MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1 LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1 1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1 1.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1 1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu 3 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu 4 1.5. Phương pháp nghiên cứu 4 1.6. Dự kiến những đóng góp khoa học của luận văn 4 1.7. Kết cấu của luận văn 5 CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 6 2.1. Lý luận về đầu tư phát triển 6 2.1.1. Khái niệm đầu tư phát triển 6 2.1.2. Đặc điểm của đầu tư phát triển 7 2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển 8 2.2. Lý luận về tăng trưởng kinh tế 12 2.2.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế 12 2.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 14 2.2.4. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế 16 2.3. Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 19 2.3.1. Đầu tư tác động đến qui mô tăng trưởng 19 2.3.2. Đầu tư tác động đến chất lượng tăng trưởng 26 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 29 3.1. Tổng quan về hoạt động đầu tư và tình hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013 29 3.1.1. Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển ở Việt Nam 29 3.1.2. Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 36 3.2. Tác động của đầu tư đến qui mô tăng trưởng kinh tế 45 3.2.1. Tác động của đầu tư đến tổng cầu 45 3.2.2. Tác động của đầu tư đến tổng cung 54 3.2.3. Tác động của đầu tư đến tốc độ tăng trưởng kinh tế 61 3.3. Tác động của đầu tư đến chất lượng tăng trưởng kinh tế 63 3.3.1. Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế 63 3.3.2. Đầu tư tác động đến khoa học công nghệ 68 3.3.3. Đầu tư tác động đến chất lượng nguồn nhân lực 72 3.4. Những hạn chế và nguyên nhân của hoạt động đầu tư phát triển ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 74 3.4.1. Những hạn chế của hoạt động đầu tư phát triển ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 74 3.4.2. Nguyên nhân của những hạn chế 80 CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 84 4.1. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội và định hướng đầu tư của Việt Nam 84 4.1.1. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đến năm 2020 84 4.1.2. Định hướng đầu tư của Việt Nam 85 4.2. Giải pháp tăng cường tác động của hoạt động đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 86 4.2.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về đầu tư 86 4.2.2. Huy động nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế 87 4.2.3. Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư 88 4.2.4. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng 90 4.2.5. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng lao động 92 4.2.6. Giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia 93 4.2.7. Tăng cường vốn đầu tư nhằm phát triển khoa học công nghệ 95 4.2.8. Đổi mới công tác quản lý, kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực đầu tư 96 KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Từ khi giành được độc lập năm 1975 và đặc biệt là từ sau năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt mục tiêu phát triển kinh tế lên hàng đầu với định hướng đến năm 2020 Việt Nam
sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp Để đạt được mục tiêu trên thì đầu tư là một yếu tố rất quan trọng vì đầu tư (hay đầu tư phát triển) không những làm gia tăng tài sản cá nhân của nhà đầu tư mà còn trực tiếp làm gia tăng tài sản vật chất cho nền kinh tế Đầu tư có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế Đã có nhiều lý thuyết
về đầu tư được nêu ra nhằm phân tích tác động của đầu tư đến tăng trưởng và phát triển dưới nhiều khía cạnh khác nhau như lý thuyết về số nhân đầu tư, lý thuyết về gia tốc đầu tư, mô hình Harrod – Domar
Chính phủ Việt Nam với vai trò của mình đã luôn nỗ lực tạo điều kiện tốt nhất cho mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và kết quả đạt được là Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức kinh tế thế giới WTO bắt đầu từ ngày 11/01/2007 Điều này vừa là cơ hội vừa là thách thức lớn đặt ra với kinh tế Việt Nam Chính vì vậy, Chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân cần có cái nhìn đúng đắn
về đầu tư để nền kinh tế Việt Nam luôn vững vàng trước làn sóng vốn tràn vào Việt Nam và luôn biến động mạnh mẽ
Vì các lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tác động của đầu
tư tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam”.
1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế, trong những năm gần đây đã có nhiều cuộc hội thảo, các công trình nghiên cứu về tác động của đầu tư lên tăng trưởng kinh tế như:
- Luận văn Thạc sĩ: Nghiên cứu thống kê mối quan hệ giữa vốn đầu tư phát
Trang 2triển với tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995 – 2001 (2003) của tác giả
Phạm Thị Mai Anh, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn sử dụng nhiều phương pháp và công cụ thống kê để phân tích mối quan hệ giữa vốn đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế Việt Nam Nghiên cứu mối quan hệ giữa tốc độ tăng đầu tư với tốc độ tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư với tốc độ tăng trưởng kinh tế Từ đó đề xuất các kiến nghị thúc đẩy tẳng trưởng kinh tế
- Luận văn Thạc sĩ: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam (2007 ) của tác giả Vũ Văn Hưởng, Đại học Kinh tế quốc dân Luận
văn đi nghiên cứu tác động của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế, cho thấy thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, các hạn chế còn tồn tại và giải pháp khắc phục nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Luận văn Thạc sĩ: Đầu tư với tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam (2007)
của tác giả Trần Ngọc Ninh, Đại học Kinh tế quốc dân: luận văn đi nghiên cứu các vấn đề: đầu tư, vai trò của đầu tư với tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế theo ngành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, vai trò của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, các vấn đề về CNH – HĐH Luận văn đi tìm hiểu thực trạng đầu
tư tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Việt Nam Từ đó luận văn đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Việt Nam
- Luận văn Thạc sĩ: Mô hình kinh tế lượng phân tích thụ hưởng từ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008 (2009) của tác giả Nguyễn Thị
Thu Hà, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn đưa ra các mô hình kinh tế lượng trong đó tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động kích thích các yếu tố trong
mô hình Nhờ có tăng trưởng kinh tế kích thích các nhân tố liên quan và các nhân tố này sau đó tác động ngược trở lại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn
- Luận văn Thạc sĩ: Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế (2009) của tác giả Nguyễn Thị
Trang 3Lan Anh, Đại học Kinh tế quốc dân Dựa trên các lý thuyết đầu tư của các nhà kinh
tế (lý thuyết tân cổ điển, lý thuyết về quỹ nội bộ đầu tư…), luận văn đi đánh giá vai trò, tác động của đầu tư lên tăng trưởng và phát triển kinh tế giai đoạn 2001 – 2009
Từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trong những năm qua, nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến tăng trưởng, đầu tư theo những nội dung khác nhau Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu tác động riêng rẽ của đầu tư lên tăng trưởng kinh tế Việt Nam
1.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là dựa trên số liệu thu thập được về hai biến đang nghiên cứu là đầu tư và tăng trưởng kinh tế, cùng với việc áp dụng các phương pháp phân tích định lượng để đánh giá tác động của đầu tư tới tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn nghiên cứu, các hạn chế gặp phải Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường tác động của đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong các năm tiếp theo
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư, tăng trưởng kinh tế, tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
- Phân tích và đánh giá thực trạng tình hình sử dụng vốn đầu tư, tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam và tác động của đầu tư lên tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2000 – 2013 thông qua số liệu thu thập và phương pháp định lượng
- Trên cơ sở thực trạng đó, luận văn rút ra các nguyên nhân của hạn chế
- Đề xuất các giải pháp nhằm giải pháp tăng cường tác động của hoạt động đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Tác động của đầu tư tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 41.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp đồ thị, phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, phương pháp mô hình hóa sử
sử dụng công cụ kinh tế lượng
Bằng việc sử dụng chuỗi thời gian từ năm 2000 đến năm 2013 của các biến Tổng sản phẩm quốc nội, đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, nhập khẩu và lao động kết hợp với các phương pháp nghiên cứu từ giản đơn đến phức tạp như đã nêu nhằm tìm ra mối quan hệ giữa các biến Từ đó tác giả tìm ra nguyên nhân và đề ra giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
1.6 Dự kiến những đóng góp khoa học của luận văn
Việc hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về đầu tư - đầu tư phát triển, tăng trưởng và tác động của đầu tư tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam nhằm phân tích làm sáng tỏ hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tác động của cơ cấu đầu tư lên tăng trưởng kinh tế thông qua các chỉ tiêu và phương pháp phân tích định lượng Việc làm này
có một ý nghĩa quan trọng tạo ra nền tảng lý luận giúp tác giả phân tích và đánh giá đúng tầm quan trọng của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế có căn cứ khoa học
Trên cơ sở đánh giá thực trạng tác động của đầu tư lên tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000- 2013 để nhìn nhận rõ vai trò của đầu tư với tăng trưởng kinh tế cũng như tìm ra những hạn chế còn tồn tại Từ đó tác giả có thêm cơ sở thực
tế để đề xuất các giải pháp kiến nghị
1.7 Kết cấu của luận văn
Trang 5Luận văn được chia làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế.
Chương 3: Thực trạng tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam Chương 4: Giải pháp tăng cường tác động của hoạt động đầu tư đến tăng
trưởng kinh tế
Trang 6CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG
CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1 Lý luận về đầu tư phát triển
Sự phát triển kinh tế nhanh hay chậm được quyết định bởi quy mô vốn đầu
tư nhiều hay ít và cơ cấu đầu tư đúng hay sai
Đối với các nước đang phát triển, để đảm bảo tăng trưởng kinh tế cần có hàng loạt các yếu tố Đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế Muốn đẩy mạnh phát triển kinh tế trước hết phải có vốn đầu
tư Vì vậy, ta lần lượt đi tìm hiểu các nội dung về đầu tư dưới đây
2.1.1 Khái niệm đầu tư phát triển
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư Nguồn lực phải hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ
Kết quả đạt được là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học ), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ thuật ) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội
Trong các kết quả đạt được thì những kết quả trực tiếp của sự hy sinh các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc, mọi nơi không chỉ với người bỏ vốn mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội được thụ hưởng
Loại đầu tư đem lại các kết quả không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội được thụ hưởng, không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của người chủ đầu tư mà
cả của nền kinh tế chính là đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động sử dụng vốn trong hiện tại nhằm tạo ra những tài sản vật chất, trí tuệ mới, năng lực sản xuất mới và duy trì những tài sản hiện có, nhằm tạo thêm những việc làm và vì
Trang 7mục tiêu phát triển.
2.1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển
- Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn Vốn lớn ở đây được hiểu là so với năng lực tài chính của chủ đầu tư
và so với yêu cầu của dự án Vốn đầu tư lớn lại nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư Qui mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu
tư trọng tâm trọng điểm
- Thời kỳ đầu tư thường kéo dài Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đầu tư đến khi hoàn thành và đưa vào hoạt động Người ta thường phân
kỳ đầu tư trong từng giai đoạn thành những phần khác nhau Nhiều công trình đầu
tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm Dó đó vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
- Thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: Là thời kỳ từ lúc công trình hoàn thành cho đến lúc công trình không sử dụng được nữa
- Quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội
- Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu
tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, công suất sản xuất không đạt, công suất thiết kế, giá bán sản phẩm giảm Như lúc ít cung thì giá cao nhưng khi cung đã nhiều lên thì giá thành sẽ giảm xuống Sau thời gian dài đầu tư thì doanh thu sẽ giảm so với trước Khi đó lợi nhuận
Trang 8sẽ giảm và sẽ dẫn đến rủi ro.
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển
Đầu tư chịu tác động của nhiều nhân tố như:
Có hai chỉ tiêu định lượng để xác định lợi nhuận của một dự án đó là tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư và hệ số hoàn vốn nội bộ của dự án Tỷ suất lợi nhuận phản ánh mức lợi nhuận thu được tính trên một đơn vị đầu tư Hệ số hoàn vốn nội
bộ là lãi suất dự án có thể đạt được để đảm bảo cho tổng các khoản thu của dự án cân bằng với các khoản chi ở thời gian mặt bằng hiện tại
Các nhà đầu tư không căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận thông thường mà căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận biên để quyết định đầu tư Tỷ suất lợi nhuận biên thường giảm dần Tỷ suất lợi nhuận có quan hệ tỷ lệ thuận một chiều với đầu tư Một ngành có tỷ suất lợi nhuận cao thì người ta sẽ đầu tư vào nhiều Do đó, tỷ suất lợi nhuận giúp đưa ra quyết định đầu tư vào đâu Tuy nhiên nếu đầu tư nhiều thì hiệu quả đầu tư sẽ giảm Khi đó ta xét tới tỷ suất lợi nhuận biên
Tỷ suất lợi nhuận = lợi nhuận/vốn đầu tư (%)
Tỷ suất lợi nhuận biên = Thay đổi lợi nhuận / Thay đổi vốn đầu tư (%)
* Lãi suất tiền vay
Lãi suất được hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê dưới hình thức tiền tệ hoặc dưới dạng thức các tài sản khác nhau Khi đến hạn người đi vay trả cho người cho vay một khoản tiền dôi
ra ngoài tiền vốn gọi là tiền lãi Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi
là lãi suất Lãi suất là cơ sở để các cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra quyết
Trang 9định kinh tế của mình.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, chính sách lãi suất còn được sử dụng như một công cụ góp phần điều tiết kinh tế vĩ mô Thông qua việc thay đổi mức lãi suất, cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, chính phủ có thể tác động đến quy mô và tỷ trọng các loại vốn đầu tư Từ đó tác động đến quá trình điều chỉnh
cơ cấu, tốc độ tăng trưởng, sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp và tình hình lạm phát của đất nước Lãi suất còn điều tiết các luồng vốn đi ra đi vào của một nước Nếu mức lãi suất trong nước thấp hơn mức lãi suất trên thị trường vốn quốc tế trong bối cảnh mở cửa thị trường vốn thì dòng vốn đầu tư sẽ chảy ra nước ngoài, đầu tư trong nước giảm và ngược lại
Tuy nhiên bản thân lãi suất cũng có hai mặt, đó là khi tăng lãi suất cũng có nghĩa là chi phí sử dụng vốn trong đầu tư sẽ cao hơn Điều này làm giảm phần lợi nhuận thực của nhà đầu tư dẫn đến qui mô vốn có xu hướng giảm xuống
* Tốc độ phát triển của sản lượng quốc dân
Tốc độ phát triển của sản lượng quốc dân là một nhân tố vô cùng quan trọng quyết định tới đầu tư Việc thay đổi sản lượng chi phối xu hướng đầu tư trong các chu kỳ kinh doanh Tốc độ tăng của sản lượng với tốc độ tăng của đầu tư không giống nhau
Theo lý thuyết về gia tốc đầu tư thì tốc độ đầu tư chủ yếu do tốc độ thay đổi sản lượng quyết định Để sản xuất ra một đơn vị đầu ra cho trước cần phải có lượng vốn đầu tư nhất định Gọi X là hệ số gia tốc đầu tư thì:
X = Kt/Yt
Trong đó: Kt: vốn đầu tư tại thời điểm t
Yt: Sản lượng tại thời điểm t
X: Gia tốc đầu tư hay tỷ lệ phản ánh quan hệ giữa vốn đầu tư và sản lượng
Ta có: Kt = X*Yt
Nhìn vào công thức trên ta thấy khi X không đổi, sản lượng tăng sẽ làm cho vốn đầu tư tăng và ngược lại Hay nói cách khác, chi tiêu đầu tư phụ thuộc vào nhu cầu mua sắm tư liệu sản xuất, trang thiết bị, đến lượt mình, nhu cầu về tư liệu sản
Trang 10xuất lại phụ thuộc vào quy mô sản phẩm cần sản xuất ra Vì vậy, khi qui mô sản phẩm cần sản xuất tăng sẽ làm đầu tư tăng và ngược lại.
* Lợi nhuận thực tế
Lợi nhuận thực tế là một trong các yếu tố quyết định đến đầu tư Để làm sáng
tỏ vấn đề này ta đi tìm hiểu bản chất lợi nhuận thực tế và nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp thông qua lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư
Doanh thu của doanh nghiệp (TR) là khoản thu nhập của công ty do tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ sau khi đã trừ đi các chi phí trung gian trong quá trình sản xuất Tổng chi phí (TC) bao gồm các khoản như tiền công, tiền lương cho người lao động, tiền thuê đất, lãi suất tiền vay và thuế kinh doanh Chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí là lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp
Pr (trước thuế)= TR – TC
Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các khoản thuế thu nhập phải nộp sẽ còn lại lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
Pr sau thuế = Pr trước thuế – Tde
Phần lợi nhuận được giữ lại không phân phối được gọi là lợi nhuận để lại (lợi nhuận không chia) của doanh nghiệp Phần lợi nhuận để lại này cùng với các khoản trích khấu hao tài sản cố định tạo thành quỹ nội bộ của doanh nghiệp Nguồn vốn đầu tư có thể huy động từ quỹ nội bộ và vốn vay bên ngoài như vay các công ty tài chính hay phát hành chứng khoán ra công chúng Khi doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn vay bên ngoài, doanh nghiệp sẽ phải trả chi phí của vốn vay, nếu xảy ra rủi ro thì doanh nghiệp sẽ ở vào thế bị động và có thể có nguy cơ phá sản.Vì vậy, các doanh nghiệp thường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và
sự gia tăng của lợi nhuận thực tế sẽ làm tăng mức đầu tư của doanh nghiệp Ta có, vốn đầu tư là một hàm của lợi nhuận thực tế:
I = f (Lợi nhuận thực tế)
* Chu kỳ kinh doanh
Theo lý thuyết tính kinh tế của qui mô, trong những điều kiện nhất định thì việc gia tăng qui mô sản lượng sản xuất ra có thể giúp cho chủ đầu tư tiết kiệm chi phí sản xuất Do đó, yếu tố rất quan trọng quyết định đầu tư là mức sản lượng đầu
Trang 11ra Nhiều nhà kinh tế cho rằng mức sản lượng này chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh Mỗi thời kỳ khác nhau của chu kỳ kinh doanh sẽ phản ánh các mức chi tiêu đầu tư khác nhau.
Khi chu kỳ kinh doanh ở vào thời điểm đi lên, quy mô của nền kinh tế mở rộng, nhu cầu đầu tư của nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp gia tăng Ngược lại khi chu kỳ kinh doanh ở vào thời kỳ đi xuống, quy mô nền kinh tế thu hẹp, nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và các doanh nghiệp tư nhân thu hẹp lại
Vào thời kỳ đi lên của chu kỳ kinh doanh, nền kinh tế và các doanh nghiệp cần nhiều vốn đầu tư để mua sắm thêm các yếu tố đầu vào, tư liệu sản xuất để chuẩn bị cho một chu kỳ sản xuất mới Đối với các doanh nghiệp đã hoạt động một thời gian thì cần phải có một lượng vốn nhất định dành cho mua sắm nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất mới, sửa chữa thay thế máy móc thiết bị hư hỏng, lắp đặt mua sắm mới trang thiết bị mở rộng sản xuất, trả lương cho người lao động Khi chu kỳ kinh doanh ở vào thời điểm đi xuống, nhu cầu đầu tư của nền kinh tế nói chung cũng sẽ đi xuống theo vì đó là thời điểm cuối của mỗi quy trình sản xuất Các hãng sẽ không mua thêm máy móc, thiết bị hay nguyên vật liệu vì vẫn đủ các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất
* Rủi ro đầu tư
Khi quyết định bỏ vốn ra đầu tư thì chủ đầu tư luôn muốn tối thiểu hóa chi phí và đạt được lợi nhuận tối đa, do vậy trong quá trình chuẩn bị đầu tư các yếu tố bất định sẽ được tính toán đến Tuy nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng có thể tính toán được hết các yếu tố rủi ro có thể xảy ra và ảnh hưởng của nó đến dự án đầu tư Bản chất của kinh doanh là đầu tư hôm nay để tăng sản lượng trong tương lai, thực chất đó là việc dùng vận may làm con tin cho những bấp bênh trong tương lai Kinh doanh luôn chứa đựng đầy rủi ro và mạo hiểm Chính vì vậy các quyết định đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào các dự đoán mang tính chủ quan tiềm ẩn sự rủi
ro mặc dù các doanh nghiệp luôn cố gắng phân tích đầu tư, giảm đến mức tối đa những bấp bênh đầu tư của mình
Để mô tả rủi ro bằng định lượng, người ta có thể dùng xác suất để nói về khả
Trang 12năng xảy ra của một kết cục hoặc là sự nhận thức về kết cục sẽ xảy ra Khi xác xuất được xác định một cách chủ quan, những người khác nhau sẽ gắn với những xác xuất khác nhau cho những kết cục khác nhau và đưa ra những lựa chọn khác nhau
Có 2 chỉ số quan trọng giúp ta miêu tả và so sánh các lựa chọn rủi ro khác nhau giá trị kỳ vọng và độ biến thiên
* Môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư đóng vai trò như một chất xúc tác cho việc ra quyết định
bỏ vốn ra đầu tư của nhà đầu tư Do vậy môi trường đầu tư có một vị trí vô cùng quan trọng đối với hoạt động đầu tư Sự cải thiện môi trường đầu tư có tác động tích cực đến nền kinh tế làm tăng nguồn vốn đầu tư và tăng chi tiêu đầu tư toàn xã hội
Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả của các dự án đầu tư Hiện nay môi trường đầu tư thường được hiểu với hai khái niệm môi trường cứng và môi trường mềm
- Môi trường cứng: bao gồm các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển kinh tế gồm hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống thông tin liên lạc năng lượng
- Môi trường mềm: gồm hệ thống các dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư, hệ thống các dịch vụ tài chính – ngân hàng, kế toán
và kiểm toán
Môi trường đầu tư tốt sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư vào hoạt động kinh tế xã hội, nhằm tăng phúc lợi và năng suất là động lực của tăng trưởng giảm đói nghèo Nền kinh tế giàu có, ổn định và hiện đại sẽ là động lực thúc đẩy các nhà kinh doanh quyết định tiếp tục bỏ vốn để đầu tư phát triển
2.2 Lý luận về tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng được thể hiện ở qui mô và tốc
độ Qui mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay
Trang 13chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hay giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các tiêu chí và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế.
Một xã hội lành mạnh phải dựa trên cơ sở của một nền kinh tế vững chắc về vật chất Tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất cần thiết cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cho sự thay đổi các mục tiêu xã hội
2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế
a Tổng giá trị sản xuất (GO- Gross Output): là tổng giá trị sản phẩm dịch vụ được tạo ra trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
b Sản phẩm quốc nội (GDP- Gross Domestic Product): là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn lãnh thổ của mỗi quốc gia trong một thời kỳ nhất định
c Tổng thu nhập quốc dân (GNI- Gross National Income): là tổng thu nhập
từ sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công dân của một nước tạo nên trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
d Thu nhập quốc dân (NI- National Income): là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mới tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định NI chính là tổng thu nhập quốc dân (GNI) sau khi đã trừ đi khấu hao vốn cố định của nền kinh tế (Dp)
e Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI- National Disposable Income): là phần thu nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ thuần trong một thời
kỳ nhất định
f Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người, GNI/người): chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số Quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ báo quan trọng phản ánh và là tiền đề nâng cáo mức sống dân cư nói chung Sự gia tăng liên tục và ngày càng cao của chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và nó còn được sử dụng trong việc so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia
Trong số các chỉ tiêu nói trên, chỉ tiêu thường hay sử dụng nhất và phản ánh
Trang 14chính xác hơn cả là GDP và GDP trên đầu người.
GDP có ưu điểm hơn GO ở chỗ loại trừ trong tính toán phần giá trị trung gian của hàng hóa và đáng tin cậy hơn các chỉ tiêu khác vì nó phản ánh toàn bộ giá trị gia tăng hay giá trị sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định của một quốc gia Vì vậy, khi đánh giá tăng trưởng kinh
tế em sẽ sử dụng chỉ tiêu mức độ và tốc độ tăng GDP
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế chịu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của hai nhóm nhân tố: Nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế
- Lao động: là một yếu tố đầu vào của sản xuất Lao động được xem xét cả khía cạnh vật chất (số lượng lao động) và khía cạnh phi vật chất gọi là vốn nhân lực (lao động có kỹ năng sản xuất, có thể vận hành được máy móc thiết bị phức tạp, có sáng kiến phương pháp mới trong sản xuất) Ở các nước đang phát triển thì tăng trưởng kinh tế được đóng góp nhiều bới quy mô, số lượng lao động còn vai trò của vốn nhân lực vẫn ở mức thấp
- Năng suất yếu tố tổng hợp (TFP ): là yếu tố đầu vào được thể hiện ở hiệu quả của trình độ công nghệ, trình độ quản lý, hiệu quả sử dụng vốn, năng suất lao động TFP phản ánh hiệu quả của các nguồn lực được sử dụng vào sản xuất Do đó TFP được coi là yếu tố chất lượng của tăng trưởng hay tăng trưởng theo chiều sâu
* Các nhân tố tác động đến tổng cầu
Trang 15- Tiêu dùng cá nhân: gồm các khoản chi phí cố định, chi thường xuyên, chi khác ngoài dự kiến phát sinh Chi tiêu dùng cá nhân phụ thuộc vào tổng thu nhập khả dụng và xu hướng tiêu dùng cận biên tùy theo từng giai đoạn phát triển nhất định của nền kinh tế.
- Chi tiêu của chính phủ: gồm các khoản chi mua hàng hóa, dịch vụ của Chính phủ Nguồn chi tiêu này phụ thuộc vào khả năng thu ngân sách Nhà nước (gồm chủ yếu từ thu thuế, phí và lệ phí)
- Chi đầu tư: là khoản chi tiêu cho nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế bao gồm đầu tư vốn lưu động và đầu tư vốn cố định Nguồn chi cho đầu tư phụ thuộc vào khả năng tiết kiệm của các khu vực của nền kinh tế
- Chi tiêu qua hoạt động xuất nhập khẩu: giá trị hàng hóa xuất khẩu là các khoản chi cho các yếu tố nguồn lực trong nước, giá trị hàng hóa nhập khẩu là giá trị của các hàng hóa sử dụng trong nước nhưng không phải bỏ ra chi phí cho các yếu tố nguồn lực trong nước Vì vậy, chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu chính là khoản chi phí ròng phải bỏ ra cho quan hệ thương mại quốc tế
2.2.3.2 Nhân tố phi kinh tế
Là các nhân tố có ảnh hưởng gián tiếp và không thể lượng hóa cụ thể được mức độ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế
- Văn hóa xã hội: là nhân tố quan trọng có tác động nhiều tới quá trình phát triển của đất nước Trình độ văn hóa là một nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý kinh tế – xã hội Do đó, xét trên khía cạnh kinh tế hiện đại thì nó là nhân tố cơ bản của mọi nhân tố dẫn đến quá trình phát triển và đầu tư cho sự phát triển sự nghiệp văn hóa là đầu tư cần thiết nhất cần
đi trước một bước so với đầu tư sản xuất
- Thể chế kinh tế – chính trị – xã hội: tác động đến tăng trưởng kinh tế theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý, môi trường xã hội cho các nhà đầu tư Một thể chế chính trị xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện đổi mới liên tục cơ cấu
và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh chóng
Trang 162.2.4 Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế
2.2.4.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái cổ điển
- Các yếu tố cấu thành tổng cung của nền kinh tế: Theo Ricardo (1772 – 1823) nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất do đó ông cho rằng các yếu tố
cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động, vốn (trong từng ngành) phải kết hợp với nhau theo một tỷ lệ nhất định, không thay đổi Trong ba yếu tố này đất đai
là yếu tố quan trọng nhất
- Sự giới hạn tăng tổng cung của nền kinh tế: đất đai là yếu tố quan trọng nhất nhưng chính đất đai cũng lại là yếu tố giới hạn của tăng trưởng Khi sản xuất nông nghiệp tăng trên những đất đai màu mỡ hơn thì giá lương thực, thực phẩm sẽ tăng lên
Do đó tiền lương danh nghĩa của công nhân cũng phải tăng lên tương ứng, lợi nhuận của nhà tư bản có xu hướng giảm Nếu cứ tiếp tục như vậy cho đến khi lợi nhuận hạ thấp, không thể bù đắp được rủi ro trong kinh doanh làm cho nền kinh tế trở nên bế tắc
- Đầu tư làm giảm sự giới hạn đó: Ricardo cho rằng muốn hạn chế sự giới hạn đó thì chỉ có cách xuất khẩu hàng công nghiệp để mua lương thực rẻ hơn từ nước ngoài, hoặc phát triển công nghiệp để rồi tác động vào nông nghiệp Muốn vậy, chúng ta cần phải đầu tư sang lĩnh vực công nghiệp để thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp Điều này thể hiện vai trò của đầu tư trong việc tăng trưởng ngành nông nghiệp dẫn đến giảm sự giới hạn tăng trưởng chung
- Hạn chế của lý thuyết: Các nhà kinh tế cổ điển cho rằng, thị trường tự do được một bàn tay vô hình dẫn dắt để gắn lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội Thị trường với sự linh hoạt của giá cả và tiền công có khả năng tự điều chỉnh những mất cân đối của nền kinh tế để xác lập những cân đối mới Như vậy, Ricardo chưa thấy vai trò của chính phủ cũng như chính sách đầu tư phát triển kinh tế của Nhà nước Theo ông, chính phủ không có vai trò gì trong tăng trưởng kinh tế thậm chí hạn chế sự tăng trưởng
2.2.4.2 Quan điểm tăng trưởng kinh tế của Marx (1818 – 1883)
- Theo Marx, có bốn yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là: đất đai, lao
động, vốn và tiến bộ khoa học kỹ thuật Ông quan tâm đặc biệt đến vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư
Trang 17- Sự cần thiết phải tích lũy tư liệu sản xuất tái sản xuất: Theo ông, giữa cung
và cầu của thị trường luôn có một khoảng cách Để giải quyết khoảng cách này, cần thiết phải có tích lũy sản xuất, tích lũy hàng hóa, chính là hoạt động đầu tư hàng tồn trữ Theo Marx, sau khi trải qua giai đoạn khủng hoảng có chu kỳ để tiếp tục phát triển, các nhà tư bản phải tiến hành đổi mới tư bản cố định với qui mô lớn làm cho nền kinh tế tiến đến phục hồi, hưng thịnh Để đổi mới được tư bản cố định, các nhà
tư bản cũng nhất thiết cần có hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ Đây cũng chính
là vai trò đầu tư trong tăng trưởng kinh tế
2.2.4.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái tân cổ điển
Các nhà kinh tế tân cổ điển giải thích nguồn gốc sự tăng trưởng thông qua hàm sản xuất:
Y=f(K, L, R, T)Trong đó: Y: Đầu ra
a: tốc độ tăng trưởng của yếu tố vốn
b: tốc độ tăng trưởng của yếu tố lao động
c: tốc độ tăng trưởng của yếu tố đất đai
Qua hàm trên ta thấy, sự tăng trưởng của yếu tố vốn cũng như yếu tố đầu tư góp phần vào tăng trưởng kinh tế nói chung
- Hạn chế của lý thuyết: trường phái này không thấy được vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
2.2.4.4 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái Keynes
Keyenes rất coi trọng vai trò của yếu tố đầu tư trong tăng trưởng kinh tế Dựa
Trang 18vào tư tưởng này của Keynes, những năm 40 hai nhà kinh tế học là Harrod ở Anh và Domar ở Mỹ đã đưa ra mô hình về mối quan hệ giữa vốn và tăng trưởng.
Mô hình này coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho nó Mô hình này cũng chỉ ra nguồn gốc của vốn đầu tư và mối quan hệ giữa vốn đầu tư và vốn sản xuất Theo hai ông thì tiết kiệm chính là nguồn gốc của đầu tư nên về lý thuyết đầu tư luôn bằng tiết kiệm Đồng thời đầu tư chính là cơ sở để tạo
ra vốn sản xuất Với mối quan hệ như sau:
Đầu tư = tiết kiệm => s=đầu tư/sản lượng(s: tỷ lệ tiết kiệm trong GDP)Đầu tư = vốn sản xuất => k=đầu tư/ mức tăng trưởng
(k: tỷ số gia tăng giữa vốn và đầu ra)Vai trò của vốn sản xuất với năng lực sản xuất và tăng trưởng kinh tế qua mô hình Harrod Domar :
g = (g: tốc độ tăng trưởng kinh tế)
k: là hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn đầu ra) Hệ số này chỉ ra rằng vốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố cơ bản của tăng trưởng Tiết kiệm của nhân dân và các công ty là nguồn gốc của đầu tư Hệ số cũng phản ánh trình độ kỹ thuật của sản xuất
và là số đo năng lực sản xuất của đầu tư Tăng trưởng là do kết quả tương tác giữa tiết kiệm với đầu tư và đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế Theo hai ông chính đầu tư phát sinh ra lợi nhuận và gia tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế
2.2.4.5 Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái kinh tế hiện đại
Trường phái kinh tế học hiện đại đã xây dựng một lý thuyết kinh tế hỗn hợp trong đó thị trường là nơi trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của tổ chức kinh
tế và Nhà nước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường Thực chất nền kinh tế hỗn hợp là sự gần nhau của học thuyết kinh tế tân
cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes
- Lý thuyết hiện đại cũng thống nhất với mô hình kinh tế Tân cổ điển về xác
Trang 19định các yếu tố tác động tổng cung nền kinh tế bao gồm: lao động, vốn, đất đai, tài nguyên, khoa học.
Y= f(K, L, R, T)
Samuelson cho tầm quan trọng của các yếu tố là như nhau Như vậy, trường phái hiện đại cũng cho rằng vốn là một phần của tăng trưởng
- Vai trò của đầu tư với năng lực sản xuất và tăng trưởng kinh tế:
+ Theo mô hình Cobb- Douglas: g= t+aK+bL+cR
Như vậy, sự tăng lên của vốn là một phần của tăng trưởng kinh tế
+ Theo mô hình Harrod Domar: g=
Trong đó:
g: là tăng trưởng kinh tế
k: là hệ số ICOR
s: là tỷ lệ tiết kiệm trong GDP
2.3 Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
2.3.1 Đầu tư tác động đến qui mô tăng trưởng
2.3.1.1 Đầu tư tác động đến tổng cầu
a Cơ sở lý thuyết
Tổng cầu là khối lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước mà các tác nhân kinh tế sẵn sàng và có khả năng mua tại mỗi mức giá Trong nền kinh
tế mở, tổng cầu bao gồm 4 nhân tố: tiêu dùng của các nhân và hộ gia đình (C), đầu
tư của các doanh nghiệp (I), chi tiêu của chính phủ (G) và xuất khẩu ròng (NX)
AD = C + I + G + NX
Trong đó:
C : Tiêu dùng của hộ gia đình
I : Đầu tư ( khu vực ngoài nhà nước và các DNNN)
G: chi tiêu của chính phủ
NX: Xuất khẩu ròng = Xuất khẩu - Nhập khẩu
Trang 20b Xây dựng mô hình lựa chọn
Theo như phân tích ở trên tổng cầu hay là GDP phụ thuộc vào nhân tố tiêu dùng của hộ gia đình (C), đầu tư (I), tiêu dùng của chính phủ (G) và xuất nhập khẩu (NX)
Nhưng các nhân tố đó phụ thuộc vào GDP của năm trước (GDPt-1), lãi suất (r), lạm phát (π), tỷ giá hối đoái (ER)… Để đơn giản hóa chúng ta giả định nhân tố
G, lãi suất, lạm phát cố định Chỉ có đầu tư, tiêu dùng, yếu tố xuất khẩu và nhập nhẩu ảnh hưởng đến GDP, ta có hàm sản lượng ban đầu như sau:
c Các giả thiết của mô hình
- Giả thiết 1: Các biến giải thích là phi ngẫu nhiên, tức là các giá trị của nó là các số
đã được xác định
- Giả thiết 2: Kỳ vọng của các yếu tố ngẫu nhiên U bằng 0, tức là:
E(Ui|Xi) = 0Giả thiết này có nghĩa là các yếu tố không có trong mô hình, Ui đại diện cho
nó, không có ảnh hưởng hệ thống đến giá trị trung bình của Y
- Giả thiết 3: Phương sai bằng nhau (phương sai thuần nhất) của các Ui
Var(Ui| Xi) = Var(Uj|Xj) = δ2 mọi i≠jTức là phân bố có điều kiện của Y với giá trị đã cho của X có phương sai bằng nhau, các giá trị cá biệt của Y xoay quanh giá trị trung bình với phương sai như nhau
- Giả thiết 4: Không có sự tương quan giữa các Ui:
Cov(Ui| Uj) = 0 mọi i≠jGiả thiết này có nghĩa là Ui là ngẫu nhiên Về mặt hình học có nghĩa là nếu như có một giá trị U nào đó lớn hơn (nhỏ hơn) giá trị trung bình thì không có nghĩa giá trị khác cũng lớn hơn (nhỏ hơn) giá trị trung bình
2.3.1.2 Đầu tư tác động đến tổng cung
a Cơ sở lý thuyết
Tổng cung là tổng lượng cung cấp hàng hóa cuối cùng của toàn bộ nền kinh tế
Trang 21Khi tính tổng cung, các nhà kinh tế học loại trừ lượng cung cấp các hàng hóa trung gian dùng làm đầu vào cho sản xuất Doanh thu từ bán tất cả các loại hàng hóa mà trừ đi phần doanh thu từ bán hàng hóa trung gian chính là phần giá trị gia tăng Tổng cung cũng chính là tổng giá trị gia tăng của toàn bộ nền kinh tế Giá trị gia tăng dùng để làm tiền công trả cho người lao động và làm lợi nhuận cho nhà đầu
tư Chính vì thế, tổng cung cũng là thu nhập quốc dân
Tổng cung được tính thông qua: cung trong nước và cung nước ngoài Cung trong nước được thể hiện thông qua các hàm sản xuất với các yếu tố như: lao động, vốn , khoa học kĩ thuật, tài nguyên, công nghệ …
Q = f (K, L, R, T )Trong đó:
sẽ tăng thêm các nhà máy, xí nghiệp, phân xưởng Trong các nhà máy xí nghiệp, doanh nghiệp sẽ tăng thêm máy móc thiết bị, tài sản cố định khiến khả năng sản xuất của nền kinh tế tăng lên nên AS tăng
* Đầu tư tác động đến lao động (L)
Đầu tư làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế thông qua việc trang bị thêm máy móc thiết bị, nhà xưởng Đồng thời sự tiến bộ của khoa học công nghệ
kỹ thuật ngày càng tiến bộ nên những thành tựu công nghệ được ứng dụng vào sản xuất Điều này đòi hỏi lực lượng lao động cần phải được đào tạo về chuyên môn,
Trang 22trình độ, kỹ năng, kỷ luật lao động góp phần tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Nếu không chú trọng đầu tư cho lực lượng lao động sẽ dẫn đến hệ quả là một nền sản xuất lạc hậu, trì trệ và kém phát triển.
* Đầu tư tác động đến tài nguyên thiên nhiên (R)
Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ mang lại những lợi thế nhất định cho sự phát triển của một quốc gia Hoạt động đầu tư đòi hỏi phải sử dụng các nguồn lực nhưng nếu sử dụng quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên ở hiện tại dẫn đến việc suy giảm tài nguyên trong tương lai đặc biệt là đối với những tài nguyên thiên nhiên không có khả năng tái tạo Tình trạng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm
về cả số lượng và chất lượng sẽ mang lại nhiều bất lợi cho nhiều ngành sản xuất dẫn đến làm giảm năng suất các ngành và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
* Đầu tư tác động đến khoa học công nghệ (T)
Sự phát triển của khoa học công nghệ là cú huých mở đường cho kinh tế phát triển Nhờ có khoa học công nghệ một số ngành mới, các sản phẩm mới được tạo ra Đầu tư nghiên cứu khoa học là cơ sở nhằm tìm tòi và sáng tạo công nghệ mới Các phát minh khoa học được ứng dụng trong quá trình sản xuất góp phần nâng cao năng suất chất lượng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Sự tác động của đầu tư lên tổng cung còn được biểu hiện thông qua các mô hình tăng trưởng kinh tế
- Mô hình K.Marx về tăng trưởng: theo Marx khủng hoảng của chủ nghĩa tư
bản là khủng hoảng thừa xảy ra khi cung vượt quá cầu Nhu cầu của nền kinh tế bị giới hạn bởi sự tích lũy tư bản Để giải quyết tình trạng này nhà tư bản phải tiến hành đầu tư đổi mới tư bản cố định với quy mô lớn đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng
- Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế: nền kinh tế có hai đường tổng cung ngắn hạn và dài hạn, trong dài hạn nền kinh tế luôn đạt mức sản lượng tiềm năng Các nhà kinh tế tân cổ điển cho rằng tiến bộ khoa học kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy phát triển kinh tế Đầu tư cải tiến các phương pháp sản xuất góp phần gia tăng sản lượng
b Xây dựng mô hình lựa chọn
Chúng ta sử dụng mô hình Coob- Douglas để đánh giá tác động của các nhân
Trang 23tố, đặc biệt là nhân tố vốn (đầu tư), đến hàm sản xuất.
*Giả định của mô hình
- Hai yếu tố đầu vào của mô hình là vốn và lao động Vốn và lao động có thể thay thế hoàn hảo cho nhau
- Năng suất biên của lao động tỉ lệ thuận với số lượng sản xuất trên một đơn vị lao động
- Năng suất biên của vốn tỉ lệ thuận với số lượng sản xuất trên một đơn vị vốn
*Xây dựng mô hình
- Sản xuất trên một đơn vị vốn : Q/ K
- Năng suất cận biên của vốn: Q/
Theo giả thuyết 2 ta có: = α
Điểu kiện: α không đổi
Giữ L cố định Lấy vi phân từng phần ta được:
Trang 24Q(tK, tL) = Nhận xét:
+ Nếu α+β = 1: Mô hình có hiệu suất không đổi theo qui mô
+ Nếu α+β >1: Mô hình có hiệu suất tăng theo qui mô
+ Nếu α+β <1: Mô hình có hiệu suất giảm theo qui mô
Giả sử: mô hình có hiệu suất không đổi theo qui mô (α+β=1), ta có:
Q(K, L) = A
Vậy:Ln( Q( ) )= LnA + áLn
Theo mô hình Harrard-Domar, biến Q(L,K) được thể hiện thông qua sản lượng Y, mà sự thay đổi Y được thể hiện thông qua GDP Vì vậy, ta dùng phương trình hồi qui phân tích có dạng:
Ln( Q(K/L, 1)) = LnA + βLn (3)
Trong đó:
- Biến phụ thuộc là GDP
- Biến độc lập gồm 2 biến là: K (lượng vốn đầu tư) và L (lực lượng lao động)
c. Các giả thiết của mô hình 3
Giả thiết 1: Các biến giải thích là phi ngẫu nhiên, tức là các giá trị của nó
là các số đã được xác định
Giả thiết 2: Kỳ vọng của các yếu tố ngẫu nhiên U bằng 0, tức là:
E(Ui|Xi) = 0Giả thiết này có nghĩa là các yếu tố không có trong mô hình, Ui đại diện cho nó, không có ảnh hưởng hệ thống đến giá trị trung bình của Y
- Giả thiết 3: Phương sai bằng nhau (phương sai thuần nhất) của các Ui
Var(Ui| Xi) = Var(Uj|Xj) = δ2 mọi i≠jTức là phân bố có điều kiện của Y với giá trị đã cho của X có phương sai bằng nhau, các giá trị cá biệt của Y xoay quanh giá trị trung bình với phương sai như nhau
Trang 25- Giả thiết 4: Không có sự tương quan giữa các Ui
Cov(Ui| Uj) = 0 mọi i≠jGiả thiết này có nghĩa là Ui là ngẫu nhiên.Về mặt hình học có nghĩa là nếu như có một giá trị U nào đó lớn hơn (nhỏ hơn) giá trị trung bình thì không có nghĩa giá trị khác cũng lớn hơn (nhỏ hơn) giá trị trung bình
2.3.1.3 Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tăng qui mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế thể hiện ở công thức tính hệ số ICOR (tỷ số gia tăng của vốn so với sản lượng) là tỷ số giữa qui mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản lượng hay suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng GDP tăng thêm
ICOR = (tỷ lệ vốn đầu tư / GDP) / (tốc độ tăng trưởng kinh tế)
Từ công thức trên ta thấy: nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư
Hệ số ICOR của nền kinh tế cao hay thấp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố:
- Do thay đổi cơ cấu đầu tư ngành
- Sự phát triển của khoa học công nghệ
- Do thay đổi cơ chế chính sách và phương pháp quản lý
Trên góc độ phân tích đa nhân tố ta có công thức sau:
g = Di + Dl + TFPTrong đó:
g : Tốc độ tăng trưởng GDP
Di : Phần đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởng GDP
Dl: Phần đóng góp của lao động vào tăng trưởng GDP
TFP: Phần đóng góp của tổng các yếu tố năng suất vào tăng trưởng GDP
Ta thấy, đầu tư là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng GDP
Trang 262.3.2 Đầu tư tác động đến chất lượng tăng trưởng
2.3.2.1 Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng tùy theo mục tiêu của nền kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế.Sự chuyển dịch kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về qui mô tốc độ giữa các ngành, vùng Những cơ cấu kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân bao gồm kinh tế ngành, lãnh thổ, theo thành phần kinh tế
Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp qui luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ Tạo ra sự cân đối trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh tế trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực
Đối với cơ cấu ngành, vốn đầu tư vào ngành nào, qui mô vốn đầu tư từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả thấp hay cao đều ảnh hưởng đến tốc
độ phát triển đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới từ đó làm chuyển dịch cơ cấu ngành Đầu tư làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành kinh tế then chốt, các ngành có thế mạnh có tiềm năng Đầu tư vì mục tiêu lợi nhuận nên các ngành có
tỷ suất lợi nhuận cao sẽ được chú trọng đầu tư làm qui mô Đầu tư nghiên cứu và triển khai có xu hướng làm xuất hiện các ngành mới, phát triển các ngành kinh tế cao làm cho các ngành này là nơi thu hút vốn đầu tư và dần dần nó chiếm được vị trí nào đó trong nền kinh tế và cuối cùng là thay đổi cơ cấu kinh tế
Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất mát cân đối
về phát triển giữa các vùng lãnh thổ Đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh
tế, chính trị Đầu tư làm cơ cấu lãnh thổ chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng đóng góp vào GDP của các vùng có nhiều lợi thế so sánh, các vùng có điều kiện thuận lợi Đầu tư vào vùng khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng
có điều kiện thuận lợi với các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn
Trang 27Tác động tới chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế: đầu tư nước ngoài và đầu
tư của khu vực tư nhân gia tăng làm cơ cấu thành phần kinh tế chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế của từng thành phần kinh tế, giảm tỷ trọng khu vực kinh tế
NN, tăng tỷ trọng của khu vực ngoài NN và khu vực có VĐTNN
Có thể sử dụng chỉ tiêu hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi cơ cấu kinh tế của ngành để đánh giá vai trò của đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi cơ cấu kinh tế của ngành = % thay đổi tỷ trọng đầu tư của ngành nào đó / tổng vốn đầu tư xã hội kỳ nghiên cứu so với kỳ trước / % thay đổi tỷ trọng GDP của ngành trong tổng GDP giữa kỳ nghiên cứu so với kỳ trước
Chỉ tiêu này cho biết để góp phần đưa tăng trưởng kinh tế lên 1% thì tỷ trọng đầu tư vào một ngành nào đó tăng lên bao nhiêu
2.3.2.2 Đầu tư tác động đến khoa học công nghệ
Công nghệ bao gồm các yếu tố cơ bản: máy móc thiết bị, các văn bản tài liệu liên quan đến công nghệ, các yếu tố con người, yếu tố tổ chức Muốn có công nghệ
ta phải đầu tư vào các yếu tố trên, đầu tư có thể coi là một nhân tố quan trọng đối với mỗi quốc gia trong việc đổi mới và phát triển khoa học công nghệ
Ở mỗi thời kỳ mỗi quốc gia có các chiến lược khác nhau để đầu tư phát triển công nghệ Lúc đầu sử dụng công nghệ cần nhiều lao động và nguyên liệu sau đó tăng dần hàm lượng đầu tư vào công nghệ Đến giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư vào vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyết đối Tuy nhiên quá trình chuyển từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 là quá trình chuyển từ đầu tư ít sang đầu
tư nhiều và thay đổi trong cơ cấu đầu tư Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi và phát triển khoa học công nghệ
Công nghệ là do doanh nghiệp nhập khẩu từ bên ngoài hoặc do tự nghiên cứu và ứng dụng Công nghệ được nhập khẩu thông qua: mua thiết bị, linh kiện rồi lắp đặt, liên doanh, chuyển giao Công nghệ do tự nghiên cứu triển khai được thực hiện qua nhiều giai đoạn từ nghiên cứu đến thí nghiệm sản xuất thử Việc làm này thường mất nhiều thời gian và rủi ro cao Dù thế nào công nghệ vẫn luôn đòi hỏi
Trang 28lượng vốn đầu tư lớn Mỗi doanh nghiệp mỗi nước khác nhau cần có bước đi phù hợp để lựa chọn công nghệ thích hợp.
Để đánh giá tác động của đầu tư lên khoa học công nghệ ta sử dụng các chỉ tiếu như là:
- Tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ / Tổng vốn đầu tư: cho thấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời kỳ
- Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị / Tổng vốn đầu tư thực hiện: cho biết tỷ lệ vốn là máy móc chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng vốn đầu tư
- Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu / Tổng vốn đầu tư thực hiện: phản ánh mức độ đầu tư đổi mới khoa học công nghệ cao
- Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhọn, trọng điểm: chỉ tiêu này càng lớn cho biết mức độ tập trung của công nghệ và gián tiếp phản ánh mức độ hiện đại của công nghệ
2.3.2.3 Đầu tư tác động đến chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện trên các khía cạnh: sức khỏe, trình
độ học vấn, kiến thức, trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm tích lũy được, ý thức, tác phong của người lao động
Cùng với KH – CN, vốn đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế – xã hội Kinh tế nước ta có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới hay không, có thu hút được mạnh mẽ các nguồn đầu tư hay không, đều phụ thuộc phần lớn vào chất lượng nguồn nhân lực Và giáo dục đào tạo có vai trò quyết định đối với việc hình thành qui mô và chất lượng nguồn nhân lực.Chính vì vậy, đầu tư nguồn nhân lực là đầu tư vào giáo dục đào tạo
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung sau:
- Đầu tư cho hoạt động giáo dục đào tạo (chính qui, không chính qui, ngắn hạn, dài hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ )
- Đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe
- Đầu tư cho tiền lương
Có thể nói tiền lương là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng tới quyết định làm việc của người lao động Tăng lương cũng chính là tăng đầu tư nguồn nhân lực Một trong các biện pháp tăng đầu tư cho nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh
tế quốc tế là đầu tư cho con người Đầu tư cho con người là một trong những hình thức đầu tư phát triển mang lại hiệu quả cao nhất
Trang 29CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU
TƯ LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
3.1 Tổng quan về hoạt động đầu tư và tình hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013
3.1.1 Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển ở Việt Nam
3.1.1.1 Qui mô vốn đầu tư
Trong giai đoạn 2000 – 2013, vốn đầu tư phát triển Việt Nam liên tục tăng về
số lượng Chi tiết vốn đầu tư phát triển qua các năm được cho trong bảng dưới đây:
Bảng 3.1: Vốn đầu tư phát triển Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013
Sự thay đổi vốn đầu tư giữa các năm cụ thể như sau:
* Năm 2000: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện đạt 151,183 tỷ đồng Trong vốn
đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2000, vốn khu vực Nhà nước đạt 89,417 tỷ đồng, chiếm 59,14% tổng vốn; khu vực ngoài Nhà nước 34,594 tỷ đồng, chiếm 22.88%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 27,172 tỷ đồng, chiếm 17.97%
* Năm 2001: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện đạt 170,496 tỷ đồng Trong vốn
đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2001, vốn khu vực Nhà nước đạt 101,973 tỷ đồng, chiếm 59.81% tổng vốn; khu vực ngoài Nhà nước 38,512 tỷ đồng, chiếm 22.59%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 30,011 tỷ đồng, chiếm 17.60%
* Năm 2002: Thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội năm 2002 đạt 105% kế hoạch
năm, tăng 12.4% so với năm 2001 Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước đạt 103.8%
Trang 30kế hoạch.
* Năm 2003: Thực hiện vốn đầu tư phát triển đạt 239,246 tỷ đồng Trong tổng
số, vốn Nhà nước chiếm 57%, vốn ngoài quốc doanh chiếm 25.6%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17.4%
*Năm 2004: Thực hiện vốn đầu tư phát triểnđạt 290,927 tỷ đồng, bằng
103.8% kế hoạch năm và tăng 17.7% so với năm trước Trong tổng số, vốn Nhànước chiếm 56%, vốn ngoài quốc doanh chiếm 26.9%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17.1%
* Năm 2005: Thực hiện vốn đầu tư phát triển đạt 343,135 tỷ đồng, tăng 8% so
với kế hoạch năm Trong tổng số, vốn Nhà nước chiếm 53.1%, vốn ngoài Nhà nước chiếm 32.4%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 14.5%
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc vốn ngân sách Nhà nước năm 2005 thực hiện 161,635 tỷ đồng, bằng 121.2% kế hoạch cả năm
*Năm 2006: Thực hiện vốn đầu tư theo giá thực tế đạt 404,712 tỷ đồng, bằng
105.9% kế hoạch năm, trong đó vốn Nhà nước chiếm tỷ trọng 50.1%, bằng 103.2%; vốn ngoài Nhà nước chiếm 33.6%, bằng 105.7%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 16.3%, bằng 116.1%
Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước năm 2006 thực hiện 185,102 tỷ đồng
* Năm 2007: Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 đạt
461,900 tỷ đồng, bằng 40.4% tổng sản phẩm trong nước (đạt kế hoạch đề ra 40% GDP) và tăng 15.8% so với năm 2006, trong đó vốn khu vực Nhà nước 200,000 tỷ đồng, chiếm 43.3% tổng vốn và tăng 8.1%; vốn khu vực ngoài Nhà nước 187,800 tỷ đồng, chiếm 40.7% và tăng 24.8%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 74,100 tỷ đồng, chiếm 16% và tăng 17.1%
* Năm 2008: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá thực tế đạt 616,735 tỷ
đồng, bằng 43.1% GDP và tăng 22.2% so với năm 2007, bao gồm vốn khu vực Nhà nước 209,031 tỷ đồng, chiếm 28.9% tổng vốn và giảm 11.4%; khu vực ngoài Nhà nước 217,034 tỷ đồng, chiếm 41.3% và tăng 42.7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp
Trang 31nước ngoài 190,670 tỷ đồng, chiếm 29.8% và tăng 46.9%.
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 100,900 tỷ đồng, chiếm 15.8% tổng vốn đầu tư cả nước, bằng 102.8% kế hoạch năm Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do trung ương quản lý đạt 34,200 tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch
* Năm 2009: Với mục tiêu ưu tiên là ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an
sinh xã hội, trong năm qua Chính phủ đã tập trung thực hiện các gói kích cầu đầu tư
và tiêu dùng; đồng thời chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, công trình trọng điểm nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhờ vậy, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2009 theo giá thực tế đạt 708,826 tỷ đồng, tăng 15.3% so với năm 2008 và bằng 42.8% GDP, bao gồm vốn khu vực Nhà nước 287,534 tỷ đồng, chiếm 34.8% tổng vốn và tăng 40.5%; khu vực ngoài Nhà nước 240,109 tỷ đồng, chiếm 39.5% và tăng 13.9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 181,183 tỷ đồng, chiếm 25.7% và giảm 5.8% Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 153,800 tỷ đồng, chiếm 21.8% tổng vốn đầu tư cả nước, bằng 106.8% kế hoạch năm Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
do Trung ương quản lý đạt 63,900 tỷ đồng, bằng 112.8% kế hoạch
* Năm 2010: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá thực tế đạt 830,278
tỷ đồng, tăng 17.1% so với năm 2009 và bằng 41.9% GDP, trong đó có 1980 tỷ đồng
từ nguồn ngân sách trung ương và 4487.5 tỷ đồng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ Trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm nay, vốn khu vực Nhà nước là 316,285 tỷ đồng, chiếm 38.1% tổng vốn và tăng 10%; khu vực ngoài Nhà nước 299,487 tỷ đồng, chiếm 36.1% và tăng 24.7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 214,506 tỷ đồng, chiếm 25.8% và tăng 18.4% Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách nhà nước đạt 141,600 tỷ đồng, chiếm 17.1% tổng vốn đầu tư cả nước, bằng 110.4% kế hoạch năm Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước do Trung ương quản lý đạt 42,700 tỷ đồng, bằng 104.7% kế hoạch
* Năm 2011: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá thực tế đạt 924,495 tỷ
đồng, tăng 5.7% so với năm 2010 (Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì bằng 90.6% năm 2010) và bằng 34.6% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 341,555 tỷ đồng, chiếm
Trang 3236.95% và tăng 8% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 356,049 tỷ đồng, chiếm 38.51% và tăng 3.3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 226,891 tỷ đồng, chiếm 25.9% và tăng 5.8% Dòng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2011 đạt 178,000 tỷ đồng, bằng 101.8% kế hoạch năm và tăng 6.7% so với năm 2010.
* Năm 2012: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành đạt 989,300
tỷ đồng, tăng 7% so với năm trước và bằng 33.5% GDP, đây là năm có tỷ trọng vốn
đầu tư so với GDP đạt thấp nhất kể từ năm 2000 trở lại đây.Trong vốn đầu tư toàn
xã hội thực hiện năm 2012, vốn khu vực Nhà nước đạt 374,300 tỷ đồng, chiếm 37.83% tổng vốn và tăng9.6% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 385,025 tỷ đồng, chiếm 38.92% và tăng 8.1%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài 229,975 tỷ đồng, chiếm 23.25% và tăng 1.4%.Trong vốn đầu tư thực
hiện khu vực Nhà nước năm nay, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 205,000 tỷ đồng, bằng 98.8% kế hoạch năm và tăng 15% so với năm 2011
* Năm 2013: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành
đạt 1091,100 tỷ đồng, tăng 8% so với năm trước và bằng 30.4% GDP Trong vốn
đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2013, vốn khu vực Nhà nước đạt 440,500 tỷ đồng, chiếm 40.37% tổng vốn và tăng8.4% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 410,500 tỷ đồng, chiếm 37.62% và tăng 6.6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài 240,100 tỷ đồng, chiếm 22.01% và tăng9.9%.Trong vốn đầu tư thực
hiện khu vực Nhà nước năm nay, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 205,700 tỷ đồng, bằng 101.5% kế hoạch năm và tăng 0.3% so với năm 2012
3.1.1.2 Vốn đầu tư chia theo thành phần kinh tế
Bảng 3.2: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo thành phần kinh tế và
tỷ lệ % tương ứng
Trang 33Nguồn: Tổng cục thống kê và tính toán của tác giả.
Vốn đầu tư thuộc thành phần kinh tế Nhà nước luôn chiếm phần trăm cao nhất trong các năm, tiếp đó đến vốn đầu tư ngoài Nhà nước và cuối cùng là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm phần trăm thấp nhất
Tuy nhiên từ năm 2000 đến năm 2013, Vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước có xu hướng giảm Trong khi đó khu vực kinh tế ngoài Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng gia tăng Năm 2000, VĐT khu vực kinh tế Nhà nước là 89,417 tỷ đồng chiếm 59.14% trong tổng số (hơn một nửa tổng vốn đầu tư) VĐT khu vực kinh tế ngoài NN đạt 34,594 tỷ đồng chiếm 22.88%, VĐT NN đóng góp 27,172 tỷ đồng chiếm 17.97% trong tổng số Đây là những con số đóng góp rất khiêm tốn của đầu tư Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21 Tuy nhiên chỉ trong
Trang 34vòng 13 năm với những cố gắng của Đảng và NN trong việc thay đổi đường lối chính sách, khuyến khích tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tác động thúc đẩy kinh tế cùng với các nhân tố nước ngoài, cơ cấu trong đầu tư phát triển Việt Nam đã có những thay đổi rõ rệt Năm 2013 VĐT khu vực kinh tế NN đạt 440,500 tỷ đồng tăng xấp xỉ 500% so với năm 2000 chiếm 40.37% (năm 2000 chiếm 59.14%) VĐT khu vực kinh tế ngoài NN là 410,500 tỷ đồng tăng hơn 1000% so với năm 2000 và chiếm 37.62% trong tổng số (Năm 2000 là 22.88%) Khu vực kinh tế nước ngoài cũng có sự tăng trưởng mạnh, VĐT năm 2013
là 240,100 tỷ đồng chiếm 22.01% so với năm 2000 là 17.97%
Sự dịch chuyển cơ cấu VĐT theo xu hướng giảm dần VĐT vào khu vực NN song song với đó là tăng dần số lượng VĐT khu vực ngoài NN cũng như khu vực
NN được đánh giá là xu hướng thay đổi tích cực, ngày càng đề cao vai trò quan trọng của khu vực kinh tế ngoài NN và khu vực có VĐT NN Sự gia tăng tỷ trọng vốn đầu tư trong từng thành phần kinh tế tương ứng tỷ lệ thuận với sự đóng góp của thành phần đó trong cơ cấu GDP Kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế về qui mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh
tế thị trường nhằm giải phóng sức lao động, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Nhà nước tạo điều kiện tích cực thực hiện các chính sách xúc tiến đầu tư, khuyến khích đầu tư nước ngoài
3.1.1.3 Vốn đầu tư chia theo ngành kinh tế
Bảng 3.3: Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế
Trang 35tế, Khu vực dịch vụ năm 2013 chiếm 50.2% Đây là xu hướng hay đổi theo đúng chủ trương kinh tế của Đảng và NN: giảm dần vốn đầu tư vào những ngành cần ít vốn và KHCN như nông lâm nghư nghiệp, tăng dần tỷ trọng đầu tư vào các ngành tạo ra giá trị gia tăng lớn, những ngành có hàm lượng chất xám cao đặc biệt là ngành dịch vụ.
3.1.2 Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
3.1.2.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Trang 36Từ năm 2000 đến 2013 tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam được thể hiện thông qua bảng thống kê dưới đây:
Bảng 3.4: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013
Nhìn vào biểu đồ 2 về tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm ta nhận thấy:
* Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004 kinh tế Việt Nam liên tục có những bước tăng trưởng vượt bậc: Năm 2000, tốc độ tăng trưởng GDP là 6.79% Năm
2001 là 6.89% mở đầu cho một giai đoạn tăng trưởng khá cao và ổn định Năm
2002 đã chỉ đạo phát huy mạnh mẽ nội lực, tháo gỡ từng khó khăn trong sản xuất kinh doanh Nhờ đó tình hình kinh tế xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực qua từng tháng nhất là những tháng cuối năm, kết quả là tốc độ tăng trưởng kinh tế cả năm đạt 7.08% Năm 2003 nền kinh tế nước ta phải đương đầu với những khó khăn thách thức hết sức gay gắt do hạn hán kéo dài, nạn dich SARS nhưng nhờ sự chỉ đạo nhanh nhạy, kịp thời, sự nỗ lực rất cao của các ngành,các cấp nền kinh tế nước
ta đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, tăng trưởng kinh tế đạt 7.26% Tổng sản phẩm trong nước năm 2004 đạt 362,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7,79% so với năm
2003 (tương đương với tăng thêm 25,85 nghìn tỷ đồng), trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,5 %; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%; khu vực dịch vụ tăng 7,5% Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2004 tăng 14,5% , trong
đó các khoản thu nội địa tăng 12%, thu từ dầu thô tăng 59,8% Các khoản thu chủ yếu trong thu nội địa đều đạt tương đối cao như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 115,4% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 109,8%; thu thuế thu nhập đối với người có
Trang 37thu nhập cao đạt 111,6%; các khoản thu về nhà đất đạt 208,1%; thu thuế sử dụng đất nông nghiệp đạt 172,1%; riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 96% Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2004 đạt 112%, trong đó chi thường xuyên đạt 107,9%; chi cho đầu tư phát triển đạt 113,6% (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 114,7%); chi trả nợ và viện trợ đạt kế hoạch năm Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 102,5% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm
xã hội đạt 103,4%; chi quản lý hành chính, Đảng, Đoàn thể đạt 116,5%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 127,8%; chi cho y tế đạt 108,3%; chi cho văn hoá thông tin đạt 107,1% Bội chi ngân sách ở mức dưới 5% so với GDP và bằng mức bội chi cả năm Quốc hội cho phép, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và vay nước ngoài theo dự toán
* Giai đoạn 2005 đến 2007, đây là 3 năm liên tiếp GDP của Việt Nam có mức tăng trưởng kinh tê cao trên 8%
- Tổng sản phẩm trong nước năm 2005 tăng 8,44% so với năm 2004, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,6% và khu vực dịch vụ tăng 8,5% Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm nay đạt mức tăng thấp hơn so với con số ước tính từ tháng 9, chủ yếu do sản lượng lúa mùa ở các tỉnh miền Bắc giảm (ảnh hưởng trực tiếp của bão số 7, bão số 8) và thiệt hại do dịch cúm gia cầm Thuỷ sản tăng mạnh, do cầu trong nước tăng (bù vào thịt gia cầm và sản phẩm chế biến từ gia cầm) và xuất khẩu tăng so với năm trước Lâm nghiệp tăng nhẹ, chủ yếu do tăng sản lượng gỗ khai thác Khu vực công nghiệp
và xây dựng đạt mức tăng trưởng 10,6%, trong đó giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp chế biến tăng 13,1% (9 tháng tăng 12,5%, cao hơn mức tăng 11% đã ước tính vào cuối tháng 9 và công nghiệp chế biến quý IV tăng 14,7%); giá trị tăng thêm của công nghiệp khai thác năm nay chỉ tăng 0,9%, chủ yếu do dầu thô khai thác trong suốt cả 4 quý đều thấp hơn sản lượng cùng quý tương ứng của năm 2004
và sản lượng dầu thô khai thác cả năm cũng chỉ đạt mức 92,3% sản lượng năm
2004 Công nghiệp điện, ga, nước tăng 12,2%; xây dựng tăng 10,8% Khu vực dịch
vụ có mức tăng trưởng 8,5%, cao hơn hẳn mức tăng trưởng 7,3% của năm 2004 Do
Trang 38khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng cao hơn mức tăng chung và tăng nhanh hơn các khu vực khác nên cơ cấu kinh tế ngành tiếp tục chuyển dịch theo chiều hướng tăng ở khu vực công nghiệp, xây dựng và giảm ở khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 38,13% năm 2001 lên 41,03% năm 2005, dịch vụ tăng từ 36,63% lên 38,08% và nông lâm nghiệp thuỷ sản giảm từ 23,24 xuống còn 20,89%.
Tổng sản phẩm trong nước năm 2006 theo giá so sánh tăng 8,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,37%; khu vực dịch vụ tăng 8,29% Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%, thấp hơn mức tăng 4% của năm 2005, chủ yếu do tốc độ tăng của ngành nông nghiệp và thuỷ sản chậm lại vì ảnh hưởng của thời tiết bất thường và dịch bệnh Khu vực công nghiệp, xây dựng tăng trưởng thấp hơn mức tăng của năm ngoái do sản xuất công nghiệp giảm (dầu thô khai thác đạt
17 triệu tấn, thấp hơn mức 18,5 triệu tấn của năm 2005; công nghiệp chế biến và điện, nước, ga cũng giảm so với mức tăng trưởng năm trước Khu vực dịch vụ tăng cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế, trong đó một số ngành có tỷ trọng lớn duy trì được mức độ tăng cao như thương nghiệp; vận tải, bưu chính viễn thông,
du lịch; khách sạn, nhà hàng; tài chính ngân hàng, bảo hiểm Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản Tỷ trọng khu vực công nghiệp
và xây dựng từ 40,97% năm 2005 lên 41,52% trong năm nay; khu vực dịch vụ tăng
từ 38,01% lên 38,08%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 21,02% xuống còn 20,40%
Bước vào năm 2007 Thuận lợi cơ bản là sau hơn 20 năm đổi mới thế và lực của nền kinh tế nước ta cũng như những kinh nghiệm tổ chức, quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều đã được tăng lên đáng
kể Việc nước ta trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tạo thêm cơ hội để nền kinh tế nước ta hội nhập sâu hơn và rộng hơn vào kinh tế thế giới Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức: trong khi nền kinh
tế còn nhiều mặt yếu kém, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh thấp thì giá của nhiều loại vật tư nguyên liệu đầu vào quan trọng
Trang 39phải nhập khẩu tăng cao Những tháng cuối năm lại xuất hiện một số khó khăn không lường trước được như bão, lũ; dịch tiêu chảy cấp; dịch tai xanh ở lợn; dịch cúm gia cầm tái bùng phát ở một số nơi Tuy nhiên, với sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự điều hành quyết liệt khẩn trương có hiệu quả của Chính phủ, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế xã hội đều đạt và vượt mức Quốc hội đề ra, nền kinh tế tiếp tục phát triển, chính trị xã hội ổn định Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm
2007 tăng 8,46% so với năm 2006, đạt kế hoạch đề ra (8,2-8,5%), gồm có khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,41% (kế hoạch 3,5-3,8%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,6% đạt kế hoạch đề ra (10,5-10,7%); khu vực dịch vụ tăng 8,68% vượt kế hoạch đề ra (8,0-8,5%) Tăng trưởng kinh tế năm 2007 của nước ta đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực (Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu Á-ADB thì năm 2007 kinh tế Trung Quốc tăng 11,2%; Việt Nam tăng 8,3%; Xin-ga-po tăng 7,5%; Phi-li-pin tăng 6,6%; In-đô-nê-xi-a tăng 6,2%; Ma-lai-xi-a tăng 5,6%; Thái Lan tăng 4%)
* Giai đoạn từ năm 2008 đến nay GDP Việt Nam tăng trưởng không ổn định nhưng xu thế chung là giảm và không ổn định.
- Năm 2008 các dấu hiệu của sự suy thoái kinh tế bắt đầu xuất hiện, để kiềm chế lạm phát Chính phủ đã can thiệp vào nền kinh tế bằng hàng loạt biện pháp: lãi suất cơ bản được nâng lên, dự trữ bắt buộc với lãi suất rất thấp được áp đặt, cắt giảm đầu tư Tất cả các biện pháp này gây ra gánh nặng lớn cho các ngân hàng thương mại cũng như doanh nghiệp vừa và nhỏ Các quan hệ thị trường bị thu hẹp rõ rệt bởi sự can thiệp hành chính đặc biệt là quyết định về tăng giảm thuế nhập khẩu, về hạn ngạch, về giá xăng dầu liên tục được đưa ra Doanh nghiệp luôn đối mặt với những bất ngờ từ các phía và không ít doanh nghiệp nhỏ và vừa đã không
đủ sức vượt qua gánh nặng quá sức về tín dụng, lãi suất, giá cả, biến động thị trường đã “ lịm dần” Các quan hệ thân quen đã trở nên mạnh hơn cơ chế thị trường Tính bất đối xứng của thị trường độc quyền như điện, nước, xăng dầu đã lan sang y tế, giáo dục ngày càng gây thiệt hại cho người dân và tạo ra đặc quyền đặc lợi cho những ai nắm phương tiện trong tay Trong khi đa số người dân khó khăn hơn trong cuộc sống thì một số người lại giàu lên nhanh chóng và khoảng cách giàu nghèo lại thu hẹp lại Có thể nói 2008 là một năm khó khăn của kinh tế Việt Nam,
Trang 40GDP đạt được là 6.31% giảm nhiều so với năm 2007.
- Sang năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh
tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội khác của nước ta Ở trong nước, thiên tai dịch bệnh xảy ra liên tiếp trên địa bàn
cả nước cũng đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư Theo đà suy giảm kinh tế, tính chung cả năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 5,32%, bao gồm: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63% Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm
2009 tuy vẫn thấp hơn tốc độ tăng 6,31% của năm 2008, nhưng đã vượt mục tiêu tăng 5% của kế hoạch Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nền kinh tế tăng trưởng âm mà kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng dương tương đối cao như trên là một thành công lớn
- Bước vào năm 2010, Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,78% so với năm 2009, trong đó quý I tăng 5,84%; quý II tăng 6,44%; quý III tăng 7,18% và quý IV tăng 7,34% Đây là mức tăng khá cao so với mức tăng 6,31% của năm 2008
và cao hơn hẳn mức 5,32% của năm 2009, vượt mục tiêu đề ra 6,5% Kết quả trên khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, phù hợp và hiệu quả của các biện pháp và giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô được Chính phủ ban hành
và chỉ đạo quyết liệt các các cấp, các ngành, các địa phương cùng thực hiện
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 tăng 5,89% so với năm 2010, tuy thấp hơn mức tăng 6,78% của năm 2010 nhưng trong điều kiện tình hình sản xuất rất khó khăn và cả nước tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô thì mức tăng trưởng trên là khá cao và hợp lý Tổng sản phẩm trong nước tăng đều trong cả ba khu vực và một lần nữa lại thể hiện rõ tính trụ đỡ của khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
- Tuy nhiên năm 2012 kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu chưa được giải quyết Suy thoái trong khu vực đồng euro cùng với khủng hoảng tín dụng và tình trạng thất nghiệp gia tăng tại các nước thuộc khu vực này