Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, tư tưởng này được hoàn thiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 cụ thể: - Xác địng rõ con đường, mục tiêu của cách mạ
Trang 1
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trải qua những giai đoạn hình thành và phát triển nào? Tại sao nói đến năm 1930, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam được hình thành về
cơ bản?
*Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trải qua những giai đoạn hình thành và phát triển
- Giai đoạn từ năm 1890 – 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng
- Giai đoạn từ năm 1911 – 1920: Tìm tòi khảo nghiệm con đường cứu nước và tìm thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc
- Giai đoạn từ 1921 – 1930: Tư tưởng HCM được hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam
- Giai đoạn từ 1930 – 1945: Người vượt qua khó khăn thử thách, nhưng Người vẫn kiên trì giữ vững lập trường cách mạng
- Giai đoạn từ 1945 – 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hòan thiện
* Đến năm 1930, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam được hình thành về
cơ bản Bởi vì, đến đây, Hồ Chí Minh đã tìm thấy lời giải cho những vấn đề cơ bản nhất của cách mạng Việt Nam Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, tư tưởng này được hoàn thiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930
cụ thể:
- Xác địng rõ con đường, mục tiêu của cách mạng Việt Nam: con đường cách mạng vô sản mà nội dung là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, thực chất là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
- Xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản thế giới
- Xác định lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản
- Động lực của cách mạng là khối đại đoàn kết dân tộc mà nòng cốt là liên minh công – nông và lao động trí óc
- Phương pháp cách mạng là dùng bạo lực cách mạng để giành và giữ chính quyền nhà nước, bảo vệ thành quả của cách mạng
Trang 2Những tư tưởng trên không chỉ soi sáng sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam mà còn góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay Vì vậy, mà khẳng định đến năm
1930, tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ bản được hình thành
Câu 2: Chứng minh rằng sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh là một tất yếu lịch sử
- Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước và thế giới có nhiều biến động
Trong nước, chính quyền triều Nguyễn từng bước khuất phục tư bản Pháp Sau khi bình định xong Việt Nam, thực dân Pháp đã biến nước ta từ 1 nước phong kiến độc lập thành 1 nước thuộc địa, nửa phong kiến Với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa sâu sắc Xã hội Việt Nam xuất hiện 2 mâu thuẫn cơ bản: mau thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tôc Để thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa thành công thực dân Pháp vẫn duy trì hệ thống tay sai phong kiến bên cạnh phương thức tư bản Với chính sách khai thác thuộc địa tàn khốc thực dân Pháp đã đẩy nhân dân ta vào cảnh khốn cùng, một cổ hai tròng Nhưng với truyền thống đấu tranh bất khuất, tinh thần yêu nước và đoàn kết dân tộc khắp cả 3 miền Bắc – Trung – Nam, đã có rất nhiều cuộc đấu tranh chống Pháp nổ ra theo những khuynh hướng khác nhau, nhưng cuối cùng đều thất bại và bị dìm trong biển máu, từ cuộc đấu tranh theo hệ tư tưởng Nho giáo của các Nhà Nho yêu nước như: Nguyễn Trung Trực, Trương Định, Đặng Như Mai, Phan Đình Phùng…cho đến phong trào cần vương và các phong trào theo khuynh hướng dân chủ tư sản Với sự thất bại của phong trào cần vương
đã chấm dứt một thời kỳ đấu tranh yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến Sau khi tạm thời dập tắt được các
phong trào đấu tranh yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất
Trong chính sách khai thác thuộc địa này, thực dân Pháp thực hiện chính sách mở cửa, khác với chính sách của triều đình phong kiến Nhà Nguyễn là bế quan, tỏa cảng Cùng với chính sách mở cửa, những làn sóng văn
hóa từ bên ngoài có điều kiện xâm nhập vào Việt Nam, trong đó có làn sóng văn hóa của các cuộc cách mạng tư sản như Minh Trị của Nhật Bản, Tân Hợi Trung Quốc, cách mạng tư sản Anh(1640), cách mạng Mỹ(1776), cách mạng Pháp(1789)…Chịu ảnh hưởng bởi các cuộc cách mạng tư sản, phong trào đấu tranh yêu nước Việt
Nam lúc này lại mang một màu sắc mới, đó là cuộc đấu tranh theo hệ tư tưởng tư sản, tiêu biểu như Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học… nhưng tất cả đều thất bại Phong trào yêu nước Việt Nam đang lâm vào một cảnh khó khăn, khủng hoảng về con đường đấu tranh để giải phóng dân tộc khỏi chủ nghĩa thực dân để
Trang 3- Quê hương và gia đình:
HCm sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước có truyền thống
Thân phụ: cụ Nguyễn Sinh sắc là một nhà nho yêu nước có cái nhìn cấp tiến, cụ có tư tưởng lấy dân làm gốc, lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cuộc cải cách chính trị xã hội của mình Chính tấm gương hiếu học, vợt mọi khó khăn, nếp sống giản dị, thanh bạch của môth nhà nho là những nhân tố tác động đến việc hình thành tư tưởng của HCM sau này
Bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu của Bác là một người phụ nữ tiêu biểu cho những người pn Việt Nam, Với đức tính chịu thương chịu khó, tần tảo, chung thủy và hi sinh cả cuộc đời cho chồng cho con Thấy được vai trò và công lao của người mẹ sau này Bác đã sớm đề ra tư tưởng GPPN
Anh và chị của Bác đều là những người tham gia hoạt động cách mạng sôi nổi, bị tù đày nhưng lúc nào cũng thể hiẹn tinh thần kiên trung
Nghệ Tĩnh quê hương của Hồ Chí Minh là vùng đất địa linh nhân kiệt, đây là quê hương của những Danh nhân văn hóa thế giới, là quê hương của những anh hùng chống giặc như: Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Mai Thúc Loan Một vùng quê giàu truyền thống cách mạng
Bối cảnh thời đại đầu thế kỷ XX
+ Khi Nguyễn Ái Quốc bước lên vũ đài chính trị Chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh đã chuyển sang
giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, xác lập phạm vi thống trị trên toàn thế giới Lúc này, không chỉ dừng lại ở sự áp bức giai cấp trong một dân tộc mà mở rộng ra sự áp bức đối với các dân tộc khác Hầu hết tất cả các nước ở
chấu Á, châu Phi và Mỹ la tinh đều trở thành thuộc địa của các nước đế quốc lớn, như: Anh, Pháp, Nhật, Mỹ, Tây Ba Nha, Bồ Đào Nha…
+ Với sự thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga(1917), đã cỗ vũ các phong trào giải phóng các dân tộc trên thế giới, chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực trên thế giới, đánh dấu bước chuyển biến lớn của thời
đại – thời đại quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã nêu lên một tấm gương sáng về sự giải phóng các dân tộc bị áp bức “mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”
+ Với sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (3.1919), góp phần quan trọng trong việc giải phóng các dân tộc thuộc địa và sự lớn mạnh của phong trào công nhân ở các nước phương Tây
Trang 4Câu 3: Trình bày nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc thuộc địa.
- Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc.
HCM không bàn về vấn đề dân tộc nói chung Xuất phát từ nhu cầu khách quan của dân tộc
VN, đặc điểm của thời đại, Người dành sự quan tâm đến các thuộc địa, vạch ra thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa là vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ ách thống trị,
áp bức bốc lột của nước ngoài, giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập.
Trong những tác phẩm của Người, đặc biệt những bài có tiêu đề Đông Dương và nhiều bài khác, Người lên án mạnh mẽ chế độ cai trị hà khắc, sự bốc lột tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục Người chỉ rõ sự đối kháng giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa, đó
là mâu thuẫn không thể điều hòa được.
- Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc.
+ Để giải phóng dân tộc cần lựa chọn một con đường phát triển của dân tộc, vì phương
hướng phát triển dân tộc quy định những yêu cầu và nội dung trước mắt của cuộc đấu tranh giành độc lập Mỗi phương hướng phát triển gắn liền với một hệ tư tưởng và một giai cấp nhất định.
Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử nhân loại, HCM khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trng bối cảnh thời đại mới là CNXH.
+ Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là một vấn đề hết sức mới mẽ.
Từ một nước thuộc địa đi lên CNXH phải trải qua nhiều giai đoạn chiến lược khác nhau Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản VN, HCM viết: “làm tư sản dân quyền CM và thổ địa CM để đi tới xã hộ Cộng Sản” con đường đó kết hợp trong đó cả nội dung dân tộc, dân chủ và CNXH; xét về thực chất chính là con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
+ “Đi tới xã hội Cộng Sản” là hướng phát triển lâu dài Nó quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, đoàn kết mọi lực lượng dân tộc, tiến hành các cuộc CM chống đế quốc và chống phong kiến cho triệt để Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở thuộc địa.
Đó cũng là nét độ đáo, khác biệt với con đường phát triển của các dân tộc đã phát triển lên CNTB ở phương tây.
+ Độc lập dân tộc là nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa.
- Hồ Chí Minh tiếp cận quyền dân tộc từ quyền con người được xác lập từ giá trị cách mạng thế giới mang lại.
Nhận thức về quyền con người của Hồ Chí Minh là sự kế thừa những giá trị tư tưởng trong hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Cách mạng Mỹ 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền của Cách mạng Pháp 1791, trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ khẳng định: “Tất cả mọi
Trang 5người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp khẳng định: “Người ta sinh
ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Như vậy, từ quyền con người mà thành tựu các cuộc cách mạng Mỹ và Pháp đưa lại, Hồ Chí
Minh đã nâng lên thành quyền dân tộc, Người khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới
đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Từ
lý luận về quyền con người mà hai cuộc cách mạng Mỹ và Pháp xác lập, trở thành giá trị phổ biến, khi lý luận xâm nhập vào thực tiễn, cụ thể là thực tiễn của cách mạng Việt Nam đã hình thành một khái niệm mới, đó là quyền dân tộc Hồ Chí Minh đã nâng quyền con người lên thành quyền dân tộc là hợp với lẽ tự nhiên
- Nội dung của độc lập dân tộc
Độc lập dân tộc đã trở thành một giá trị thiêng liêng của dân tộc Việt Nam Hồ Chí Minh
đã kế thừa những truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử Đó là ý thức về sự thể hiện chủ quyền của dân tộc, tiêu biểu như Bình Ngô Đại
Cáo của Nguyễn Trãi đã khẳng định: “Như nước Đại Việt ta từ trước; Vốn xưng nền văn hiến
đã lâu; núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” Hay như Lý Thường Kiệt
cũng từng khẳng định tương tự: “Sông núi nước Nam vua Nam ở; Rành rành định phận ở sách
trời” Đây là những tư tưởng thể hiện ý thức độc lập tự chủ của dân tộc đã được ghi nhận Đó là
một lẽ tự nhiên.
Kế thừa những tư tưởng đó, khi Việt Nam mất độc lập, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc Trong quá trình hoạt động cứu nước tư tưởng về độc lập chủ quyền dân tộc của Hồ Chí Minh là thống nhất trước sau như một Bao giờ cũng nung nấu một ý chí, quyết tâm để đấu tranh giành độc lập dân tộc Đó là một khát vọng cháy bổng của Hồ Chí Minh và độc lập đã trở thành một nguyên tắc
bất biến Nội dung độc lập dân tộc trong tư tưởng HCM bao gồm những nội dung sau:
Trang 6+Độc lập dân tộc phải gắn liền với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ
+ Độc lập là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của các dân tộc
+ Độc lập dân tộc phải gắn liền với bình đẳng dân tộc, quyền tự quyết tự lựa chọn con đường phát triển mà không lệ thuộc bên ngoài
+ Nền độc lập dân tộc phải găn với các quyền tự do cơ bản gắn lền với dân chủ + Độc lập phải gắn liền với CNXH
Chính vì khát vọng mang đến độc lập cho dân tộc nên cả cuộc đời của Người đã phấn đấu không mệt mỏi vì sự nghiệp đó Khi sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam 1930, Người xác
định mục tiêu chính trị của Đảng là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.
Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”
Khi trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người chủ trì Hội nghị Trung ương
lần thứ 8(5.1941) và trong thư Kính cáo đồng bào, chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải
phóng cao hơn hết thảy”1 Khi thời cơ thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa đã đến, Người đưa ra
quyết tâm “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường sơn này cũng phải giành cho được độc lập dân
tộc” Cách mạng Tháng 8 thành công, Người khẳng định cho thế giới biết khát vọng của dân
tộc Việt Nam “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước
tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Đối với Hồ Chí Minh, hoà bình chân chính trong nền độc lập dân tộc để nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cũng là quyền cơ bản của dân tộc Hoà bình không thể tách rời độc lập dân tộc, và muốn có hoà bình thật sự thì phải có độc lập thật sự Hồ Chí Minh đã nêu:
“Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hoà bình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ độc lập và chủ quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”2 Những tư tưởng đó đã tạo nên chân lý có giá trị lớn
nhất cho mọi thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.
Trang 7- Ở các nước đấu tranh giành độc lập dân tộc thì chủ nghĩa dân tộc chân chính vẫn là một động lực lớn của đất nước.
Chủ nghĩa dân tộc mà Hồ Chí Minh phát động ở đây, là chủ nghĩa dân tộc chân chính, nó hoàn toàn xa lạ đối lập với chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vị kỷ, hẹp hòi, chủ nghĩa dân tộc sô
vanh Chủ nghĩa dân tộc chân chính là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc được hun đúc qua
hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước
Khi nhấn mạnh yếu tố cần phát động chủ nghĩa dân tộc, Hồ Chí Minh đã xuất phát từ điều kiện lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ Đó là mâu thuẫn dân tộc là chủ yếu, sự đối kháng giai cấp ở Việt Nam lúc này không diễn ra kịch liệt giống như ở phương Tây Cho nên, cần phải phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết các giai cấp để làm cách mạng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách khéo léo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, phát động chủ nghĩa dân tộc chân chính Nhưng danh nhân quốc tế cộng sản mà phát động thì chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ trở thành chủ nghĩa quốc tế Và Người xem đó là một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời.
Nếu các nhà kinh điển cho rằng, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp, thì Hồ Chí Minh vận dụng vào điều kiện mới của Việt Nam và khẳng định chủ nghĩa dân tộc là động lực quyết định thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Câu 4: Phân tích quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất và đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội
a) Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
- Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ khát vọng giải phóng dân tộc Việt Nam.
- Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ phương diện đạo đức và nhân văn.
- Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ văn hóa và con người Việt Nam.
b) Bản chất và đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội
Trang 8Quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất của chủ nghĩa xã hội là thống nhất với các nhà kinh điển Bằng thực tiễn chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, vào thời điểm khác nhau Người đã nêu bản chất của chủ nghĩa xã hội thông qua các cách định nghĩa khác nhau là:
- Định nghĩa chủ nghĩa xã hội như là một chế độ hoàn chỉnh, bao gồm nhiều mặt khác nhau của đời
sống: Làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, mọi người đều có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc Mục tiêu là giải phóng nhân dân lao động khỏi nghèo nàn, lạc hậu
- Định nghĩa chủ nghĩa xã hội là một mặt nào đó (kinh tế, chính trị…) Nhiệm vụ quan trọng nhất là phát
triển sản xuất Sản xuất là mặt trận chính của chúng ta Người viết:… “lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng làm của chung Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên trừ những người già cả, đau yếu và trẻ em…”
- Hồ Chí Minh tiếp cận bằng cách xác định mục tiêu của chủ nghĩa xã hội: không có người bóc lột
người, ai cũng phải lao động, có quyền lao động; thực hiện công bằng, bình đẳng… “là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng tự do”, “là đoàn kết, vui khoẻ”…
Từ những khái quát đó, chúng ta có thể thấy, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh chủ nghĩa xã hội trên các phương diện như:
+ Chủ nghĩa xã hội là một chế độ chính trị do nhân dân lao động làm chủ.
+ Chủ nghĩa xã hội là một chế độ có nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của khoa học
- kỹ thuật Nền tảng kinh tế là chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, không còn người bóc lột người
+ Chủ nghĩa xã hội là một xã hội công bằng hợp lý. Có hệ thống các quan hệ xã hội lành mạnh, công bằng, bình đẳng, không còn bóc lột, áp bức, bất công, không còn sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc, giữa thành thị và nông thôn, con người có điều kiện phát triển toàn diện, có sự hài hòa trong sự phát triển giữa xã hội và tự nhiên
+ Chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hóa và đạo đức.
+ Chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của nhân dân, do nhân dân xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Trang 9Câu 5: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam
a) Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có những nét rất đặc sắc vì đây không chỉ là tư tưởng thuần tuý mà tư tưởng đó đã được hoá thân vào cương lĩnh, đường lối, chiến lược nên có thể gọi là chiến lược đại doần kết Vì đây là vấn đề có tinh xuyên suốt qua các giai đoạn cách mạng, lâu dài, sống còn, vì nó có tinh nguyên tắc, có hệ quan điểm, hệ giải pháp được đưa vào cuộc sống và thể hiện hết sức sinh động
- Đại đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, nhằm hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh để chiến thắng kẻ thù Với ý ngfhĩa đó, Hồ Chí Minh đã rút
ra một kết luận có tính chân lý, đó là: “Đoàn kết làm ra sức mạnh, Đoàn kết làm ra sức mạnh của chúng ta Đoàn kết là then chốt của thành công Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết; thành công thành công đại thành công Đoàn kết là điểm mẹ, điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt” Đoàn kết của chúng ta được thể hiện rất rõ là: Toàn dân chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ; một chí: quyết không chịu mất nước và cũng chỉ có một mục đích: quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào khi đụng đầu vào bức tường đó, chúng đều bị thất bại Nhờ có sự đồng tâm hiệp lực mà với gậy tầm vong và súng hỏa mai lúc đầu, chúng ta đã liên tiếp thắng địch Nhờ sự đoàn kết mà lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc bị áp bức đã đánh bại cuộc xâm lược của một đế quốc hùng mạnh, đã giành độc lập cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày, đưa lại quyền dân chủ thực sự cho nhân dân
b) Đoàn kết dân tộc là mục tiêu nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc
- Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu nhiệm vụ hàng đầu của Đảng
Tư tưởng này, được Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ trong thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp năm
1923 Mở đầu Người viết: Chúng ta phải làm gì? Đối với tôi, câu trả lời rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập Tư tưởng Đại đoàn kết của Hồ Chí Minh hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử cụ thể, đã trở thành chiến lược Đoàn kết của Đảng ta Sớm nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề năm 1925, Người đã thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đòng chí hội Đây là tổ chức hạt nhân để sau khi về nước họ quy tụ toàn dân Việt Nam cùng tiến tới đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh nhằm cứu nước nhà
Trang 10Người căn dặn cán bộ rằng, chuẩn bị đấu tranh trước hết phải tuyên truyền mạnh mẽ để lôi cuốn đa số
quần chúng tham gia Chính vì vậy mà Người nói, nhiệm vụ huấn luyện của ta là, thứ nhất, là đoàn kết; thứ hai
là làm cách mạng kháng chiến để giành độc lập… và điều đó được thể hiện rất rõ trong mục đích của Đảng ta
là: Đoàn kết toàn dân phụng sự Tổ quốc, khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh chủ trương không ngừng tăng cường củng cố vững chắc hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội làm cho mục đích cuộc cách mạng của dân, do dân và vì dân ngày càng mang lại hiệu quả thiết thực cho toàn dân, đồng thời ngày càng huy động được đông đảo nhất dân chúng, không bỏ sót một ai vào khối Đại đoàn kết toàn dân
- Đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân vì vậy Đảng phải
có sứ mệnh tập hợp, giác ngộ, chuyển những đòi hỏi khách quan tự phát của quần chúng thành tự giác
Câu 6: Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng và nêu ý nghĩa của quan điểm đó đối với công tác xây dựng Đảng .
Thứ nhất, là nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong học thuyết về Đảng kiểu mới Nguyên tắc này, vừa bảo đảm quyền chủ động, sáng tạo của mọi thành viên trong tổ chức, vừa bảo đảm thống nhất ý chí và hành động vì sự nghiệp
chung Nguyên tắc tập trung dân chủ là thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, cá nhân
phải phục tùng đoàn thể để đảm bảo sức chiến đấu của toàn Đảng(tất nhiên, ý kiến cá nhân được tôn trọng và bảo lưu ý kiến) Dân chủ là cơ sở bảo đảm cho tập trung thống nhất Tập trung dựa trên cơ sở dân chủ làm cho Đảng ta thống nhất ý chí cùng hành động trở thành một tổ chức chính trị tiên phong
Thứ hai, là nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách
Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là dân chủ tập trung Tập thể lãnh đạo, nghĩa là mọi vấn đề đều đưa ra trước chi bộ bàn bạc thảo luận để cùng nhau giải quyết, một vấn đề có nhiều ý kiến, nhiều người sẽ cho nhiều ý kiến hay Khi đã bàn bạc đi đến thống nhất, thì giao cho một người phụ trách để tránh tình trạng trong chờ, ỷ lại làm cho công việc không trôi chảy Lãnh đạo mà không tập thể thì dễ dẫn đến tệ bao biện, chuyên quyền độc đoán
Thứ ba, là nguyên tắc tự phê bình và phê bình
Nguyên tắc này là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh, thông qua nguyên tắc này
để giúp nhau cùng tiến bộ, tăng cường sự đoàn kết, Người nhắc nhở mỗi cán bộ đảng viên, hàng ngày phải kiểm điểm, tự phê bình sửa chữa như soi gương, rữa mặt hàng ngày Được như vậy thì trong cơ thể Đảng sẽ không có