Đề cương Kinh Tế Việt Nam Câu1: Nguồn lực phát triển kinh tế là gì? Cách phân loại nguồn lực. Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên hệ thống tài sản quốc gia nguồn nhân lực đường lối chính sách vốn và thị trường... ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định. Nguồn lực không phải là bất biến. Nó thay đổi theo không gian và thời gian. Con người có thể làm thay đổi nguồn lực theo hướng có lợi cho mình. Phân loại nguồn lực: Căn cứ vào nguồn gốc: Vị trí địa lý: Lãnh thổ Việt Nam bao gồm hai bộ phận: phần đất liền ( diện tích 330.991 km2) và phần biển rộng lớn gấp nhiều lần so với phần đất liền. Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa. Đặc điểm đó đã làm cho thiên nhiên nước ta khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tây Á Đông Phi Tây Phi và tác động sâu sắc tới các hoạt động kinh tế.Việt Nam nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương gần trung tâm Đông Nam Á có một vùng biển rộng lớn giàu tiềm năng. Vị trí tiếp giáp trên đất liền và trên biển làm cho nước ta có thể dễ dàng giao lưu về kinh tế và văn hoá với nhiều nước trên thế giới.Việt Nam nằm ở khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động của thế giới. Nền kinh tế của các nước trong khu vực đứng đầu là Xingapo sau đó là Malaixia Thái Lan Inđônêxia có nhiều chuyển biến đáng kể và ngày càng chiếm vị trí cao hơn trong nền kinh tế toàn cầu cũng như ở châu Á Thái Bình Dương. Trong nhiều năm liên tục trước cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào nửa sau thập kỷ 90 tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực đạt khá Nước ta có sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiêncao. Vị thế của ASEAN ngày càng được khẳng định. Nguồn lực tự nhiên: Nước ta có sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên. Ở trình độ phát triển kinh tế như hiện nay tài nguyên đất giữ vị trí quan trọng. Việt Nam có khoảng 8 0 triệu ha đất nông nghiệp bao gồm đất ở đồng bằng ở các bồn địa giữa núi ở đồi núi thấp và các cao nguyên. Nguồn nhiệt ẩm lớn tiềm năng nước dồi dào số lượng các giống loài động thực vật biển và trên cạn khá phong phú nguồn khoáng sản đa dạng v.v... là những thuận lợi mà thiên nhiên đã dành cho chúng ta. Tuy nhiên nước ta cũng có nhiều tai biến do thiên nhiên gây ra như bão lũ lụt hạn hán v.v... Gần như không năm nào không có thiên tai gây ra những tổn thất nhất định cho nền kinh tế và cho đời sống nhân dân ở vùng này hay vùng khác. Tài nguyên thiên nhiên là một trong những nguồn lực cơ bản trong việc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội. Do đó vấn đề sử dụng hợp lí đi đôi với việc bảo về và tái tạo tài nguyên thiên nhiên đang được đặt ra nhằm đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện tại và trong tương lai.
Trang 1Đề cương Kinh Tế Việt Nam Câu1: Nguồn lực phát triển kinh tế là gì? Cách phân loại nguồn lực.
Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên hệ thống tàisản quốc gia nguồn nhân lực đường lối chính sách vốn và thị trường ở cảtrong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc pháttriển kinh tế của một lãnh thổ nhất định
Nguồn lực không phải là bất biến Nó thay đổi theo không gian và thời gian.Con người có thể làm thay đổi nguồn lực theo hướng có lợi cho mình
Phân loại nguồn lực:
- Căn cứ vào nguồn gốc:
Vị trí địa lý: Lãnh thổ Việt Nam bao gồm hai bộ phận: phần đất liền ( diện tích
330.991 km2) và phần biển rộng lớn gấp nhiều lần so với phần đất liền ViệtNam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đặc điểm đó đã làm cho thiên nhiênnước ta khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tây Á Đông Phi Tây Phi và tácđộng sâu sắc tới các hoạt động kinh tế.Việt Nam nằm ở phía Đông bán đảoĐông Dương gần trung tâm Đông Nam Á có một vùng biển rộng lớn giàu tiềmnăng Vị trí tiếp giáp trên đất liền và trên biển làm cho nước ta có thể dễ dànggiao lưu về kinh tế và văn hoá với nhiều nước trên thế giới.Việt Nam nằm ởkhu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động của thế giới Nền kinh
tế của các nước trong khu vực đứng đầu là Xingapo sau đó là Malaixia TháiLan Inđônêxia có nhiều chuyển biến đáng kể và ngày càng chiếm vị trí cao hơntrong nền kinh tế toàn cầu cũng như ở châu Á Thái Bình Dương Trong nhiềunăm liên tục trước cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào nửa sau thập kỷ 90tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực đạt khá Nước ta có sự
đa dạng về tài nguyên thiên nhiêncao Vị thế của ASEAN ngày càng đượckhẳng định
Nguồn lực tự nhiên: Nước ta có sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên Ở trình
độ phát triển kinh tế như hiện nay tài nguyên đất giữ vị trí quan trọng ViệtNam có khoảng 8 0 triệu ha đất nông nghiệp bao gồm đất ở đồng bằng ở cácbồn địa giữa núi ở đồi núi thấp và các cao nguyên
Nguồn nhiệt ẩm lớn tiềm năng nước dồi dào số lượng các giống loài động thựcvật biển và trên cạn khá phong phú nguồn khoáng sản đa dạng v.v là nhữngthuận lợi mà thiên nhiên đã dành cho chúng ta
Tuy nhiên nước ta cũng có nhiều tai biến do thiên nhiên gây ra như bão lũ lụthạn hán v.v Gần như không năm nào không có thiên tai gây ra những tổn thấtnhất định cho nền kinh tế và cho đời sống nhân dân ở vùng này hay vùng khác
Trang 2Tài nguyên thiên nhiên là một trong những nguồn lực cơ bản trong việc xâydựng và phát triển kinh tế - xã hội Do đó vấn đề sử dụng hợp lí đi đôi với việcbảo về và tái tạo tài nguyên thiên nhiên đang được đặt ra nhằm đảm bảo nhữngđiều kiện tốt nhất cho sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện tại và trongtương lai.
Nguồn lực kinh tế - xã hội:
- Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
• Nguồn lực trong nước (nội lực): bao gồm tất cả các nguồn lực bên trongcủa một quốc gia Cụ thể bao gồm 3 nguồn lực chủ yếu sau:
+Vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên
+ Dân cư và nguồn lao động
+ Đường lối phát triển KT-XH và cơ sở vật chất kỹ thuật
Nguồn lực trong nước đóng vai trò quan trọng có tính chất quyết định trongviệc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
• Nguồn lực bên ngoài (ngoại lực): bao gồm tất cả các nguồn lực bên ngoàicủa một quốc gia, có ảnh hưởng đến sự phát triển KT – XH của quốc gia đó Đó
là vốn , thị trường, khoa học kĩ thuật, xu thế phát triển…
Nguồn lực nước ngoài có vai trò quan trọng thậm chí đặc biệt quan trọng đốivới nhiều quốc gia đang phát triển ở những giai đoạn lịch sử cụ thể
Mặc dù có vai trò khác nhau nhưng giữa nguồn lực trong nước và nguồnlực nước ngoài có mối quan hệ mật thiết với nhau Đây là mối quan hệ hỗ trợhợp tác bổ sung cho nhau trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi và tôn trọngđộc lập chủ quyền của nhau Xu thế chung là các quốc gia cố gắng kết hợpnguồn lực trong nước (nội lực) với nguồn lực nước ngoài (ngoại lực) thành sứcmạnh tổng hợp để phát triển kinh tế nhanh và bền vững
Vai trò của nguồn lực: Nguồn lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển
KT – XH của mỗi quốc gia:
– Vị trí địa lí tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cận haycùng phát triển giữa các vùng trong một nước
– Nguồn lực tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất Đó là những nguồnlực vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống, vừa phục vụ cho phát triển kinh tế
– Nguồn lực KT – XH, nhất là dân cư và lao động, nguồn vốn, KH – KT và côngnghệ, chính sách và đường lối phát triển có vai trò quan trọng để lựa chọn chiếnlược phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn
Trang 3Câu 2: Phân tích những hạn chế trong nguồn lực khoa học và công nghệ của nướcta:
Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung KH&CN nước
ta còn nhiều mặt yếu kém, còn có khoảng cách khá xa so với thế giới và khu vực,chưa đáp ứng được yêu cầu là nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xã hội.Năng lực khoa học và công nghệ còn nhiều yếu kém:
Đội ngũ cán bộ KH&CN còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, các "tổng công trình sư",đặc biệt là thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao Cơ cấu nhân lựcKH&CN theo ngành nghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý
Đầu tư của xã hội cho KH&CN còn rất thấp, đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanhnghiệp Trang thiết bị của các viện nghiên cứu, trường đại học nhìn chung còn rấtthiếu, không đồng bộ, lạc hậu so với những cơ sở sản xuất tiên tiến cùng ngành
Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lựcKH&CN chất lượng cao, đặc biệt đối với những lĩnh vực KH&CN tiên tiến;chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KH&CN cũng như sự nghiệp CNH, HĐH đấtnước
Hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tư vấn chuyển giaocông nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng còn yếu kém cả về
cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của hội nhậpkhu vực và quốc tế
Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu KH&CN, giáo dục - đào tạo và sảnxuất - kinh doanh; thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu - pháttriển, các trường đại học và doanh nghiệp
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, nước ta còn có khoảng cách rấtlớn về tiềm lực và kết quả hoạt động KH&CN: tỷ lệ cán bộ nghiên cứuKH&CN trong dân số và mức đầu tư cho nghiên cứu khoa học theo đầu ngườithấp; các kết quả nghiên cứu - phát triển theo chuẩn mực quốc tế còn rất ít Nhìn chung, năng lực KH&CN nước ta còn yếu kém, chưa giải đáp được kịpthời nhiều vấn đề của thực tiễn đổi mới, chưa gắn kết chặt chẽ và đáp ứng đượcyêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội
Trình độ công nghệ của nhiều ngành sản xuất còn thấp và lạc hậu:
Trang 4Ngoài những công nghệ tiên tiến được đầu tư mới trong một số ngành, lĩnh vựcnhư bưu chính - viễn thông, dầu khí, hàng điện tử tiêu dùng, sản xuất điện, ximăng, nhìn chung trình độ công nghệ của các ngành sản xuất nước ta hiện lạchậu khoảng 2 - 3 thế hệ công nghệ so với các nước trong khu vực Tình trạngnày hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế trong bốicảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ chậm được đổi mới, còn mang nặng tính hành chính:
Quản lý hoạt động KH&CN còn tập trung chủ yếu vào các yếu tố đầu vào, chưachú trọng đúng mức đến quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra và ứng dụng kếtquả nghiên cứu vào thực tiễn Các nhiệm vụ KH&CN chưa thực sự gắn kết chặtchẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Công tác đánh giá nghiệm thu kếtquả nghiên cứu chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế
Cơ chế quản lý các tổ chức KH&CN không phù hợp với đặc thù của lao độngsáng tạo và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các tổ chứcKH&CN chưa có được đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực vàhợp tác quốc tế để phát huy tính năng động, sáng tạo
Việc quản lý cán bộ KH&CN theo chế độ công chức không phù hợp với hoạtđộng KH&CN, làm hạn chế khả năng lưu chuyển và đổi mới cán bộ Thiếu cơchế đảm bảo để cán bộ KH&CN được tự do chính kiến, phát huy khả năng sángtạo, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật Chưa có những chính sáchhữu hiệu tạo động lực đối với cán bộ KH&CN và chính sách thu hút, trọngdụng nhân tài, chế độ tiền lương còn nhiều bất hợp lý, không khuyến khích cán
bộ KH&CN toàn tâm với sự nghiệp KH&CN
Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN chưa tạo thuận lợi cho nhàkhoa học, chưa huy động được nhiều nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; cơchế tự chủ về tài chính của các tổ chức KH&CN chưa đi liền với tự chủ về quản
lý nhân lực nên hiệu quả còn hạn chế
Thị trường KH&CN chậm phát triển Hoạt động mua, bán công nghệ và lưuthông kết quả nghiên cứu KH&CN còn bị hạn chế do thiếu các tổ chức trunggian, môi giới, các quy định pháp lý cần thiết, đặc biệt là hệ thống bảo hộ hữuhiệu quyền sở hữu trí tuệ
Trang 5Tóm lại, công tác quản lý nhà nước về KH&CN còn chưa đổi mới kịp so vớiyêu cầu chuyển sang kinh tế thị trường.
b) Những nguyên nhân chủ yếu
Đường lối chính sách phát triển KH&CN của Đảng và Nhà nước chưa được quán triệt đầy đủ và chậm được triển khai trong thực tiễn:
Quan điểm KH&CN là nền tảng và động lực phát triển đất nước đã được khẳngđịnh trong các nghị quyết của Đảng nhưng trên thực tế chưa được các cấp, cácngành, các địa phương quán triệt đầy đủ và triển khai trong thực tiễn phát triểnkinh tế - xã hội
Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KH&CNchậm được thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật; việc tổ chức, chỉđạo thực hiện chính sách thiếu kiên quyết nên kết quả còn hạn chế
Năng lực của các cơ quan tham mưu, quản lý KH&CN các cấp còn yếu kém:
Cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp ăn sâu vào tiềm thức và thói quen củakhông ít cán bộ KH&CN và quản lý KH&CN đã tạo ra sức ỳ không dễ khắcphục trong cơ chế mới, không đáp ứng được yêu cầu về đổi mới quản lýKH&CN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bối cảnhtoàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
Chưa làm rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với những hoạt động KH&CN màNhà nước cần đầu tư phát triển như: các lĩnh vực KH&CN trọng điểm, ưu tiên;nghiên cứu chiến lược, chính sách phát triển; nghiên cứu cơ bản; nghiên cứumang tính công ích, v.v ; cũng như chưa có cơ chế, chính sách phù hợp đối vớicác hoạt động KH&CN cần và có thể vận dụng cơ chế thị trường, như nghiêncứu ứng dụng và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN
Quản lý nhà nước đối với khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp trong hệthống KH&CN chưa được tách biệt rõ ràng, làm cho công tác quản lý các tổchức KH&CN còn mang nặng tính hành chính
Chậm tổng kết thực tiễn để nhân rộng các điển hình tiên tiến về gắn kết giữanghiên cứu KH&CN với giáo dục - đào tạo và sản xuất - kinh doanh
Đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ còn hạn hẹp:
Trang 6Đầu tư xây dựng tiềm lực KH&CN trong thời gian dài còn chưa được chú trọngđúng mức, thiếu tập trung vào lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, dẫn đến cơ sở hạtầng KH&CN lạc hậu, hiệu quả đầu tư thấp.
Thiếu quy hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao ở các lĩnh vựcKH&CN ưu tiên, đặc biệt là cán bộ KH&CN đầu ngành, các "tổng công trìnhsư"
Cơ chế quản lý kinh tế chưa tạo môi trường thuận lợi cho phát triển khoa học vàcông nghệ:
Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay còn duy trì sự bao cấp gián tiếp của Nhà nước,độc quyền của doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh, làm chocác doanh nghiệp nhà nước có tư tưởng ỷ lại, chưa quan tâm đến ứng dụng cáckết quả nghiên cứu KH&CN và đổi mới công nghệ Thiếu cơ chế, chính sáchhữu hiệu để gắn kết giữa KH&CN với sản xuất - kinh doanh và khuyến khíchdoanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN Hệ thống tài chính, tiền tệkém phát triển cũng không tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự huy động đượcnguồn vốn để đầu tư cho KH&CN
Trang 7Câu 3 Thế nào là tăng trưởng kinh tế? Hãy phân tích những thành tựu trong tăngtrưởng kinh tế Việt Nam?
Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi lí luận về phát triển kinh
tế Tăng trưởng và phát triển KT là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trênthế giới, là thước đo chủ yếu vê sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của quốc gia.Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập(hay sản lượng) đc tính cho toàn bộnền kinh tế trong 1 thời kì nhất định (thường là 1 năm) Tăng trưởng kinh tế cóthể biểu thị bằng 1 số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệtăng trưởng) – là tỷ lệ phần trăm của sản lượng của thời kì trước đó hoặc thời kìgốc
TTKT còn đc xem xét dưới góc độ chất lượng Chất lượng TTKT đc thể hiện ở
sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện qua các đặcđiểm sau:
- Tốc độ tăng trưởng cao và duy trì đc trong 1 thời gian dài
- Phát triển có hiệu quả, thể hiện qua năng suất lao động, năng suất tài sảncao và ổn định, hệ số, hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) phù hợp, và đóng góp củanhân tố năng suất tổng hợp (TFP) cao
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng nâng cao hiệu quả, phù hợp vớithực tiễn của nền kinh tế trong mỗi thời kỳ
- Nền KT có tính cạnh tranh cao
- TTKT gắn liền với đảm bảo hài oàn đời sống xã hội
- TTKT đi đôi với bảo vệ mội trường sinh thái
Phân tích những thành tựu trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam:
Tốc độ tăng trưởng (TĐTT) chung của nền kinh tế
Nền KT VN đã có sự tăng trưởng liên tục và với tốc độ cao trong suốt 1 thờigian dài sau đổi mới So với các thời kỳ 1976-1985 (đặt khoảng 2% /năm),1986-1990 (đạt xấp xỉ 3,9%/năm), thì tốc độ tăng trưởng bình quân năm của
Trang 8thời kỳ 1991-1995 (8.81%), 1996-2000 (6,95%) và 2001-2006 (7,62%) là rất ấntượng Tính bình quân trong cả giai đoạn 1991-2006, tốc độ TTKT đạt7,59%/năm) Đó là tốc độ tăng thuộc loại cao nhất so với các nước và vùng lãnhthổ trên thế giới, chỉ thấp hơn TĐTT bình quân năm của Trung Quốc trong thờigian tương ứng Hơn thế, tời gian TTKT tiên tục cua VN đã dạt 28 năm vượt kỷlục 23 năm của Hàn Quốc, và cũng chỉ thua kỷ lục 30 năm mà TQ đang nắmgiữ cho đến nay.
Từ năm 1991 đến nay, nền kinh tế VN trải qua 3 thời kỳ tăng trưởng kinhkhác nhau
Thời kỳ 1991-1995 thể hiện những bước chuyển đầu tiên của nền KT sang cơ
chế thị trường, nền KT tăng trưởng nhanh chóng, đạt đỉnh điểm cào năm 1995(9.54%).Nhìn chung, giai đoạn chuyển đổi này đã xây dựng nền móng cơ sởcho cơ chế thị trường phát triển những năm sau đó
Thời kỳ 1996-1999 là khoảng thời gian TĐTT KT có chiều đi xuống do tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á Bình quân ca thời kỳ,TĐTT KT dạt 7% không đảm bảo kế hoạch 5 năm đề ra
Thời kỳ 2001-2007 chứng kiến đà tăng trưởng trở lại của nền kinh tế Cùng với
các chương trình cải cách hướng vào cải tổ cơ cấu kinh tế, tốc độ cổ phần hóacác doanh nghiệp nhà nước cũng tăng lên, đặc biệt từ năn 2002 trở lại đây.TĐTT bình quân 7 năm đạt hơn 7,7%
Mặc dù nền kinh tế đã trải qua ba thời kỳ tăng trưởng thăng trầm, nhưng nhìnchung nhịp độ tăng trưởng cao và khá ổn định, ngoại trừ năm 1999, các nămcòn lại đều có TĐTT trên 5% Nhờ đó quy mô GDP của Việt Nám tăng nhanhchóng, năm 2006 đã gấp 3,2 lần năm 1990
Từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế bắt đầu một chu kỳ suy giảm tăng trưởng dochịu tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu với TĐTT năm 2008 giảmcòn 6,315 so với 8,46% năm 2007, năm 2009 chỉ đạt 5.32%
TĐTT của các nhóm ngành trong nền kinh tế
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
Khu vực nông, lâm,ngư nghiệp của Vn tăng trưởng liên tục trong cả giaiđoạn 1991-2008, với tốc độ bình quan 4%/năm Giá trị sản xuất của cả ngành
Trang 9luôn tăng trưởng vượt mức đạt ra trong kế hoạch 5 năm 1991-1995 và 2000.
1996-Công nghiệp và xây dựng
Từ năm 1991 đến nay, TĐTT ngành công nghiệp và xây dựng đạt trungbình là 10,9%/năm, một tốc độ tăng vừa cao, vừa liên tục, vừa trong thời giandài và chưa bao giờ đạt được trong lịch sử nền kinh tế nước ta Giá trị sản xuấttoàn ngành qua gần 16 năm tăng trưởng liên tục đạt 2 con số, nhờ đó quy môsản xuất của ngành năm 2006 xấp xỉ gần 8 lafn so với năm 1991 Năm 2008, dobắt đàu bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế toàn cầu, TĐTT của ngành giảmmạnh chỉ còn 5,98% Năm 2009 TĐTT chỉ đạt 5,52%
Tăng trưởng cao của công nghiệp và xây dựng đạt được ở cả 3 khu vực(doanh nghiệp nhà nước , ngoài quốc doanh, và có vốn đầu tư nước ngoài)
TĐTT của công nghiệp trong thời kỳ 1991-2008 đạt cao ở một số ngànhchủ yếu như than, hóa chất, da, gỗ, kim loại… Đặc biệt trong những năm gầnđây, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máy, thiết
bị máy tính, điện… đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của toàn ngành
Dịch vụ
Có thể nói, khu vực dịch vụ phản ánh rõ nét nhất sự thăng trầm của tăngtrưởng kinh tế VN 1991-1995, ngành dịch vụ có TĐTT khá cao98,6%/năm) ,tốc độ này giảm sút dần trong 5 năm 1996-2000 (5,7%/năm), nhưng trở lại đàtăng trưởng kể từ năm 2001 đến nay 2005-2006 , GDP ngành dịch vụ tạo ratăng trên mức 8% Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế mà TĐTT của ngànhdịch vụ có giảm nhẹ xuống còn 7,37% vào năm 2008 Năm 2009 TĐTT củakhu vực chỉ đạt 6,63%
Trang 10Câu 4: Phân tích những hạn chế trong tăng trưởng kinh tế của VN?
a Tốc độ tang trưởn kinh tế chưa đủ để đưa đất nước nước thoát khỏi tình trạng tụt hậu so với thế giới và khu vực
- Thu nhập giữa VN và các nc trong khu vực đang dần đc thu hẹpdần Năm 1991, GDP theo tỷ giá sức mua tương đương PPP chưa bằng ½ củaPhilippine hay Indonexia, khoảng 1/5 của Thái lan thì sau 17 năm tang đángkểleen mức ¾ và 1/3
- Tuy nhiên so vs TQ thì có sự tuth hậu đáng kể Năm 1991, GDPtheo tỷ giá PPP chênh lệch chỉ khoảng 20% thì đến năm 2008 đã lên đến 50%theo tỷ giá hối đoái và 2784 USD theo PPP Tuy nhiên vẫn còn thấp so vs mứcbình quân chung của khu vực, Châu Á và toàn thế giới
-Xét về nhiều mặt, động thái tang trưởng của nền kinh tế VN chưa thểhiện rõ quyết tâm và khả năng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu ph/triển
b.Tăng trưởng kte chủ yếu dựa trên những nhân tố theo chiều rộng
•Năng suất lao động xh thấp
-Năng suất lao động của nước ta còn rất thấp so vs các nước trong khu vực:
+ Năm 2205 ms đạt khoảng 19,7 triệu đồng/năm, tháp hơn nhiều so vsnước ASEAN, chỉ tang 4,9% năm thời kỳ 1991-2005
+ Giá trị thặng dư tạo ra thấp, ảnh hưởng đến tích lũy tái đầu tư để tái sảnxuất và mở rộng nâng cao mức sống
•Các nguồng tang trưởng và sdung vốn
-Từ năm 1996-2004, tỷ trọng đóng góp vào GDP của yếu tố vốn tang từ34,6% lên tới 61,5% trong khi vốn là yếu tố nước ta còn thiếu
-Năng lực sản xuất của vốn đầu tư cũng đang giảm thấp đến mức báođộng vs chỉ số ICOR tang mạnh trong giai đoạn 1991-2008 và thể hiện chu kỳ
rõ rệt cùng vs tang trưởng GDP: năm 1991, hệ số ICOR tính ddc là 2,9 thì năm
2008, hệ số này 6,66 Trong vòng 17 năm, hế số ICOR tang 2,3 lần
c.Tăng trưởng cao nhưng sức mạnh cạnh tranh của nền kt còn yếu
•Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước
- Từ năm 2000-2004, tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh và tỷsuất lợi nhuận trên doanh thu đều thấp nhưng có xu hướng tang lên ở tất cảthành phần kte vs mức độ khác nhau.:
Trang 11+ Phân theo thành phần kte, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài cao nhất là tang lien tục từ 9% năm 2000 lên 13%năm2201 Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có tỷ suất lợi nhuận trên vốngiảm từ 2,3% năm 2001 xuống còn 1,6% năm 2204
+ Xét chung toàn bộ các doanh nghiệp trong nền kte, tỷ suất lợi nhuậntrên vốn bình quân diai đoạn 2000-2004 tăng từ 3,74% lên 4,85% Tuy nhiên,đén măm 2005 tỷ suất này chỉ còn 4,42% năm
+ Số doanh nghiệp bị lỗ vẫn chiếm tới 27,4% năm 2005
-Quy mô doanh nghiệp VN còn nhỏ và siêu nhỏ, trình độ công nghệ thấp
•Năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước: so sánh năng lựccạnh tranh của VN vs một số nước trong khối ÁEAN thì VN chỉ xếp trênCampuchia ( thứ 103) Tuy nhiên VN đạt đc nhiều thành tích trong việc duy trìkte vĩ mô nhưng còn yếu kém trong đổi mới công nghệ
d.Tăng trưởng cao nhưng gia tang nhẹ tình trạng bất bình đẳng:
-VN đã thành công trong việc giảm nghèo từ đầu năm 1990 nhưng lại đikèm vs sự gia tăg nhẹ về bất bình đẳng Phân hóa giàu ngèo giữa các tầng lớpdânc ư, gữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi tang lên
+ Hệ số chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20%nghèo nhất trong tổng dân số các nước đã tang từ 7,6 lần năm 1999 lên 8,3 lầnnăm 2004
+ Tỷ trọng thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất so vs tổng thunhập của tất cả các hộ dân cư năm 1999 là 18,7% và năm 2004 là 1,7%
-Như vậy, sự bất bình đẳng về thu nhập ở nước ta tuy có tăng nhưng vsmức độ thấp và phân bố thu nhập trong các nhóm đan cư hiện nay ở nước ta làtương đối bình đẳng
e.Tăng trưởng cao nhưng kéo theo tình trạng khai thác cạn kiệt tài nguyên gây ô nhiễm môi trường.
-Dự tăng trưởng cao trong th/gi qua tiềm ẩn nhiều hủy hoạiveef môi trường sinhthái; khai thác bừa bãi, lãng phí tài nguyên thiên nhiên gây ra những trận lũ lụtlớn thường xảy ra ở miền Trung và Nam bộ, ô nhiễm nguồn nước…
-Công nghệ lạc hậu, yếu kém đc sử dụng trong nền kte hiện nay gây haophí và thất thoát tài nguyên nước và năng lượng
- Nguyên nhân cơ bản gây hủy hoại môi trường xuất phát từ áp lực kte, donhu cầu mưu sinh
Trang 12Câu 5 Thế nào là chính sách tài khóa và ngân sách nhà nước?
1 Chính sách tài khóa:
- Chính sách tài khóa là chính sách điều chỉnh tổng mức hoạt động củanền kinh tế thông qua chi tiêu của chính phủ và thuế
- Đây là 1 trong những chính sách kinh tế vĩ mô cơ bản , có vai trò:
+ Góp phần thực hiện vai trò kinh tế của chính phủ trong nền kinh tế thịtrường
+ Nhằm hạn chế các khuyết tật của cơ chế thị trường
+ Hướng nền kinh tế tới hiệu quả, công bằng và ổn định
- Chính sách tài khoá có thể tạm chia thành chính sách tài khoá cân bằng,chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tài khoá thắt chặt
• Chính sách tài khoá cân bằng
- Là chính sách tài khoá mà theo đó, tổng chi tiêu của Chính phủ cân bằngvới các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác mà không phải vaynợ
• Chính sách tài khoá mở rộng (hay còn gọi là chính sách tài khóa thâmhụt)
- Là chính sách nhằm tăng cường chi tiêu của chính phủ so với nguồn thubằng cách:
(i) gia tăng mức độ chi tiêu chính phủ mà không tăng nguồn thu; hoặc(ii) giảm nguồn thu từ thuế mà không giảm chi tiêu; hoặc
(iii) vừa gia tăng mức độ chi tiêu của chính phủ đồng thời giảm nguồn thu
từ thuế
- Chính sách tài khoá mở rộng có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế,tạo thêm nhiều việc làm Tuy nhiên, chính sách tài khoá mở rộng thường dẫnđến việc Chính phủ phải vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách
• Chính sách tài khoá thắt chặt (hay còn gọi là chính sách tài khóa thặngdư)
Trang 13- Là chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằngcách:
(i) chi tiêu của chính phủ ít đi nhưng không tăng thu; hoặc
(ii) không giảm chi tiêu nhưng tăng thu từ thuế; hoặc
(iii) vừa giảm chi tiêu vừa tăng thu từ thuế
- Chính sách tài khoá thắt chặt được áp dụng khi nền kinh tế có dấu hiệutăng trưởng nhanh và thiếu bền vững hoặc khi nền kinh tế gặp tình trạng lạmphát cao Việc này có thể làm thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sáchlớn lên so với trước đó
2 Ngân sách Nhà nước
- NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đãđược cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong mộtnăm để bảo đảm thực hiện các chức năng của Nhà nước
- NSNN bao gồm hai cấp: Trung ương và địa phương Quan hệ giữa haicấp này được thực hiện theo nguyên tắc chủ yếu là phân định nguồn thu vànhiệm vụ chi cụ thể; thực hiện bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấpdưới để bảo đảm sự cân bằng, phát triển cân đối và thực hiện được nhiệm vụcủa các vùng, các địa phương
- NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phảilớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào đầu
tư phát triển
• Các khoản thu NSNN
- Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí Đây là các khoản thu bắt buộc thựchiện nghĩa vụ của các doanh nghiệp, các tổ chức và công dân do những yêu cầutất yếu về kinh tế - chính trị - xã hội để bảo đảm các hoạt động của bộ máy Nhànước, giữ vững quốc phòng, an ninh và bảo đảm các sự nghiệp xã hội
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước
- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân thuộc đối tượng phảiđóng góp theo luật định
Trang 14- Các khoản viện trợ: Hình thức chủ yếu là viện trợ không hoàn lại, củacác tổ chức, các tổ chức phi chính phủ của các nước và quốc tế Nguồn thu nàychủ yếu phụ thuộc vào đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Đây lànguồn thu nhất thời, không ổn định, không tính toán trước một cách chính xác.
- Các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi được đưa vào cân đốiNSNN Khoản thu này được thực hiện thông qua quan hệ tín dụng Nhà nướctrong nước và quốc tế để sử dụng vào mục đích đầu tư phát triển kinh tế Đây lànguồn thu không thuộc quyền sở hữu Nhà nước, đến kỳ hạn Nhà nước phảithanh toán
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
• Các khoản chi lấy từ NSNN: Chi NSNN là một hệ thống các quan
hệ rất đa dạng, phức tạp, bao gồm:
- Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội
- Các khoản chi bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộmáy Nhà nước Đây là những khoản chi bắt buộc trong NSNN của mọi quốc gianhằm để giữ vững an ninh tổ quốc, ổn định chính trị - xã hội
- Các khoản chi trả nợ của Nhà nước:
- Các khoản chi dự trữ Nhà nước (từ 3 - 5% tổng số dư) Đây là khoản dựphòng cho những nhu cầu đột xuất bất trắc có thể xảy ra trong khi thực hiệnnhiệm vụ của Nhà nước
- Các khoản chi viện chợ và các khoản chi khác theo quy định của phápluật
Trang 15Câu 6: : Hãy giới thiệu một số thuế cơ bản hiện hành ở Việt Nam: Giá trị gia tăng (VAT), tiêu thụ đặc biệt, thu nhập cá nhân, thuế nhà – đất.
1 Thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiêntrên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng - vào năm 1954 Thuế giá trị giatăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắc là TVA),tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắc là VAT), dịch ra tiếng Việt là thuếgiá trị gia tăng Khai sinh từ nước Pháp, thuế giá trị gia tăng đã được áp dụngrộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liênminh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu á trong đó
có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế giá trị gia tăng Các quốc gia kháccũng đang trong thời ký nghiên cứu loại thuế này.Tính đến nay đã có khoảng
130 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng
Ở nước ta, tại ký họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nước ta đã thôngqua Luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực thi hành kề từ ngày 01-01-1999 Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loạithuế gián thuđánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinhtrong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sáchNhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ
2 Thuế thu nhập đặc biệt
Điều 1 Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, ngườinộp thuế, căn cứ tính thuế, hoàn thuế, khấu trừ thuế và giảm thuế tiêu thụ đặcbiệt
Điều 2 Đối tượng chịu thuế
1 Hàng hóa:
a) Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai,ngửi, ngậm;
b) Rượu;