1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bồi dưỡng HSG Cơ chế phản ứng hữu cơ

33 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số quan niệm về HSG hóa học * Theo phó giáo sư Bùi Long Biên ĐH Bách khoa: ‘‘HSG hóa học phải làngười nắm vững bản chất hiện tượng hóa học, nắm vững các kiến thức cơbản đã được học,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -LÂM ĐỨC PHONG

Tiểu luận

XÁC ĐỊNH CƠ CHẾ PHẢN ỨNG TRONG

HÓA HỮU CƠ

CHUYÊN ĐỀ: BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI HOÁ HỌC TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học

Trang 2

PHẦN 1

BIỆN PHÁP PHÁT HIỆN VÀ BỒI

DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG

và Nhà nước ta luôn chú trọng đến công tác bồi dưỡng và phát triểnnhân tài Trong đó, việc phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năngkhiếu về các môn học ngay ở bậc phổ thông là bước khởi đầu quantrọng để xây dựng nguồn nhân tài tương lai cho đất nước Nhiệm vụnày phải được thực hiện thường xuyên trong quá trình dạy học, qua các

kỳ thi chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp

Hàng năm, chúng ta luôn tổ chức các cuộc thi học sinh giỏi(HSG) môn hoá học để phát hiện những em có năng khiếu nên việctổng kết, đúc rút kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi hoá học là rấtcần thiết và mang tính thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng giáodục Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Giáo dục ở nhà trường điều chủ yếu khôngphải là rèn trí nhớ mà là rèn trí thông minh”

I. Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng HSG

Cũng như các nước trên thế giới, Việt Nam rất coi trọng vấn đềđào tạo và bồi dưỡng HSG trong chiến lược giáo dục phổ thông củamình Vào những năm đất nước còn chiến tranh gian khổ, chúng ta đãquan tâm đến vần đề này Năm 1962, kì thi chọn HSG toán và văn lớp

10 toàn miền bắc đã được tổ chức (được xem là kì thi chọn HSG quốcgia đầu tiên của nước ta) Và đến năm 1966, hệ thống trung học phổthông chuyên được lập ra, bắt đầu với lớp chuyên toán tại các trườngđại học lớn về khoa học cơ bản Từ đó đến nay, hệ thống trườngchuyên cùng với các trường trung học phổ thông không chuyên ở cáctỉnh thành đã trở thành cái nôi bồi dưỡng biết bao thế hệ học sinhgiỏi

Vì sao công tác bồi dưỡng HSG lại được nước ta cũng như cácnước khác trên thế giới quan tâm nhiều đến vậy? Để các em đạt kếtquả cao trong các kì thi quốc gia, quốc tế? Theo tôi, đây chưa phải là lí

do để các nước phải coi trọng vấn đề này, lí do chính ở đây là để nuôidưỡng nguồn nhân tài tương lai cho đất nước “Nhân tài không phải là

Trang 3

sản phẩm tự phát mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu.Nhiều tài năng có thể mai một nếu không được phát hiện và sử dụngđúng lúc, đúng chỗ ” (Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảngtại Đại hội VI năm 1996).

Như vậy, việc phát hiện sớm và tổ chức bồi dưỡng HSG đóngvai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển xã hội tương lai

II. Một số quan niệm về HSG hóa học

* Theo phó giáo sư Bùi Long Biên (ĐH Bách khoa): ‘‘HSG hóa học phải làngười nắm vững bản chất hiện tượng hóa học, nắm vững các kiến thức cơbản đã được học, vận dụng tối ưu các kiến thức cơ bản đã được học đểgiải quyết một hay nhiều vấn đề mới (do chưa được học hoặc chưa thấybao giờ) trong các kì thi đưa ra’’

*Theo phó PGS-TS Trần Thành Huế (ĐHSP Hà Nội): Nếu dựa vào kết quảbài thi để đánh giá thì một học sinh giỏi hoá cần hội đủ các yếu tốsau đây:

-Có kiến thức cơ bản tốt, thể hiện nắm vững các khái niệm, địnhnghĩa, định luật, quy tắc đã được quy định trong chương trình, khôngthể hiện thiếu sót về công thức, phương trình hoá học

- Vận dụng sắc bén, có sáng tạo, đúng các kiến thức cơ bản

-Tiếp thu và dùng được ngay một số ít vấn đề mới do đầu bài đưa ra.Những vấn đề mới này là những vấn đề chưa được cập nhật hoặc đãđược đề cập đến mức độ nào đó trong chương trình hoá học phổthông nhưng nhất thiết vấn đề đó phải liên hệ mật thiết với các nộidung chương trình

*Theo tiến sĩ Cao Cự Giác (ĐH Vinh): Một học sinh giỏi hoá họcphải là:

- Có kiến thức cơ bản tốt: Thể hiện nắm vững kiến thức cơ bản một cáchsâu sắc, có hệ thống

- Có khả năng tư duy tốt và tính sáng tạo cao: Trình bày và giải quyếtvấn đề một cách linh hoạt, rõ ràng, khoa học

- Có khả năng thực hành thí nghiệm tốt: Hoá học là khoa học vừa líthuyết vừa thực nghiệm do đó không thể tách rời lí thuyết với thựcnghiệm, phải biết cách vận dụng lí thuyết để điều khiển thực nghiệm

và từ thực nghiệm kiểm tra các vấn đề của lí thuyết, hoàn thiện líthuyết cao hơn

III Những phẩm chất và năng lực cần có của một HSG hóa học

-Có kiến thức hoá học cơ bản, vững vàng, sâu sắc, hệ thống Để có đượcphẩm chất này đòi hỏi học sinh phải có năng lực tiếp thu kiến thức, tức

là có khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng; có ý thức tự bổ sung,hoàn thiện kiến thức ngay ở dạng sơ khởi

-Có trình độ tư duy hoá học phát triển, có tính sáng tạo cao Để cóđược những phẩm chất này đòi hỏi học sinh phải có năng lực suy luậnlogic, năng lực kiểm chứng, năng lực diễn đạt…

3

Trang 4

-Có khả năng quan sát, nhận thức các hiện tượng hoá học Phẩm chấtnày được hình thành từ năng lực quan sát sắc sảo, mô tả, giải thíchhiện tượng các quá trình hoá học, năng lực thực hành của học sinh.

-Có khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo kiến thức, kỹnăng đã có để giải quyết vấn đề, các tình huống xảy ra Đây là phẩmchất cao nhất cần có ở một học sinh giỏi

IV. Một số biện pháp phát hiện HSG hoá học ở bậc THPT

Để xác định được những học sinh học giỏi hóa học, giáo viên cầnphải làm rõ:

-Mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh theo tiêuchuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình và sách giáo khoa

-Trình độ nhận thức, mức độ tư duy của từng học sinh và đặc biệt làđánh giá được khả năng vận dụng kiến thức linh hoạt, sáng tạo củahọc sinh

Muốn vậy, giáo viên phải theo dõi quá trình học tập trên lớp củahọc sinh và tiến hành kiểm tra toàn diện kiến thức của học sinh.Thông qua bài kiểm tra, giáo viên có thể phát hiện HSG hoá học theocác tiêu chí:

- Thời gian hoàn thành bài kiểm tra

Tuy nhiên, để có thể phát hiện HSG bằng kiểm tra kiến thức một cách

có hiệu quả và chính xác, câu hỏi đặt ra phải đòi hỏi ở học sinh khảnăng tư duy sáng tạo, khả năng vận dụng linh hoạt các kiến thức, kĩnăng đã học

V. Một số biện pháp bồi dưỡng HSG hoá học ở bậc THPT

1. Kích thích động cơ học tập của học sinh

Quá trình học tập tại lớp bồi dưỡng HSG thường rất vất vả vàcăng thẳng Các giáo viên dạy đội tuyển cần phải biết kích thích động

cơ học tập của các em để các em có thể vượt qua những khó khăntrong tiến trình học tập này Sau đây là một số biện pháp, các giáoviên có thể tham khảo:

- Tạo ra và duy trì không khí dạy học trong lớp nhằm tạo môi trườngthuận lợi cho việc học tập và phát triển của học sinh

Trong môi trường đó, học sinh dễ dàng bộc lộ những hiểu biết của

Trang 5

mình và sẵn sàng tham gia tích cực vào quá trình dạy học.

- Giao các nhiệm vụ học tập phù hợp với khả năng của học sinh Bởi lẽnếu nó quá dễ thì sẽ dẫn đến sự nhàm chán, ngược lại nếu quá khó thìhọc sinh dễ nản lòng

- Xây dựng niềm tin và những kỳ vọng tích cực trong mỗi họcsinh:

+ Bắt đầu công việc học tập, công việc nghiên cứu vừa sức đốivới học sinh

+ Làm cho học sinh thấy mục tiêu học tập rõ ràng, cụ thể và cóthể đạt tới được

+ Cho học sinh thấy rằng năng lực học tập của các em có thểđược nâng cao hơn nữa nếu các em cố gắng

- Làm cho học sinh tự nhận thức được lợi ích, giá trị của việcđược chọn vào đội tuyển học sinh giỏi

+ Việc học trong đội tuyển trở thành niềm vui, niềm vinh dự.+ Phương pháp học tập, khối lượng kiến thức thu được khi thamgia đội tuyển sẽ giúp các em học tốt môn hóa cũng như các môn họckhác trên lớp

Hình thành động cơ học tập đúng đắn cho học sinh là cả một quátrình lâu dài Nó được hình thành dần trong quá trình học sinh ngàycàng đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự tổ chức và điều khiểncủa giáo viên Vì vậy, giáo viên cần phải chú ý hình thành động cơ họctập cho học sinh ngay từ trên lớp Nếu trong dạy học, giáo viên luônthành công trong việc tổ chức cho học sinh tự phát hiện ra những điềumới lạ, cách giải quyết thông minh các nhiệm vụ học tập, tạo ra đượcnhững ấn tượng tốt đẹp đối với việc học thì dần dần làm nảy sinh nhucầu của các em đối với tri thức khoa học Học tập sẽ trở thành nhu cầukhông thể thiếu được của các em

2 Soạn thảo nội dung dạy học và có phương pháp dạy học hợp lý

Nội dung dạy học gồm hệ thống lý thuyết và hệ thống bài tậptương ứng Trong đó, hệ thống lý thuyết phải được biên soạn đầy đủ,ngắn gọn, dễ hiểu, bám sát yêu cầu của chương trình; soạn thảo, lựachọn hệ thống bài tập phong phú, đa dạng giúp học sinh nắm vữngkiến thức, đào sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng, đồng thời phát triểnđược tư duy cho học sinh

Sử dụng phương pháp dạy học hợp lý sao cho học sinh khôngcảm thấy căng thẳng, mệt mỏi và quá tải, đồng thời phát huy đượctối đa tính tích cực, tính sáng tạo và nội lực tự học tiềm ẩn trong mỗihọc sinh

3 Kiểm tra, đánh giá

Trong quá trình dạy đội tuyển, giáo viên có thể đánh giá khảnăng, kết quả học tập của học sinh thông qua việc quan sát hành độngcủa từng em trong quá trình dạy học, kiểm tra hoặc phỏng vấn, trao đổi

5

Trang 6

Hiện nay, thường đánh giá kết quả học tập của học sinh trong đội tuyểnbằng các bài kiểm tra, bài thi (bài tự luận, trắc nghiệm hoặc bài thi hỗn hợp) Tuy nhiêncần chú ý là các câu hỏi trong bài thi nên được biên soạn sao cho có nội dung khuyến khích

tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh

VI. Thực trạng việc bồi dưỡng HSG hoá học ở bậc THPT hiện nay

1. Thuận lợi

- Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng và đào tạo nhân tài, đã đề ra

cả một “chương trình quốc gia bồi dưỡng nhân tài” giai đoạn 2008-2020 với nhữngbước đi và mục tiêu cụ thể Đây sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc bồi dưỡng, đàotạo nhân tài cho đất nước

- Cơ sở vật chất trong trường học từng bước được nâng lên Các trường THPT đều cóphòng thí nghiệm với dụng cụ thí nghiệm và hóa chất khá đầy đủ

- Sự đổi mới nội dung SGK đã góp phần tích cực vào việc phát triển tư duy và kĩ nănghóa học cho học sinh Các kiến thức khoa học đã được trình bày ở mức độ lí thuyết caohơn, yếu tố định lượng nhiều hơn, tăng cường các nguồn thông tin tạo điều kiện họcsinh dự đoán, tìm tòi và kiến tạo kiến thức Các khái niệm, định nghĩa, quy tắc đượcchỉnh sửa và trình bày theo quan điểm hiện đại cả về lí thuyết và phương diện thựcnghiệm công nghệ sản xuất Số lượng thí nghiệm và bài thực hành được gia tăng trongmỗi bài học, trong mỗi chương của chương trình Nội dung kiến thức hóa học gắn vớiđời sống thực tiễn cũng được tăng cường, làm cho việc học hóa học trở nên có ý nghĩađối với học sinh

- Giáo viên tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có nhiều kinh nghiệm và nhiệttình trong giảng dạy

- Sách tài liệu tham khảo rất phong phú và đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tựhọc, tự nghiên cứu của học sinh Đặc biệt, với sự phổ biến rông rãi của internet như hiệnnay, việc tìm kiếm thông tin khoa học của học sinh rất dễ dàng

để thi đậu vào một trường Đại học nào đó mà các em và gia đình lựachọn

- Nội dung, phương pháp giảng dạy bồi dưỡng HSG còn dựa vào kinhnghiệm của giáo viên trực tiếp giảng dạy là chính

- Giáo viên bồi dưỡng HSG vẫn phải hoàn thành tất cả công tác giảng dạynhư các giáo viên khác, đôi khi còn kiêm nhiệm nhiều công tác khác nhưchủ nhiệm, tổ trưởng bộ môn nên việc đầu tư cho công tác bồi dưỡngcũng có phần hạn chế

- Chế độ chính sách hiện nay cho giáo viên bồi dưỡng HSG còn thấp,không đủ sức thu hút giáo viên giỏi đầu tư nghiên cứu để bồi dưỡngHSG

Trang 7

VII. Kinh nghiệm bản thân

- Công tác bồi dưỡng học sịnh giỏi là một trong những yêu cầu cần thiếtđặt ra cho mỗi giáo viên để từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ, phục vụ cho công việc giảng dạy Trong quá trình bồi dưỡng họcsinh giỏi ở bản thân còn gặp nhiều khó khăn và thử thách ở phía trước

- Những biện pháp để phát hiện ra học sinh giỏi hóa ở trường phổ thôngtheo kinh nghiệm của bản thân Nhắm đối tượng để bồi dưỡng là họcsinh khối 11

• Sau khi qua 1 năm học tại trường, theo dõi và tìm kiếm những học sinh

có những ưu điểm nổi bật về khả năng tư duy, nhanh nhẹn và siêng năngtrong công việc học tập; những học sinh có ĐTB các môn Toán, Lí, Sinh

từ 7,5 trở lên và ĐTB môn hóa học phải từ 8,5 ÷ 9,0 trở lên; trau đổi vớiGVCN và các GVBM thuộc khoa học tự nhiên để tìm hiểu kĩ hơn vềnăng lực của học sinh

• Những em học sinh trong tiết dạy thường xuyên đặt những câu hỏi tạisao trong bài giảng của giáo viên, trong đời sống thường ngày hay nhữngtính huống, câu hỏi mới cho giáo viên với mục đích muốn hoàn thiệnkiến thức, thậm chí là những kiến thức học thêm → chứng tỏ học sinh cónhu cầu tìm hiểu những vấn đề hay gặp trong cuộc sống cũng như việcgiải bài tập

• Tổ chức cuộc thi “Rung chuông vàng” của tổ tự nhiên (Toán, Lí, Hóa,Sinh) → giáo viên quan sát câu trả lời cũng như thời gian làm bài củahọc sinh → nhằm tìm kiếm học sinh có kiến thức tổng hợp, có khả năngsuy luận, phân tích trong nhiều lĩnh vực, phù hợp với việc ra đề theohướng tích hợp

• Giáo viên thường xuyên đưa ra những tình huống có vấn đề → kích thích

sự tò mò, muốn được tìm hiểu kiến thức chưa biết → giáo viên dựa vàocâu trả lời, ý kiến của học sinh để đánh giá

Ví dụ: Khi giảng dạy bài “Sự điện li của nước- pH- chất chỉ thị axit bazơ” Giáo viên

khi đề cập đến phần pH, đặt tình huống cho học sinh như sau:

- Giáo viên nhờ học sinh dùng giấy pH xác định giá trị pH của 3 mẫu và so sánh tính

pH giữa 3 mẫu đó: nước chanh, giấm nuôi và axit HCl

→ Giấm nuôi (pH = 2 ÷ 3,5) < nước chanh (pH = 2 ÷ 3) < axit HCl (pH = 1 ÷ 2)

- Giáo viên giới thiệu giá trị pH của dịch dạ dày tinh khiết là 0,8 ÷ 0,9; và khi có thức

Trang 8

• Giả thuyết 1: Trong cơ thể người có chất bảo vệ chống lại axit đó.

• Giả thuyết 2: Trong cơ thể người axit trong dịch dạ dày có nhiệm vụ hòatan một số chất để nuôi cơ thể người

→ cho học sinh đưa ra ý kiến hoặc đề xuất thêm giả thuyết

→ giáo viên lập kế hoạch giải

• Tìm hiểu axit trong dịch dạ dày là axit HCl

• Axit HCl có nhiệm vụ hòa tan các muối khó tan, axit clohidric còn là chất xúctác cho các phản ứng thủy phân các chất gluxit (chất đường, bột) và chất protein(chất đạm) thành các chất đơn giản hơn để cơ thể có thể hấp thụ được

• Lượng axit clohidric trong dịch vị dạ dày người nhỏ hơn hoặc lớn hơn mức bìnhthường đều gây bệnh cho dạ dày Khi trong dịch vị dạ dày có nồng độ axitclohidric nhỏ hơn 0,0001 mol/l (pH &gt; 4,5), người ta mắc bệnh khó tiêu, đầyhơi Mặt khác khi thiếu lượng axit dạ dày cần thiết còn tạo điều kiện cho các vikhuẩn có hại tăng sinh và gây ra các chứng bệnh ung thư

• Ngược lại nồng độ lớn hơn 0,001 mol/l (pH &lt; 3,5), người ta mắc bệnh ợchua, đắng miệng, viêm loét dạ dày, đau dạ dày… Các bệnh lý về dạ dày cóliên quan rất lớn tới tình trạng axit trong dạ dày Bệnh dư axit dạ dày thể hiệnbằng những triệu chứng sau: ợ chua, chua miệng, đầy hơi… Nguyên nhân là do

dạ dày chứa quá nhiều axit Nếu bệnh dư axit dạ dày để lâu ngày, không chữa trị

sẽ dễ dẫn đến loét bao tử, xuất huyết dạ dày…

→ Giáo viên kết luận: Trong cơ thể người axit trong dạ dày có nhiệm vụ hòa tan và làchất xúc tác cho quá trình thủy phân thành các chất đơn giản nuôi cơ thể, và lượng axitnày phải ổn định để không gây ra các bệnh về dạ dày

→ Vận dụng vào tình huống mới: Cho HS kiểm tra giá trị pH trong nước giải khát(nước ngọt) bằng giấy pH và yêu cầu HS rút ra những tác hại đối với sức khỏe conngười → từ đó rèn luyện cho HS ý thức để bảo vệ sức khỏe

Qua dạng bài tập đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, giáo viên có thể phát hiệnđược học sinh nào có tư duy và hiểu biết tốt để từ đó bồi dưỡng tiếp tục cho học sinh

• Khi bản thân giảng dạy bài “Sự điện li”, yêu cầu học sinh về nhà tự làm

bộ dụng cụ thử tính dẫn điện theo hình ảnh trong sách giáo khoa hay từdụng cụ mà giáo viên giới thiệu trên lớp → nhằm mục tiêu tìm ra những

em có đam mê thực sự với khoa học nói chung và hóa học nói riêng →chỉ có đam mê thì các em mới có thể theo đuổi ước mơ của mình dù biếtgắp nhiều khó khăn Từ những dụng cụ các em học sinh nộp, ta sẽ chọnlọc lại dựa vào tính sáng tạo, thẩm mỹ, công năng của sản phẩm →khoanh vùng đối tượng học sinh

Trang 10

- Một số biện pháp bồi dưỡng HSG hoá học theo kinh nghiệm bản thân:

• Quá trình học tập tại lớp bồi dưỡng HSG thường rất vất vả và căngthẳng Các giáo viên dạy đội tuyển cần phải biết kích thích động cơhọc tập của các em để các em có thể vượt qua những khó khăn trongtiến trình học tập này Cụ thể, sắp xếp thời gian biểu phù hợp với lịchhọc chính khóa ở trường, có thể xin tiết các môn khác trong giai đoạn

ôn thi; khuyến khích điểm 10 trong các bài kiểm tra Hóa trong lớp, đềxuất với BGH nhà trường đối với các môn phụ cho học sinh có đượcđiểm số cao → cho học sinh thấy được lợi ích khi tham gia lớp học; cókinh phí để bồi dưỡng cho các học sinh tham gia học cũng như phầnthưởng xứng đáng khi học sinh đạt giải trong các kì thi HSG cấp quậnhuyện, cấp thành phố, cấp quốc gia

• Xây dựng bài luyện tập phát hiện khả năng suy luận logic, biện luận

Ví dụ: Thủy phân hoàn toàn 0,74 gam một hỗn hợp este của hai axit

cacboxylic đơn chức cần 7 gam dung dịch KOH 8% Khi đun nóng hỗnhợp các este trên với H2SO4 đặc 80% được khí X Làm lạnh X, đưa vềnhiệt độ thường và đem cân, sau đó cho khí lội từ từ qua dung dịchbrom dư thì thấy khối lượng khí giảm 1/3, trong đó khối lượng riêngcủa khí gần như không đổi Xác định CTCT hai este

 Một số kiến thức khó của ví dụ trên

- Đề chưa cho hai este là đồng phân hay đồng đẳng Vì vậy cần phảibiện luận hai trường hợp Trường hợp 1: hai este là đồng phân (M=74)nên hai este là HCOOC2H5 và CH3COOCH3 → trường hợp này vô lí.Trường hợp 2: hai este không phải là đồng phân, như vậy một tronghai este là HCOOCH3

- Khi đun nóng este với H2SO4 đặc thu được khí Vậy khí đó là khí gì? →

HS cần nắm kiến thức là chỉ có este của axit fomic khi đun nóng tạo

ra khí CO Ngoài khí CO, còn có khí làm mất màu brom, vậy khí đóphải có liên kết π

- Khí làm mất màu brom là khí gì? Do phản ứng nào tạo ra? Khối lượngriêng của khí gần như không đổi cho phép ta kết luận điều gì?

Trang 11

HCOOR CO + R’ + H2O (R’ ít hơn R một nguyên tử H)

- Khi xác định được khí là etilen thì học sinh cần biện luận xem khí này

là từ gốc C2H5- của este HCOOC2H5 tạo ra hay gốc C2H5- của este kháctạo ra Để giải quyết điều này học sinh cần dựa vào lượng khí đã giảm

Ví dụ: Hỗn hợp X gồm propan, propen, propin có tỉ khối với khí hidro

là 21 Đốt cháy hoàn toàn 0,15 mol hỗn hợp X rồi dẫn toàn bộ sảnphẩm cháy qua dung dịch Ca(OH)2 dư, thấy có m1 gam kết tủa và khốilượng dung dịch Ca(OH)2 giảm m2 gam Tính m1 và m2

Cách 1: Tính theo phương trình hóa học

Gọi x, y, z lần lượt là số mol của C3H8, C3H6, C3H4 Thay số mol vàophương trình

C3H8 + 5O2 → 3CO2 + 4H2O

C3H6 + 9/2O2 → 3CO2 + 3H2O

C3H4 + 4O2 → 3CO2 + 2H2O(gt) → x+y+z=0,15

Cách 2: Tính theo phương trình hóa học kết hợp với BTKL

Giải tương tự cách 1, tìm được m1= 45 gam

Theo ĐLBTKL: mX = mC + mH

↔ 42.0,15 = 0,45.12 + mH

→ mH = 0,9 mol → = 0,9/2 = 0,45 mol

11

Trang 12

m2 = mdd giảm = m1 –( + ) = 17,1 gam.

Cách 3: đặt ẩn phụ

Nhận xét được 3 chất trên đều có cùng số nguyên tử C

→ Đặt công thức chung của hỗn hợp X là C3Hn

C3Hn + O2 → 3CO2 + n/2H2O0,15 mol 0,45 0,075n

→ m1= 45 gam

→ m2= 17,1 gam

 Cách giải này phù hợp với hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan, học sinh có sự suy luận và phân tích nhạy bén mới tìm ra hướng giải này

• Lựa chọn và xây dựng hệ thống bài theo mức độ nhận thức và tư duy.Sắp xếp các bài tập hoá học thành 4 dạng: biết, hiểu, vận dụng thấp

và vận dụng cao

* Biết: HS nhớ các định nghĩa, tính chất, hiện tượng hoá, lý, các

khái niệm công thức đã học và trả lời câu hỏi “ là gì? Là thế nào? ”.Đây là dạng sử dụng các câu hỏi và bài tập đơn giản, thông qua cácthao tác tư duy cự thể, với kĩ năng bắt chước theo mẫu

* Hiểu: Giải thích được các bản chất, các hiện tượng hoá học và trả

lời câu hỏi “vì sao? Như thế là thế nào? Có nghĩa là gì? ….”, thông quacác thao tác tư duy đơn giản như: so sánh, loại suy

* Vận dụng thấp: HS áp dụng được các kiến thức đã học để giải

Trang 13

quyết các vấn đề tương tự, các vấn đề trong cùng phạm vi đã có thayđổi, biết đổi một phần… Loại bài tập này đòi hỏi HS phải vận dụngnhững kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề đang vướng mắc HS

sử dụng các thao tác tư duy như: phán đoán, so sánh, phân tích, tổnghợp, đôi khi còn phối hợp các hoạt động tư duy nhuần nhuyễn để tìmđược câu trả lời đúng

* Vận dụng cao: HS có thể sử dụng các kiến thức đã có, vận dụng

kiến thức vào tình huống mới, linh hoạt, độc đáo hữu hiệu Loại bài tậpkiểu này dành cho học sinh cần có sự kết hợp nhiều hình thức hoạtđộng tư duy như : tổng hợp, phân tích, phán đoán… ở mức độ này các

kĩ năng của học sinh đã đạt được trình độ sáng tạo

Ví dụ: Khi dạy về phản ứng cộng của anken với phân tử HA, em đã lựa

chọn và xây dựng các bài tập nhằm phát triển năng lực nhận thức và

tư duy cho học sinh như sau

Bài tập ở mức độ Biết: Nêu quy tắc cộng Mac – côp – nhi – côp?

Quy tắc cộng Mac – côp – nhi – côp áp dụng cho những anken loạinào?

- Với bài tập loại này học sinh chỉ cần thuộc quy tắc Mac – côp – nhi –

côp: “khi cộng H–A vào anken bất đối thì nguyên tử H (hay phần mangđiện dương) sẽ cộng vào nguyên tử C nối đôi có chứa nhiều H hơn” mà

chưa cần biết tại sao lại như vậy Bên cạnh đó biết được quy tắc này

áp dụng cho trường hợp công phân tử H–A vào anken bất đối

Bài tập ở mức độ Hiểu: Tại sao công phân tử H – A vào anken bất

đối lại tuân theo quy tắc Mac – côp – nhi – côp?

- Phản ứng cộng phân tử H – A vào anken qua 2 giai đoạn liên tiếp.Phân tử H – A bị phân cắt dị li: H tương tác với liên kết tạo thànhcacbocation Cacbocation là tiểu phân trung gian không bền kết hợpngay với anion A tạo ra sản phẩm Giai đoạn tạo cacbocation quyếtđịnh sản phẩm, nếu cacbocation càng bền thì sẽ tạo sản phẩm chính

- Cho CH = CH - CH tác dụng với HCl thì có thể tạo ra 2 cacbocation

và Do hiệu ứng siêu liên hợp làm cho

cacbocation bền hơn nên sản phẩm chínhtuân theo quy tắc Mac- côp - nhi - côp

Bài tập ở mức độ vận dụng thấp

Sản phẩm chính khi cho CH C(CH3) = CH + HCl là:

A Cl - CH - C(CH ) = CH B CH - CCH Cl = CH

C CH - CCH (Cl) - CH D CH CH(CH ) CH Cl

-13

Trang 14

- Để trả lời bài tập này, học sinh chỉ cần vận dụng quy tắc Mac – côp –nhi – côp đã viết ở trên để xác định sản phẩm chính dễ dàng chọnphương án C.

Bài tập ở mức độ vận dụng cao

Cho các phản ứng sau

CF - CH = CH + HBr ?

CH - CH = CH + HBr ?Sản phẩm chính của các phản ứng trên lần lượt là:

A. CF - CHBr - CH ; CH - CHBr - CH

B. CF - CH - CH Br ; CH - CH - CH Br

C. CF - CH - CH Br ; CH - CHBr - CH

D. CF - CHBr - CH ; CH - CH - CH Br

- Bài tập dạng này đòi hỏi học sinh phải tư duy ở mức độ cao hơn, HS

phải huy động kiến thức để so sánh, phân tich, tổng hợp Nhìn về hình

thức thì cấu tạo của hai chất tham gia phản ứng trong 2 phương trìnhtrên không khác nhau; chỉ thay nguyên tử H bằng nguyên tử F; HS sẽphân tích hiệu ứng và xác định cacbocation trung gian nào bền hơn và

có câu trả lời chọn đáp án C.

Trang 15

CH3COOH, H2SO4, to

CO2 dư CH3COOH, H2SO4, to

dd NaoH loãng, dư, to

dd NaoH đặc, dư, to, P

Br2, 1:1, asBr2, 1:1, Fe

PHẦN 2

THIẾT KẾ BÀI TẬP VỀ CƠ CHẾ PHẢN ỨNG TRONG HÓA HỮU CƠ DÙNG ĐỂ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI HÓA HỌC

Ở THPTDạng 1: Bài tập về hoàn thành sơ đồ phản ứng

Ở dạng này, điều kiện phản ứng, các tác nhân đề bài sẽ cho cònsản phẩm trong sơ đồ hoặc trong phương trình sẽ được viết dưới dạngCTPT Dạng nâng cao hơn, đề bài sẽ ẩn đi CTPT ( dạng sơ đồ câm).Muốn làm dạng bài tập này, HS cần phải nắm rõ các điều kiện phảnứng, các tác nhân để dự đoán sản phẩm tạo thành Mỗi mũi tên thôngthường là sản phẩm cuối cùng của một phản ứng mà không dừng lạicác bước trung gian trong một cơ chế

Câu 1: (Đề thi HSG tỉnh Quảng Trị lớp 12 năm 2013)

Viết phương trình thực hiện chuyển hoá với đầy đủ điều kiện, cho biếtphản ứng (1) và (2) tỉ lệ mol của các chất tham gia là 1 : 1

Trang 16

Sản phẩm chính ưu tiên thế nguyên tử H ở cacbon bậc III vì ở đónguyên tử H linh động hơn ở cacbon bậc I.

Vì nguyên tử Br liên kết với nhân benzen rất bền nên không phảnứng với dung dịch NaOH loãng, nhiệt độ thấp

Phản ứng este hóa với rượu bậc III xẩy ra rất chậm và khó khănhơn nhiều so với rượu bậc I, II

Ngày đăng: 28/06/2017, 11:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Cự Giác. Bài tập lý thuyết và thực nghiệm hoá học – tập 2. NXB GD- 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Cự Giác". Bài tập lý thuyết và thực nghiệm hoá học – tập 2
Nhà XB: NXB GD-2010
2. Cao Cự Giác. Bồi dưỡng học sinh giỏi hoá học trung học phổ thông. NXB ĐHQG Hà Nội – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Cự Giác". Bồi dưỡng học sinh giỏi hoá học trung học phổ thông
Nhà XB: NXB ĐHQGHà Nội – 2009
3. Cao Cự Giác. Giáo trình Bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học trung học phổ thông.NXB-ĐHV, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Cự Giác". Giáo trình Bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học trung học phổ thông
Nhà XB: NXB-ĐHV
4. Bộ giáo dục và đào tạo. Đề thi học sinh giỏi quốc gia môn hóa học từ năm 2007 đến năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo
5. Bộ giáo dục và đào tạo. Đề thi chọn đội tuyển Olympic Quốc tế từ năm 2007 đến năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo
6. Bộ giáo dục và đào tạo. Những vấn đề chung về đổi mới hoá học phổ thông môn Hoá học. NXBGD-2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo". Những vấn đề chung về đổi mới hoá học phổthông môn Hoá học
Nhà XB: NXBGD-2007
7. Bộ giáo dục và đào tạo. Hóa học lớp 11 cơ bản, NXB GD-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo". Hóa học lớp 11 cơ bản
Nhà XB: NXB GD-2008
8. Bộ giáo dục và đào tạo. Hóa học lớp 11 nâng cao, NXB GD-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo". Hóa học lớp 11 nâng cao
Nhà XB: NXB GD-2008
9. Bộ giáo dục và đào tạo. Hóa học lớp 12 cơ bản, NXB GD-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo". Hóa học lớp 12 cơ bản
Nhà XB: NXB GD-2008
10. Bộ giáo dục và đào tạo. Hóa học lớp 12 nâng cao, NXB GD-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo". Hóa học lớp 12 nâng cao
Nhà XB: NXB GD-2008
11. Đào Hữu Vinh. Cơ sở lý thuyết nâng cao và bài tập chọn lọc hóa học 11.NXBHN-2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Hữu Vinh". Cơ sở lý thuyết nâng cao và bài tập chọn lọc hóa học 11
Nhà XB: NXBHN-2007
12. Đào Hữu Vinh. Cơ sở lý thuyết nâng cao và bài tập chọn lọc hóa học 12. NXBHN- 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Hữu Vinh. "Cơ sở lý thuyết nâng cao và bài tập chọn lọc hóa học 12
Nhà XB: NXBHN-2007
13. Thái Doãn Tĩnh. Cơ sở lý thuyết hóa hữu cơ. NXBKH&amp;KT- 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Doãn Tĩnh". Cơ sở lý thuyết hóa hữu cơ
Nhà XB: NXBKH&KT- 2002
14. Thái Doãn Tĩnh. Cơ sở hóa học hữu cơ - tập 1,2,3. NXBKH&amp;KT- 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Doãn Tĩnh. "Cơ sở hóa học hữu cơ - tập 1,2,3
Nhà XB: NXBKH&KT- 2001
15. Trần Quốc Sơn. Một số phản ứng của hợp chất hữu cơ. NXB GD-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Quốc Sơn". Một số phản ứng của hợp chất hữu cơ
Nhà XB: NXB GD-2006
16. Tuyển tập đề thi olympic 30 tháng 4 lần thứ XIX- 2013– NXB ĐHSP-2013 Khác
17. Tổng tập đề thi olympic 30 tháng 4 hóa học 11 – NXB ĐHSP-2012 Khác
18. Lê Tấn Diện. Nội dung và biện pháp bồi dưỡng HSG hóa học hữu cơ THPT. Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh-2009 Khác
19. Trương Thị Nhật Dung. Một số dạng bài tập tổng hợp chất hữu cơ trong bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học. Sáng kiến kinh nghiệm, THPT Lê Quý Đôn, 2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w