1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích sự ảnh hưởng của chi phí nguyên phụ liệu đến cơ cấu giá một số thuốc sản xuất trong nước

88 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 12,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên phụ liệu luôn chiếm một tỷ trọng nhất định trong câu thành giá thuôc thành phẩm, với đa số nguyên phụ liệu nhập khẩu từ nước ngoài, sự biến động của cơ cấu và tỷ trọng nguyên phụ

Trang 1

B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO B ộ Y TỂ

TRẦN THỊ XUYÊN

PHÂN TÍCH S ự ẢNH HƯỞNG CỦA CHI PHÍ NGUYÊN PHỤ LIỆU Đế N c ơ CẤU GIÁ

MỘT SỐ THUỐC SẢN XUẤT TRONG NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC s ĩ DƯỢC HỌC • • • •

Chuyên ngành: Tổ chức quản lý Dược

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THANH BÌNH

HÀ NỘI 2009

Trang 2

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

0O0

BIÊN BẢN SỬA CHỮA LUÂN VĂN

Họ và tên học viên: Trần Thị Xuyên

1 Trang 12: trong hình 1.5 sơ đồ cơ cấu giá thành các thuốc sản xuất trong nước, trong đó cơ cấu giá thành bao gồm:

- Giá thành sản xuất thuốc (GTCX) được tính như sau:

- Giá bán buôn (GBB) được tính như sau:

2 Trang 35: chi phí lương 9% chính là chi phí nhân công trực tiếp sản xuất

3 Trang 46: sửa mg Stearate thành Magnesium Stearate

4 Bổ sung đơn vị của các bảng: trong đó giá và các chi phí được tính trên đơn

vị đóng gói nhỏ nhất đã được chi tiết trong phần đối tượng nghiên cứu là viên (như viên nén, viên nang, viên bao đường) hoặc lọ

Trang 3

5 Phần kiến nghị: thêm các kiến nghị thiết thực hơn đối với doanh nghiệp như: đấu thầu các nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất thuốc, minh bạch trong việc hạch toán cơ cấu giá thành

6 Sửa lại tài liệu tham khảo

Trên đây là những điểm đã được sửa chữa cho luận văn Em xin chân thành cám ơn và mong được quý thầy cô thông qua

Hà Nội ngày 12 tháng 04 năm 2010

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS NGUYÊN

TH A N H B ÌN H đã tận tình dìu dắt, hướng dẫn và truyền đạt kỉnh nghiệm nghiên cứu cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, các thầy cô bộ môn Tổ chức Quản lý Dược và các thầy cô giáo trường Đại học Dược

Hà Nội đã giảng dậy vào tạo mọi điểu kiện cho tôi trong quả trình học tập, nghiên cứu tại trường.

Tôi cũng xin cảm ơn các anh chị, bạn bè cùng các đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho tôi trong quả trình thu thập sổ liệu và tài liệu cho đề tài.

Và cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sẳc tới cha mẹ, chồng và người thân trong gia đình, nhũng người luôn động viên, chăm lo cho tôi trong cuộc sổng và sự nghiệp.

Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2009

Trần Thị Xuyên

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VÁN Đ È 1

Chương 1: TỎNG QUAN 3

1.1 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG DƯỢC PH Ẩ M 3

1.1.1 Năng lực sản xuất của các Doanh nghiệp Dược Việt N am 3

1.1.2 Tình hình kinh doanh dược phẩm trên thị trường Việt Nam 5

1.2 C ơ CẤU GIÁ THÀNH THUỐC SẢN XUẤT TRONG N Ư Ớ C 11

1.2.1 Giá thành công xưởng 13

1.2.1.1 Chi phí nguyên phụ liệu 13

1.2.1.2 Chi phí tiền lư ơ n g 14

1.2.1.3 Chi phí nghiên cứu và phát triên 15

1.2.1.4 Khấu hao Tài sản cố định 16

1.2.1.5 Chi phí nhiên liệu 17

1.2.2 Chi phí lưu thông 18

1.2.3 Lợi nhuận 18

1.2.4 Các loại thuế và các chi phí k h á c 19

1.3 NGUYÊN PHỤ LIỆU SẢN XUẤT DƯỢC P H Ẩ M 21

1.3.1 Khái niệm và phân loại 21

1.3.1.1 Nguyên liệu chính 23

1.3.1.2 Tá dược, phụ liệ u 25

1.3.2 Năng lực cung ứng và nhập khấu nguyên phụ liệ u 25

1.3.3 Cơ cấu và tỷ trọng nguyên phụ liệu 27

1.4 MỘT SỐ ĐỀ TÀI LIÊN Q U A N 29

1.4.1 Giá thuốc - cơ cấu, sự biến động và nguyên nhân biến động 29

1.4.2 Nguyên phụ liệu - năng lực sản xuất và nhập khấu 31

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 32

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN C Ứ U : 32

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 34

2.2.1 Thiết kế nghiên c ứ u 34

2.2.2 Thu thập số liệ u 34

2.2.3 Xử lý số liệu 35

Trang 6

Chương 3: KÉT Q U Ả 36

3.1 KHẢO SÁT CÁC CHI PHÍ CẤU THÀNH GIÁ THÀNH T H U Ô C 36

3.1.1 Cơ cấu giá thành sản xuất thuốc 36

3.1.1.1 Nhóm thuốc tân dược 36

3.1.1.2 Nhóm thuốc dược liệu 38

3.1.2 Cơ cấu giá bán buôn th u ố c 40

3.2 PHÂN TÍCH C ơ CẤU NGUYÊN PHỤ LIỆU SẢN XƯÁT THUỐC 42

3.2.1 Cơ cấu nguyên phụ liệu theo công d ụ n g 42

3.2.1.1 Nguyên phụ liệu sản xuất thuốc tân dược 42

3.2.1.2 Nguyên phụ liệu sản xuất thuốc dược liệu: 44

3.2.2 Cơ cấu nguyên phụ liệu theo nguồn g ố c 45

Chương 4: BÀN LUẬN 49

4.1 VÈ C ơ CẤU NGUYÊN PHỤ LIỆU VÀ c ơ CẤU GIÁ T H À N H 49

4.1.1 Cơ cấu giá thành sản xuất thuốc 49

4.1.2 Cơ cấu nguyên phụ liệu sản xuất thuốc 51

4.2 VỀ S ự ẢNH HƯỞNG CỦA CHI PHÍ NGUYÊN PHỤ LIỆU ĐÉN c ơ CẤU GIÁ T H À N H 53

4.2.1 Thay đổi từ nhà sản xuất: 54

4.2.2 Thay đổi từ nhà nhập khẩu: 55

4.2.3 Thay đổi từ nhà bán buôn trong nước: 57

4.2.4 Các yếu tố khác: 57

KÉT LUẬN VÀ KIẾN N G H Ị 60

KẾT LU Ậ N 60

KIÉN N G H Ị 61

a Đối với các doanh nghiệp 61

b Đối với các cấp quản lý 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

BHXH : Bảo hiểm xã hội

Trang 8

Số bảng Nội dung T ran g số

Bảng 1.5 Lượng các nguyên phụ liệu nhập khẩu năm 2008 21

Bảng 3.1 Cơ cấu giá thành sản xuất nhóm thuốc tân dược 36

Bảng 3.2 Cơ cấu giá thành sản xuất nhóm thuốc dược liệu 38

Bảng 4.1 So sánh giá NPL nhập khẩu năm 2008 so với năm 2007 54

Trang 9

Số hình Nội dung Trang số

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐÈ

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, đồng thời là công cụ thể hiện sức cạnh tranh trên thị trường của các Doanh nghiệp Giá cả hàng hóa có thể thay đổi tùy theo từng thời điểm, phụ thuộc nhiều yếu

tố và được định ra theo những tiêu chí khác nhau sao cho bù đắp đủ chi phí,

có lãi và phải được khách hàng chấp nhận [19] Sự biến động của giá cả có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường nơi diễn ra việc trao đôi hàng hóa, cũng như ảnh hưởng đến các bên tham gia thị trường

Thuốc được buôn bán trao đối trên thị trường như một loại hàníi hóa, nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt Người trả tiền mua hàng lại không có đầy đủ thông tin về hàng hóa, không đủ thấm quyền lựa chọn sản phâm thay

cung cấp thông tin, tư vấn sử dụng và định giá hàng hóa mình có Mang cả ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa nhân đạo to lớn, giá thuốc không chỉ được điều tiết theo quy luật thị trường - bởi các yếu tố lợi nhuận, giá cả, cạnh tranh, mà còn chịu sự quản lý đặc biệt của nhà nước và các cơ quan có thấm quyền

Với năng lực của các Doanh nghiệp Dược trong nước, chúng ta vẫn phải nhập khẩu phần lớn thành phẩm thuốc (60%) và hầu hết nguồn nguyên phụ liệu sản xuất thuốc (90%) [12], [11], [1] Sự không chủ động được nguôn nguyên phụ liệu và một số thành phâm đã gây khó khăn trong việc kiêm soát giá thuốc đối với Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế và các bộ ngành liên quan

Nhiều yếu tố có thể tác động làm thay đổi giá thuốc thành phấm, cả chủ quan và khách quan, mỗi yếu tố có mức độ ảnh hưởng khác nhau Nguyên phụ liệu luôn chiếm một tỷ trọng nhất định trong câu thành giá thuôc thành phẩm, với đa số nguyên phụ liệu nhập khẩu từ nước ngoài, sự biến động của

cơ cấu và tỷ trọng nguyên phụ liệu sẽ làm thay đối giá nguyên phụ liệu - là

Trang 11

yếu tố hàng đầu phải tính đến khi thiết lập kế hoạch sản xuất bất cứ một loại thuốc thành phấm nào Một số đề tài nghiên cứu đã đề cập nghiên cứu đối tượng nguyên phụ liệu, tuy nhiên đa số không đề cập trực tiếp và chủ yếu đên

sự ảnh hưởng của nguyên phụ liệu đến cơ cấu giá thành sản phấm thuốc trong nước Chúng tôi tiến hành đề tài:

PHÂN TÍCH SỤ ẢNH HƯỞNG CỦA CHI PHÍ NGUYÊN PHỤ LIỆU ĐÉN CO CẤU GIÁ MỘT SỐ THUỐC SẢN XUẤT TRONG NƯỚC”

Với 2 mục tiêu:

1 Khảo sát các chi phí cấu thành giá thành một số thuốc sản xuât tronti nước

2 Phân tích cơ cấu các nguyên phụ liệu sản xuất thuốc

Từ đó, giúp các nhà doanh nghiệp ôn định được mức giá ca hoặc có những biện pháp hạn chế sự biến động, khăng định được lợi thế cạnh tranh của mình trên thương trường Đối với các nhà quản lý, biết được tỷ trọng ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành giá thuốc đến tay người tiêu dùng sẽ giúp dự báo xu hướng biến động, có hướng hạn chế sự tăng giá của mặt hàng thuốc đồng thời tăng tính hiệu quả của những giải pháp bình ôn giá thuốc

Trang 12

Chương 1: TỎNG QUAN

1.1 THỤC TRẠNG THỊ TRƯỜNG DƯỢC PHẨM• • • •

1.1.1 Năng lực sản xuất của các Doanh nghiệp Dưọc Việt Nam

Ngành Công nghiệp Dược Việt Nam hiện đang ở mức 2,5-3 theo thang phân loại từ 1-4 của WHO - UNCTAD Nghĩa là mới chỉ dùng lại ở bào chế chứ chưa có nghiên cứu và sản xuất các dạng thuốc mới [14] Việc chủ yếu gia công và sản xuất thuốc từ nguyên liệu nhập khẩu đã làm mất đi thế chủ động và gần như “nhường” thị trường biệt dược cho hàng nhập khâu Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do thiếu vốn, công nghệ và đối tác uy tín đê đầu tư cho sản phấm mới đạt chuấn quốc tế

Theo qui định của Bộ Y tế, đến hết năm 2010 các Doanh nghiệp phải đạt GMP - WHO [14], [15] mới đủ điều kiện sản xuất thuốc dùng cho người Với năng lực và nguồn vốn còn hạn chế, qui định này trở thành khó khăn cho không ít doanh nghiệp Tính đến tháng 3/2009 đã có 92 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP); 92 đơn vị đạt tiêu chuẩn GLP; 110 đơn vị đạt GSP; việc triển khai áp dụng GDP, GPP từ tháng 01 năm 2007 bước đầu đạt những kết quả Và tất yếu, việc đầu tư cho dây chuyền sản xuất thuốc đạt GMP sẽ phải được cân nhắc sao cho nguồn vốn đầu tư không quá lớn, thời gian đầu tư không quá dài, trình độ công nghệ không vượt quá tầm của người sử dụng Chính vì thế, những dây chuyền sản xuất các dạng bào chế đơn giản và phổ biến sẽ là lựa chọn an toàn và được ưu tiên Đây là xu hướng chung cho các Doanh nghiệp sản xuất dược phấm Bên cạnh đó, đối mặt với cơ chế thị trường với những quy luật khắc nghiệt của nó, với sự biên động không thế dự đoán và sự không bền của nhũng chính sách quản lý của nhà nước và các cơ quan liên quan, các Doanh nghiệp vừa phải tính đên yêu

Trang 13

tố lợi nhuận, cạnh tranh, lại vừa phải đảm bảo tính xã hội và nhân đạo của sản phẩm thuốc [19].

Trong xu thế hội nhập và mở cửa nền kinh tế, và theo lộ trình cắt giảm thuế suất nhập khẩu các mặt hàng trong đó có mặt hàng thuốc, đối thủ cạnh tranh sẽ nhiều hơn, tính chất cạnh tranh của thị trường dược sẽ ngày càng gay gắt hơn Các Doanh nghiệp Dược trong nước nếu không muốn thua ngay trên sân nhà thì phải nồ lực rất nhiều trong tất cả các khâu Và thực tế, những năm gần đây, các doanh nghiệp đã có nhiều điều kiện thuận lợi đế đầu tư, đôi mới dây chuyền, thiết bị công nghệ bào chế thuốc, sản xuất nhượng quyên các loại thuốc biệt dược , đã đa dạng hóa chủng loại, số lượng thuốc đặc biệt là nhóm thuốc dung dịch tiêm, kháng sinh, bột đông khô Trong số 1.500 hoạt chât có trong các thuôc đã đăng ký thì các doanh nghiệp dược trong nước đã có thê bào chế được 773 hoạt chất Năng lực sản xuất của các Doanh nghiệp đang được nâng lên dần [15]

Sự phát triến của thị trường dược phấm còn có được do mức sống ngày càng cao của người dân, cùng với đó là trình độ nhận thức và ý thức về việc chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng được chú trọng Chi phí thuôc men ngày càng được nâng lên, đến năm 2008 số chi tiêu cho tiền thuốc là hơn 16USD Sự quan tâm nhiều hơn đến vấn đề chăm sóc sức khỏe được biểu hiện ở tiền thuốc bình quân đầu người liên tục tăng qua các năm từ 2001 đến năm 2008 [15] Theo đó, mức chi phí cho tiền thuốc bình quân đâu người đã tăng với mức độ khá nhanh trong 2 năm 2007 - 2008

Trang 14

Tiền thuốc B Q Đ N (USD/năm )

H ình 1.1 : Tiền thuốc bình quân đầu người qua các năm 2001 - 2008

Một thực trạng khác phản ánh năng lực sản xuất của các Doanh nghiệp Dược trong nước chưa cao là thuốc do các công ty dược trong nước sản xuât hiện mới chỉ chiếm khoảng 60% sản lượng tiêu thụ Nhưng 60% sản lượng này cũng chỉ chiếm khoảng 40% về giá trị tiền thuốc Lý giải cho điêu này là

do đa sổ các mặt hàng trong nước sản xuất là thuốc thông thường nên giá không cao còn các mặt hàng chuyên khoa đặc trị thì phần lớn vẫn phải nhập khấu từ nước ngoài, giá cả cao hơn rất nhiều

1.1.2 Tình hình kinh doanh dược phấm trên thị truòng Việt Nam

Thị trường Dược phẩm Việt Nam hiện tại [14], [15], [1] được đánh giá

là một trong những thị trường có nhiều biến động nhưng cũng nhiều khởi săc Vói mức tăng trưởng của thị trường đạt con sô kỷ lục 16 - 17%/năm trong giai đoạn 2003 - 2007, đạt quy mô 1,136 tỷ USD năm 2007 và con số này năm 2008 là 1,340 tỷ USD

Chỉ số giá nhóm hàng dược phấm, y tế năm 2008 là 9,43% nếu so sánh vói chỉ số giá tiêu dùng chung của xã hội CPI là 47,41%, vẫn tiếp tục đứng

Trang 15

7/10 về chỉ số giá của các nhóm hàng chủ yếu, giá thuốc đã phần nào được giữ ở mức bình ổn Đây được xếp là 1 Tổng kết công tác y tể năm 2008, công tác bình on giá thuốc được xếp là một trong 10 sự kiện ngành y tế và thị trường dược phấm năm 2008 nhìn chung on định, không có hiện tượng tăng giá đồng loạt, đột biến hoặc tăng giá bất hợp lý [27], [1] Chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm, y tế so với chỉ số giá tiêu dùng chung của xã hội (CPI) giai đoạn 2006 - 2008 được thê hiện ở bảng dưới:

Bảng 1.1 : Chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm, y tế so với chỉ số giá

tiêu dùng (CPI) giai đoạn năm 2006- 2008

Bảng 1.2: Doanh thu tiêu thụ thuốc trong nưóc năm 2001 - 2008

Trang 16

Doanh thu tiêu thụ thuốc liên tục tăng thể hiện rằng thị trường dược phấm Việt Nam đã và đang phát triển tích cực và bền vững.

Doanh thu tiêu thụ hàng năm (tr USD)

Năm

Hình 1.2: Doanh thu tiêu thụ thuốc trong nưóc từ năm 2001 - 2008

Trong khi đó, từ năm 2001 đến năm 2007 thị trường dược phẩm thế giới cũng tăng trưởng đều Con số tăng trưởng cao nhất là 10,30% ỏ' năm

2003, các năm sau 2003 tỷ lệ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, và thâp nhât

ở đáy là năm 2007 với 6,40% Chi tiết được thế hiện ở bảng dưới đây:

Bảng 1.3: Doanh thu tiêu thụ thuốc thế giói

Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

Doanh thu

Trang 17

Tương quan về tốc độ tăng trưởng của thị trường Dược phẩm Việt Nam

và thị trường dược phẩm thế giới trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến

2007 được thế hiện ở hình dưới đây:

Hình 1.3: So sánh tăng trưỏng thị truòng dưọc Việt Nam và thê giói

Trong cả nước có rất nhiều trung tâm kinh doanh dược phâm lớn, các Văn phòng đại diện của nhiều nhà cung cấp nước ngoài, các hãng dược phâm, các công ty phân phối, đại lý - nhà thuốc tư nhân và các cơ sỏ' y tê địa phương Sự phong phú trong hệ thống phân phối về sô lượng, các loại hình, các đối tượng tham gia, các phương thức phân phối và các đối tượng chi plìổi đến các hoạt động phân phối dược phâm vừa là điếm mạnh nhưng cũng là điêm yếu trong hệ thống phân phối thuốc của Việt Nam [15]

Thuận lợi cho người tiêu dùng vì có thê mua thuôc ở bất kỳ đâu hâu hết các loại thuốc nhưng cũng bất lợi vì người sử dụng phải mua thuốc với những mức giá không đánh giá được và chất lượng không thê kiêm soát được

Trang 18

Đổi với các nhà quản lý chính sách dược và y tế, việc quản lý và kiêm soát giá dược phẩm trở nên khó khăn và ít khả thi hơn [10], [30], [32],

Thêm vào đó, tình hình nhập khấu các thuốc thành phấm cũng có những ảnh hưởng to lớn đến thị trường dược phấm trong nước [1] Trong năm

2008 trị giá nhập khẩu thuốc thành phẩm đã đạt 849,2 triệu USD, tăng gần 30% so với năm trước Nguyên nhân chính khiến trị giá nhập khấu tăng trưó'c hết là do thuốc sản xuất trong nước chưa chiếm lĩnh được thị phân, hơn nữa, các doanh nghiệp tham gia nhập khẩu thuốc vẫn đang gia tăng cả về sô lượng

và trị giá nhập khâu

Trị giá các thuốc thành phẩm tân dược nhập khẩu trong năm 2008 được thể hiện chi tiết ở bảng và hình dưới đây:

Bảng 1.4: Trị giá thuốc tân dưọc nhập khẩu năm 2008

Đơn vị: triệu USD

Tháng

n p • • r

Trị giá nhập khẩu Tháng

Trị giá nhập khẩu

Trang 19

73.7

73 2 75.0 76.1 74.0 72.5 59.7

Hình 1.4: Trị giá các thuốc tân dưọc nhập khẩu năm 2008

Bảng và hình trên thể hiện rằng: trị giá nhập khấu thuốc thành phâm tân dược các tháng trong năm hầu hết đều cao hơn 50 triệu USD, trừ tháng 2 thấp nhất với trị giá 48,9 triệu USD Đặc biệt, tháng cuối năm cao nhất với con sô

thuộc khá lớn theo thời tiết, theo mùa

Trong gần 20 nghìn lô hàng thuốc thành phẩm nhập khấu thuộc các nhóm khác nhau thì 3 nhóm dẫn đầu về kim ngạch là: Kháng sinh, chuyên hóa dinh dưỡng và tim mạch Con số thống kê 10 tháng đầu năm 2008, kim ngạch nhập khẩu nhóm kháng sinh đạt 101,8triệu USD, nhóm chuyến hóa dinh dưỡng đạt 82,3 triệu USD và nhóm thuốc tim mạch đứng ở vị trí thử 3 với kim ngạch nhập khẩu đạt 66 triệu USD

Trang 20

1.2 CO CẤU GIÁ THÀNH THUỐC SẢN XUẤT TRONG NƯỚC

Các yếu tố cấu thành giá thuốc thành phấm sản xuất trong nước baogồm:

- Giá thành công xưởng (giá thành sản xuất)

- Chi phí lưu thông

- Lợi nhuận

- Các loại thuế và chi phí khác

Cơ cấu này được sơ đồ hóa ở hình dưới đây:

Trang 21

SẢN THÀNH

XUẤT SẢN

Các chi phí khác trong sản xuất:

- Chi phí nghiên c ứ u và phát triền

LỢI NHUẬN

Trang 22

1.2.1 Giá thành công xưỏng

Giá thành công xưởng (giá thành sản xuất) là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, chê tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất [6], Bao gồm: giá trị nguyên phụ liệu, động lực, khấu hao tài sản cố định, tiền lương, bảo hiêm xã hội và các chi phí bằng tiền khác Trong GTCX không bao gồm chi phí ngoài sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm của cơ sở sản xuất GTCX là bộ phận quan trọng của giá thành sản phẩm thể hiện tổng hợp chất lượng của công việc trực tiếp sản xuất và các mặt kinh tế - xã hội khác

GTCX của thuốc là toàn bộ các chi phí như: nguyên phụ liệu sản xuât thuốc, bao bì, khấu hao tài sản cố định, chi phí nhân công sản xuất thuôc, các chi phí bằng tiền k h ác

1.2.1.1 Chỉ p h ỉ nguyên phụ liệu

Nguyên phụ liệu (hay nguyên vật liệu) là đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật hóa Khác với tư liệu lao động, NPL chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định và khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác động của lao động, chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đối hình thái vật chât ban đầu đế tạo hình thái vật chất của sản phấm NPL là một yếu tố không thê thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp [6]

Đối với ngành dược phẩm, NPL là cấu thành vật lý của thuốc, là yếu tố hàng đầu phải tính đến khi thiết kế một công thức thuốc và hạch toán các chi phí đế tính giá thành sản phẩm thuốc NPL thường chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu giá thành, thậm chí đến 70% trong công thức thuốc tân dược, trong đó chủ yếu là các thuốc hóa dược - sự phụ thuộc vào ngành hóa dầu là rất lớn Đa số các NPL sản xuất dược phẩm đều phải đáp ứng những

Trang 23

tiêu chuẩn về chất lượng mang tính quốc tế và quy trình kiếm tra chât lượng NPL trước khi đưa vào sản xuất là quy trình bắt buộc [11], [8],

Chi phí NPL được hạch toán vào GTCX của thuốc bao gồm: đơn giá mua NPL, chi phí vận chuyển NPL và các chi phí phát sinh khác

Trong những năm gần đây có sự biến động rất lớn cả về cơ cấu và tỷ trọng NPL dùng trong sản xuất thuốc tân dược Sự biến động này sẽ dẫn đên thay đổi mức chi phí NPL trong cơ cấu giá thành sản phẩm thuốc - một trong những nguyên nhân dẫn đến biến động giá thành phấm thuốc

1.2.1.2 Chi p h í tiền lương

Tiền lương là biếu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiêt

mà doanh nghiệp trả cho người Lao động theo thời gian, khối lượng công việc

mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp [6] Tiền lương là nguồn

làm đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy đế tăng năng suất lao động Đối với các doanh nghiệp, tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố cấu thành nên giá trị sản phâm, dịch

vụ của doanh nghiệp Vì vậy, chi phí nhân công trực tiếp (chi phí tiền lương) được tính vào cơ cấu giá thành xuất xưởng đối với các doanh nghiệp sản xuât nói chung và các doanh nghiệp sản xuât dược nói riêng

Tiền lương bao gồm: lương chính, lương phụ và các khoản phụ câp (phụ cấp độc hại, phụ cấp làm đêm hoặc làm thêm giờ ) cộng với các khoản đóng góp khác như BHXH, BHYT, chi phí công đoàn

Theo các nghiên cứu đã được tiến hành [11] thì chi phí tiền lương trong sản xuất thuốc trong nước hiện đang ở mức trung bình và thấp khi so sánh với

ở các nước trên thế giới, con số này thường chiếm 15-40% giá thành sản xuât

Trang 24

Mức tăng thu nhập của nhân công ngành dược ngày càng được nâng lên dần đề đáp ứng với những yêu cầu khá cao và đặc trưng của những họat động lao động trong sản xuât thuốc.

1.2.1.3 Chi p h í nghiên cứu và phát triên

Nghiên cứu và phát triển là khâu đầu tiên của việc định hình và ra đời một sản phẩm mới Tại các nước phát triển, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) trong ngành dược rất được chú trọng Từ năm 2002, các công ty dược phấm đa quốc gia có xu hướng triến khai hoạt động R&D ở nước ngoài nhiều hơn, đặt biệt là tại các nước trong khu vực Châu Á và các nước đang phát triển do chi phí nhân công rẻ Chi phí cho nghiên cứu và phát triên mà các công ty này bỏ ra thường chiếm 5-20% doanh số bán [15], [1]

Tuy nhiên, với một nước đang phát triển như Việt Nam, chi phí nhân công rẻ nhưng đầu tư nước ngoài trong hoạt động R&D tại Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng của ngành Nguyên nhân là do quy định vê đâu tư

và sản xuất của đối với ngành dược phấm vẫn tồn tại một số rào cản đôi với các nhà đầu tư Có thể kể đến các rào cản như: các Doanh nghiệp dược 100% vốn nước ngoài vẫn chưa được phép thành lập trước 1/1/2009, trừ khi đã có nhà máy sản xuất tại Việt Nam hoặc liên doanh với một Doanh nghiệp dược nội địa; hạn chê việc các công ty nghiên cứu và phát triên dược phâm hoạt động một cách toàn diện; một số quy định về thử nghiệm lâm sàng trước khi đăng ký thuốc mới, giấy chứng nhận dược phấm cùng với việc kiếm định văc xin và sinh phấm y tế nhập khấu vào Việt Nam, bảo hộ quyền sở hữu trí

tu ệ .chưa phù hợp với quy định chung của quốc tế

Trong khi chi phí này đối với các hãng sản xuất dược phấm lớn được coi là sự đầu tư lâu dài và bền vững cho ngành công nghiệp sản xuất dược phẩm, thì tại Việt Nam, đây lại là một chi phí ít được chú trọng đối với hâu

Trang 25

hết các sản phẩm thuốc tân dược [36] Đầu tư cho nghiên cứu và phát triên đối với các doanh nghiệp sản xuất Dược Việt Nam hiện mới chỉ ở mức khiêm tốn và hầu hết chỉ là hoạt động để tạo ra các dạng bào chế on định từ các hoạt chất gốc có tác dụng điều trị.

Để ngành Dược Việt Nam bắt kịp với nhịp phát triến của ngành kinh tê dược thế giới, việc khuyến khích đầu tư cho họat động R&D là cần thiết Chi phí đầu tư cho hoạt động này đã được khuyến khích đến 25% doanh sô bán

1.2.1.4 Khẩu hao Tài sản cố định

Các Tài sản cố định sử dụng sau một thời gian sẽ bị hao mòn, mức hao mòn này phải được tính vào chi phí trong quá trình hạch toán giá thành Các tài sản cổ định trong các dây chuyền sản xuất thuốc thường là máy móc, nhà xưởng (thuộc các loại Tài sản hữu hình) và các hợp đông chuyên giao khoa học công nghệ, các bảo hộ độc quyền sáng chế, các đề tài ứng dụng khoa học công nghệ của các đề tài và các công trình nghiên cứu khoa học lớn (thuộc các loại Tài sản vô hình) [6]

Khấu hao TSCĐ chính là việc tính toán và phân bô một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng thời kỳ hoạch toán Có nhiều cách tính khấu hao TSCĐ: phương pháp khấu hao đường thắng, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dân có điêu chỉnh và phương pháp khấu hao theo số lượng sản phâm

Việc đầu tư cho các dây chuyền sản xuất mới, đạt tiêu chuân GMP - WHO sẽ là việc phải làm trước mắt đối với các Doanh nghiệp sản xuất thuôc dùng cho người Đây là một sự đầu tư không nhỏ đối với quy mô hiện tại của các Doanh nghiệp và của cả thị trường dược phấm Việt Nam Con sô ước tính trung bình cho việc xây dựng và thấm định một dây chuyên sản xuât đạt tiêu chuẩn được đưa ra thấp nhất là khoảng 20 tỷ đồng tuỳ thuộc quy mô của dây

Trang 26

chuyền mà doanh nghiệp quyết định đầu tư Và tất yếu, khấu hao TSCĐ sẽ tăng dần trong tỷ trọng chi phí cấu thành giá thành sản phâm.

1.2.1.5 Chi p h í nhiên liệu

Nhiên liệu là yếu tố đầu vào không thể thiếu đối với quy trình sản xuất dược phẩm Các nhiên liệu được dùng trong quy trình chiết xuất và chê biên dược liệu, trong vận hành máy móc ở các công đoạn của quy trình sản xuât thuốc Các nhiên liệu thường dùng bao gồm: điện, xăng dầu, than đá Sự biến động của giá những loại nhiên liệu nay đóng góp vào sự biến động của giá dưọ'c phâm sản xuât trong nước

Trong năm 2008, có 3 đợt biến động giá xăng dầu, theo đó giá xăng dâu

và nhiên liệu trong nước được điều chỉnh theo giá thị trường thể giới Sự thay đổi chi phí nhiên liệu là một trong những nguyên nhân làm thay đổi giá thành thuốc sản xuất trong nước đồng thời cũng làm thay đổi giá thành các thuốc nhập khấu - tạo nên xu hướng tăng giá thuốc

Theo đó, sau 3 lần điều chỉnh, giá xăng dầu và nhiên liệu đã tăng gần 30%, như vậy mức chi phí nhiên liệu trong cơ cấu giá thành cũng sẽ tăng theo

tỷ lệ tương ứng Đồng thời khi giá nhiên liệu tăng dẫn đến tăng chi phí vận chuyến, tăng giá của các mặt hàng thiết yếu tạo xu hướng tăng giá chung của các mặt hàng còn lại

Ngoài ra, còn những chi phí khác cấu thành nên giá thành công xưởng cua các sản phấm thuốc như: chi phí vật rẻ tiền mau hỏng, các vật liệu, công

cụ dụng cụ dùng trong phân xưởng, chi phí sửa chữa TSCĐ thuê ngoài, chi phí hội nghị, lề tân, tiếp khách của phân xưởng, bộ phận sản xuất

Trang 27

1.2.2 Chi phí lưu thông

Chi phí lưu thông là biếu hiện bằng tiền của hao phí lao động trong quá trình đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng Các chi phí này phát sinh trong quá trình tiêu thụ, thực hiện giá trị hàng hoá

Nếu phân loại theo tính chất thì chi phí lưu thông bao gồm chi phí lưu thông thuần tuý và chi phí lưu thông bổ sung Chi phí lưu thông thuần tuý là các chi phí chỉ có quan hệ với việc mua và bán hàng (như chi phí sô sách, kê toán, quảng cáo, tiền lương của nhân viên bán hàng ); các chi phí này không làm tăng thêm giá trị hàng hoá Chi phí lưu thông bổ sung là chi phí đế tiếp tục thực hiện quá trình sản xuất trong lưu thông (như đóng gói, bao bì, vận chuyến, bảo quản hàng hoá ); các chi phí này có tính chất sản xuất và làm tăng giá trị hàng hoá [6]

Neu phân loại theo mối quan hệ với doanh số thì chi phí lưu thông bao gồm chi phí lưu thông trực tiếp và chi phí lưu thông gián tiêp

Nếu phân loại theo công dụng có: chi phí vận chuyến, chi phí chọn lọc

và đóng gói hàng hóa, chi phí hư hao trong phạm vi định mức, chi phí quản lý-

1.2.3 Loi nhuân• •

Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng từ hoạt động sản xuât kinh doanh Đây là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra đe đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại

Lợi nhuận hay lợi nhuận dự kiến mà các doanh nghiệp sử dụng đế tính toán giá thành sản phẩm thường được đưa ra phụ thuộc nhiều yếu tố

Trang 28

Trong đó, trước hết phải kế đến yếu tố độc quyền trong sản xuât và phân phối sản pham Yeu tố thứ hai phải tính đến là mức độ đầu tư cho sản phẩm và mức bù đắp các chi phí sản xuất sản pham.Yeu tố tiếp theo là sự biến động của thị trường và nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng.

Qua các khảo sát cho thấy tỷ lệ lợi nhuận thông thường trung bình mà các doanh nghiệp dược Việt Nam đạt được (và/hoặc đặt ra) nằm trong

xuất trong nước Trong các khâu của quá trình lưu thông thuôc, lợi nhuận

quá 20% đối với bán lẻ [24], [33]

Với mức lợi nhuận được đưa ra như trên, nếu so sánh với các ngành kinh doanh khác, ngành dược phẩm không phải là ngành sản xuất siêu lợi nhuận Tuy nhiên, do tính đặc thù là một ngành kinh doanh mà giá cả do người bán đặt ra, việc trao đối hàng hóa hầu như sẽ không bao gồm quyên thương lượng giá cả, thì ngành dược vẫn có rất nhiều lợi thế

1.2.4 Các loại thuế và các chi phí khác

Thuốc cũng như các hàng hoá khác, cũng phải chịu mức thuế suất áp dụng chung - hoặc thấp hơn đối với các thuốc nằm trong danh mục thuôc ưu đãi về thuế suất Các loại thuế áp dụng cho dược pham và các nguyên phụ liệu

sử dụng dùng cho sản xuất thuốc bao gồm: thuế suất thuế nhập khấu (đối với hàng nhập khấu), thuế giá trị gia tăng (đối với bất kỳ sản phẩm nào lưu thông trên thị trường) nếu có phát sinh giá trị so với giá trị ban đầu của hàng hoá

Như vậy, đối với các Doanh nghiệp nhập khẩu thuốc thành phẩm: khi hạch toán vào giá bán, thuế nhập khấu đương nhiên năm trong CO' câu giá thành Còn thuế Giá trị gia tăng - sẽ được khấu trừ lại cho các Doanh nghiệp nhưng người tiêu dùng lại phải chi trả, nên đương nhiên cũng là một trong

Trang 29

những yếu tố ảnh hưởng đến giá thành Điều này xảy ra tương tự với các Doanh nghiệp sản xuất thuốc trong nước Vì các doanh nghiệp phải mua nguyên phụ liệu (bằng nhập khẩu trực tiếp hoặc phải mua lại từ các Doanh nghiệp phân phối trong nước) thì chi phí nguyên phụ liệu đã bao gồm các thuê

và các loại chi phí khác

Cam kết gia nhập WTO, năm 2010 sẽ là năm áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với hầu hết các sản phẩm thuốc và nguyên phụ liệu làm thuốc Sẽ có 3 dòng thuế mức thuế suất nhập khẩu giảm, mức giảm 5% với thời gian cam kết thực hiện từ 3-5 năm Do trước và sau khi gia nhập WTO, thuế suất nguyên liệu chủ yếu là 0% nên sẽ không có ảnh hưởng nhiều đến các doanh nghiệp sản xuất phải nhập khẩu nguyên liệu tuy nhiên sẽ gây ảnh hưởng lớn tới một

số doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu của Việt Nam Sau khi gia nhập WTO

sẽ có 47 dòng thuế có mức thuế suất thuế nhập khấu giảm, đó là các dòng thuế hiện có mức thuế nhập khẩu là 10% và 15%, thời gian cam kết thực hiện

từ 2-5 năm (trung bình là 3 năm), mức giảm từ 2-7% (trung bình là 3%), một

sổ dòng thuế chính đó là nhóm kháng sinh (18/29 dòng thuế), nhóm vitamin (4/9 dòng thuế) Việc giảm thuế suất thuế nhập khẩu một số dòng thuế sẽ là thách thức cho các doanh nghiệp sản xuất dược phâm trong nước trong việc cạnh tranh với thuốc nhập khấu từ nước ngoài [20], [21]

Hơn nữa, việc Việt Nam gia nhập WTO có những ảnh hưởng nhất định đến ngành dược Bên cạnh những thuận lợi về môi trường đầu tư, tiêp cận công nghệ mới, đón một lượng vốn đầu tư lớn, có cơ hội lựa chọn nguôn nguyên liệu đa dạng với chi phí hợp lý, ngành dược phải đối đầu với không ít khó khăn như: năng lực cạnh tranh yếu, thiếu hiếu biết các quy định vê sở hữu trí tuệ; thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ; đối mặt với các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài trên một sân chơi bình đẳng khi chính phủ cam kêt giảm

Trang 30

thuế suất thuế nhập khẩu; nới lỏng chính sách với các doanh nghiệp nước ngoài.

1.3 NGUYÊN PHU LIÊU SẢN XUẤT DƯ• • ơ c • PHẨM

1.3.1 Khái niệm và phân loại

Nguyên phụ liệu là yếu tố cơ bản và chiếm tỷ trọng cao nhất trong chi phí sản xuất ra một thành phẩm thuốc, từ đó ảnh hưởng đến giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) và giá thành tiêu thụ thuốc - tức là giá thành thuôc đến tay người tiêu dùng

NPL dùng cho sản xuất trong nước có đến 90% là từ nhập khấu Theo thống kê trong năm 2008, lượng NPL nhập khẩu vào Việt Nam được thế hiện

Tháng

Lượng nhập khẩu (tấn)

Trang 31

Hình 1.6: Lượng các nguyên phụ liệu nhập khẩu năm 2008

Qua đó có thể nhận thấy rằng lượng các NPL nhập khẩu cao ở nửa đầu năm 2008 - lượng gấp đôi so với nửa đầu năm Tháng đạt kỷ lục là tháng 3 với lượng nhập khẩu lên đến hơn 800 tấn Trong khi đó, tháng thấp nhất trong

Nguyên phụ liệu bao gồm có nguyên liệu chính, tá dược và bao bì [19]

Cụ thể:

- Nguyên liệu chính', là thành phần chính tạo ra tác dụng trong một công thức

thuốc Nguyên liệu chính thường có tỷ lệ không lớn trong các thành phần của một công thức thuốc, nhưng cũng thường là thành phần chiếm tỷ trọng giá trị lớn trong cơ cấu giá thành thuốc

- Tá dược: thành phần được thêm vào để đảm bảo công thức thuốc, tuy không

có tác dụng điều trị nhưng nó góp phần tạo ra một công thức thuôc theo dạng bào chế mà nhà sản xuất mong muôn

Trang 32

- Bao bì', đồ bao gói có tác dụng bảo vệ, tạo dạng dùng cho thuốc, các sản

phấm bố trợ Ngoài ra còn có vai trò thấm mỹ và tạo thương hiệu cho sản phâm

Trong phạm vi đề tài, khái niệm nguyên phụ liệu chúng tôi chủ yêu quan tâm đến Nguyên liệu chính và tá dược

1.3.1.1 Nguyên liệu chính

Các nguyên liệu sản xuất thuốc phần lớn được xét phân loại theo nhóm tác dụng dược lý Theo Quyết định số 05/2008/QĐ-BYT ngày 01 tháng 02 năm 2008 về danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh, có 27 nhóm điều trị, trong đó 3 nhóm điều trị chủ yếu là Kháng sinh, hạ nhiệt giảm đau và Vitamin Theo thống kê, các nguyên liệu sử dụng cần phải nhập khẩu chiếm tỷ lệ lớn trong những năm qua (thường đạt đên con

số trên 75%) [1]

- Kháng sinh' Là một loại hoạt chất thuốc phố biến đối với một nước có mô

hình bệnh tật mà bệnh nhiễm khuẩn chiếm một tỷ lệ tương đôi lớn như Việt Nam Lượng nguyên liệu kháng sinh trong nước tự bán tông hợp và sản xuât được chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tổn, và chủ yếu là các kháng sinh đơn giản, thê hệ cũ, hiệu lực kháng khuân không cao Lượng kháng sinh nhập khâu hàng năm đều dẫn đầu về trị giá hàng nguyên liệu nhập khấu [11], [12], [34]

- Các vitamin: xu hướng sử dụng ngày càng nhiều các loại vitamin và khoáng

chất Với tâm lý cho rằng đây là thuốc bổ, lại không cần kê đơn nên đa số các loại vitamin và khoáng chất được sử dụng thường xuyên và cho nhiêu đôi tượng Nhu cầu sử dụng vitamin và các khoáng chất làm cho sản xuât trong nước các thành phẩm thuộc nhóm này thật sự tiềm năng Lượng nguyên liệu vitamin và khoáng chất nhập khẩu trong những năm vừa qua cũng vì thế mà luôn thuộc nhóm dẫn đầu trong các nguyên phụ liệu nhập khấu [1]

Trang 33

- Hạ nhiệt giảm đau: là loại hoạt chất thông thường và phô biến Loại thuôc

này thường được người sử dụng mua về dùng mà không cần có hướng dẫn của thầy thuốc Luôn xuất hiện trong nhóm dẫn đầu về lượng và kim ngạch nhập khẩu chỉ sau nhóm Kháng sinh và nhóm Vitamin [1]

Tổng họp lượng và trị giá NPL nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2008 được thê hiện ở bảng:

Báng 1.6: Co’ cấu nguyên phụ liệu nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2008

Trang 34

Chỉ trong 10 tháng đầu năm 2008, các NPL nhập khấu với mục đích làm nguyên liệu chính trong thành phần công thức thuốc đã đạt con số 140triệu USD, trong đó dẫn đầu là nhóm kháng sinh với khối lượng 1.635.170kg chiếm tỷ lệ 53,9%, tiếp theo là nhóm vitamin với tỷ lệ đến 21%, nhóm Hạ nhiệt giảm đau 7%, và các nhóm điều trị còn lại với tống là 18%.

Các loại NPL được đưa vào sản xuất thuốc thường được chia thành các loại theo những tiêu chí khác nhau về bào chế, công dụng và nguôn gôc Tá dược dùng sản xuất thuốc chia theo công dụng có nhiều loại như độn, rã, dính, trơn và tá dược bao; chia theo công dụng trong dạng thuốc có: tá dược thuôc viên, bột, mỡ, kem, gel và tá dược các loại thuốc lỏng

Trong tống lượng nhu cầu tương đối lớn về tá dược và phụ liệu làm thuốc thì nguồn sản xuất trong nước chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ - khoảng 10% Và cũng chủ yếu là các loại tá dược đơn giản, phổ biến và trị giá thấp như Tinh bột sắn, đường, bột Talc, các loại hoá chất tinh khiết tinh chê và hoá chất cơ bản [11], [12]

Đa số (90%) nguồn NPL được nhập khẩu từ thị trường các nước trên thế giới - trong đó có các thị trường lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore

và Đông Âu [1], Các tá dược nhập khấu thường là những loại tá dược có trình

độ khoa học công nghệ cao về bào chế, độ tinh khiết, các đặc tính ôn định và

vì thế giá thường cao

1.3.2 Năng lực cung ứng và nhập khấu nguyên phụ liệu

Tại Việt Nam, tính đến tháng 10 năm 2008 đã có 178 doanh nghiệp sản xuất dược, 89 đơn vị nhập khẩu, 800 đơn vị kinh doanh mặt hàng nguyên phụ liệu sản xuất Dược, gần 40.000 cửa hàng bán lẻ, 439 công ty nước ngoài đăng

kí kinh doanh trong lĩnh vực dược đã góp phần cung ứng hơn 1 tỷ 340 triệu

Trang 35

USD tiền thuốc cho nhân dân, trong đó thuốc trong nước chiếm gần 60% Tuy nhiên chỉ có duy nhất một Doanh nghiệp là Công ty c ổ phần Dược phấm Sao

phụ liệu Dược [16]

Đa số nguồn NPL đang được nhập khấu từ các thị trường lớn từ hơn 50 nước trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore và khu vực EU Trong đó, đối với nguyên liệu kháng sinh - mặt hàng nguyên liệu luôn dẫn đầu trong nhóm các mặt hàng nhập khấu chủ yếu thì các thị trường cung câp lớn nhất (tính đến hết tháng 10 năm 2008) là: Ấn độ (29,2% tổng lượng, 38,7% tổng kim ngạch), Trung Quốc (35,9% tổng lượng, 26,2% tổng kim ngạch), và khu vực EU (21,4% tổng lượng, 25,0% tổng kim ngạch) [1],

Trong nước, một số đơn vị đã tự sản xuất và bán tống họp được một số nguyên liệu như artemisinin, artesunat, berberin, palmatin, Amoxicilin, Ampicilin Đây thực chất vẫn chỉ là một số lượng rất nhỏ, đa số là những nguyên liệu thông thường: kháng sinh, các hoạt chất chiết xuất từ dược liệu Đặc biệt có những sản phẩm chiết xuất từ Thanh hao hoa vàng của Công ty

Cổ phần Dược phẩm Sao Kim và Trường Đại học Dược Hà Nội đã đạt tiêu chuấn xuất khẩu Lượng các hoạt chất chống sốt rét được chiêt xuât từ Thanh hao hoa vàng và được tinh chế được xuất khâu đến các thị trường châu Au, châu Á và châu Phi - một trong những nhà sản xuất và xuất khấu dẫn đầu thế giới về các hoạt chất chống sôt rét

Như vậy 90% nhu cầu nguyên liệu còn lại cho sản xuất trong nước sẽ phải nhập khẩu Và tính không chủ động được nguồn cung cấp, không chi phối và kiếm soát được giá cả của chúng sẽ dẫn đến việc không dự kiên và đối phó được với sự biến động của chi phí cấu thành chủ yếu nên giá thuốc này Trong khi đó, cũng tồn tại một nghịch lý là: các loại NPL sản xuất trong nước thường có giá cao hơn giá nhập khấu mà chất lượng lại không cao hơn,

Trang 36

độ ổn định không tốt hơn của mặt hàng nhập khấu cùng loại nên không khuyến khích được việc sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước cho sản xuất thuốc.

Hàng năm con số các nhà nhập khâu NPL dược cũng tăng lên, kim ngạch và sản lượng nhập khẩu cũng tăng theo mức tăng của nhu cầu trong nước Tổng hợp 10 tháng đầu năm 2008 cho thấy [1]: lượng nhập khấu nguyên phụ liệu giảm 14,0% so với cùng kỳ năm 2007 nhưng kim ngạch nhập khâu ước tính lại tăng 4,5%

Tuy nhiên, vấn đề khó khăn lớn nhất đối với các DN nhập khâu NPL thuốc lại không phải là vấn đề có thể giải quyết được trong thời gian ngăn, đó là: sự không chủ động được nguồn ngoại tệ dẫn đến phụ thuộc vào sự biên động của tỷ giá ngoại tệ thanh toán, sự biến động chung của nền kinh tê thê giới và Việt Nam, năng lực của chính các DN nhập khấu Đôi với một DN Dược hàng đầu trong nước như Dược Hậu Giang cũng không thế tránh khỏi những vấn đề không thuận lợi trên trong quá trình kinh doanh nói chung và trong hoạt động nhập khẩu, trong đó riêng chênh lệch tỷ giá quý 11/2008 so với quý 1/2008 đã ở con số kỷ lục 1864%

1.3.3 Co’ cấu và tỷ trọng nguyên phụ liệu

NPL là thành phần cấu thành vật lý của một sản phấm thuôc nên sự biển động của chi phí NPL và tỷ trọng chi phí NPL trong cơ cấu giá thành thuốc có ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động giá thuốc

Tỷ trọng chi phí NPL trong giá thành thuôc thành phâm trong những năm gần đây có biến động rất lớn, sự biến động này phụ thuộc rất nhiều yếu

tố Nguồn NPL dùng sản xuất thuốc trong nước chủ yếu phải nhập ngoại, chịu

sự ảnh hưởng diễn biến chung của thị trường thế giới Trong nước chúng ta mới chủ động được khoảng 10% nhu cầu NPL dược phẩm [1], [11], [12]

Trang 37

NPL thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành tiêu thụ của thuốc Tỷ trọng chi phí NPL sẽ không giống nhau đối với các thành phâm ở dạng bào chế khác nhau Mức độ hiện đại, tính phức tạp và tình trạng hiếm có của dạng thuốc, của hoạt chất thuốc, của các tá dược và bao bì sử dụng sẽ quyết định tỷ trọng chi phí của chúng trong giá thành sản phâm.

Cơ cấu NPL là tổng họp đầy đủ của các loại NPL dùng trong sản xuất thuốc Qua cơ cấu này có thể nhìn thấy rõ NPL nào là chủ yểu cần cho sản xuất thuốc trong nước, thuộc loại NPL nào (nguyên liệu chính, tá dược hay phụ liệu), chủ yếu dùng cho dạng bào chế nào, nguồn gốc sản xuất trong nước hay nhập khâu?

Theo nhận định của Bộ Y tế - cục Quản lý Dược tại Hội nghị ngành Dược năm 2008 [15], các thuốc sản xuất trong nước phần lớn còn ở các dạng

sản xuất thuốc trong nước cũng có những đặc thù phản ánh năng lực và trình

độ của các Doanh nghiệp sản xuất Dược phẩm Theo thống kê, cơ cấu các loại NPL sử dụng cho sản xuất thuốc trong nước hiện nay đang có những biên động, tuy nhiên chủ yếu vẫn là những nhóm NPL dùng sản xuất các thuôc và nhóm thuốc phổ biến, thông thường hoặc thuốc generic đã hết hạn bảo hộ độc quyền Đa số trong số các NPL này chưa tự sản xuất được trong nước mà phải nhập khẩu từ nước ngoài Đặc biệt là các nhóm NPL mới, dùng trong sản xuất các dạng bào chế mới, hiện đại như viên nang mềm, viên bao film hoặc các vi nang, các thuốc giải phóng theo chương trình

Một số NPL (chiếm khoảng 10%) trong nước có thể tự sản xuất hầu hết là những loại nguyên liệu cơ bản, những tá dược đơn giản, trị giá thâp - thành phần của những công thức thuốc và dạng bào chế khá phố biến và đon giản

Trang 38

Các NPL nhập khấu nước ngoài (90%) đa số các NPL cần cho đa số các dạng bào chế của các chế phẩm chuyên khoa, dạng bào chế hiện đại, đắt tiền.

Đã có nhiều sự thay đối trong cơ cấu và tỷ trọng NPL sử dụng sản xuất thuốc trong nước Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đối này trong đó có: năng lực sản xuất của các doanh nghiệp, xu hướng dạng bào chế ưa dùng, nguồn cung úng N P L

1.4 MỘT SÓ ĐỀ TÀI LIÊN QUAN

1.4.1 Giá thuốc - CO' cấu, sự biến động và nguyên nhân biến động

Trong đề tài “Phân tích tình hình biến động giá của một so loại thuốc

trên địa bàn Hà N ộ i” của Đinh Thị Thanh Thuỷ nghiên cứu giá bán lẻ của

một số loại thuốc đã đưa ra kết luận: “Hệ thống các văn bản pháp quy về

quản ỉý giá thuốc chưa hoàn chỉnh và đồng bộ là một trong những nguyên nhân chủ quan làm giả thuốc tăng” [17].

Đe tài của Đoàn Thị Thuỷ “Khảo sát một sổ giải pháp liên quan đôn

công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 — 2005” vó'i đối tượng

nghiên cửu là các văn bản quản lý giá thuốc được ban hành trong giai đoạn

2000 - 2005 đã kết luận rằng: “các văn bản quản lỷ được triên khai đã góp

phần bình ổn thị trường thuốc Tuy nhiên cổ văn bản ban hành đã làm giả thuốc tăng thêm như thông tư 08/2003/TTLT/BYT-BTC Bên cạnh đó, việc triên khai các vãn bản còn chậm, phải mât một thời gian sau khi các văn ban được triên khai thị trường thuốc mới dơn ôn định ”[23]

Đe tài “Khảo sát sự biến động giá thuốc sản xuất trong nước trên thị

trường Hà Nội từ năm 2001 đến nay” của Đào Thị Thanh Giang, tiên hành

nghiên cứu giá bán lẻ của một số dược phấm sản xuất trong nước và đi đên

kết luận: “Nhà nước chưa có một hệ thống văn bản pháp luật hoàn chinh và

đồng bộ vê quản lý giá thuôc, chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thê vê

Trang 39

quản lý giá thuốc nên giả thuốc còn do doanh nghiệp tự quy định Các quy định về thanh kiêm tra việc thực hiện và các chế tài xử phạt vi phạm chưa chặt chẽ ” [4]

Đe tài “Khảo sát sự biến động về giá của một sổ thuốc nhập ngoại trên

thị trường Hà Nội” của Vũ Thị Kim Dung, tiến hành nghiên cứu giá bán lẻ

của một số nhóm thuốc đã đưa ra kết luận: “Hệ thong quản ỉỷ giá thuôc của

nhà nước còn chưa đồng bộ, các chế tài xử lý vi phạm về giả thuốc trong quá trình cung ứng nhập khâu thuốc còn chim đủ mạnh” là một trong những

nguyên nhân chính làm tăng giá thuốc [3]

Đe tài “Phân tích cơ cấu giả thành thuốc nhập khâu của Công ty Cô

phân Dược phâm Traphaco giai đoạn 2004 — 2006” của Lê Thị Thăm, tiên

hành nghiên cứu cơ cấu giá thành thuốc nhập khâu đã đưa ra kết luận răng:

“trong cơ cấu giá thành thuốc nhập khâu các chi p h ỉ và lợi nhuận thường làm tăng giá thuốc sau giá CIF khoảng 8.5-10.0%, và đổi với thuốc nhập khâu uy thác p h í uỷ thác chiêm tỉ lệ 2.7-2.9% so với giá C IF ’ [24],

Đe tài “Phân tích cơ cấu giá thành thuôc nhập khâu của Công lỵ Cô

phần dược Trung ương Medipìantex trong năm 2005” của Nguyên Hoàng

Yến, tiến hành nghiên cứu trên đối tượng là giá của các mặt hàng thuôc nhập

khẩu đã đưa ra kết luận rằng: các chi p h í cộng thêm vào giá thuôc nhập khâu

của Công ty Cô phần dược Trung ương Mediplantex cao nhất là chi phí bán hàng (26.6%) và chỉ p h í lãi vay ngân hàng (25.5%) và các chi phí quan lý, thuế nhập khâu và chi p h í giao nhận, vận chuyên hàng vê công tv Đa sô các thuốc nhập khâu của công ty có sự chênh lệch giữa giá bán buôn và giả CIF nằm trong khoảng 5-10%, trong đó thuế nhập khâu là một trong các yêu tô đây giá thuôc cao lên sau giá nhập khâu [33].

Trang 40

Đe tài “Khảo sát ảnh hưởng của nguyên phụ liệu đến giá thành một sổ

thuốc sản xuất trong nước” của Châu Thị Ánh Minh tiến hành nghiên cứu sự

ảnh hưởng của giá thuốc bới yếu tố cấu thành là chi phí nguyên phụ liệu Tác

giả đã đưa ra kết luận rằng “Chi p h í nguyên phụ liệu ờ các thuốc tân dược

chiếm từ 65.0%-85.9%, và ở các thuốc dược liệu là 48.2%-68.6% ” và “Chi phí các nguyên phụ liệu nhập khâu chiếm tỷ trọng cao trong giá bán buôn "

[8],

1.4.2 Nguyên phụ liệu - năng lực sản xuất và nhập khẩu

Đe tài “Bước đầu khảo sát và đánh giả năng lực sản xuất nguyên liệu

làm thuốc ở Việt Nam” của Lê Hồng Phúc tiến hành nghiên cứu trên đối

tượng là hoạt động sản xuất, xuất khẩu, nhập khấu nguyên liệu làm thuôc đã

đưa ra kết luận “số nguyên liệu làm thuốc có thê tự sản xuất được trong nước

mới chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với tông so đăng ký 0.64%, hơn nữa các nguyên liệu hoá dược sản xuất được trong nước chủ yếu là những hoá chất vó

cơ thông thường và một sổ hoạt chất hữu cơ cỏ kỹ thuật sản xuất đơn giản điều nàv phản ảnh thực tế năng ỉ ực sản xuất nguvên liệu ở nước ta còn kém, chưa đáp ứng được nhu cẩu” [12]

Các đề tài khác nghiên cứu về nguyên phụ liệu làm thuôc còn ít, và đa

sổ đã không còn mang tính cập nhật

Ngày đăng: 21/04/2019, 18:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w