Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen; tổng kết những thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
Trang 1Câu 1: Phân tích khái niệm vật chất theo quan niệm của Lênin và mối quan hệ biện
chứng giữa VC và ý thức.
a Khái niệm VC theo quan niệm của Lênin:
Phạm trù vật chất là vô cùng trừu tượng, là nền tảng thống nhất và là bản nguyên của thế giới triết
học chủ nghĩa duy vật Bàn về vật chất thì có nhiều quan điểm khác nhau :
Các nhà triết học duy tâm tìm nguồn gốc, bản chất của thế giới ở "ý niệm tuyệt đối"
hoặc ở ý thức con người; ngược lại thì các nhà duy vật trước Mác có khuynh hướng chung là tìm nguồn gốc, bản chất của thế giới ngay trong bản thân nó Nhưng do ảnh hưởng của quan điểm siêu hình - máy móc nên họ cho rằng mọi hiện tượng của thế giới đều được cấu tạo từ những vật thể ban đầu giống nhau, thống nhất với nhau, cùng bị chi phối bởi một số quy luật nhất định Quan điểm ấy không phản ánh được tính nhiều vẻ, tính vô tận của thế giới hiện thực
Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen; tổng kết những thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, Lênin đã định
nghĩa: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".
Theo quan niệm duy vật biện chứng: “VC tồn tại cụ thể, con người dựa vào cảm giác có khả
năng nhận thức được nó Cảm giác là cơ sở đầu tiên của quá trình nhận thức, cơ sở thứ hai là ý thức của con người; khác với chủ nghĩa duy tâm chủ quan, cho rằng cảm giác là cơ sở duy nhất của quá trình nhận thức”.
Ở định nghĩa này, Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng:
Thứ nhất là phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học
tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng các dạng vật chất khác nhau Vật chất với tư cách là phạm trù triết học dùng chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh
ra, không mất đi; còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác Vì vậy, không thể quy vật chất nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của vật chất như các nhà duy vật trong lịch sử cổ đại, cận đại đã làm
Thứ hai là trong nhận thức luận, đặc trưng quan trọng nhất để nhận biết vật chất chính là thuộc tính khách quan Khách quan, theo V.I.Lênin là "cái đang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác của con người" Trong đời sống xã hội, vật chất "theo ý nghĩa là tồn tại xã hội, không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người" Về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất không có nghĩa gì
khác hơn là "thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người và được ý thức con người phản ánh"
Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn
tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được
Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lên giác quan
của con người
Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất.
Trang 2 Với những nội dung cơ bản như trên định nghĩa vật chất của V I Lênin có nhiều ý nghĩa to lớn Đưa ra tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất cái gì không phải là vật chất, khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất ) là cái có trước (tính thứ nhất ), còn “cảm giác ý thức” là cái có sau ( tính
thứ hai); vật chất tồn tại không phụ thuộc vào ý thức
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, bác bỏ thuyết không thể biết, đã khắc phục được những hạn chế trong các quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất
Đồng thời, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin còn có ý nghĩa định hướng và mở đường cho các khoa học khác phát triển, đặc biệt là khoa học tự nhiên, đấu tranh khắc phục triệt để tính chất trực quan, siêu hình , máy móc và những biến tướng của nó trong quan niệm về vật chất của các nhà triết
học tư sản hiện đại Do đó, định nghĩa này cũng giải quyết được sự khủng hoảng trong quan điểm về
vật chất của các nhà triết học và khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa siêu hình
Cổ vũ, động viên các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vât chất, tìm ra những kết cấu mới,
những thuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội Từ đó giúp các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức sản xuất; trên cơ sở ấy, người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển
b Mối quan hệ giữa VC và ý thức:
Vai trò của VC đối với ý thức:
VC là cái có trước, ý thức là cái có sau, vì ý thức là sản phẩm của bộ óc con người nên khi có con ngưới mới có ý thức,mà con người là sản phẩm của thế giới VC
VC là nguồn gốc của ý thức, vì các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, XH của ý thức là bản thân thế giới VC, hoặc là những dạng tồn tại của VC
Nội dung của ý thức được quyết định bởi VC, vì ý thức là cái phản ánh thế giới VC, là hình ảnh về thế giới VC
VC quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức, vì những yếu tố VC ( qui luật sinh học, qui luật XH, sự tác động của môi trường sống) quyết định sự vận động, phát triển và hình thưc biểu hiện của ý thức
Vai trò của ý thức đối với VC:
Ý thức có thể tác động trở lại VC thông qua hoạt động thực tiễn của con người: ý thức trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan để xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, nhằm thực hiện mục tiêu của mình
Sự tác động trở lại đó diễn ra theo 2 hướng:
Tích cực: khi con người nhận thức đúng, hành động phù hợp với qui luật khách quan, cải tạo được thế giới
Tiêu cực: khi ý thức con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, hành động đi ngược lại qui luật khách quan
Ý thức có thể quyết định hành động của con người
Ý nghĩa phương pháp luận:
Nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất: trong mọi hoạt động nhận thưc và thực tiễn, phải:
Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan.
Trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích, đề
ra đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố VC, tổ chức chúng thành lực lượng VC để hành động
Trang 3 Phát huy tính năng động chủ quan: phát huy vai trò tích cực, ănng động, sáng tạo của ý thức và vai trò nhân tố con người
Tôn trọng tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ và truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng, hướng dẫn họ hành động; tu dưỡng, rèn luyện để hình thành, củng cố nhân sinh quan CM, tình cảm, nghị lực CM để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hành động
Để thực hiện nguyên tắc trên, phải phòng chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, chống chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thường tri thức khoa học, xem thường lí luận, bảo thủ, trì trệ, thụ động trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Câu 2: Phân tích nội dung 2 nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
a Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
Khái niệm:
Mối liên hệ là khái niệm dung để chỉ sự qui định, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay các mặt, các biến cố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới
Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới (giới tự nhiên, XH và tư duy)
Tính chất: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng là các tính chất cơ bản của các
mối liên hệ
Tính khách quan: Sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau
trong tổ chức, kết cấu của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó,
tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận
dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình Do tính chất của sự qui định đó mà ta phân biệt được trạng thái khác nhau của VC: tồn tại khách quan là tồn tại VC, khác với chủ quan thể hiện ở ý thức, tinh thần
Tính phổ biến: Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác; đồng thời cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau Vậy tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại và đặt trong mối liện hệ
Tính đa dạng, phong phú:
Các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có nhiều tổ chức, cấu trúc khác nhau nên có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vai trò, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau
Tùy thuộc vào mối liên hệ mà qui định cho tính chất của sự vật, hiện tượng Một sự vật có rất nhiều tính chất, thuộc tính cơ bản và không cơ bản thuộc tính cơ bản là thuộc tính vốn có qui định cho bản chất của sự vật, mất thuộc tính này sự vật không còn là nó nữa thuộc tính cơ bản qui định
Trang 4cho sự tồn tại và biến đổi sự vật Biến đổi sự vật qui định ở những mặt đối lập trong bản thân sự vật.
Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với những sự vật nhất định, trong những điều kiện xác định Đó là mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ bản chất và hiện tượng, liên hệ chủ yếu và thứ yếu, liên hệ trực tiếp và gián tiếp, liên hệ cơ bản và không cơ bản….Trong đó, liên hệ bên trong, bản chất, chủ yếu, trực tiếp, cơ bản mang tính chất quyết định
Ý nghĩa:
Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần xem xét
sự vật trong mối liên hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn
Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn khi đã thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện
b Nguyên lý về sự phát triển:
Khái niệm:
Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng giảm thuần túy về lượng, không có sự
thay đổi về chất của sự vật; đồng thời, nó cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp
Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo khuynh hướng đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện
đến hoàn thiện hơn Phát triển là quá trình vận động nhưng không đồng nhất với vận động vì phát
triển chỉ có 1 xu hướng, vận động bao gồm nhiều xu hướng ( đi lên, đi xuống, đứng lên) Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật
Tính chất: Các quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng,
phong phú
Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quá trình tự vận động, tự biến đổi, tự giải quyết mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng đó Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người
Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi
lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả moi sự vật, hiện tượng và trong mọi quá trình, mọi giai đoạn của sự vật, hiện tượng đó; trong mỗi quá trình biến đổi đã bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời của cái mới, phù hợp với qui luật khách quan
Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướng
chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau Trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu nhiều sự tác động của các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác, của rất nhiều yếu tố và điều kiện lịch
sử, cụ thể Sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí có thể làm
Trang 5cho sự vật thụt lùi tạm thời, có thể dẫn tới sự phát triển về mặt này và thoái hóa ở mặt khác.
Ý nghĩa:
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát
triển: không chỉ nhận thức sự vật ở hiện tại mà phải dự đoán ở tương lai, thấy được xu thế tương lai,
tạo điều kiện cho cái mới, tiến bộ ra đời, xoa bỏ những cái cũ lạc hậu Trong quá trình phát triển cũng có những bước lùi tạm thời, nhưng sự thục lùi đó tạo điều kiện cho sự tiến lên nhiều hơn tránh tình trạng dao động, hoang mang, lùi cũng được coi là 1 chiến lược
Theo đó để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trong thực tiễn, một mặt cần đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên của nó, mặt khác cần có quan điểm lịch sử, cụ thể trong nhận thức và giải quyết các vấn đề, phù hợp với tính chất phong phú, đa dạng, phức tạp của nó
Câu 3: Trình bày các qui luật của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các
nguyên lí và quy luật khoa học nhằm xây dựng phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn Trong đó, phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩ Mác Lênin được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học, với sự thống nhất giữa nội dung của thế giới quan (Duy vật biện chứng) và phương pháp luận (Biện chứng duy vật)
Nội dung của phép biện chứng duy vật gồm có 2 nguyên lí, 3 quy luật cơ bản và 6 quy luật không
cơ bản (hay còn gọi là 6 cặp phạm trù).
Qui luật là những mối lien hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Căn cứ vào mức độ của tính phổ biến, các qui luật được chia thành: những qui luật riêng, những
qui luật chung và những qui luật phổ biến
Căn cứ vào lĩnh vực tác động, các qui luật được chia thành: những qui luật tự nhiên, những qui
luật XH và những qui luật của tư duy
Qui luật được vận dụng vào những khoa học cụ thể thì mang tính tự phát, đặc thù, gọi là định luật
qui luật trong tự nhiên
Sự vận động của XH loài người cũng có qui luật nhưng mang tính khách quan qui luật XH.
Sự nhận thức của con người cũng mang tính qui luật qui luật của tư duy logic học.
Qui luật và bản chất đồng nhất với nhau.
Qui luật mang tính khái quát, không phụ thuộc ý thức con người Con người chỉ nhận thức được
qui luật chứ không thể thay đổi qui luật Qui luật là cái có sẵn
Để qui luật được vận hành thì qui luật phải gắn với điều kiện, nếu điều kiện thay đổi thì kết quả
thay đổi Khi xét 1 sự vật, hiện tượng phải xét trong điều kiện cụ thể
3 qui luật sau là các qui luật cơ bản của phép BCDV:
Qui luật chuyển hóa từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại ( qui luật lượng chất) :
Qui luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại
Trang 6là qui luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, XH và tư duy
Quan điểm siêu hình cho rằng sự vật chỉ biến đổi về lượng chứ không biến đổi về chất.
Quan điểm duy vật cho rằng sự vật biến đổi về cả lượng và chất.
a Khái niệm chất, lượng :
Chất dùng để chỉ tính qui định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng ; là sự thống nhất hữu cơ
các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác Con người chỉ có khả năng nhận thức chứ không thay đổi được chất
Mỗi sự vật, hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản Chỉ những thuộc tính cơ
bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng Khi những thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của nó thay đổi
Chất còn được xác định bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng, thông qua những mối
liên hệ cụ thể
Chất không tồn tại thuần túy tách rời sự vật, biểu hiện tính ổn định tương đối của nó.
Lượng dùng để chỉ tính qui định khách quan vốn có của sự vật về các phương diện: số lượng các
yếu tố cấu thành, qui mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật
Vậy chất và lượng là 2 phương diện khác nhau của cùng 1 sự vật, hiện tượng, hay 1 quá trình nào đó trong tự nhiên, XH và tư duy Lượng là lượng của chất, chất được thể hiện thông qua lượng Lượng và chất tồn tại khách quan
b Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng :
Trong 1 sự vật bao giờ cũng có sự gắn bó chặt chẽ giữa lượng và chất Trong quá trình vận động,
lượng biến đổi liên tục, ít nhiều ảnh hưởng đến chất
Độ : là giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi Sự vật hiện tượng vẫn còn là nó,
chưa chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng khác
Điểm nút : là điểm đánh dấu khi lượng thay đổi đến 1 giới hạn nhât định sẽ dẫn đến sự thay đổi về
chất
Bước nhảy : dùng để chỉ sự thay đổi của chất : sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với
những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới
Sự thay đổi về chất diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau : lớn và nhỏ, cục bộ và toàn
bộ, tự phát và tự giác, dần dần và đột biến,
Về qui mô :
Bước nhảy cục bộ : là thay đổi từng mặt, từng phần và dẫn đến thay đổi toàn bộ bước nhảy toàn bộ
Bước nhảy toàn bộ : là thay đổi toàn diện
Về nhịp điệu :
Bước nhảy dần dần : là bước nhảy diễn ra từ từ, dẫn đến sự biến hóa XH bước nhảy đột biến Bước nhảy đột biến : diễn ra nhanh chóng
Khi chất mới ra đời sẽ tác động trở lại lượng mới làm thay đổi kết cấu, qui mô, trình độ, nhịp điệu
của sự vận động và phát triển của sự vật
c Ý nghĩa phương pháp luận :
Phải coi trọng cả chất và lượng của sự vật, tạo nên nhận thức toàn diện về sự vật Không được
tuyệt đối hóa vai trò của lượng hoặc chất Chỉ biến đổi về lượng thì là bảo thủ, chỉ biến đổi về chất thì là chủ quan duy ý chí
Tùy mục đích cụ thể, cần từng bước tích lũy về lượng để có thể làm thay đổi về chất của sự vật ;
đồng thời có thể phát huy tác động của chất mới theo hướng làm thay đổi về lượng của sự vật
Trong công tác thực tiễn, cần khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh ( bất chấp qui luật, chủ
quan, duy ý chí) và tư tưởng bảo thủ hữu khuynh ( bảo thủ, trì trệ)
Trang 7 Trong nhận thức và thực tiễn cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho
phù hợp với từng điều kiện, lĩnh vực cụ thể Cần nâng cao tính tích cực chủ động của chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất 1 cách hiệu quả nhất
Qui luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập ( qui luật mâu thuẫn) :
Là qui luật ở thế hạn nhân của phép BCDV, là qui luật về nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến
của mọi quá trình vận động và phát triển xuất phát từ các mâu thuẫn khách quan , vốn có của nó
a Khái niệm mâu thuẫn
Quan niệm biện chứng : Khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất và đấu tranh, chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Quan niệm siêu hình : mâu thuẫn là cái đối lập phản logic, không có sự thống nhất, không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập
Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập : những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau
b Các tính chất chung của mâu thuẫn :
Tính khách quan và tính phổ biến.
Tính đa dạng, phong phú :
Tính đa dạng: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau trong những điều kiện LS, cụ thể khác nhau; chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của sự vật Đó là mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu
Tính phong phú: trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn với những tính chất khác nhau
c Quá trình vận động của mâu thuẫn:
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau:
Thống nhất: chỉ sự ràng buộc, liên hệ, không tách rời nhau, qui định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại Thống nhất bao hàm sự đồng nhất
Đấu tranh: chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bại trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập, mang tính phong phú, đa dạng
Sự đấu tranh là tuyệt đối, sự thống nhất là tương đối, có điều kiện, tạm thời Trong sự thống nhất
đã có sự đấu tranh, đấu tranh trong tính thống nhất
Quá trình thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện ở sự khác biệt và phát triển thành 2 mặt đối lập Khi 2 mặt đối lập xung đột với nhau gay gắt và khi điều kiện chin mùi sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới hình thành, quá trình tác động, chuyển hóa giữa 2 mặt đối lập lại tiếp diễn, làm sự vật, hiện tượng luôn vận động, phát triển
d Ý nghĩa phương pháp luận:
Tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất,
nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động và phát triển
Phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và phương pháp giải quyết phù hợp.
Phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định Đấu tranh xóa bỏ cái cũ, tạo điều kiện cho cái mới ra đời.
Qui luật phủ định của phủ định:
Là qui luật về khuynh hướng cơ bản, phổ biến của mọi vận động, phát triển diễn ra trong các lĩnh
vực tự nhiên, XH và tư duy Đó là khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật thông qua những lần phủ định biện chứng mang tính chu kì “phủ định của phủ định”
Trang 8a Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng:
Phủ định: là sự xóa bỏ sự vật này để thay vào đó 1 sự vật khác, mang tính phổ biến.
Nguyên nhân của sự phủ định:
Do tác động của ngoại lực làm sự vật biến đổi
Do tác động nội lực
Kết quả của sự phủ định:
Làm cho sự vật chấm dứt phát triển.
Tạo điều kiện, tiền đề cho quá trình phát triển của sự vật Đó gọi là phủ định biện chứng.
Tính chất của phủ định BC:
Tính khách quan: vì nguyên nhân của sự phủ định nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng; nó
là kết quả của quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn tất yếu, bên trong bản thân sự vật; tạo khả năng ra đời của cái mới, thay thế cái cũ, tạo xu hướng phát triển của bản thân sự vật
Tính kế thừa: kế thừa nhân tố hợp qui luật và loại bỏ nhân tố phản qui luật.
Vậy PĐBC là khuynh hướng tất yếu của mối liên hệ bên trong giữa cái cũ và cái mới, là sự tự
khẳng định của các quá trình vận động, phát triển của sự vật
b Phủ định của phủ định:
Để hoàn tất chu kì của sự phát triển thì sự vật ít nhất phải trải qua 2 lần phủ định.
Phủ định chia làm 2 giai đoạn:
Phủ định cái khẳng định: 2 mặt đối lập có sự chuyển hóa cho nhau phủ định mang tính trung gian, tạo điều kiện cho sự vật tiếp tục phát triển
Phủ định cái phủ định: sự phủ định là sự tổng hợp của mọi PĐBC sự vật mới xuất hiện, về mặt hình thức giống cái ban đầu, về mặt nội dung tiến bộ hơn cái ban đầu Sự ra đời cái mới dường như có lặp lại cái cũ nhưng trên 1 cơ sở cao hơn, có sự tiến lên
Qui luật phủ định của phủ định khái quát tính chất chung, phổ biến của sự phát triển theo hình thức con đường “xoáy ốc”, thể hiện tính biện chứng của sự phát triển: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên
Tóm lại, nội dung cơ bản của qui luật phủ định của phủ định phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa
cái phủ định và cái khẳng định trong quá trình phát triển của sự vật PĐBC là điều kiện cho sự phát triển, cái mới ra đời là kết quả của sự kế thừa những nội dung tích cực từ trong sự vật cũ, phát huy nó trong sự vật mới và tạo nên tính chu kì của sự phát triển
c Ý nghĩa phương pháp luận:
Qui luật phủ định của phủ định là cơ sở để chúng ta nhận thức 1 cách đúng đắn về cơ sở vận động,
phát triển của sự vật, hiện tượng
Cần nắm được đặc điểm, bản chất, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng để tác động tới sự phát
triển, phù hợp yêu cầu hoạt động nhận thức biểu hiện của thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng trong mọi hoạt động của chúng ta ( khẳng định niềm tin vào xu hướng tất yếu là phát triển tiến lên) và thực tiễn
Nâng cao tính tích cực của nhân tố chủ quan trong moi hoạt động, có niềm tin vào sự tất thắng của
cái mới, ủng hộ cái mới và đấu tranh cho cái mới thắng lợi Khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, giáo điều, kiềm hãm sự phát triển của cái mới, làm trái với qui luật phủ định của phủ định
Phải có quan niệm biện chứng trong quá trình kế thừa sự phát triển khắc phục tư tưởng tả khuynh
và hữu khuynh chỉ kế thừa những yếu tố hợp lí của cái cũ cho sự phát triển của cái mới
Trang 9Câu 4: Lí luận nhận thức và thực tiễn
a Thực tiễn và các hình thức cơ bản của thực tiễn
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính LS-XH của con người nhằm cải biến tự nhiên và XH
Trong đó:
HĐVC là HĐ con người tham gia vào, tác động vào thế giới nói chung với mục đích duy trì sự tồn tại và phát triển của con người trong XH, sản xuất ra XH
● Thực tiễn là phương thức cơ bản của HĐ, HĐ là thông điệp giữa con người và con vật HĐ mang tính LS-XH vì gắn liền với môi trường quan hệ XH, vì HĐ có sự vận động, phát triển HĐ thực tiễn qui định cho tính chất khác nhau của các thời đại LS
3 hình thức cơ bản của thực tiễn:
HĐSXVC: là hình thức HĐ cơ bản, đầu tiên của thực tiễn,chi phối những HĐ thực tiễn khác, là HĐ con người sử dụng những công cụ LĐ tác động vào thế giới tự nhiên để tạo ra của cải VC nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình
HĐ chính trị XH: là HĐ của các cộng đồng người, các tổ chức khác nhau trong XH nhằm cải biến những quan hệ chính trị XH để thúc đẩy XH phát triển
HĐ thực nghiệm khoa học: là hình thức đặc biệt của HĐ thực tiễn, ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển XH, đặc biệt trong thời kì CM khoa học và công nghệ hiện đại Đây là
HĐ được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và XH nhằm xác định những qui luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu, giúp con người rút ngắn quá trình nhận thức, nâng cao hiệu quả của LĐSX và cải tạo phục vụ XH
HĐ chính trị XH và HĐ thực nghiệm khoa học 1 mặt phục vụ cho HĐSXVC, mặt khác kiềm hãm hoặc thúc đẩy HĐSXVC Sự tác động qua lại này làm cho HĐ thực tiễn vận động, phát triển và ngày càng có vai trò quan trọng đối với HĐ nhận thức
b Nhận thức và các trình độ nhận thức
Nhận thức là 1 quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn , nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan đó
Chủ thể và khách thể là các yếu tố cơ bản của nhận thức Khách thể nhận thức quyết định chủ thể nhận thức
Các trình độ nhận thức:
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lí luận:
Nhận thức kinh nghiệm: là trình độ nhận thức hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên, XH hay trong các thí nghiệm khoa học.Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học
Nhận thức lí luận: là trình độ nhận thức gián tiếp, trừu tượng, có tính hệ thống trong việc khái quát bản chất, qui luật của các sự vật, hiện tượng
Mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lí luận:
Nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lí luận.
Nhận thức lí luận không hình thành 1 cách tự phát, trực tiếp từ kinh nghiệm Do tính độc lập tương đối của nó, lí luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn hình thành những tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn những kinh nghiệm hợp lí để phục vụ cho hoạt động thực tiễn
Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học:
Trang 10 Nhận thức thông thường: là loại nhận thức được hình thành 1 cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hằng ngày của con người, phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật Nó mang tính phong phú và gắn liền với những quan niệm sống thực tế hằng ngày nên có vai trò thường xuyên và phổ biến chi phối hoạt động của mọi người trong XH
Nhận thức khoa học: là loại nhận thức được hình thành 1 cách tự giác và gián tiếp từ sự
phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu diễn ra dưới dạng trừu tượng, logic Đó là các khái niệm, phạm trù và các qui luật khoa học Nó vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát, vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực Nó có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học và công nghệ hiện đại
Mối quan hệ giữa nhận thức thông thường và nhận thức khoa học:
Nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung của các khoa học
Khi đạt tới trình độ nhận thức khoa học, nó tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập vào nhận thức thông thường và làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình con người nhận thức thế giới
Tóm lại, nhận thức phải là 1 quá trình đi từ trình độ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lí luận; từ trình độ nhận thức thông thường đến trình độ nhận thức khoa học
Đi từ cảm tính đến lí tính
c Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức, nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức, khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí, kiểm tra tính chân lí của quá trình nhận thức
Nhận thức giúp con người nâng cao giá trị sống, để nâng cao giá trị sống thì phải kinh qua thực
tiễn
Tuy nhiên, nhận thức cũng có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ với thực tiễn:
Nhận thức giúp con người nắm bắt những thuộc tính, qui luật, bản chất của sự vật, hiện tượng, từ đó đề ra những phương án để giải quyết nó
Nhận thức phản ánh đúng hiện thưc khách quan, tác động vào hiện thực, cải tạo hiện thực, nếu phản ánh sai hiện thực khách quan thì sẽ ngăn cản quá trình cải tạo hiện thực
d Ý nghĩa phương pháp luận:
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải quán triệt quan điểm thực tiễn Mọi
nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn Nghiên cứu lí luận phải liện hệ thực tiễn (vì thế học phải đi đôi với hành) Không nên tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn hay vai trò của nhận thức Phát huy vai trò của nhận thức khoa học trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học công nghệ hiện nay Thực tiễn mà không có lí luận khoa học sẽ là thực tiễn mù quáng Trong hoạt động Đảng, xa rời thực tiễn sẽ mắc bệnh giáo điều, máy móc, quan liêu Tóm lại nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn và
lí luận là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thực tiễn và hoạt động lí luận
Do vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và tác động trở lại của nhận thức đối với thực tiễn, triết học Mác Lênin đề ra nguyên tắc thống nhất giữa nhận thức và thực tiễn, trong đó thực tiễn có ý nghĩa quyết định
● Tuy nhiên, có lúc thực tiễn mâu thuẫn với nhận thức Khi nhận thức không phù hợp với thực tiễn, ta phải thay đổi nhận thức Ta phải xuất phát từ hiện thực vì thực tiễn cao hơn nhận thức và
lí luận, nhưng không hạ thấp vai trò nhận thức mà phải tạo điều kiện thúc đẩy nhận thức làm nhận thức phù hợp xu thế hoạt động của thực tiễn