I. CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1.Khái niệm thời tiết, khí hậu. Phân biệt thời tiết, khí hậu. Thời tiết: trạng thái tức thời của khí quyên ở một địa điểm và thời gian nhất định và đặc trưng bởi các yếu tố khí tượng: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa,… Khí hậu: Tổng hợp các giá trị thời tiết được đặc trưng bởi các giá trị trung bình của các yếu tố khí tượng được quan trắc trong một khoảng thời gian đủ dài thường là vài thập kỉ Thời tiết Khí hậu trạng thái tức thời của điều kiện khí quyển ở một nơi nào đó Tính chất: biến đổi một cách liên tục, bất ổn dự báo thời tiết không thể dự báo trước vài tuần mô tả khái quát mọi khả năng có thể xảy ra của thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài. tương đối ổn định, bao hàm mọi khả năng xảy ra của thời tiết khí hâu có thể dự báo trước nhiều tuần thậm chí là nhiều năm 2.Phân biêt khái niệm Biến đổi khí hậu và dao động khí hậu: biến đổi khí hậu Dao động khí hậu IPCC (2007), biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống KH. Tính chất: mang tính xu hướng hoặc tăng hoặc giảm là sự biến đổi thăng giáng của các biến khí hậu (như nhiệt độ và lượng mưa) xung quanh trạng thái trung bình nhiều năm (thường là vài chục năm), nghĩa là hoặc lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị trung bình nhiều năm. Mang tính chu kì lặp đi lặp lại 3.Thế nào là các hiện tượng thời tiết cực đoan. Cho ví dụ Theo IPCC (2007), hiện tượng thời tiết cực đoan là hiện tượng hiếm ở một nơi cụ thể vào một thời gian cụ thể trong năm. Có xác xuất xảy ra là rất nhỏ thường nhỏ hơn 10%, và khi nó xảy ra thường gây ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội và các hoạt động của con người. Ví dụ: Mưa đá, Lũ lụt kéo dài, hạn hán….
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KẾT THÚC HỌC PHẦN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.Khái niệm thời tiết, khí hậu Phân biệt thời tiết, khí hậu.
Thời tiết: trạng thái tức thời của khí quyên ở một địa điểm và thời gian nhất định và đặc
trưng bởi các yếu tố khí tượng: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa,…
Khí hậu: Tổng hợp các giá trị thời tiết được đặc trưng bởi các giá trị trung bình của các
yếu tố khí tượng được quan trắc trong một khoảng thời gian đủ dài thường là vài thập kỉ
- trạng thái tức thời của điều kiện khí
quyển ở một nơi nào đó
-Tính chất: biến đổi một cách liên tục, bất
ổn
- dự báo thời tiết không thể dự báo trước
vài tuần
-mô tả khái quát mọi khả năng có thể xảy
ra của thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài
- tương đối ổn định, bao hàm mọi khả năng xảy ra của thời tiết
- khí hâu có thể dự báo trước nhiều tuần thậm chí là nhiều năm
2.Phân biêt khái niệm Biến đổi khí hậu và dao động khí hậu:
IPCC (2007), biến đổi khí hậu (BĐKH)
là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí
hậu, có thể được nhận biết qua sự biến
đổi về trung bình và sự biến động của các
thuộc tính của nó, được duy trì trong một
thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ
hoặc dài hơn BĐKH là sự biến đổi từ
trạng thái cân bằng này sang trạng thái
cân bằng khác của hệ thống KH.
Tính chất: mang tính xu hướng hoặc tăng
hoặc giảm
là sự biến đổi thăng giáng của các biến khí hậu (như nhiệt độ và lượng mưa) xung quanh trạng thái trung bình nhiều năm (thường là vài chục năm), nghĩa là hoặc lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị trung bình nhiều năm
Mang tính chu kì lặp đi lặp lại
3.Thế nào là các hiện tượng thời tiết cực đoan Cho ví dụ
Theo IPCC (2007), hiện tượng thời tiết cực đoan là hiện tượng hiếm ở một nơi cụ thể vào
một thời gian cụ thể trong năm Có xác xuất xảy ra là rất nhỏ thường nhỏ hơn 10%, và khi
nó xảy ra thường gây ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội và các hoạt động của con người
Ví dụ: Mưa đá, Lũ lụt kéo dài, hạn hán…
Trang 2II NGUYÊN NHÂN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU.
1.Vẽ sơ đồ, trình bày cơ chế và vai trò của hiệu ứng nhà kính đối với hệ thống khí hậu trên Trái đất
Cơ chế: Nhiệt độ bề mặt Trái đất được tạo
thành bởi sự cân bằng giữa năng lượng Mặt trời chiếu xuống Trái đất và năng lượng bức
xạ nhiệt của mặt đất phản xạ vào khí quyển Bức xạ mặt trời là bức xạ sóng ngắn (0.1 –
3 micromet) nên nó dễ dàng xuyên qua các lớp khí quyển rồi xuống mặt đất Ngược lại, bức xạ nhiệt từ mặt đất phản xạ vào khí quyển là bức xạ sóng dài (5 – 60 micromet), sẽ bị một số khí có trong khí quyển hấp thụ (CO2, H2O, CH4, N20, CFC…) Do đó nhiệt độ của khí quyển bao quanh Trái đất sẽ tăng lên và tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất cũng gia tăng Hiện tượng này được gọi là “Hiệu ứng nhà kính”, vì lớp CO2 và các khí khác có tác dụng tương tự lớp kính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau trong mùa đông
Vai trò: giữ nhiệt lại cho bề mặt Trái Đất ổn định nhiệt độ của TĐ và bức xạ một phần nhiệt
vào khoảng không vũ trụ
2.Khí nhà kính là gì? Nguồn gốc các loại khí nhà kính?
-Khí nhà kính là chất khí trong khí quyển có khả năng hấp thụ và phát xạ bức xạ sóng dài
(bức xạ nhiệt) gây nên hiệu ứng nhà kính
- Nguồn gốc các loại khí nhà kính:
+ Hơi nước (H2 O): hơi nước tự nhiên, hoạt động gián của con người thông qua phát thải
CH4, vì CH4 bị phân hủy do phản ứng hóa học trong tầng bình lưu, tạo ra một lượng nhỏ hơi nước
+ Ôzôn (O 3 ): ôzôn có trong tầng đối lưu và tầng bình lưu dưới Hoạt động của con người
làm tăng ôzôn trong tầng đối lưu thông qua giải phóng các chất khí như ôxit cacbon,
hydrocacbon và ôxit nitơ Các chất khí này tác dụng hóa học với nhau và tạo ra ôzôn
+ Ôxit Nitơ (N 2 O): Ôxit nitơ tự nhiên sinh ra do hoạt động của vi khuẩn, sự phóng điện
trong khí quyển, đốt sinh khối do cháy rừng, cháy đồng cỏ, các quá trình tự nhiên trong đất
và trong đại dương, v.v Hoạt động của con người: Khí thải từ ô tô, xe máy; Quá trình sản
xuất nông nghiệp và các hoạt động công nghiệp, đốt cháy các rác thải rắn và nguyên liệu, quá trình nitrat hóa các loại phân bón hữu cơ và vô cơ,……
+ Mêtan (CH 4 ): Mêtan được sinh ra do các quá trình tự nhiên như ở các vùng đầm lầy, ở đại
dương, hoặc do hoạt động của con người như sản xuất nông nghiệp, lấp đất và ủ các khí tự nhiên, khai thác than, v.v
+ Điôxit cacbon (CO 2 ):sinh ra từ hô hấp của động, thực vật, quang hợp của thực vật; các
quá trình trao đổi khí quyển – đại dương; hoạt động của núi lửa Hoạt động của con người
làm gia tăng lượng điôxit cacbon chủ yếu do sử dụng nhiên liệu hóa thạch, chế tạo các loại máy sưởi, máy làm lạnh, sản xuất xi măng, phá rừng, thay đổi sử dụng đất, v.v
+ Một số chất khí thuộc nhóm halo-cacbon (CFC, HCFC): chủ yếu là do hoạt động của con
người sinh ra, như chlorofluorocarbons (CFC-11 và CFC-12), hydro chlorofluorocarbons (HCFC) Các chất khí này được sử dụng khi sản xuất các thiết bị làm lạnh và trong các quá trình công nghiệp khác
3.Trình bày các nguyên nhân của BDKH hiện đại Nguyên nhân nào là quan trọng nhất Tại sao?
Trang 3Những tiến bộ về quan trắc cũng như các mô hình gần đây càng cung cấp thêm nhiều hiểu biết vững chắc, cho phép kết luận rằng BĐKH có nguồn gốc từ hai nguyên nhân
-Tự nhiên nằm ngoài hệ thống khí hậu trái đất cũng như do sự thay đổi bên trong và tương tác giữa các thành phần của nó:
+Sự thay đổi các tham số quỹ đạo của Trái Đất khi quay quanh mặt trời: độ lệch tâm, độ nghiêng của trục quay của Trái đất và tiến động Những biến đổi của các tham số này sẽ làm biến đổi lượng bức xạ mặt trời cung cấp cho hệ thống khí hậu và hậu quả là làm khí hậu Trái đất biến đổi
+Sự thay đổi trong phân bố lục địa và biển trên bề mặt Trái đất làm thay đổi lượng bức xạ mặt trời nhận được
+Sự thay đổi cường độ bức xạ Mặt Trời và hấp thụ của trái đất : cũng gây ra sự thay đổi năng lượng chiếu xuống mặt đất làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất
+Núi nửa và các hiện tượng tự nhiên khác trên bền mặt Trái Đất làm thay đổi tính chất của bầu khí quyển
-Nhân tạo:
Việc phát thái khí nhà kính trong các hoạt động sinh hoạt, sản xuất của con người :việc đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, vv) phục vụ các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, vv và thay đổi mục đích sử dụng đất bao gồm thay đổi trong nông nghiệp và nạn phá rừng Làm gia tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của Trái đất
−−−> nguyên nhân quan trọng nhất là do hoạt dộng của con người vì Trong báo cáo của IPCC 2007: Một loạt các nghiên cứu được thực hiện, kết quả chỉ ra rằng hoạt động con người đóng góp vào 90% nguyên nhân gây ra BĐKH Con người tuy mới xuất hiện cách đây khoảng vài chục nghìn năm, quá ngắn so với các chu kì tự nhiên trên trái đất Nhưng các hoạt động của con người đã có tác động đáng kể đến hệ thống khí hậu, có lẽ đáng kể nhất là từ thời tiền công nghiệp (1750)
III.Biểu hiện của biến đổi khí hậu:
1.Trình bày các biểu hiện chính của biến đổi khí hậu toàn cầu Biểu hiện nào quan trọng nhất Tại sao?
Toàn cầu:
-Biến đổi của nhiệt độ: xu hướng tăng nhiệt độ ở hầu hết các khu vực trên trái đất
+ Tốc độ ấm lên trên đất liền nhanh hơn trên đại dương
+BBC ấm lên nhanh hơn Nam bán cầu do sự phân bố diện tích đất liền lớn hơn 39% so với 19%
Châu Á có xu hướng tang nhanh nhất, NM tăng chậm nhất
Nhiệt độ trung bình toàn cầu, đất liền, bề mặt đại dương đã tăng lên +0,85 1880-2012
3 thập kỉ cuối tiếp tục nóng lên với tốc độ nhanh, hơn bất kì thập kỉ nào kể từ năm 1850 1983-2012 có khả năng là 30 năm nóng nhất trong vòng 1400 năm qua
-Biến đổi của lượng mưa: lượng mưa lại có sự tăng giảm khá khác nhau theo khu vực
nhưng lượng mưa tb của thế giới tăng
+ Trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các đới phía Bắc vĩ độ 30ºN thời kỳ 1901–
2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới, kể từ thập kỷ 1990
+ Tần số mưa lớn tăng lên trên nhiều khu vực, kể cả những nơi lượng mưa có xu thế giảm đi
-Biến đổi ở các vùng cực, băng quyển:
Trong thế kỷ 20 cùng với sự tăng lên của nhiệt độ mặt đất có sự suy giảm khối lượng băng trên phạm vi toàn cầu
Lượng băng mất đi vào mùa hè lớn khiến việc bù đắp vào mùa đông là không đủ
Trang 4Trong 2 thập kỉ cuối lớp băng ở Green land và nam cực đã mất đi lượng lớn các dòng sông băng bị thu hẹp Che phủ tuyết ở bắc cực và bbc giảm
+ Băng ở Greenland mất dần đi với tốc độ khoảng -50 đến -100 Gt/năm
-Biến đổi mực nước biển: Nóng lên toàn cầu làm gia tăng mực nước biển.
Tỷ lệ tăng đã lớn hơn 2 thiên niên kỷ trước kể từ giữa thế kỉ 19
Tốc độ tăng mực nước biển là +2,8mm/năm
Khi băng tan hết mực nước biển có thể tăng từ 5-10m
-Biến đổi của một số yếu tố và hiện tượng cực đoan:
+ Các đợt nắng nóng và nắng nóng gay gắt trở nên thường xuyên hơn
+ Các hiện tượng như bão, mưa lớn, lũ lụt, lũ quét, hạn hán, tố lốc dường như cũng xảy ra mạnh hơn, bất thường hơn
-Biến đổi của một số yếu tố khác:
+Hơi nước trong tầng đối lưu cũng đang có xu thế tăng lên
+ sự giảm bức xạ thường tập trung tại một số khu vực thành thị rộng lớn
+ Sự tăng lượng xon khí do hoạt động con người là lý do của việc giảm tổng lượng bức xạ
xuống bề mặt
- Biểu hiện quan trong nhất là sự biến đổi về nhiệt độ: tăng nhiệt độ của khí quyển
và trái đất vì nhiệt độ tăng cao gây nên hiện tượng băng tan ở hai cực dẫn đến nước biển dâng ,mất đi một phần diện tích đất liền nhiệt độ tăng
Gây ra hạn hán, mất mùa……
2.Các biểu hiện chính của biến đổi khí hậu ở Việt Nam Ví dụ cụ thể
-Về nhiệt độ:
+Trong nửa cuối thế kỷ 20 (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng lên
khoảng 0,5oC Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,6oC.Nhiệt độ trung bình trong vòng 4 thập kỷ gần đây được ghi nhận là cao hơn so với giá trị trung bình hàng năm của 3 thập kỷ trước
Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè
Nhiệt độ phía Bắc tăng nhanh hơn so với phía Nam
Nhiêt độ sâu trong đất liền tăng nhanh hơn so với vùng ven biển và hải đảo
-Về lượng mưa:
Tại tất cả các khu vực, sự thay đổi về lượng mưa trung bình trong 9 thập kỷ gần đây (1911-2000) không đồng nhất
Giảm lượng mưa trên các vùng khí hậu phía Bắc, trừ cực Nam của Bắc Trung Bộ, và tăng lượng mưa ở các vùng khí hậu phía Nam, nhất là ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Lượng mưa mùa đông (các tháng 12, 1, 2) có dấu hiệu giảm hoặc không biến đổi trên hầu hết các vùng khí hậu, nhưng lại thể hiện xu thế tăng rõ ở Nam Trung Bộ và một số nơi phía nam vùng Bắc Trung Bộ
Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam
Lượng mưa mùa khô: không thay đổi ở phía bắc và tăng mạnh ở phía nam
Lượng mưa mùa mưa: giảm 5-10% ở phía Bắc và tăng 5-20% ở phía nam
Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng
-Mực nước biển trung bình:
Mực nước biển trung bình thời kỳ gần đây (1991-2008) đều cao hơn thời kỳ 1961-1990
Trang 5 Mực nước biển cao nhất có xu thế cao hơn còn mực nước biển thấp nhất có xu thế ngược lại, tăng ít hơn, thậm chí có nơi thấp hơn so với mực nước biển trung bình
Trong 50 năm qua, mực nước biển dâng với tốc độ trung bình 3-4mm/năm nghĩa là trong gần nửa thế kỷ vừa qua, nước biển ở VN dâng lên khoảng 15-20cm (ví dụ: mực nước biển tại trạm hải văn Hòn Dầu đã dâng lên khoảng 20cm)
-Về bão: Trong những thập kỷ gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn,
quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão diễn biến phức tạp và khác thường
-Hạn hán: Mưa ít, nhiệt độ cao, độ ẩm thấp làm tăng khả năng bốc hơi, dẫn đên suy giảm
lượng nước dự trữ trong đất, trong khi nguồn nước ở nhiều sông, suối, hồ chứa bị cạn kiệt, làm hạn hán sảy ra rất nghiêm trọng trên diện rộng trong những năm gần đây
-Lũ lụt: Lượng mưa của mùa mưa trong thế kỷ XXI ở hầu hết các vùng đều tăng 5-10%
Trong vài chục năm gần đầy nhiều trận lũ lớn và đặc biết lớn đã xảy ra ở các tình miền trung và tiếp tục xảy ra với tần suất ngày càng tăng từ năm 1990 đến nay
IV.Kịch bản BDKH:
1.Khái niệm: Là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai
của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng
2 Nội dung các họ kịch bản phát thải KNK SRES :
- Kịch bản gốc A1: Mô tả một thế giới tương lai với sự phát triển kinh tế rất nhanh, dân số
thế giới tăng đạt đỉnh vào khoảng giữa thế kỷ 21 và giảm dần sau đó; các công nghệ mới phát triển nhanh và hiệu quả hơn Các đặc điểm nổi bật là sự tương đồng giữa các khu vực,
sự tăng cường giao lưu về văn hóa, xã hội, sự thu hẹp khác biệt về thu nhập giữa các vùng
Họ kịch bản A1 được phát triển thành 3 nhóm dựa trên các hướng phát triển của công nghệ trong hệ thống năng lượng:
+A1FI: sử dụng thái quá nhiên liệu hóa thạch (kịch bản phát thải cao)
+A1B: cân bằng giữa các nguồn năng lượng (kịch bản phát thải trung bình
+A1T: chú trọng đến việc sử dụng các nguồn năng lượng phi hoá thạch (kịch bản phát thải thấp)
-Kịch bản gốc A2 (kịch bản phát thải cao): Mô tả một thể giới rất không đồng nhất.Các đặc
điểm nổi bật là tính độc lập, bảo vệ các đặc điểm địa phương, dân số thế giới tiếp tục tăng, kinh tế phát triển theo định hướng khu vực, thay đổi về công nghệ và tốc độ tăng trưởng kinh tế tính theo đầu người chậm và riêng rẽ hơn so với các họ kịch bản khác
-Kịch bản gốc B1 (phát thải thấp): Thể hiện một thế giới tương đồng với dân số thế giới đạt
đỉnh vào giữa thế kỷ 21 và giảm xuống sau đấy giống như trong họ kịch bản gốcA1, nhưng
có sự thay đổi nhanh chóng trong cấu trúc kinh tế theo hướng kinh tế dịch vụ và thông tin, giảm cường độ tiêu hao nguyên vật liệu; phát triển các công nghệ sạch và sử dụng hiệu quả tài nguyên; chú trọng đến các giải pháp toàn cầu về bền vững kinh tế, xã hội và môi trường
-Kịch bản gốc B2 (phát thải trung bình): Mô tả một thế giới với sự nhấn mạnh vào các giải
pháp địa phương về bền vững kinh tế, xã hội và môi trường Dân số thế giới vẫn tăng trưởng liên tục nhưng thấp hơn A2, phát triển kinh tế ở mức trung bình, chuyển đổi công nghệ chậm và không đồng bộ như trong B1 và A1 Cũng hướng đến việc bảo vệ môi trường và công bằng xã hội, B2 tập trung vào quy mô địa phương và khu vực
Câu 5 Tác động tích cực và tiêu cực của BĐKH
a) Đối với nông nghiệp
- Tích cực:
Trang 6+ Ở các nước tương đối lạnh sẽ được lợi từ biến đổi khí hậu Chi phí cho sưởi ấm và nhà ở
sẽ giảm
+ Ở những "nước lạnh hơn", hay còn gọi là khu vực ôn đới, những khu vực có đủ nước và chất dinh dưỡng, hoa màu có năng suất cao hơn khi nhiệt độ tăng và những mùa vụ kéo dài hơn
+ Những ích lợi này chủ yếu xảy ra ở Hoa Kỳ, Canada, Bắc Âu và phía bắc châu
- Tiêu cực:
+ Đối với thế giới:
Nhiệt độ ấm hơn có thể làm cho nhiều loại cây trồng phát triển nhanh hơn, nhưng nhiệt độ ấm hơn cũng có thể làm giảm sản lượng
Nhiệt độ cực cao và lượng mưa tăng lên có thể ngăn chặn các loại cây trồng phát triển Thời tiết cực đoan, đặc biệt là lũ lụt và hạn hán có thể gây hại cho cây trồng, giảm sản lượng
Hạn hán có thể đe dọa các đồng cỏ và nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi
Biến đổi khí hậu có thể làm tăng tỷ lệ ký sinh trùng và các bệnh ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi
Tăng lượng khí carbon dioxide (CO2) có thể làm tăng năng suất đồng cỏ, nhưng cũng có thể làm giảm chất lượng của chúng
Sự biến động của nhiều loài cá và các loài động vật có vỏ có thể thay đổi
Một số bệnh ảnh hưởng đến đời sống thủy sinh có thể trở nên phổ biến hơn trong nước ấm
Thay đổi về nhiệt độ và mùa có thể ảnh hưởng đến thời gian sinh sản và di cư
+ Đối với Việt Nam:
Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất sử dụng cho nông nghiệp
Mất diện tích do nước biển dâng : Theo nghiên cứu và dự báo của Ủy ban liên chính phủ về BĐKH của Liên hợp quốc (IPPC) và Ngân hàng thế giới (WB), ở Việt Nam, nếu nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập khoảng từ 0,3 đến 0,5 triệu ha tại đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ có 1,5-2,0 triệu ha và những năm lũ lớn khoảng trên 90% diện tích của ĐBSCL bị ngập từ 4-5 tháng, trong đó chủ yếu là đất lúa bị ngập hoặc nhiễm mặn không thể sản xuất Biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng thiên tai khiến năng suất cây trồng giảm Theo đánh giá của ADB, nếu nhiệt độ tăng thêm 1 độ C, năng suất lúa sẽ giảm 10%, thực trạng trên sẽ đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân
Bị tổn thất do các tác động trực tiếp và gián tiếp khác của BĐKH: hạn hán, lũ lụt, sạt lở, hoang mạc hóa…: Những đợt hạn hán và nóng kéo dài liên tiếp xảy ra ở khắp các vùng trong cả nước những năm gần đây cho thấy mức độ gia tăng ngày càng lớn của tình trạng BĐKH Hạn hán có năm làm giảm 20-30% năng suất cây trồng, giảm sản lượng lương thực, ảnh hưởng nghiêm trọng tới chăn nuôi và sinh hoạt của người dân Hạn hán kéo dài sẽ dẫn đến nguy cơ hoang mạc hóa ở một số vùng, đặc biệt là vùng Nam Trung Bộ, vùng cát ven biển và vùng đất dốc thuộc trung du, miền núi, gây ra những hệ lụy đáng kể đối với phát triển bền vững ở Việt Nam
BĐKH làm thay đổi tính thích hợp của nền sản xuất nông nghiệp với cơ cấu khí hậu + Sự giảm dần cường độ lạnh trong mùa đông, tăng cường thời gian nắng nóng dẫn đến tình trạng mất dần hoặc triệt tiêu tính phù hợp giữa các tập đoàn cây, con trên các vùng sinh thái
Trang 7+ Làm chậm đi quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hóa và đa dạng hóa cũng như làm biến dạng nền nông nghiệp cổ truyền Ở mức độ nhất định, BĐKH làm mất đi một số đặc điểm quan trọng của các vùng nông nghiệp ở phía Bắc
Do tác động của BĐKH, thiên tai ngày càng ảnh hưởng nhiều hơn đến sản xuất nông nghiệp
+ Thiên tai chủ yếu đối với sản xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng trong bối cảnh BĐKH + Hạn hán song hành với xâm nhập mặn trên các sông lớn và vừa
BĐKH gây nhiều khó khăn cho công tác thủy lợi
+ Khả năng tiêu thoát nước ra biển giảm đi rõ rệt, mực nước các sông dâng lên, đỉnh lũ tăng thêm, uy hiếp các tuyến đê sông ở các tỉnh phía Bắc, đê bao và bờ bao ở các tỉnh phía Nam + Diện tích ngập úng mở rộng, thời gian ngập úng kéo dài
+ Nhu cầu tiêu nước và cấp nước gia tăng vượt khả năng đáp ứng của nhiều hệ thống thủy lợi Mặt khác, dòng chảy lũ gia tăng có khả năng vượt quá các thông số thiết kế hồ, đập, tác động tới an toàn hồ đập và quản lý tài nguyên nước…
BĐKH đang làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh vật, dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài và ngược lại, xuất hiện nguy cơ gia tăng các loại "thiên địch" Trong thời gian nhiều năm trở lại đây, dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá ở ĐBSCL diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng đến khả năng thâm canh, tăng vụ và làm giảm sản lượng lúa BĐKH có thể tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa, quy hoạch vùng,
kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên đất, đa dạng sinh học bị đe dọa, suy giảm về số lượng và chất lượng do ngập nước và do khô hạn, tăng thêm nguy cơ diệt chủng của động, thực vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm
b) Đối với lĩnh vực năng lượng
- Tích cực:
+ Lượng mưa tăng làm lưu lượng nước cung cấp cho các con sông nơi có nhà máy thủy điện
sẽ tăng, do đó làm tăng sản lượng điện
+ Sự tan chảy của các con sông băng có thể làm tăng lưu lượng nước và do đó tăng sản lượng phát điện
+ Ở các vùng vĩ độ cao, sự tăng nhiệt độ bề mặt trái mùa có thể làm giảm nhu cầu sưởi trong nhà và tiêu thụ năng lượng thương mại
Tuy nhiên, tất cả những tích cực trên chỉ có lợi trong ngắn hạn, về lâu dài thì tác động tiêu cực của BĐKH đến lĩnh vực năng lượng là chủ yếu
- Tiêu cực:
+ Đối với thế giới:
Các thay đổi về nguồn nước cấp sẽ ảnh hưởng tới việc sản xuất điện từ thủy điện
• Thay đổi về lượng mưa sẽ ảnh hưởng tới chu kỳ thủy văn và dòng chảy của sông, dẫn đến thay đổi sản lượng phát của các dự án thủy điện Sự thay đổi này mang tính bất thường và
đa số dẫn tới sự thiếu hụt trầm trọng trong mùa khô
• Sự tan chảy của các con sông băng tuy làm tăng sản lượng điện trong ngắn hạn, tuy nhiên lại kéo theo là sự sụt giảm đáng kể trong mùa hạ về dòng chảy cũng như sản lượng phát điện khi các con sông băng biến mất
• Các thay đổi, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, trong phương thức tiêu dùng nước và nhu cầu về nước cho những mục đích khác tăng, ví dụ cho tưới tiêu, có thể giảm lượng nước cấp cho thủy điện
• Lượng trầm tích tăng lên có thể làm tăng tốc độ bồi lắng lòng hồ và làm tua-bin máy phát chóng hư hỏng, dẫn tới làm giảm sản lượng phát điện Các thay đổi về nhiệt độ không khí
và nước sẽ ảnh hưởng tới hiệu suất phát điện của nhà máy nhiệt điện
Trang 8• Nhiệt độ không khí cao hơn sẽ làm giảm hiệu suất phát điện của nhà máy nhiệt điện; điều này, dẫn tới làm giảm sản lượng phát điện - đôi khi lại trùng hợp với nhu cầu đỉnh trong giai đoạn nắng nóng
• Nhiệt độ nước tăng có thể gây ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của các hệ thống làm mát của các nhà máy nhiệt điện và điện nguyên tử, và vi phạm các tiêu chuẩn chất lượng về nước làm mát
• Các hệ thống làm mát tiên tiến cho nhiệt điện như làm mát khô có thể giúp giảm hoặc loại
bỏ việc phụ thuộc vào nước sạch trong các vùng được dự báo thiếu nước; tuy nhiên, các công nghệ này thường đắt đỏ và có thể gây ra các tổn thất về hiệu suất Nước biển dâng và các thay đổi về tốc độ gió và mây che phủ cũng như tần suất và cường độ xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ tác động trực tiếp tới hạ tầng ngành năng lượng
• Các thay đổi về tốc độ và chiều hướng gió, cũng như mây che phủ và vùng xoáy của khí quyển có thể tác động tới sản lượng của các dự án điện bằng sức gió (phong điện) và điện mặt trời…
.• Mực nước thấp hơn sẽ làm tăng nhu cầu năng lượng cho việc bơm nước ngầm Ngược lại, việc tăng cường bơm nước sẽ làm tăng tính dễ tổn thương do thiếu nước và có thể dẫn tới việc lún đất
• Việc khử mặn có thể được coi như một cách ứng phó với sự thiếu hụt nước ngầm hoặc nước bề mặt trong khu vực, nhưng quá trình này đòi hỏi một lượng lớn năng lượng
+ Đối với Việt Nam:
BĐKH có thể tác động tiêu cực đến tài nguyên năng lượng tái tạo BĐKH kéo theo gia tăng cường độ lũ, cả đỉnh lũ và trong một số trường hợp cực đoan, các nhà máy thủy điện buộc phải xả lũ và các sông đang ở mức báo động rất cao Hạn hán làm giảm thời gian phát điện và hiệu suất điện năng trong trường hợp hạn hán khốc liệt Sa sút về tiềm năng điện gió Có khả năng làm giảm tiềm năng của những nguồn năng lượng khác trong tương lai
BĐKH tác động tiêu cực đến công nghiệp khai thác nguyên liệu Gây nhiều khó khăn cho hệ thống khai thác nguồn than antraxit ở bể than
Tăng khả năng hao hụt, tổn thất sản lượng than do tần suất, cường độ mưa bão và lũ lụt gia tăng
Tăng thêm chi phí sản xuất, chi phí xây dựng vận hành, duy tu các dàn khoan, các phương tiện
Nhiều hải cảng, bao gồm cầu tàu, bến bãi, nhà kho thiết kế theo mực nước cuối thế kỷ 20 sẽ phải cải tạo lại, thậm chi phải di dời; các công trình xây dựng mới tốn kém hơn về chi phí xây lắp cũng như chi phí vận hành
BĐKH tác động tiêu cực đến cung ứng và nhu cầu năng lượng khó khăn hơn cho hệ thống vận chuyển dầu và khí từ dàn khoan trên biển đến các nhà máy hóa – lọc dầu; làm trội thêm chi phí thông gió và làm mát hầm lò khai thác than và làm giảm hiệu suất của các nhà máy điện
Tiêu thụ điện cho các thiết bị sinh hoạt như điều hòa nhiệt độ, quạt điện, bảo quản lương thực, thức ăn gia tăng theo nhiệt độ
Chi phí tưới và tiêu trong sản xuất lúa, cây công nghiệp gia tăng
c) Đối với tài nguyên nước
- Tích cực:
+ Lượng mưa tăng làm tăng lưu lượng và dự trữ nước ngọt, khắc phục hiện tượng thiếu nước ngọt trên thế giới
- Tiêu cực:
+ Đối với thế giới:
Trang 9 Băng tan làm nước biển dâng, đồng thời làm giảm lượng nước ngọt đáng kể trên Thế giới do phần lớn nước ngọt được dự trữ trong lớp băng tuyết khổng lồ
Xâm nhập mặn làm nguồn nước bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt và sản xuất
Lượng mưa thất thường, hạn hán kéo dài làm độ dự trữ nước ngọt sụt giảm nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng thiếu nước ngọt trên thế giới
Các hiện tượng cực đoan: lũ lụt, sóng thần, núi lửa… gián tiếp làm ảnh hưởng đến chất lượng nước cho người dân
Nhiệt độ tăng làm bay hơi nhanh nước trong các hồ chứa
+ Đối với Việt Nam:
Hạn hán kéo dài gây thiếu nước trầm trọng, ảnh hưởng đến sinh hoạt, sản xuất của người dân
Nước biển dâng, xâm nhập mặn làm ô nhiễm nguồn nước ngọt, đặc biệt ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Lượng mua trung bình năm giảm, làm ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt, sản xuất
Câu 6
1 Khái niệm
Khái niệm tình trạng dễ bị tổn thương có xuất xứ từ các nghiên cứu về thảm hoạ tự nhiên hoặc an ninh lương thực, hiện là một khái niệm còn gây nhiêu tranh cãi (Vincent, 2004: 1) Khái niệm tình trạng dễ bị tổn thương được hiểu theo nhiều cách khác nhau, do đó cũng được ứng dụng theo các hướng khác nhau Trong biến đổi khí hậu, khái niệm được ứng dụng rộng rãi nhất là khái niệm do IPCC (2007) xây dựng:
“Tình trạng dễ bị tổn thương là mức độ (degree) mà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu Tình trạng dễ bị tổn thương là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao động khí hậu, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống (IPCC 2001, p.995)”
Do đó TTDBTT (Vulnerability) có thể được biểu thị là hàm của độ phơi nhiễm (Exposure),
độ nhạy (Sensitivity) và khả năng thích ứng (Adaptation Capacity)
V = f(E, S, AC)
Trong đó độ phơi nhiễm (Exposure) được IPCC định nghĩa là bản chất và mức độ đến một
hệ thống chịu tác động của các biến đổi thời tiết đặc biệt; độ nhạy (Sensitivity) là mức độ của một hệ thống chịu tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp) có lợi cũng như bất lợi bởi các tác nhân kích thích liên quan đến khí hậu; và khả năng thích ứng (Adaptive Capacity) là khả năng của một hệ thống nhằm thích nghi với biến đổi khí hậu (bao gồm sự thay đổi cực đoan của khí hậu), nhằm giảm thiểu các thiệt hại, khai thác yếu tố có lợi hoặc để phù hợp với tác động của biến đổi khí hậu
Theo Viện Giảm thiểu Thiên Tai (Disaster Reduction Institute – DRI) thì TTDBTT là sự kết hợp của các yếu tố về mức độ phơi nhiễm (Exposure), độ nhạy (Suscepbility) và khả năng thích ứng (Coping Capacity)
TTDBTT = Mức độ phơi nhiễm(Exposure) x Mức độ nhạy(Suscepbility)/Khả năng thích ứng (Coping Capacity)
Turner (Chủ tịch Ủy ban Biến đổi khí hậu Anh) và các tác giả khác (2003) miêu tả tính dễ bị tổn thương là hàm số có 3 đặc điểm chồng chéo: độ phơi nhiễm (Exposure), độ nhạy
(Sensitivity) và khả năng thích ứng (Adaptation Capacity) Metzger và các tác giả khác (2006) đã lý thuyết hóa khái niệm này và biểu diễn bằng toán học tính dễ bị tổn thương (V)
là hàm gồm độ phơi nhiễm (E), độ nhạy (S) và khả năng ứng phó (AC)
Trang 10V = f(E, S, AC)
Cũng theo Turner thì TTDBTT có thể được biểu thị là hàm của các tác động tiềm tàng (Potential Impacts – PI) và khả năng thích ứng (Adaptation Capacity): V = f(PI, AC)
Như vậy, có thể nhìn nhận rằng cả định nghĩa của IPCC, khái niệm của DRI và khái niệm của Turner và Metzger đều có chung các tác động tiềm tàng (hay nguy cơ) trong đó chúng là
hàm gồm độ tiếp xúc và độ nhạy cảm.Từ những trình bày trên có thể coi, TDBTT là mức
độ tổn thất, suy thoái của hệ thống, mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của nó trước các tác động từ bên ngoài (tai biến và các hoạt động nhân sinh).
2 Các thành phần của TDBTT
Tính dễ bị tổn thương trên thế giới được nghiên cứu ở các quy mô, khía cạnh khác nhau: vùng/khu vực, hệ thống tự nhiên - xã hội, kinh tế, chính trị, môi trường, y tế dưới các tác động và hoàn cảnh đa dạng (sự BĐKH toàn cầu, tai biến thiên nhiên và biến động môi trường, biến động giá cả hàng hóa trên thị trường, sự khan hiếm lương thực, sự thay đổi tổ chức và thể chế, thảm họa công nghệ, chiến tranh,…)
Các nghiên cứu TDBTT hiện nay đều được tiếp cận theo 3 thành phần: các mối đe dọa hay được nhận định là các yếu tố gây tổn thương; các đối tượng bị tổn thương hay độ nhạy cảm của các đối tượng trước mối đe dọa và khả năng ứng phó, phục hồi, chống chịu, thích ứng
- Các mối đe dọa có khi là từ bên ngoài như các tai biến (Hazards): động đất, sóng
thần, xói lở bờ biển, ô nhiễm môi trường, tràn dầu và các tai biến liên quan đến BĐKH như bão, lũ lụt, hạn hán, dâng cao mực nước biển, nhiễm mặn…, nhưng cũng có khi là từ bên
trong bị gây ra bởi các sự kiện kinh tế - xã hội
- Đối tượng bị tổn thương được nhận định là các đối tượng dễ bị bị thay đổi khi chịu tác động của các mối đe dọa Các đối tượng bị tổn thương được đề cập, nghiên cứu như cộng đồng người, đô thị, đới ven biển, hệ sinh thái ven biển, các ngành kinh tế (du lịch, thủy sản, nông nghiệp,…)
- Khả năng ứng phó/phục hồi của hệ thống là khả năng của một hệ thống cho phép nó hấp thụ và tận dụng hay thậm chí thu lợi từ những biến đổi và thay đổi tác động đến hệ thống và do đó làm cho hệ thống tồn tại mà không làm thay đổi về chất trong cấu trúc hệ thống (Hooling, 1973); là khả năng thích nghi với các hoàn cảnh đang thay đổi và do vậy đảm bảo tính an toàn của các phương thức sống (Luttrell, 2001); là khả năng của thực thể (con người, tài nguyên, các hệ sinh thái, đới ven biển, ) để chống lại, phản ứng và phục hồi lại từ những tác động của tự nhiên (SOPAC, 2004); là mặt đối lập của tổn thương, là khả năng của xã hội hoặc hệ sinh thái để thích ứng trước những thay đổi lớn hoặc bất ngờ
(Adger và cộng sự, 2005; Allenby và Fink, 2005) Khả năng ứng phó/phục hồi được đánh giá qua các tiêu chí như độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, giáo dục, mức độ giàu/nghèo của cồng đồng bị tổn thương, mật độ cơ sở hạ tầng của vùng bị tổn thương, chính sách bảo
vệ, bảo tồn tài nguyên - môi trường,…
3
- Các đối tượng DBTT do biến đổi khí hậu bao gồm:
+ Người nghèo, người không có đất sản xuất
+ Phụ nữ, trẻ em
+ Người khuyết tật, người không có khả năng lao động
- Phân tích TDBTT do biến đổi khí hậu đối với nhóm người nghèo, người không có đất sản xuất
+ Người nghèo, người không có đất sản xuất thì sinh kế chủ yếu của họ là nông nghiệp, hoặc làm thuê, làm mướn liên quan đến nông nghiệp