ngoại sinh gây loét bàn chân Kết quả chothấy: 56,38% BN không phát hiện được nguyên nhân gây ra tổn thương loét Nhữngnguyên nhân thường gặp gây loét là chai chân chiếm 17,02%, do bỏng chiếm 7,45%

và do dẵm phải dị vật chiếm 9,57% Những nguyên nhân ít gặp là loét do ngã chiếm4,26%, do yếu tố giầy dép chật chiếm 3,19%, do cắt móng chân chiếm 2,13%

Nhận xét: Từ các nghiên cứu trên cho thấy:

Bàn chân BNTĐ bị teo cơ tạo bề mặt cơ lồi lõm, biến dạng làm tăng áp lực khi vận động, đây là một nguyên nhân dẫn đến loét bàn chân BN [4].

Biến chứng thường thấy ở bàn chân BNTĐ đó là đau bàn chân, chai chân, biến dạng chân, loét chân, cắt cụt chân [2, 3] Tỷ lệ biến dạng khớp ngón chân cái chiếm 49,4%, ngón chân cái chiếm 39%, đầu xương bàn chân chiếm 24%, và việc vận động khớp cũng bị hạn chế [21].

Loét bàn chân thường xảy ra ở phần mũi bàn chân, vùng khớp ngón ở phía mu cũng như phía lòng bàn chân [21, 22, 23]: Tỷ lệ bàn chân bị loét ở phần mũi lên

Trang 24

đến 76,7% [23], ở các vùng cạnh mu bàn chân ở khớp ngón trong và ngoài đến 15% và 12% [21], ở ngón chân cái ở phía lòng bàn chân từ 18% [22] đến 39 % [21] Bàn chân BNTĐ nước ta còn bị loét nhiều ở vùng kẽ các ngón chân (chiếm khoảng 9,3%[20]).

Các nguyên nhân chính gây loét phần mũi bàn chân BN:

Ngược lại với bàn chân người khỏe mạnh, trong thời gian đi bộ (chân trần), áp lực lên đỉnh phần mũi lòng bàn chân ở BNTĐ cao hơn lên phía gót [21].

Phần mũi bàn chân cũng là vị trí chịu tác động nhiều nhất (dễ bị tổn thương nhất) bởi các yếu từ môi trường bên ngoài.

Phần mũi bàn chân được giầy che kín và là vị trí chịu tác động qua lại mạnh nhất với giầy (do bẻ uốn bàn chân ở vùng khớp ngón khi đi lại, thay đổi kích thước bàn chân khi bẻ uốn) Phần mũi của đế giầy có khả năng giảm chấn kém hơn phần gót giầy (do vật liệu mỏng hơn) nên làm tăng tải trọng lên phần mũi lòng bàn chân Chính vì vậy, có đến 56% đối tượng nghiên cứu đi giầy dép không phù hợp bị loét bàn chân[23].

Phần mũi bàn chân, vùng mang ngoài phía gót mu bàn chân nữ BNTĐ bị biến dạng, loét nhiều hơn hơn so với bàn chân BN nam [22].

Như vậy, phần mũi dưới lòng và mu bàn chân BNTĐ cần được quan tâm đặc biệt Các nghiên cứu hiện nay mới tập trung hạn chế loét phía lòng bàn chân bằng các giải pháp giảm áp lực đỉnh lên phần mũi tại lòng bàn chân khi sử dụng giầy,

mà chưa quan tâm đến hạn chế loét trên mu bàn chân hay áp lực giầy lên mu bàn chân.

1.1.2 Giầy cho bệnh nhân tiểu đường

1.1.2.1 Đặc điểm các loại giầy cho bệnh nhân tiểu đường

Giầy “sâu và rộng” là giầy có khoảng không bên trong lớn hơn, rộng hơn giầybình thường, có nghĩa là thể tích bên trong giầy lớn hơn để giầy không bó chặt bànchân, không ép nén phần mũi và ngón chân, có thể chứa lót giầy có độ dày lớn (trên

5 mm) Lót giầy được làm bằng chất liệu mềm, xốp, đàn hồi được đúc sẵn phù hợpcho các kiểu giầy khác nhau hoặc được chế tạo theo bàn chân người bệnh [50].Loại giầy này được sản xuất và sử dụng phổ biến cho BNTĐ có bàn chân chưa bịbiến dạng hoặc bị biến dạng nhẹ (từ nguy biến chứng cơ thấp đến tiếp cận nguy cơcao) còn gọi là giầy trị liệu thông dụng Loại giầy này được sản xuất đại trà trên cơ

sở nghiên cứu nhân trắc bàn chân BNTĐ và đặc thù phân bố áp lực lên lòng bànchân BN

Cấu trúc của giầy gồm các chi tiết cơ bản (hình 1.13) như đế ngoài (1), lót mặt(lót giầy) (2), mũ giầy (3), ngoài ra có thể cấu trúc thêm các túi đệm khí giúp êmchân trong quá trình sử dụng (4)

23

Trang 25

Hình 1.13 Hình ảnh minh họa cấu trúc sản phẩm giầy [50]

Bàn chân BNTĐ, tùy thuộc vào mức độ bệnh, hay nguy cơ biến chứng bàn chân,được chia thành 4 nhóm và được sử dụng sản phẩm giầy phù hợp với biến chứngbàn chân [51, 52]:

 Nhóm nguy cơ biến chứng bàn chân thấp: Cảm giác bảo vệ bàn chân bình thường.Giầy cho nhóm BN này thường là giầy sâu và rộng, có đặc điểm tương tự giầy thông thường với như: đế và mũi giầy mềm, có các kích cỡ bề ngang rộng

 Nhóm nguy cơ biến chứng bàn chân vừa: Mất cảm giác bảo vệ bàn chân, không biến dạng bàn chân, không có tiền sử loét bàn chân hoặc cắt cụt từ trước.

Giầy cho nhóm BN này là giầy sâu và rộng, mềm, dễ bẻ uốn, với kích cỡ cânđối, với áp lực thích hợp, vừa vặn với cung gan bàn chân cho đối tượng BN

 Nhóm nguy cơ biến chứng bàn chân cao: Mất cảm giác bảo vệ bàn chân, có biến dạng bàn chân, không có tiền sử loét bàn chân hoặc cắt cụt từ trước.

Bệnh nhân nhóm này cần được tư vấn để lựa chọn giầy phù hợp: chất liệu mềm,

dễ uốn, tạo được sự thích nghi với bất kỳ sự thay đổi nào của bề mặt bàn chân giúpphòng ngừa các tổn thương do cọ xát và tránh tăng áp lực quá mức lên phần mũibàn chân

 Nhóm nguy cơ biến chứng bàn chân rất cao: Mất cảm giác bảo vệ bàn chân, có biến dạng bàn chân, có tiền sử loét bàn chân hoặc cắt cụt từ trước.

Giầy cho nhóm nguy cơ này nên lựa chọn loại giầy với các đặc điểm: đế giầy linhđộng và cứng, giầy nửa sau giúp giảm tải ở phần bàn chân trước và thúc đẩy sự lànhvết loét

Ngoài ra BN có nguy cơ loét bàn chân cao thường đi giầy được thiết kế, sản xuấtbởi các chuyên viên dụng cụ chỉnh hình, phục hồi chức năng [13, 14] Giầy đượclàm từ các loại vật liệu rất mềm, thiết kế phù hợp theo các đặc điểm riêng biệt trêntừng bàn chân Loại giầy này còn sử dụng các chi tiết hỗ trợ vòm bàn chân, gót chânhoặc các chi tiết đệm Chi phí sản xuất loại giầy này cao, đòi hỏi người sản xuấtchuyên sâu trong lĩnh vực giầy chỉnh hình

Hình 1.14 Giầy thiết kế riêng cho từng BN [13]

Tại Việt Nam, nghiên cứu [53] đã thiết kế, chế tạo giầy cho BNTĐ Tuy

Trang 26

nhiên, công trình chưa nghiên cứu, chứng minh được hiệu quả của vật liệu, của sảnphẩm giầy có tác dụng với bàn chân BNTĐ.

Hình 1.15 Mẫu giầy cho nữ BNTĐ của Viện NC Da giầy [53]

Nghiên cứu [54] đã khảo sát 6 mẫu giầy cho nữ BNTĐ tại thị trường Việt Namtheo đặc điểm cấu trúc và vật liệu Tác giả đã phân tích các đặc trưng cấu trúc giầy:loại, kiểu và hình dáng giầy, hình dạng và kích thước các chi tiết, các phương phápráp nối các chi tiết giầy; loại nguyên vật liệu làm các chi tiết giầy Thử nghiệm đánhgiá chất lượng giầy thông qua thử nghiệm các tính chất quan trọng của vật liệu làmcác nhóm chi tiết: mũ giầy, lót mũ giầy, lót giầy, đế trong và đế giầy; độ bền mốiráp đế giầy với mũ giầy Kết quả cho thấy, giầy cho nữ BNTĐ thường là loại giầythuyền hoặc giầy thấp cổ có quai cài kết hợp với băng nhám, có gót thấp (khoảng 10mm) độ cao nâng mũi phom trên 10 mm, mũi giầy rộng, cao và lượn tròn Giầy cócấu trúc như giầy thông thường, sử dụng đế trong cứng Giầy sử dụng chủ yếu là dathuộc làm phần mũ giầy, đế bằng (phẳng), đúc liền gót từ cao su hoặc cao su nhiệtdẻo, lót giầy đàn hồi có độ dày khá lớn được làm từ lớp xốp EVA và lớp da thuộc.Các vật liệu làm mẫu giầy khảo sát có các đặc trưng cơ học tốt nhưng các chỉ tiêu

vệ sinh (độ thông hơi, độ hấp thụ hơi nước, độ hút nước) chưa đáp ứng yêu cầu

Nhận xét: Có nhiều loại giầy cho BNTĐ như giầy đế bằng, mũi rộng; giầy đế lửng; giầy hở mũi; giầy có quai; giầy có cửa bằng chun; dép sandal Tùy theo mức

độ tổn thương bàn chân và mục đích sử dụng (hoạt động thể thao, đi làm, đi chơi,

đi trong nhà) mà người bệnh sử dụng các loại giầy dép phù hợp.

Bàn chân BNTĐ có nguy cơ thấp, vừa, mức gần nguy cơ cao thường sử dụng giầy sản xuất hàng loạt, được thiết kế riêng, đảm bảo độ vừa vặn trên cơ sở nghiên cứu nhân trắc và cơ sinh học bàn chân BN [51, 52] Bàn chân BN có nguy cơ cao

và rất cao cần được đo, thiết kế và sản xuất giầy riêng lẻ theo từng bàn chân Loại giầy chuyên dụng này, tuy có mức độ bảo vệ bàn chân tốt, giảm mạnh nguy cơ loét bàn chân, nhưng có chi phí sản xuất cao do phải đo bàn chân, thiết kế phom giầy riêng, lựa chọn vật liệu phù hợp và thiết kế, chế tạo giầy đơn chiếc [13, 14] Hiện nay ở nước ta, Viện Nghiên cứu Da giầy [53] có sản xuất giầy cho BNTĐ tuy nhiên chất lượng giầy còn hạn chế Các mẫu giầy có trên thị trường có cấu trúc như giầy thông thường, có lót giầy xốp, đàn hồi và giầy chưa đáp ứng được yêu cầu vệ sinh 1.1.2.2 Tầm quan trọng của giầy đối với bệnh nhân tiểu đường

Các tác giả nghiên cứu [55, 56, 57] cho rằng: Đôi giầy không thể thiếu đối vớiBNTĐ Đôi giầy giúp kéo dài tuổi thọ BN do giảm tổn thương bàn chân, đặc biệt làloét bàn chân

Các tác giả của nghiên cứu [5] cho rằng: Hầu hết các vết loét xảy ra dưới các đầuxương bàn chân do biến dạng bàn chân kết hợp với áp lực tác động lòng bàn chân

Do vậy các tác giả đã thử nghiệm đánh giá vai trò của giầy đối với BNTĐ bằng

25

Trang 27

cách đặt các miếng đệm hình trụ có đường kính 4 mm được làm từ vật liệu mềm ởcác vùng áp lực cao, đo và so sánh áp lực phân phối tại đầu xương bàn chân của mộtchiếc giầy thông thường và giầy có đặt các miếng đệm Kết quả là với giầy dép trịliệu thông thường, khi đặt miếng đệm có thể làm giảm áp lực đỉnh lên lòng bàn chân

từ 16% đến 48% tại vị trí dưới đầu xương bàn chân Miếng đệm có tác dụng phânphối áp lực (từ một vùng) lên vùng diện tích lòng bàn chân lớn hơn

Hình 1.16 Giầy được chèn các miếng đệm [5]

Theo một số tài liệu nghiên cứu [6, 7, 8], các biến chứng bàn chân có thể đượcngăn ngừa và giảm thiểu khi được chẩn đoán sớm, giáo dục tốt cho BNTĐ về cáchchăm sóc bàn chân Việc kết hợp giữa việc điều trị và sử dụng giầy dép được thiết

kế chuyên dụng làm giảm áp lực lên bàn chân, giảm chấn thương, đặc biệt hạn chếkhả năng loét bàn chân

Luigi Uccioli và cộng sự [9] tại Trường Đại học Tor Vergata nước Ý đã nghiêncứu đánh giá hiệu quả của giầy thiết kế đặc biệt cho BNTĐ nhằm ngăn chặn loét táiphát bàn chân Nghiên cứu thực hiện trên 69 BN (43 nam và 26 nữ) có tiền sử bịloét bàn chân BN được chia thành 2 nhóm: nhóm 1 đi giầy của riêng mình (nhómC) số lượng 36 BN, nhóm 2 đi giầy trị liệu (nhóm P) số lượng 33BN Kết quả theodõi 1 năm cho thấy: Loét bàn chân tái phát trong nhóm P là 27,7%, trong khi đó tỉ lệloét bàn chân tái phát của BN nhóm C là 58,3% Nhóm tác giả đã kết luận [9]: Việc sửdụng giầy được thiết kế đặc biệt có hiệu quả trong việc ngăn ngừa loét tái phát ở

BNTĐ BNTĐ có tiền sử loét bàn chân thường có áp lực cao bất thường tại lòng bànchân khi đi bộ

Năm 2006, nhóm tác giả [10] tại Trường Đại học y Rosalind Franklin - Mỹ đãnghiên cứu sự gia tăng chấn thương bàn chân BNTĐ do đi giầy không phù hợp.Nhóm đã nghiên cứu trên 440 BN, trong đó 94,1% nam, tuổi trung bình 67,2 ± 12,5năm Kết quả cho thấy: 58,4% số BN bị mắc BTĐ, trong đó 6,8% BNTĐ đã có biếnchứng loét bàn chân Tuy nhiên, chỉ có 25,5% số BN được mang giầy có kích cỡphù hợp Số BN bị loét bàn chân do đi giầy kém vừa chân cao gấp 5,1 lần so vớinhững BN đi giầy vừa chân Nghiên cứu đã kết luận: "Giầy kém vừa chân phổ biến

ở những BNTĐ bị loét bàn chân hơn so với những người không có vết thương hoặckhông bị bệnh lý thần kinh ngoại biên Điều này cho thấy rằng đi giầy phù hợp là giảipháp hữu hiệu để giảm nguy cơ loét bàn chân"

Năm 2004, tại Mỹ, nhóm tác giả Maciejewski và cộng sự [11] đã nghiên cứuhiệu quả của giầy dép trị liệu cho 440 BNTĐ để phòng ngừa biến chứng loét bànchân Những đôi giầy được thiết kế dựa trên số đo bàn chân BN, với phần mũi rộng,

đế bằng, sử dụng miếng lót điều chỉnh độ sâu giầy đối với bàn chân BNTĐ Kết quảcho thấy, các vết loét trên bàn chân phân bố không đều theo thời gian: 30% bànchân BN bị loét xảy ra trong vòng 2 tháng đầu tiên; sau 1 năm theo dõi, bàn châncủa 27,7% số BN được đi mẫu giầy nghiên cứu bị loét lại, tuy nhiên bàn châ ncủa

BN không đi giầy trị liệu bị loét lại lên đến 59,3% Nhóm nghiên cứu đã kết luận:Giầy trị liệu có tác dụng làm giảm nguy cơ vết loét tái phát của BNTĐ và các yếu tố

Trang 28

ảnh hưởng đến bàn chân Vấn đề thiết kế có ảnh hưởng đến tác dụng của giầy déptrị liệu [11].

Năm 2013, nhóm tác giả [26] tại trường Đại học công nghệ Queensland Australia đã nghiên cứu và hướng dẫn việc sử dụng giầy dép cho BNTĐ Tổnthương dây thần kinh ngoại vi là yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với BNTĐ liên quanđến loét bàn chân Chấn thương từ giầy dép là nguyên nhân dẫn đến loét bàn chân.Kết quả nghiên cứu trên 472 BN và đã xác định được 54,0% các vết loét bàn chân

-do chấn thương từ giầy dép Do đó việc đi giầy thích hợp rất quan trọng cho tất cảBNTĐ, đặc biệt đối với những BN có thần kinh ngoại biên bị mất cảm giác Nhóm

BN này, không có cảm giác áp lực hoặc đau khi đi giầy không vừa Việc sử dụnggiầy dép thích hợp giảm áp lực đáng kể lên lòng bàn chân, do đó giảm khả năngphát triển mô sẹo và các vết loét

Một số chuyên gia [58, 59] đã lưu ý BNTĐ: BN không nên mang sandal, guốchay dép, và cần thay đổi giầy sau khi mang liên tục 4 đến 5 giờ

Các nghiên cứu [58, 60, 61] cho rằng: Do bàn chân BNTĐ bị biến dạng (teo lớpđệm lòng bàn chân) nên áp lực lên lòng bàn chân không đều, tạo áp lực rất lớn ởphía dưới xương bàn chân, do vậy việc sử dụng giầy chuyên dụng còn giúp nâng đỡbàn chân, phân bố đều áp lực lên lòng bàn chân, làm giảm nguy cơ bị chai hoặc loétbàn chân Bàn chân của BNTĐ rất dễ bị tổn thương, và khi đã tổn thương, nguy cơnhiễm trùng dẫn đến loét, hoại tử rất cao Do đó BN phải có những biện pháp phòngngừa thích hợp, một trong số đó chính là sử dụng giầy dép phù hợp

Năm 1997, LeMaster, Joseph W và cộng sự [62] tại Viện Y tế Cộng đồng Trường Đại học Missouri - Mỹ đã nghiên cứu về tác dụng của giầy trị liệu(therapeutic footwear) với BNTĐ Thực hiện nghiên cứu trên 5872 BN được bảo trợ

-y tế tại Washington, Alaska và Idaho, những BN nà-y có ngu-y cơ cao bị loét bànchân Thời gian nghiên cứu kéo dài 18 tháng Kết quả cho thấy tỷ lệ tái phát các vếtloét bàn chân tại những người đi giầy trị liệu là 26% thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệnhững người không đi giầy trị liệu là 83%

Năm 2003, Viswanathan, Vijay và cộng sự [63] nghiên cứu hiệu quả của các loạilót giầy cho BNTĐ tại Ấn Độ Nghiên cứu đã tiến hành đo áp lực bàn chân của 241

BN (158 nam và 83 nữ, tuổi trung bình là 57,5 ± 9,6 năm) Các BN được lựa chọncác loại giầy dép khác nhau: giầy trị liệu (giầy có lót làm bằng cao su xốp, giầy cólót làm bằng polyurethane, giầy có lót đúc định hình) và giầy thông thường có lótbằng da cứng Kết quả cho thấy: BN sử dụng giầy trị liệu có áp lực lên bàn chânthấp (dưới 7 kPa), trong khi những BN sử dụng giầy thông thường, áp lực tăng lênđến 60 kPa Sự xuất hiện các tổn thương mới ở những BN đi giầy thông thường đến33%, trong khi đó tỷ lệ ở các nhóm khác chỉ có 4% Như vậy, giầy trị liệu rất hữuích trong việc làm giảm vết loét mới của BNTĐ

Năm 2004, Boulton và Jude [64] đã nghiên cứu đánh giá tác dụng của giầy trịliệu đối với bàn chân BNTĐ và cho rằng giầy dép thiết kế phù hợp sẽ ngăn ngừaloét chân, và giầy dép thiết kế không đảm bảo độ vừa vặn là nguyên nhân chính gâyloét bàn chân BNTĐ

Năm 2001, Dahmen và các cộng sự [65] tại Hiệp hội Tiểu đường Mỹ công bốmột nghiên cứu về "Giầy dép điều trị cho bàn chân giảm cảm giác" và kết luận bànchân mất cảm giác sẽ khó khăn khi chuyển động vì vậy cần đòi hỏi lót giầy có diện

27

Trang 29

tích tiếp xúc lớn giúp phân bố áp lực, đế ngoài mềm đàn hồi, giảm chấn ở gót chân.Tất cả các chi tiết của giầy có yêu cầu riêng và liên quan chặt chẽ với nhau Khithiết kế giầy cần nghiên cứu đến các yếu tố trên để tránh sự ảnh hưởng xấu đến bànchân.

Năm 2008, nghiên cứu của Nathan và Singh [66] cho thấy, giầy dép dùng choBNTĐ làm giảm các vết loét mới ở bàn chân, giảm cắt cụt chi dưới Theo kết quảnghiên cứu, có tới 37% BNTĐ mang giầy không vừa chân dẫn đến loét bàn chân.Các nghiên cứu khác [67, 68] cho thấy, 21 đến 82% trường hợp loét bàn chân cóliên quan đến áp lực từ giầy dép do nguyên nhân quá chật hoặc do gây áp lực cụcbộ

Năm 2005, tác giả Edmonds và Foster [69] đã khẳng định nếu đi giầy khôngđúng kích thước sẽ ảnh hưởng đến chân, biến dạng và loét

Nhận xét: Giầy có vai trò rất quan trọng đối với bàn chân BNTĐ Việc sử dụng giầy phù hợp giúp giảm đáng kể tổn thương, loét bàn chân Tuy nhiên giầy dép không phù hợp cũng là nguyên nhân chính gây loét bàn chân Do vậy việc nghiên cứu và đánh giá giầy cho BNTĐ được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới [9, 10,

11, 26, 55, 58, 59, 60, 61, 63, 69], ở nước ta vấn đề này chưa được quan tâm, phần lớn BNTĐ sử dụng giầy thông thường hoặc không sử dụng giầy.

1.1.2.3 Yêu cầu đối với giầy cho bệnh nhân tiểu

đường a Yêu cầu về thiết kế giầy

Cho đến nay, trên thế giới chưa có tiêu chuẩn đối với giầy cho BNTĐ, chỉ có một số đề xuất đối với thiết kế loại giầy này

Năm 2013, nhóm tác giả [26] tại trường Đại học công nghệ Queensland Australia đã xây dựng hướng dẫn, khuyến cáo sử dụng giầy dép cho BNTĐ và yêucầu đối với các lớp cho tiết của giầy dép (bảng 1.2)

-Bảng 1.2 Khuyến cáo giầy dép cho BNTĐ theo phân loại nguy cơ bàn chân [26]

Cấp độ Đặc tính bàn chân Khuyến cáo

Không bị bệnh thần kinh Giầy dép đế bằng (gót thấp), độ nâng mũi

Nguy Không có bệnh động mạch Khuyến khích đo kích thước bàn chân và

ngoại biên lựa chọn giầy dép đảm bảo độ vừa vặn

Giầy dép đế bằng (gót thấp), độ nâng mũi

Bệnh thần kinh ngoại biên

cao sẽ thích hợp

Trang 30

Bệnh động mạch ngoại biên Khuyến khích khách hàng đi giầy, đáp ứng

28

Trang 31

các tiêu chí chung về vật liệu và thiết kế

Hình dạng chân bình Thường xuyên đi giầy dép bảo vệ chân

Không có tiền sử bị phẫu Giầy dép vừa vặn vào buổi chiều để đảmthuật bảo sự phù nề tăng kích thước bàn chân

Giầy dép mới nên được đi dần dần

Kiểm tra bàn chân thường xuyên để pháthiện các dấu hiệu của chấn thương khi điđôi giầy mới

Hình dạng chân bất thường, Nên được chuyên viên y tế đào tạo về việcbao gồm cả tiền sử phẫu đi giầy dép một cách thích hợp

thuật cắt bỏ

Giầy dép y tế phù hợp yêu cầu

Dụng cụ phụ trợ bàn chân được cung cấptrước hoặc cùng với giầy dép quy định

bảo vệ chân khỏi bị tổn thương

Bảng 1.3 Đặc điểm của giầy dép cho BNTĐ [26]

Các chi tiết giầy Yêu cầu

Mũ giầy nên được làm từ da thuộc hoặc kết hợp một số vật

Mũ giầy liệu (như các loại vật liệu sử dụng cho giầy thể thao) với lớp

lót bên trong mịn và không có đường ráp nối nổi cộm tại vịtrí ngón chân

Đế trong Có chiều dài lớn hơn chiều dài bàn chân khi khách hàng

đang đứng tối thiểu là 1 cm

Trang 32

đi (giầy rộng ngang, sử dụng đế có mép rộng)

Độ cao gót Nhỏ hơn hoặc bằng 2 cm

Công cụ cố định Sử dụng loại phù hợp như dây giầy hay nhám dính để giữgiầy trên bàn chân chân cố định không bị trượt về phía trước

29

Trang 33

Đế ngoài và lót Dày khoảng 0,5 đến 1 cm dưới phần mũi bàn chân

bên trong

Giầy hở gót Hở gót có thể gây thương tích cho vùng da xung quanh gót

chân

Đế Không trượt (chống trượt tốt)

Năm 2011, nhóm nghiên cứu [53] tại Viện nghiên cứu Da Giầy Việt Nam đã đưa

ra các yêu cầu đối với giầy cho BNTĐ như sau:

 Kiểu giầy thấp cổ hoặc cổ lửng có dây buộc hoặc dùng băng nhám để dễ điều chỉnh cho giầy vừa vặn với bàn chân.

 Giầy có gót thấp từ 1,5 - 2,5 cm để đảm bảo phân bố áp lực bình thường nên bàn chân,

đế giầy và gót rộng tạo độ vững chắc cho người bệnh khi đi đứng.

 Giầy phải vừa chân, có phần mũi cao và rộng để tránh ép nén cục bộ và tổng thể nên bàn chân.

Năm 2008, nghiên cứu [66] của nhóm tác giả Nather & Singh đưa ra khuyến cáokhối lượng giầy dép cho BNTĐ nên nhẹ, tốt nhất là dưới 700g/đôi và độ cao đế giầynên thấp hơn 5 cm

Theo John Giurini - Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess [70], BNTĐ nên chọn,thử giầy như sau: khoảng cách giữa ngón chân dài nhất và mũi giầy bằng ½ chiềurộng của ngón tay cái để có không gian cho sự chuyển động của ngón chân Thiết kếkiểu giầy lười, giầy có chiều rộng phù hợp với bàn chân của BN, tăng thêm chiềusâu (cao)

Nghiên cứu của nhóm tác giả [13, 71] về thiết kế giầy dép cho BN có bệnh lý bànchân đã khuyến cáo:

 Giầy dép không nên quá chật, nên có nhám dính hoặc dây để dễ dàng điều chỉnh phù hợp với bàn chân trong mọi thời điểm.

 Vào buổi tối, giầy dép nên được nới rộng hơn vì bàn chân có hiện tượng phù nề

 Đế giầy nên được làm bằng cao su tránh hiện tượng trượt.

 Độ cao gót từ 2 đến 3 cm, thiết kế đế rộng đảm bảo độ chắc chắn.

Nhóm nghiên cứu [27, 72] cho thấy: bàn chân BNTĐ phù hợp với giầy có

đế giầy cứng và có độ nâng mũi lớn Nguyên tắc thiết kế giầy cho BNTĐ đó

là khi đi các khớp của bàn chân ít bị cử động nhất Tác giả cũng đưa rakhuyến cáo khi thiết kế giầy dép cho BNTĐ:

 Giầy có gót thấp để giảm áp lực lên đầu xương bàn chân.

 Có ít đường ráp nối các chi tiết.

 Giầy nên rộng, sâu để chứa lót, và lót giầy nên thay thường xuyên.

 Đặc điểm kiểu dáng: giầy đẹp, thời trang để tránh sự phân biệt giữa giầy cho người bình thường và giầy cho BN.

 Giầy nên có nhiều cỡ độ rộng (độ đầy) khác nhau để thích hợp cho bàn chân to.

Nhận xét: Cho đến nay chưa có tiêu chuẩn về giầy cho BNTĐ Các nghiên cứu

Trang 34

30

Trang 35

quá 5 cm [66]; phần cấp bù theo chiều dài đế trong (mặt đáy phom) ở phần mũi tối thiểu 1 cm [26], bằng ½ chiều rộng của ngón tay cái [70]; lót giầy có độ dày 0,5 - 1

cm [26]; khối lượng giầy dưới 700g/đôi; giầy sâu, rộng có phần mũi cao và rộng;

có ít đường ráp nối; có nhiều cỡ giầy theo chiều rộng; giầy đế bằng chống trơn trượt tốt Nghiên cứu [26] lưu ý đến sự thay đổi kích thước của bàn chân, sự phù nề tăng kích thước bàn chân, khuyến cáo chọn giầy vào buổi chiều Các đề xuất này mang tính định hướng cho thiết kế phom giầy, thiết kế và chế tạo giầy phù hợp với đặc thù bàn chân BNTĐ.

b Yêu cầu về vật liệu làm giầy

Nghiên cứu của Foto [28] cho rằng đối với giầy cho BNTĐ cần chú ý đến khốilượng và khả năng chịu ép, nén của vật liệu

Nghiên cứu của John Giurini [70] cho rằng nên chọn da mềm làm vật liệu sảnxuất giầy cho BNTĐ, bởi vì nó có thể co giãn, thông hơi tốt Lót trong nên bằng vậtliệu da mỏng, vì có khả năng hấp thụ tốt hơn

Nhóm nghiên cứu [27, 72] khuyến cáo khi lựa chọn vật liệu sản xuất giầy dépcho BNTĐ:

 Đế giầy vững chắc và đàn hồi;

 Mũ giầy mềm và thông khí, nên chọn vật liệu da;

 Phần mở của giầy nên sử dụng băng nhám hoặc ren;

 Nên sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường.

Vật liệu sản xuất giầy cho BNTĐ phải thông khí, thông hơi tốt (vật liệu có khảnăng cho không khí, nước và hơi nước xuyên qua); thải mồ hôi bàn chân ra môitrường bên ngoài tạo cảm giác khô thoáng cho bàn chân [73]

Nhận xét: Cho đến nay chưa có yêu cầu hay tiêu chuẩn về vật liệu làm giầy cho BNTĐ Có một số nghiên cứu đưa ra các khuyến cáo sử dụng vật liệu cho các lớp chi tiết giầy cho BNTĐ: Vật liệu phần mũ giầy cần thông hơi, hút ẩm, thải ẩm tốt, mềm mại, nhẹ, giãn đàn hồi, có khả năng chịu ép nén tránh gây tổn thương bàn chân; Vật liệu phần đế giầy cần xốp, đàn hồi, vững chắc nhằm giảm áp lực cho lòng bàn chân khi đi.

c Yêu cầu về áp lực tác dụng lên bàn chân khi sử dụng giầy

Một trong những nguyên nhân chính gây loét bàn chân BNTĐ, đặc biệt là lòngbàn chân, là phân bố áp lực bất thường lên lòng bàn chân, do vậy vấn đề này đượcnhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu

Năm 2012, nhóm tác giả [15] tại Viện Nghiên cứu Y học Anh đã nghiên cứu vềgiầy trị liệu giảm áp lực cho BNTĐ có nguy cơ loét bàn chân Nghiên cứu trên171BNTĐ, trong đó 336 bàn chân bị biến dạng và có một vết loét vừa lành tại lòng bànchân Thực hiện đo áp lực bàn chân đi chân trần và áp lực bên trong giầy trị liệu.Tại vết loét trước và tại các điểm áp lực cao nhất của chân trần bị biến dạng Giầyđược coi là hiệu quả trong giảm tải áp lực khi áp lực đỉnh lòng bàn chân trong giầynhỏ hơn 200 kPa Kết quả trung bình của áp lực đỉnh trong giầy dao động từ 211đến 308 kPa với bàn chân biến dạng (so với 191 đến 222 kPa bàn chân không bịbiến dạng); từ 140 đến 187 kPa ở bàn chân có vùng giữa biến dạng (so với 112 kPa

ở bàn chân không bị biến dạng)

Trang 36

Năm 2013, Giacomozzi và các cộng sự [16] tại Viện Y tế Quốc gia Ý đã nghiêncứu tác dụng của giầy đối với BNTĐ bằng cách sử dụng hệ thống Pedar đo áp lực.BNTĐ tuân thủ theo liệu pháp điều trị và đi giầy theo quy định để phòng chống loétbàn chân Nghiên cứu trên 11 BN có nguy cơ loét bàn chân cao, trong đó 9 BN thửnghiệm giầy mới, 2 BN thử nghiệm với giầy đã đi được 12 tháng BN đi giầy theoquy định, áp lực giảm ở tất cả các khu vực, ngăn ngừa được loét tái phát và sự hìnhthành các vết loét mới Tác giả khuyến cáo ngưỡng áp lực lòng bàn chân dưới 200kPa.

Năm 2009, tác giả Owings và các cộng sự [17] đã nghiên cứu để xác định cácyếu tố liên quan đến các vết loét tái phát ở bàn chân BNTĐ Kết quả cho thấyngưỡng của áp lực nhỏ hơn 200 kPa tránh được loét bàn chân

Năm 2013, Patry J và các cộng sự [18] tại Đại học y tế Levis, Canada đã nghiêncứu áp lực của lòng bàn chân và ảnh hưởng của áp lực đến viêm loét bàn chân.Ngưỡng của áp lực đỉnh thấp hơn 200 kPa đã được đánh giá có thể ngăn chặn loétbàn chân Tuy nhiên để đánh giá tốt hơn và đảm bảo tránh nguy cơ loét bàn chân,cần phân tích áp lực lòng bàn chân khi vận động

Năm 2007, Xiao HS và các cộng sự [19] tại Khoa Nội tiết, Bệnh viện SecondAffiliated, Đại học Sun Yat Sen, Trung Quốc đã nghiên cứu đánh giá sự khác biệt

và phân bố áp lực lòng bàn chân BNTĐ và người bình thường tại Trung Quốc.Nghiên cứu thực hiện trên 1.035 BNTĐ và 1.022 người bình thường Toàn bộ bànchân được chia thành mười điểm và xác định giá trị trung bình của áp lực đỉnh(MPP) Kết quả, MPP đối với BNTĐ: chân trái là 410 ± 122 kPa và chân phải là

427 ± 128 kPa MPP đối với người bình thường: chân trái là 415 ± 113 kPa và chânphải là 428 ± 116 kPa Ba vị trí trên bàn chân BNTĐ có giá trị MPP cao hơn ngườibình đó là xương ngón chân cái, xương ngón thứ hai, xương ngón thứ ba cho cảchân trái và chân phải

Nghiên cứu của Cavanagh và Bus [74] năm 2011 cho thấy, việc giảm áp lực làyếu tố quan trọng để ngăn ngừa viêm loét ở bàn chân BNTĐ, giá trị áp lực dưới 200kPa là ngưỡng an toàn

Nghiên cứu [75] thực hiện trên 27 đối tượng nữ khỏe mạnh có độ tuổi 22,5 ± 4,5năm, sử dụng 8 cảm biến Walkinsense tại 5 đầu ngón chân, khớp xương bàn số 1,khớp xương bàn số 5 nhằm đánh giá áp lực của giầy lên mu bàn chân với 3 kiểu mũigiầy (mũi giầy tròn, mũi giầy vuông và mũi giầy nhọn) Kết quả cho thấy, hình dạng

và độ rộng mũi giầy ảnh hưởng đến giá trị áp lực lên phần mũi bàn chân Giá trị áplực tại vị trí khớp xương bàn số 1, số 5 là lớn nhất, tùy thuộc vào kiểu mũi giầy Giátrị áp lực tại khớp xương bàn số 1 với 3 kiểu mũi giầy (mũi giầy tròn, mũi giầyvuông và mũi giầy nhọn) lần lượt là: 40,2 ± 0,31(N/cm2); 57,85 ± 0,34 (N/cm2);51,97 ± 0,43 (N/cm2) tương đương 3.015,2 ± 23,25(mmHg); 4.339,1 ± 25,5(mmHg); 3.898,1 ± 32,3 (mmHg)

Nghiên cứu [76] thực hiện trên 9 đối tượng nam thanh niên có độ tuổi 24 ± 2,13năm, sử dụng hệ thống đo áp lực novel và cảm biến áp lực so sánh áp lực lòng và

mu bàn chân tại vị trí khớp xương bàn số 1, 2, 5 của ba loại giầy thể thao Kết quảgiá trị áp lực trên mu bàn chân tại vị trí khớp ngón của 3 loại giầy có sự khác biệt.Trong đó, áp lực đỉnh tại vị trí khớp xương bàn số 1 khi đi giầy đánh tennis cao nhất

là 82,1 ± 59,9 (kPa) (tương đương 615,8 ± 446,3 (mmHg))

32

Trang 37

Nghiên cứu [77] thực hiện trên 10 đối tượng nam thanh niên độ tuổi 22,1 ± 0,6năm đi giầy thiết kế riêng, sử dụng cảm biến Flexiforce đặt tại khớp xương bàn số 1,

3, 5 để đo áp lực của giầy lên khớp ngón Kết quả giá trị áp lực tại vị trí giữa khớpngón dao động từ 5 kPa ÷ 25 kPa (tương đương 37,5 mmHg ÷ 187,5 mmHg), có sựkhác biệt giữa các pha của chu kỳ bước chân

Nghiên cứu [78] thực hiện trên 14 vận động viên nam độ tuổi 24 ± 5 năm, sửdụng 54 cảm biến của hãng Pedar chia làm 8 vùng để đo áp lực mu bàn khi đi giầybuộc giây kiểu ziczac (của hãng Nike) Cùng với đo áp lực, đối tượng đo được hỏiđánh giá cảm nhận về sự thoải mái và ổn định bàn chân khi đi giầy theo thang đánhgiá 7 điểm Kết quả nghiên cứu cho thấy, áp lực đỉnh trên mu bàn chân tỷ lệ nghịchvới sự cảm nhận thoải mái của đối tượng Kiểu buộc giây khi đi giầy cũng ảnhhưởng đến giá trị áp lực và cảm nhận khi đi giầy Kết quả giá trị áp lực tại khu vực

mu bàn chân khi buộc dây từ 40 kPa đến 70 kPa, tương đương 300,04 mmHg đến525,07 mmHg Tác giả đã khẳng định, việc xác định áp lực của giầy lên mu bànchân rất hữu ích, kết quả giá trị áp lực giúp nhà sản xuất cải thiện sự thoải mái củagiầy dép

Các nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra các giá trị khác nhau về áp lực cho phéplên mu bàn chân Các tác giả của các nghiên cứu [79, 80, 81] cho rằng giá trị áp lực

4 kPa ÷ 4,7 kPa (30 mmHg ÷ 35,25 mmHg) có thể gây thiếu máu cục bộ trên mubàn chân Kết quả nghiên cứu [82] cho thấy nếu tác động lực liên tục trong khoảng

15 kPa ÷ 20 kPa (112,5 mmHg ÷ 150 mmHg) làm gián đoạn đến lưu lượng máu trong động mạch, nếu tác động lâu dài làm hoại tử da và gây loét

Các tác giả của công trình [83] đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của các nhà khoahọc LB Nga và cho rằng, áp lực cho phép (áp lực không làm thay đổi sự lưu thôngmáu trong các mạch máu) lên mu bàn chân ở vùng 0,448 ÷ 0,68 chiều dài bàn chân

là khác nhau với các tư thế khác nhau của bàn chân và đạt khoảng 8,7±1 kPa (57,75mmHg ÷ 72,75 mmHg), con người cảm nhận được sự ép nén với áp lực từ 5,4 kPa(40,5 mmHg)

Nghiên cứu [84] sử dụng bộ thiết bị đầu nén, từ giá trị áp lực và tốc độ nén đánh giá cảm nhận sự không thoải mái và cảm giác đau tại 7 vị trí dưới lòng bàn chân và

6 vị trí tại khớp xương bàn 1, 5, vị trí trục dọc bàn chân (giữa khớp xương bàn 2 và3), giữa bàn chân và vùng bẻ uốn trên mu bàn chân Kết quả cho thấy, giá trị áp lựctại khớp xương bàn số 1, 3, 5 trong khoảng 240 kPa đến 360 kPa, tương đương

1 800,2 mmHg đến 2.700,4 mmHg

Nghiên cứu [85] sử dụng 8 cảm biến tại khớp xương bàn số 1, 3, 5, khớp ngón số

5, giữa bàn chân mang ngoài, vùng bẻ uốn, dưới mắt cá chân để so sánh áp lực trên

mu bàn chân của 3 loại giầy cao cổ Kết quả cho thấy, giá trị áp lực tại khớp xươngbàn số 1, 5 cao nhất Giá trị áp lực tại khớp xương bàn số 1 với 3 loại giầy cao cổ(loại 1, loại 2 và loại 3) lần lượt là: 160 kpa; 125 kPa; 75 kPa tương đương 1.200,2mmHg; 937,6 mmHg; 562,6 mmHg

Nhận xét: Trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu về phân bố áp lực lên lòng bàn chân BNTĐ khi đứng hoặc đi lại chân trần trên bề mặt phẳng và khi sử dụng các loại giầy khác nhau Các nghiên cứu [15,16,17, 18, 19] đều cho thấy áp lực đỉnh lên lòng bàn chân nhỏ hơn 200 kPa có thể ngăn chặn loét lòng bàn chân BNTĐ Đây là cở để đánh sự phù hợp của giầy đối với bàn chân BNTĐ xét từ góc độ phân

Trang 38

bố áp lực lên lòng bàn chân.

Nhiều nghiên cứu về biến dạng bàn chân và loét bàn chân BNTĐ trên thế giới và

ở trong nước cho thấy: Loét bàn chân thường xảy ra ở phần mũi bàn chân (chiếm

tỷ lệ đến 76,7% [23]): Tại các vùng cạnh mu bàn chân ở khớp ngón trong và ngoài (chiếm đến 15% và 12% [21] đối với BN nữ; ở ngón chân cái ở phía lòng bàn chân (chiếm từ 18% [22] đến 39 % [21]) Bàn chân BNTĐ nước ta còn bị loét nhiều ở vùng

kẽ các ngón chân (chiếm khoảng 9,3 % [20]) Tuy nhiên hầu hết nghiên cứu trên thế giới [15,16,17, 18, 19] đều tập trung vào các giải pháp hạn chế loét ở lòng bàn chân, trên cơ sở nghiên cứu áp lực đỉnh và phân bố áp lực lên lòng bàn chân BN Hầu như chưa có nghiên cứu nào liên quan đến nguyên nhân gây ra loét ở mu bàn chân, đặc biệt là ở phần khớp ngón Đây là các vùng trên bàn chân có tỷ lệ BN bị loét khá cao, đặc biệt là nữ BNTĐ nước ta Cho đến nay cũng chưa có nghiên cứu nào đưa ra các giải pháp hạn chế xảy ra loét phần mu bàn chân BNTĐ Tác giả các nghiên cứu [79,

80, 81] xác định giá trị áp lực 30 ÷ 35,25 mmHg tác động cục bộ vào một điểm dẫn đến các mô có thể bị thiếu máu Theo nghiên cứu [83], áp lực cho phép lên mu bàn chân trong khoảng 57,75 mmHg ÷ 72,75 mmHg.

Các nghiên cứu [75, 76, 84] cho thấy giá trị áp lực trên mu bàn chân tại khớp xương bàn số 1 và số 5 là cao nhất Tuy nhiên, các nghiên cứu cho kết quả giá trị

áp lực rất khác nhau và giá trị áp lực xác định được cao hơn nhiều lần so với áp lực khuyến cáo.

1.2 Cơ sở thiết kế giầy cho bệnh nhân tiểu đường

1.2.1 Nghiên cứu nhân trắc học bàn chân bệnh nhân tiểu đường

1.2.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Năm 2008, các tác giả [86] đã nghiên cứu trên ba nhóm đối tượng người bệnh(nam và nữ): nhóm đối chứng (37 nữ, 23 nam), nhóm mắc BTĐ (22 nữ, 9 nam) vànhóm bị bệnh khớp (19 nữ, 8 nam) Sử dụng hệ thống quét INFOOT USB 3D modelIFU-S-01 & IFU-H-01 thu thập và xử lý thống số đo bàn chân theo chiều dài, chiềurộng, chu vi, chiều cao Kết quả cho thấy, kích thước bàn chân trái và chân phải củanhóm mắc BTĐ không có sự khác biệt Bàn chân nữ BNTĐ to hơn bàn chân phụ nữkhông bị bệnh TĐ: dài hơn 3 mm, khớp ngón, gót rộng hơn 2 mm, vòng khớp ngón,vòng giữ bàn chân lớn hơn 3,2 mm

Năm 2011, công trình [87] đã nghiên cứu kích thước bàn chân và sự phân bố áplực của bàn chân BNTĐ bị biến dạng ngón cái và bàn chân BNTĐ không bị biếndạng ngón chân cái tại Tứ Xuyên của Trung Quốc Sử dụng phương pháp quét hìnhảnh xác định chiều dài, chiều rộng bàn chân và áp lực trung bình tại các vùng củabàn chân Kết quả cho thấy, chiều rộng bàn chân và áp lực tại tất cả các vùng củanhóm BNTĐ bị biến dạng ngón cái lớn hơn chiều rộng bàn chân của nhóm BNTĐkhông bị biến dạng ngón chân cái Do vậy, cần đặc biệt chú ý đến nhóm này trongviệc đi giầy dép đúng cách để tránh làm tổn thương bàn chân

Năm 2017, các tác giả [88] đã nghiên cứu so sánh 21 kích thước chiều dài, chiềurộng, chiều cao bàn chân của 164 BNTĐ với 855 người không bị BTĐ tại ThụyĐiển Dụng cụ đo gồm thước kẹp chân, băng đo cứng và dụng cụ đo chân đặc biệt(Dụng cụ đo chiều dài, chiều cao và góc) Bàn chân phải không đi giầy và tất, đặttrên thiết bị đo và được cố định bằng một tấm kim loại giữa ngón chân cái và ngón

34

Trang 39

chân thứ hai Phần sau của gót chân tựa vào một thanh giữ Đối tượng đo đứng với

tư thế trọng lượng phân bổ đều giữa hai chân Chiều dài chân được đo bằng thanhgắn vuông góc theo chiều dọc

Hình 1.17 Dụng cụ sử dụng nghiên cứu nhân trắc bàn chân [88]

Kết quả nghiên cứu cho thấy các kích thước chiều dài, chiều rộng, chiều cao nhấtcủa ngón chân có sự khác nhau giữa các nhóm tuổi, giới tính và chỉ số cơ thể Cáckích thước có sự dao động lớn: chiều dài bàn chân từ 194 mm đến 306 mm, chiềurộng từ 74 mm đến 132 mm và chiều cao nhất của ngón cái từ 15 mm đến 45 mm.Chiều cao nhất của ngón chân giữa các nhóm BN có và không có bệnh lý thần kinh

là 25,6 mm và 24,4 mmm Kích thước rộng bàn chân của nhóm BNTĐ có bệnh lýthần kinh là 98,6 mm, lớn hơn kích thước rộng bàn chân của nhóm người không bịbệnh nghiên cứu năm 2000 (97,0 mm) Các tác giả [88] đi đến kết luận: tuổi, giớitính, chỉ số cơ thể, BTĐ và bệnh lý thần kinh có ảnh hưởng đến hình dạng, kíchthước bàn chân Kích thước bàn chân giữa các cá nhân có sự khác biệt lớn, do vậy,cần nghiên cứu nhân trắc bàn chân của từng BNTĐ trước khi cung cấp giầy dépngăn chặn loét bàn chân

Năm 2017, nghiên cứu [89], đo nhân trắc bàn chân của 100 BNTĐ (70 nam và 30nữ) và 52 người không bị BTĐ (43 nam và 9 nữ) tại Ấn Độ nhằm chuẩn hóa cỡ sốbàn chân BN Công trình [89] sử dụng hệ thống quét 3D INFOOT USB, Model:IFU - H - 01 xác định thông số chiều dài bàn chân, chiều rộng bàn chân, chu vikhớp ngón, chu vi giữa bàn chân, chu vi mắt cá chân, vòng gót chân, chiều cao bắpchân và chu vi bắp chân Kết quả cho thấy, không có sự khác biệt giữa các kíchthước trên bàn chân phải và bàn chân trái Kích thước chiều dài, chiều rộng bànchân của BNTĐ không chênh lệch với người không bị BTĐ Tuy nhiên, kích thướcvòng giữa bàn chân của BNTĐ lớn hơn vòng giữa bàn chân của người không bịBTĐ

Đối với nữ BNTĐ, mối tương quan giữa chiều rộng và chu vi khớp ngón đượcthể hiện bởi phương trình y = 1.746x + 5.900, R² = 0.650, mối tương quan cao hơn

so với tương quan giữa chiều dài và chiều rộng của bàn chân trái, y = 0,33x + 1,513,R² = 0,401 Đối với BN nam, mối tương quan giữa chiều rộng và chu vi khớp ngón

là y = 2.013x + 3.360, R² = 0.674 Mối tương quan giữa chiều dài và chiều rộng củabàn chân trái là y = 0.277x + 3.263, R² = 0.34 Tuy nhiên, tương quan giữa chiều dàicủa bàn chân trái và chiều cao bắp chân của nữ BNTĐ rất thấp, R² = 0,013, của nam

BN có R² = 0,218 [89]

1.2.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Tuấn đã nghiên cứu khảo sát kích thước bànchân nữ BNTĐ tại Tp Hồ Chí Minh [90] Trong nghiên cứu này, sử dụng phươngpháp đo trực tiếp, đã đo 24 kích thước 190 bàn chân của 95 nữ BNTĐ độ tuổi từ 40đến 65, sinh sống tại Tp Hồ Chí Minh Kết quả xác định được các thông số cơ bảncủa bàn chân nữ BNTĐ tại Tp Hồ Chí Minh như trong bảng 1.4

Trang 40

Bảng 1.4 Giá trị các thông số cơ bản của bàn chân nữ BNTĐ tại Tp Hồ Chí Minh, mm

Chiều dài kích thước trong 168,3 164,7 3,6 7,3 7,5 -0,2Chiều dài kích thước ngoài 148,3 145,8 2,5 7,2 7,2 0,0

Nghiên cứu [90] đã kết luận: theo chiều dài, có sự chênh lệch không lớn về các

số đo bàn chân phụ nữ bình thường và bàn chân nữ BNTĐ Theo chiều rộng, các số

đo bàn chân nữ BNTĐ tại thành phố Hồ Chí Minh đều lớn hơn đáng kể so với bànchân phụ nữ bình thường, đặc biệt là chiều rộng kích thước trong (đến 6 mm), chiềurộng khớp ngón (đến 6 mm), chiều rộng gót (đến 7,1 mm) Tương tự chiều rộng bànchân, các số đo vòng bàn chân nữ BNTĐ cũng lớn hơn so với bàn chân phụ nữ bìnhthường: Vòng kích thước trong và vòng kích thước ngoài lớn hơn tương ứng là 6,1

và 3,6 mm, vòng khớp ngón là 6,1 mm, đặc biệt là vòng gót đến 14,6 mm Như vậycác bàn chân nữ BNTĐ nghiên cứu rộng hơn khá nhiều so với bàn chân phụ nữ bình

Ngày đăng: 08/03/2021, 15:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bệnh viện Nội tiết Trung Ương (2013). “Báo cáo Hội nghị tổng kết hoạt động của Dự án phòng chống tiểu đường quốc gia năm 2012 và triển khai kế hoạch năm 2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội nghị tổng kết hoạt độngcủa Dự án phòng chống tiểu đường quốc gia năm 2012 và triển khai kế hoạchnăm 2013
Tác giả: Bệnh viện Nội tiết Trung Ương
Năm: 2013
[2] Mai Thế Trạch (2003), “Biến chứng mạn tính của tiểu đường”, Nội tiết học đại cương, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến chứng mạn tính của tiểu đường”
Tác giả: Mai Thế Trạch
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
[3] Dalla Paola, Luca; Carone, Anna; Vasilache, Lucian; Pattavina, Marco (2015),"Overview on diabetic foot: a dangerous, but still orphan, disease", European Heart Journal Supplements 17 (suppl A): A64 - A68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Overview on diabetic foot: a dangerous, but still orphan, disease
Tác giả: Dalla Paola, Luca; Carone, Anna; Vasilache, Lucian; Pattavina, Marco
Năm: 2015
[5] Actis RL, Ventura LB, Smith KE, Commean PK, Lott DJ, Hastings MK, Mueller MJ (2008), “Multi-plug insole design to reduce peak plantar pressure on the diabetic foot during walking”, Med Biol Eng Comput 46, 363 - 371 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multi-plug insole design to reduce peak plantar pressure on thediabetic foot during walking
Tác giả: Actis RL, Ventura LB, Smith KE, Commean PK, Lott DJ, Hastings MK, Mueller MJ
Năm: 2008
[6] Chan, J. (2012), “Foot Care in Diabetes patients”, Pharmacy Practice, 28 (2). pp. D12- D15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Foot Care in Diabetes patients”
Tác giả: Chan, J
Năm: 2012
[7] Haspel, M. (2007), “Treating Complications of Diabetes”, Podiatry management, pp.127-131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Treating Complications of Diabetes
Tác giả: Haspel, M
Năm: 2007
[8] Munron, B. J. and Steele, J. R. (1998), “Foot-care awareness. A survey of persons aged 65years and older”, Journal of the American Podiatric Medical Association, 88 (5), pp. 242 - 248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foot-care awareness. A survey ofpersons aged 65years and older
Tác giả: Munron, B. J. and Steele, J. R
Năm: 1998
[9] Luigi Uccioli, Ezio Faglia, Giovanna Monticone, at al (1995), “Manufactured shoes in the prevention of diabetic foot ulcers”, Diabetes care Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manufactured shoes in the prevention of diabetic foot ulcers
Tác giả: Luigi Uccioli, Ezio Faglia, Giovanna Monticone, at al
Năm: 1995
[10] Diabetic Ulceration (2006), “Diabetic foot wound risk appears to increase for those wearing poorly fitting shoes”, Diabetes Week via NewsRx.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetic foot wound risk appears to increase for those wearing poorly fitting shoes
Tác giả: Diabetic Ulceration
Năm: 2006
[11] Maciejewski, Matthew L; Reiber, Gayle E; Smith, Douglas G; Wallace, Carolun; et al (2004), “Effectiveness of diabetic therapeutic footwear inpreventing reulceration”, Diabetes Care Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effectiveness of diabetic therapeutic footwear in preventing reulceration
Tác giả: Maciejewski, Matthew L; Reiber, Gayle E; Smith, Douglas G; Wallace, Carolun; et al
Năm: 2004
[15] Arts, M.L.J.; Waaijman, R.; de Haart, M.; Keukenkamp, R.; Nollet, F.; Bus, S.A (2012), “Offloading effect of therapeutic footwear in patients with diabetic neuropathy at high risk for plantar foot ulceration”, Diabetic Medicine Sách, tạp chí
Tiêu đề: Offloading effect of therapeutic footwear in patients with diabetic neuropathy at high risk for plantar foot ulceration”
Tác giả: Arts, M.L.J.; Waaijman, R.; de Haart, M.; Keukenkamp, R.; Nollet, F.; Bus, S.A
Năm: 2012
[16] Giacomozzi, Claudia; Uccioli, Luigi (2023), “Learning from experience: A sample effective protocol to test footwearprescriptions for the diabetic foot by using the Pedar System”, Journal of Biomedical Science and Engineering Sách, tạp chí
Tiêu đề: Learning from experience: Asample effective protocol to test footwearprescriptions for the diabetic foot byusing the Pedar System”
Tác giả: Giacomozzi, Claudia; Uccioli, Luigi
Năm: 2023
[17] Owings T. M. et al. (2009), “Complications of plantar pressures in diabetic patients with foot ulcers which have remained healed”, Journal compilation, Diabetes UK Diabetic Medicine, Vol. 26. pp. 1141-1146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Complications of plantar pressures in diabeticpatients with foot ulcers which have remained healed
Tác giả: Owings T. M. et al
Năm: 2009
[18] Patry J 1 , Belley R, Côté M, Chateau-Degat ML (2013), “Plantar pressures, plantar forces, and their influence on the pathogenesis of diabetic foot ulcers: a review”, J Am Podiatr Med Assoc, 03(4):322 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plantar pressures,plantar forces, and their influence on the pathogenesis of diabetic foot ulcers: areview"”, J Am Podiatr Med Assoc, "03(4):322
Tác giả: Patry J 1 , Belley R, Côté M, Chateau-Degat ML
Năm: 2013
[19] Xiao HS, Yan L, Chen LH, Yang C, Zhang SL, Wang YH, Cheng H (2007),“Study of foot plantar pressure in Chinese diabetic patients”, Zhonghua Yi Xue Za Zhi, 87(26):1825 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Study of foot plantar pressure in Chinese diabetic patients
Tác giả: Xiao HS, Yan L, Chen LH, Yang C, Zhang SL, Wang YH, Cheng H
Năm: 2007
[20] Bùi Minh Đức (2002), “Nghiên cứu các tổn thương loét bàn chân ở BN tiểu đường”, Luận văn Thạc sỹ y học, Đại học Y Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các tổn thương loét bàn chân ở BN tiểuđường”
Tác giả: Bùi Minh Đức
Năm: 2002
[21] Cynthia Formosa, Alfred Gatt, Nachiappan Chockalingam (2013), “The importance of clinical biomechanical assessment of foot deformity and joint mobility in people living with type- 2 diabetes within a primary care setting”, Primary care diabetes 7, 45 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theimportance of clinical biomechanical assessment of foot deformity and jointmobility in people living with type- 2 diabetes within a primary care setting”
Tác giả: Cynthia Formosa, Alfred Gatt, Nachiappan Chockalingam
Năm: 2013
[22] Jerry Irmiya Tagang (2014), “An investigation into Footwear materials choices and design for people suffering with diabetes” De Montfort University Leicester, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: An investigation into Footwear materials choicesand design for people suffering with diabetes”
Tác giả: Jerry Irmiya Tagang
Năm: 2014
[23] S.O. Oyibo*, E.B. Jude, D. Voyatzoglou, A.J.M. Boulton (2002), "Clinical characteristics of patients with diabetic foot problems: changing patterns of foot ulcer presentation” Pract Diab Int, Vol. 19 No. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinicalcharacteristics of patients with diabetic foot problems: changing patterns of footulcer presentation
Tác giả: S.O. Oyibo*, E.B. Jude, D. Voyatzoglou, A.J.M. Boulton
Năm: 2002
[26] Shan M Bergin, Vanessa L Nube et al (2013), “Australian Diabetes foot network: practical guideline on the provision of footwear for people with diabetes”, Journal of foot and ankle research, 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Australian Diabetes footnetwork: practical guideline on the provision of footwear for people withdiabetes
Tác giả: Shan M Bergin, Vanessa L Nube et al
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w