Triết học, tôn giáo, khoa học là gì? Phân tích mối quan hệ giữa triết học và tôn giáo; giữa triết học và khoa học; giữa tôn giáo và khoa học; Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Vận dụng mối quan hệ này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Trang 13 Chứng minh rằng, triết học Mác ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử triết học nhân loại; nó làm cho chủ nghĩa Mác không chỉ có giá trị
lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với thời đại 4
4 Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Vận dụng mối quan hệ này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 6
5 Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này ntn vào sự nghiệp cách mạng ở nước ta 15
6 Đảng ta khẳng định: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Hãy chỉ ra và phân tích cơ sở triết học của khẳng định đó 17
7 Bằng lý luận và thực tiễn chứng minh rằng "Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới ? 18
Câu 8: Hãy phân tích nội dung và ý nghĩa triết học câu nói của C.Mác: "Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng" 21
9 Trình bày khái quát các hình thức lịch sử của phép biện chứng? vì sao nói phép biện chứng duy vật là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng ? 23
Câu 10: Lý luận, phương pháp luận là gì? Vạch ra mối quan hệ biện chứng giữa chúng, đồng thời giải thích nhận định của V.I.Lênin: “Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn phát triển không ngừng” 26
11 Phân tích cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện (/nguyên tắc phát triển; / nguyên tắc lịch sử - cụ thể) Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động
Trang 2thực tiễn? Lấy một tình huống minh họa việc vận dụng nguyên tắc này trong hoạt động của chính mình 27
Câu 12: Phân tích cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của phương pháp hệ thống (/phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể; /phương pháp thống nhất cái lịch sử và cái lôgích) Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức khoa học? Lấy một ví dụ minh họa việc vận dụng phương pháp này trong hoạt động nghiên cứu khoa học 30
Câu 13.Phân tích nội dung lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại; /quy luật phủ định của phủ định) Đảng Cộng sản Việt Nam đang vận dụng quy luật này như thế nào vào công cuộc Đổi mới hiện nay ở nước ta? 35
14 Bằng lý luậnvà thực tiễn Anh chị hãy chứng minh rằng cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới luân là qúa trình khó khăn, lâu dài, phức tạp, cái mới có thể thất bại tạm thời nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng cái cũ 46
15.Giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng
là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm” 47
16.Cơ sở nào để khẳng định nguyên tắc lịch sử - cụ thể là “linh hồn” phương pháp luận của triết học Mác – Lênin? 48
Câu 17: Phép biện chứng tư duy, tư duy biện chứng là gì? Mối quan hệ giữa chúng? 49
Câu 18: Bằng hiểu biết về lý luận và thực tiễn, hãy làm sáng rõ luận điểm của V.I.Lênin: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn là quan điểm thứ nhất và cơ bản của
lý luận nhận thức” 50
Câu 19: Phân tích những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn Đảng Cộng Sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam? 53
Câu 20: Dựa vào những yêu cầu của nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn và lý luận, phân tích câu nói của C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” 55
Câu 21: Vận dụng lý luận vào thực tiễn, V.I.Lênin nhận xét: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả tính hiện thực trực tiếp” Hãy phân tích nhận xét trên 57
Trang 3Câu 22: Hãy làm rõ những biểu hiện và những nguyên nhân cơ bản của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều ở nước ta Để khắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều ở nước ta, chúng ta cần phải làm gì? 59
Câu 23: Tại sao nói sản xuất vật chất là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận gì? 60
Câu 24: Phân tích nội dung quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX Rút ra ý nghĩa phương pháp luận Liên hệ đến quá trình xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa ở Việt Nam 61
Câu 25: Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Đảng ta đã vận dụng quy luật này như thế nào để phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta? 63
Câu 26 Phân tích mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng , giữa kinh tế và chính trị Rút ra ý nghĩa phương pháp luận Liên hệ đến công cuộc đổi mới ở Việt Nam 66
Câu 27: Phân tích mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Vận dụng mối quan hệ này vào việc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở nước ta hiện nay 70
Câu 28: Hình thái kinh tế - xã hội là gì? Vì sao nói sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên? Liên hệ tới con đường tiến lên chủ nghĩa xă hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam 73
Câu 29 Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay? 75
30 Phân tích khái niệm tồn tại xã hội và các yếu tố cơ bản hợp thành tồn tại xã hội? Trong số các yếu tố cơ bản hợp thành tồn tại xã hội thì yếu tố nào là quan trọng nhất, tại sao? trang 323, phương thức sản xuất, trang 210 78
Câu 31: phân tích mối quan hệ giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng, tại sao tâm lý
xã hội và hệ tư tưởng là hai giai đoạn thấp và cao của ý thức xã hội nhưng lại không trực tiếp sinh ra hệ tư tưởng? 79
Câu 32 Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
và rút ra những ý nghĩa về mặt phương pháp luận? 80
Câu 32 Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
và rút ra những ý nghĩa về mặt phương pháp luận? 82
Câu 33 Tại sao trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chúng
ta tất yếu phải xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, những nội dung cơ bản của nền tảng tinh thần đó là gì? 84
Trang 4Câu 34 Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa quan niệm về con người trong triết học phương Đông với quan niệm về con người trong triết học phương Tây và với quan niệm về con người trong triết học Mác – Lênin Vận dụng quan điểm triết học Mác – Lênin về con người vào việc phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay 84
Câu 35 Định nghĩa về bản chất con người của Các Mác dùng để chỉ bản chất của riêng từng cá nhân con người hay dùng để chỉ chung bản chất của cả giống loài người, tại sao? 86
Câu 36 Giải thích thế nào là tha hóa và tha hóa con người Nguyên nhân của sự tha hóa con người và cách thức tiến hành xóa bỏ sự tha hóa con người? 87
Câu 37 Giải phóng cho con người là giải phóng đối tượng nào? Giải phóng bằng cách nào? Giải phóng như thế nào? 88
Câu 38 Trình bày sự tương đồng và sự khác biệt sáng tạo của quan niệm về con người trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với quan niệm con người của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lê-nin 88
Câu 39 Trình bày những quan điểm cơ bản của Đảng ta về nhân tố con người
và sự phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay 89
Trang 51 Triết học, tôn giáo, khoa học là gì? Phân tích mối quan hệ giữa triết học và tôn giáo; giữa triết học và khoa học; giữa tôn giáo và khoa học.
- Triết học tồn tại ở dạng tinh thần, nghiên cứu về thế giới, là hệ thống tri
thức lý luận, vai trò, vị trí của con người trong thế giới
- Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hoang đường và hư ảo
hiện thực khách quan Qua sự phản ánh của tôn giáo mọi sức mạnh tự phát của
tự nhiên và xã hội đều trở thành thần bí Là sản phẩm của con người, gắn vớinhững điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội xác định Do đó xét về mặtbản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của conngười trước tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, trong ý thức tôn giáo cũng chứa đựngnhiều giá trị phù hợp với đạo đức, đạo lý con người
- Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức
mới, học thuyết mới về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mớinày, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp
- Mối quan hệ giữa triết học và tôn giáo: Sự hình thành thế giới quan tôn
giáo là bước chuẩn bị tư tưởng để hình thành thế giới quan triết học Lịch sửphát triển tôn giáo ghi nhận sự phát triển nội dung tư duy triết học và sự biểucảm của nội dung đó Qua từng chặng đường của tôn giáo, chúng ta thấy người
cổ đại ngày càng có tư duy triết học hơn Hegels nhận xét rằng, trong tôn giáotiềm ẩn nội dung triết lý, con đường từ tôn giáo đến triết học là con đường từ lýtính hoang tưởng đến lý tính khoa học, từ hình thức diễn đạt thông qua biểutượng đến hình thức diễn đạt bằng khái niệm Lịch sử nhân loại chứng minhrằng, ở đâu phát triển phong phú tôn giáo thì ở đó hưng thịnh triết học.chúng tathấy triết học có một mối quan hệ mật thiết với tôn giáo nói chung, thần học nóiriêng Mối quan hệ này biến thiên theo dòng chảy của lịch sử, theo sự phát triển
tư duy khoa học và sự thay đổi các quan điểm - thể chế chính trị Trong mỗi thờiđại khác nhau, triết học có cách luận chứng và giải đáp khác nhau về những vấn
đề mà tôn giáo và thần học đặt ra Tuy nhiên sự luận chứng và lời giải đáp củatriết học duy vật khác với triết học duy tâm Nếu triết học duy vật, đặc biệt làtriết học duy vật biện chứng marxist có thái độ và quan niệm đối lập với tôn giáothì triết học duy tâm lại là người bạn đồng hành của tôn giáo và thần học Tómlại, giữa triết học và tôn giáo vừa có sự thống nhất lại vừa bao hàm mâu thuẫn;
do vậy, lời nhận xét của Betrand Russell: “Triết học là hình thái tư tưởng nằm ởranh giới giữa khoa học và tôn giáo” không phải là không có lý
- Mối quan hệ giữa triết học và khoa học :
Là mối quan hệ hai chiều, nghĩa là, triết học và các khoa học đều cótác động biện chứng lẫn nhau Nếu như sự tác động của triết học đến khoa học
có thể chia thành những giai đoạn và mỗi giai đoạn có những hình thức nhấtđịnh, thì ngược lại, sự tác động của khoa học đến sự phát triển của triết họckhông phải khi nào cũng rõ ràng và có khuynh hướng rõ rệt Từ chỗ lúc đầu làmột sự hòa trộn đan xen giữa tri thức khoa học và triết học, dần dần là sự tách racủa khoa học và sau đó, khoa học bắt đầu ảnh hưởng đến sự phát triển của triết
Trang 6học Tác động của khoa học lên sự phát triển của triết học không phải là trựctiếp và theo đường thẳng, mà là gián tiếp tạo ra bầu không khí tinh thần chophép hình thành một kiểu tư duy, một cái nhìn tương ứng với trạng thái đạtđược của khoa học về thế giới Thông qua những tri thức và phát minh khoahọc, các khái niệm, các phạm trù triết học có thêm những nội dung mới Sự pháttriển của khoa học tự nhiên nhất định sẽ đưa đến những kết luận triết học chungnhư là một sự tổng kết lý luận Những kết luận triết học rút ra từ các phát minhcủa khoa học tự nhiên thường do chính các nhà khoa học tự nhiên thực hiện.Ảnh hưởng của khoa học đến sự phát triển của triết học có thể đưa đến nhữngkết luận tích cực, nhưng cũng có thể đưa đến những kết luận tiêu cực, phản khoahọc.
Xét về phương thức biểu hiện, triết học là thế giới quan lý luận, là
hệ thống các tư tưởng được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nhận thức.Xét về tính chất, triết học là sự khái quát chung nhất, mang đặc trưng tư duytổng hợp Mối quan hệ giữa triết học và các khoa học là mối quan hệ biệnchứng, thống nhất của các mặt đối lập Tính đặc thù của mối quan hệ này nằm ởchỗ, tùy từng giai đoạn phát triển cụ thể mà mặt này hay mặt kia nổi trội, tácđộng của mặt này lên mặt kia không phải chỉ theo một hướng duy nhất Các kếtluận triết học được rút ra từ khoa học có thể là tích cực, nhưng cũng có thể làtiêu cực Điều đó phụ thuộc vào lý luận nhận thức của các nhà khoa học đượcđịnh hướng bởi thế giới quan triết học nào
- Mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học:
Trong khi khoa học tìm hiểu các quy luật của thế giới vật chấtkhách quan thì tôn giáo xác định các giá trị tinh thần và tâm linh của con người;trong khi khoa học làm nền tảng cho công nghệ thì tôn giáo làm nền tảng chođạo đức; trong khi khoa học bận tâm tới đời sống vật chất thì thì tôn giáo bậntâm tới ý nghĩa và giá trị đích thực của đời người Nếu quan tâm đến các phươngpháp khoa học, chúng ta sẽ nhận ra thế giới khoa học hoàn toàn không có chỗcho lòng trung thành Trong khoa học, con người liên tục nêu ra các giả thuyết
và kiểm định chúng Một giả thuyết khi đã thu thập đủ bằng chứng khoa học ủng
hộ các luận điểm của nó sẽ được gọi là lý thuyết hoặc học thuyết Nhưng ngay
cả các học thuyết tốt nhất cũng không được đặt cao hơn truyền thống hoài nghi.Trái ngược với khoa học, niềm tin là yếu tố cốt tử của mọi tôn giáo Người ta cóthể “ủng hộ” một học thuyết khoa học hoặc không ủng hộ, nhưng đối với tôngiáo thì phải có đức tin để được xem là có sức mạnh tinh thần Sự đối lập giữatôn giáo và khoa học như đã từng xảy ra trong lịch sử thực ra chỉ là một sự đốilập Giả tạo khi tôn giáo không có thẩm quyền lại lên tiếng về những vấn đềthuộc phạm vi riêng của khoa học và khoa học lại can thiệp vào những vấn đềthuộc vào bản chất và đặc trưng của tôn giáo điều đó không có nghĩa là đem tôngiáo đối lập với khoa học mà là để trả lại tôn giáo và khoa học những chức năng
và vai trò mà chúng vốn có Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng, tôngiáo mà không có khoa học thì mù quáng
Trang 72 Tư duy lý luận, tư duy biện chứng là gì? Bình luận nhận định của Ph.Ăngghen: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”… “Cứ mỗi lần khoa học đạt được thành tựu mới thì triết học phải thay đổi hình thức tồn tại của chính mình”
Trả lời:
Tư duy lý luận
Là hình thức cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình phản ánh hiện thựckhách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng cáckhái niệm, phạm trù, quy luật Ở đó, chủ thể nhận thức sử dụng ngôn ngữ vàcác thao tác tư duy để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra cácquy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức
Tư duy biện chứng
Năng lực tư duy biện chứng là một bộ phận cấu thành năng lực tư duy, nó
có vai trò đặc biệt quan trọng đối với chủ thể nhận thức và hoạt động Năng lực
tư duy biện chứng đòi hỏi chủ thể nhận thức không chỉ có tri thức khoa học sâurộng mà còn phải biết vận dụng linh hoạt, mềm dẻo những tri thức đó vào giảiquyết những vấn đề cụ thể trong cuộc sống Nhưng để có khả năng vận dụngnhững tri thức chung nhất của phép biện chứng duy vật vào giải quyết nhữngvấn đề cụ thể, đòi hỏi chủ thể nhận thức phải hiểu biết sâu sắc và nắm vữngđược phép biện chứng duy vật Có như vậy mới hình thành được năng lực tưduy biện chứng
Như vậy, năng lực tư duy biện chứng là tổng hợp tất cả các phẩm chất của tư duy ở trình độ cao, khoa học nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức
và thực tiễn đang đặt ra một cách đúng đắn, kịp thời, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả nhất Muốn vậy chủ thể tư duy phải: Nắm vững các nguyên lý, quy luật,
phạm trù của phép biện chứng duy vật và vận dụng linh hoạt, sáng tạo nhữngnguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng duy vật vào nhận thức vàgiải quyết những vấn đề bức thiết của thực tiễn đặt ra
Bình luận nhận định của Ph.Ăngghen: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”… “Cứ mỗi lần khoa học đạt được thành tựu mới thì triết học phải thay đổi hình thức tồn tại của chính mình”.
Trước đây những dân tộc khác nhau có những nền khoa học phát triểnkhông như nhau Tuy nhiên hiện nay, khoa học thuộc về cộng đồng do thế giới
đã hòa nhập
Đỉnh cao khoa học: tiếp cận những vấn đề phức tạp nhất của giới khoahọc ở thời điểm, giai đoạn đó Muốn lao vào đối đầu, giải quyết với các vấn đềkhoa học ở đỉnh của sự phát triển thì không thể ko có triết học hướng dẫn
Trang 8Các nhà khoa học phải học triết học để nắm vững tư duy lý luận Vì nómang lại tư duy lý luận hay còn gọi là thế giới quan, phương pháp luận giúp chocác nhà khoa học có khả năng xử lý những vấn đề do khoa học đặt ra.
Ngược lại, khoa học cũng có vai trò rất quan trọng đối với triết học
Nếu triết học mang đến cho khoa học tư duy lý luận để các nhà khoa họcnghiên cứu và khám phá thế giới thì khoa học cũng mang đến cho triết họcnhững thành tựu của mình để luận chứng cho những nguyên lý, quy luật phạmtrù của nó Vì vậy, khi khoa học phát triển và đạt được những thành tựu mới,buộc triết học phải thay đổi cơ sở lý luận của mình hay hoàn thiện chính mình.Việc gắn với sự phát triển của khoa học sẽ giúp cho tư duy nắm được cácmối liên hệ bên trong của các sự vật hiện tượng Thêm vào đó, các thành tựu củakhoa học tự nhiên đã đưa lại những cơ sở khách quan, những kết luận chung cho
tư duy lý luận Sự phát triển của khoa học nói chung và những phát minh mớitrong khoa học nói riêng sẽ dẫn đến sự mất đi một số khái niệm và đồng thờixuất hiện một số khái niệm khác Dĩ nhiên, điều đó không thể xem như là sự đổimới thuật ngữ giản đơn của ngôn ngữ Đó chính là quá trình làm sâu sắc thêm về
tư duy nhờ đó được những hình thức diễn đạt bằng lời tương ứng Và quá trìnhlàm “sâu sắc" tư duy đó được gắn liền với việc mở rộng lĩnh vực áp dụng những
hệ ngôn ngữ mới
3 Chứng minh rằng, triết học Mác ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử triết học nhân loại; nó làm cho chủ nghĩa Mác không chỉ có giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với thời đại.
Đến giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh ở các nước Tây
Âu Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng tỏ ra ưu việt hơn so vớicác chế độ xã hội khác trong lịch sử Tây Âu đã trở thành trung tâm của sự pháttriển lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa, và sự phát triển lực lượng sản xuất tạo
ra cơ sở kinh tế cho sự phát triển về mọi mặt trong đời sống xã hội
Chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển càng sản sinh ra và củng cố tronglòng nó một lực lượng đối lập là giai cấp vô sản công nghiệp có vai trò to lớnđối với sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản; nhưng lực lượng này ngàycàng xung đột gay gắt với giai cấp tư sản Phong trào đấu tranh của giai cấp vôsản đã phát triển ngày càng mạnh mẽ và rộng lớn.s
Để cuộc đấu tranh giai cấp thắng lợi cần phải có một lý luận khoa học dẫnđường đưa giai cấp công nhân đi từ đấu tranh tự phát tới đấu tranh tự giác Lúcbấy giờ, lý luận về chủ nghĩa xã hội không tưởng của Xanh Ximông, Phuriê,Ôoen,… không đáp ứng được yêu cầu, lợi ích và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vôsản Do đó, triết học Mác phải ra đời để đáp ứng được nhu cầu là vũ khí tinhthần của giai cấp vô sản Và giai cấp vô sản đóng vai trò là vũ khí vật chất củaTriết học Mác Hơn nữa, chỉ có triết học Mác mới có khả năng cải tạo chủ nghĩa
xã hội không tưởng thành chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 9Sự ra đời của Triết học Mác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trìnhphát triển của tư tưởng triết học của nhân loại Nó là hình thức phát triển caonhất của chủ nghĩa duy vật và của phép biện chứng Đó là kết quả của sự pháttriển của triết học duy vật trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, đồng thờicũng là kết quả của sự phát triển của phép biện chứng trong cuộc đấu tranh vớiphép siêu hình, trong lịch sử triết học Tuy nhiên, tiền đề lý luận trực tiếp cho sự
ra đời của triết học Mác là triết học cổ điển Đức, mà tiêu biểu là triết họcHêghen và triết học Phoiơbắc
Xuất phát từ quá trình vận động phát triển của “ý niệm tuyệt đối”, Hêghen
đã trình bày đầy đủ và chặt chẽ hệ thống các tư tưởng (các nguyên lý, quy luật
và phạm trù) của phép biện chứng theo tinh thần duy tâm, thần bí C.Mác vàPh.Ăngghen đã triệt để phê phán tính chất duy tâm, thần bí trong triết họcHêghen nhưng đồng thời cũng đánh giá cao tư tưởng biện chứng của ông Bằngthiên tài của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cải tạo triệt để phép biện chứngduy tâm thành phép biện chứng duy vật để nó đóng vai trò công cụ tinh thầnnhận thức các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người
Xuất phát từ giới tự nhiên vật chất, tìm hiểu các vấn đề về con người vàxây dựng nên chủ nghĩa duy vật nhân bản, Phoiơbắc coi con người – với tư cách
là thực thể của thế giới tự nhiên – là đối tượng nghiên cứu của triết học Ông đốilập chủ nghĩa duy vật nhân bản của mình với triết học duy tâm biện chứng củaHêghen và trên cả hai bình diện là bản thể luận và nhận thức luận đồng thời đòivứt bỏ chủ nghĩa duy tâm và cả phép biện chứng của Hêghen… C.Mác vàPh.Ăngghen đã đánh giá cao chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, nhưng cũng đồngthời phê phán tư duy siêu hình, duy tâm về lịch sử của ông Chính C.Mác vàPh.Ăngghen là những người đã nhận thức một cách chính xác những thành tựu
và hạn chế của triết học Phoiơbắc, và dựa trên hệ thống triết học này để xâydựng thế giới quan duy vật biện chứng của mình
Sự ra đời của triết học Mác còn xuất phát từ những giá trị mà nhân loạiđạt được trong lĩnh vực kinh tế chính trị học Anh (đại biểu là A.Xmít vàĐ.Ricácđô), chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và Anh (đại biểu là XanhXimông, S.Phuriê, R.Ôoen) Nhờ những giá trị tư tưởng trong các lĩnh vực này
mà C.Mác và Ph.Ăngghen thấy rõ nền tảng vật chất của sự phát triển lịch sử xãhội, sáng tạo nên quan điểm duy vật về lịch sử và dự báo về chủ nghĩa xã hộihiện thực trong tương lai
Những thành tựu của: R.Mayer và P.P.Joule đã phát hiện ra định luật bảotoàn và chuyển hóa năng lượng; Schwann và Schleiden xây dựng học thuyết tếbào; Darwin xây dựng học thuyết tiến hóa;… đã làm lung lay tận gốc các quanniệm duy tâm, siêu hình về nhận thức thế giới tự nhiên; đồng thời, khẳng địnhcác tư tưởng nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và của phép biện chứngduy vật về mọi sự tồn tại trong thế giới (nguyên lý về tính thống nhất vật chất;nguyên lý về mối liên hệ phổ biến; nguyên lý về sự phát triển) Khoa học tựnhiên mang tính chất lý luận trong giai đoạn này là tiền đề khoa học cho sự rađời của triết học Mác; và những khái quát của triết học Mác đã mang lại cơ sở
Trang 10về thế giới quan và phương pháp luận phổ biến cho các lĩnh vực khoa học cụ thểtrong việc nhận thức thế giới khách quan.
Sự ra đời của triết học Mác là sản phẩm mang tính quy luật của sự pháttriển khoa học và triết học nói riêng, của toàn bộ lịch sử tư tưởng nhân loại nóichung Chính C.Mác và Ph.Ăngghen là những thiên tài đã khái quát được toàn
bộ tiến trình lịch sử và văn hóa tinh thần mà loài người đã đạt được, để xây dựnghọc thuyết triết học duy vật biện chứng, đáp ứng được nhu cầu nhận thức và cảitạo thực tiễn xã hội mà thời đại lịch sử đặt ra.V.I.Lênin viết: “Chủ nghĩa Mác…không nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới Tráilại, toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề
mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra Học thuyết của ông ra đời là sựthừa kế thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trongtriết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội”
4 Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Vận dụng mối quan
hệ này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Trong lịch sử, chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước vật chất có sau,
ý thức quyết định vật chất
Chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vậtchất quyết định ý thức và sinh ra ý thức Tuy nhiên quan điểm của họ chưa thấyđược vai trò, tính năng động sáng tạo của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng xuất phát từ con người hiện thực, conngười thực tiễn để xem xét mối quan hệ này Từ đó khẳng định, vật chất cótrước, ý thức có sau, vật chất quyết định nguồn gốc, bản chất, nội dung sự biếnđổi của ý thức và ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của conngười
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng đã được Lênin đề cặpđến trong định nghĩa về vật chất của ông Với định nghĩa ấy Lênin đã phân biệtchủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ nghĩa duy tâm đồng thời cũng nêu lên mốiquan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thể hiện qua vai trò quyết định củavật chất đối với ý thức và tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại của ý thứcđối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người, để làm rõ quanđiểm này chúng ta chia làm hai phần:
a) Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức:
Lênin đã đưa ra một định nghĩa toàn diện, sâu sắc và khoa học về phạmtrù vật chất Từ định nghĩa của Lênin đã khẳng định vật chất là thực tại kháchquan được phản ánh vào bộ não của con người thông qua tri giác và cảm giác.Thật vậy, ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não conngười Con người là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất
Như vậy, xét cho cùng, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồngốc của ý thức và quyết định nội dung của ý thức Cụ thể là:
Trang 11Thứ nhất, phải có bộ não của con người phát triển ở trình độ cao thì mới
có sự ra đời của ý thức Bên cạnh đó, thế giới tự nhiên cũng quyết định sự ra đờicủa ý thức vì nếu có bộ não phát triển mà không sống trong thế giới tự nhiên đadạng phong phú tức là không có sự tác động của thế giới tự nhiên vào bộ nãocon người thì ý thức của con người chẳng khác nào loài vật, khó nhận thức đượchay nói cách khác ý thức là sự tương tác giữa bộ não con người và thế giớikhách quan Ta cứ thử giả dụ, nếu một người nào đó sinh ra mà bộ não khônghoạt động được hay không có bộ não thì không thể có ý thức được Cũng nhưcâu chuyện cậu bé sống trong rừng cùng bầy sói không được tiếp xúc với xã hộiloài người thì hành động của cậu ta sau khi trở về xã hội cũng chỉ giống nhưnhững con sói Tức là hoàn toàn không có ý thức
Thứ hai, là phải có lao động và ngôn ngữ, đây chính là nguồn gốc xã hội
của ý thức Nhờ có lao động mà các giác quan của con người phát triển phản ánhtinh tế hơn đối với hiện thực ngôn ngữ là cầu nối để trao đổi kinh nghiệm, tìnhcảm hay là phương tiện thể hiện ý thức Ở đây ta cũng nhận thấy rằng nguồn gốccủa xã hội có ý nghĩa quyết định hơn cho sự ra đời của ý thức Vật chất là tiền
đề cho sự tồn tại và phát triển của ý thức nên khi vật chất thay đổi thì ý thứccũng phải thay đổi theo như ông bà ta có câu: “Có thực mới vực được đạo”
Bên cạnh đó, vật chất là điều kiện khách quan để hiện thực hóa tư tưởng,chủ trương, kế hoạch của con người, do đó mà vật chất quyết định tính năngđộng, sáng tạo, phong phú, đa dạng của ý thức trong hoạt động thực tiễn
b)
Ý thức tác động trở lại vật chất:
Nói đến ý thức là nói đến vai trò của con người vì ý thức là của conngười, có tính tương đối tác dụng trở lại đối với vật chất thông qua hoạt độngthực tiễn của con người và nó là toàn bộ hoạt động tinh thần của con người như:tình cảm yêu thương, tâm trạng, cảm xúc, ý chí, tập quán, truyền thống, thóiquen, quan điểm, tư tưởng, lý luận, đường lối, chính sách, mục đích, kế hoạch,biện pháp, phương hướng…Sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phảnánh tinh thần, sáng tạo và chủ động chứ không máy móc, rập khuôn theo thếgiới vật chất và nó chỉ phát huy vai trò của mình khi có sự kết hợp chặt chẽ giữanhân tố chủ quan và điều kiện khách quan Do đó, các yếu tố tinh thần, tâm líđều tác động trở lại vật chất một cách mạnh mẽ
Ví dụ: Nếu tâm trạng của người công nhân mà không tốt thì làm giảmnăng suất của một dây chuyền sản xuất trong nhà máy Nếu không có đường lốicách mạng đúng đắn của Đảng ta thì dân tộc ta cũng không thể giành thắng lợitrong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ cũng như Lênin đã nói “ Không
có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”
Như vậy, ý thức không hoàn toàn phụ thuộc vào vật chất mà ý thức cótính độc lập tương đối vì nó có tính năng động cao nên ý thức có thể tác động trởlại vật chất góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễncủa con người Do đó, sẽ tạo ra hai hướng:
Trang 12Nếu ý thức phản ánh đúng điều kiện vật chất, hiện thực khách quan thì sẽ
có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạothế giới vật chất Trong trường hợp này, ý thức có tác động trở lại tích cực đốivới thực tiễn, đặc biệt là sự tác động của khoa học, lí luận Đây là cơ sở quantrọng cho việc xác định mục tiêu, phương hướng và biện pháp chính xác tronghành động và thực tiễn cuộc sống Bởi lẽ, khi phản ánh đúng hiện thực kháchquan thì chúng ta hiểu bản chất quy luật vận động của các sự vật hiện tượngtrong thế giới quan
Ví dụ: Hiểu tính chất vật lý của thép là nóng chảy ở hơn 10000C thì conngười tạo ra các nhà máy gang thép để sản xuất các loại thép với đủ các kích cỡchủng loại, chứ không phải bằng phương pháp thủ công xa xưa
Ngược lại, khi ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan sẽ làmcho các hoạt động của con người không phù hợp với quy luật khách quan, có thểkìm hãm hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới quan.Bên cạnh đó, khi con người không nhận thức đúng, không hiểu rõ sự việc, hiệntượng thì họ sẽ hành động sai và thường chịu những thất bại trong cuộc sống
Ví dụ: Trong công việc, nếu khen thưởng đúng người đúng việc sẽ làmtăng sự hưng phấn và trách nhiệm đối với công việc, ngược lại sẽ dẫn đến bệnhthành tích, khoe khoang và sự chán nản của các cá nhân khác do sự sai lệch dẫnđến không minh bạch trong công tác khen thưởng
Vì vậy, con người phải thừa nhận tính khách quan của vật chất, thừa nhậnquy luật tự nhiên của xã hội để phát huy tính năng động của ý thức, nhận thứcđúng sự vật hiện tượng Thế giới vật chất với những thuộc tính, quy luật của nótồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức con người nên trong hoạt độngthực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn
cứ cho hoạt động của mình
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vừa có tính tuyệt đối vừa có tínhtương đối Vật chất quyết định ý thức là tuyệt đối Nhưng trong một số trườnghợp cụ thể hoặc trong một giai đoạn ngắn, ý thức lại quyết định vật chất Mácchỉ rõ lí luận sẽ trở thành lực lượng vật chất khi nó thâm nhập vào quần chúng
Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống
xã hội là quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó tồn tại xã hộiquyết định ý thức xã hội và ý thức xã hội có tính độc lập tương đối tác động trởlại tồn tại xã hội Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở đểxem xét các mối quan hệ như chủ thể và khách thể, lí luận và thực tiễn, điềukiện khách quan và nhân tố chủ quan…
II/ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
Từ quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức ta rút ra được ý nghĩaphương pháp luận như sau:
Thứ nhất, vì vật chất quyết định ý thức nên trong hoạt động thực tiễn
chúng ta phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan,
Trang 13nhận thức và hành động theo đúng quy luật khách quan Không được lấy ý muốnchủ quan thay cho điều kiện khách quan
Thứ hai, vì ý thức tác động trở lại vật chất nên cần phải thấy được vai trò
tích cực của ý thức, tinh thần để sử dụng có hiệu quả các điều kiện vật chất hiện
có, phát huy tính năng động chủ quan, đặc biệt phát huy vai trò của tri thức,khoa học, chú ý giáo dục và nâng cao nhận thức cho con người Mác nói: “Vũkhí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí,lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất nhưng lí luậnmột khi thâm nhập được vào quần chúng thì sẽ trở thành lực lượng vật chất”
Thứ ba, cần chống lại căn bệnh chủ quan duy ý chí, tuyệt đối hóa vai trò
của ý thức và cho rằng ý chí, ý thức có thể thay được điều kiện khách quan,quyết định điều kiện khách quan Đó là hành động lấy ý chí áp đặt thực tế, lấy
ảo tưởng thay cho hiện thực Bệnh chủ quan duy ý chí là do sự yếu kém về trình
độ nhận thức nói chung và sự hạn chế trong quá trình áp dụng lí luận vào thựctiễn nói riêng Đó là “sự mù quáng chủ quan”, là sai lầm tự phát dẫn đến rơi vàochủ nghĩa duy tâm một cách không tự giác Chúng ta cũng không nên tuyệt đốihóa vai trò của vật chất trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Nghĩa làchống lại “chủ nghĩa khách quan” thái độ thụ động, tuyệt đối hóa điều kiện vậtchất trông chờ ỷ lại vào điều kiện vật chất, không chịu cố gắng, không tích cực,chủ động vượt khó vươn lên
Thứ tư, đảm bảo tính thống nhất biện chứng giữa tính khách quan và chủ
quan trong hoạt động của con người cũng là một yếu tố quan trọng trong quátrình nhận thức
III/ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI:
Như chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứngvới nhau, trong đó nhân tố vật chất giữ vai trò quyết định còn nhân tố ý thức cótác động trở lại nhân tố vật chất nhưng trong nhiều trường hợp, ý thức lại quyếtđịnh sự thành bại của con người Điều đó được thể hiện trong đường lối, chủtrương đổi mới kinh tế của Đảng ta, hay nói khác hơn đó là vấn đề giữa kinh tế
và chính trị trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Vì vậy để xây dựng
xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải nhận thấy nguyên lý vật chất quyết định ý thức
là xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo nó
Trước thời kỳ đổi mới, khi cơ sở vật chất còn thiếu thốn, chúng ta nônnóng muốn đốt cháy giai đoạn nên phải trả giá Ở thời kỳ này, chúng ta đã xemnhẹ thực tế phức tạp của thời kỳ quá độ, chưa nhận thức được thời kỳ quá độ đilên xã hội chủ nghĩa là quá trình lịch sử lâu dài và phải trải qua nhiều chặngđường Do đó, thời kỳ này chúng ta phát triển quan hệ sản xuất (QHSX) đi trướclực lượng sản xuất (LLSX) mà không nhìn thấy vai trò quyết định của LLSX
Sau giải phóng, đất nước ta là đất nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu dohậu quả của chiến tranh để lại, hơn 90% dân số tham gia vào nông nghiệp nhưngchúng ta lại nôn nóng xây dựng các nhà máy công nghiệp để theo đuổi mục tiêu
Trang 14nhanh chóng trở thành nước công nghiệp hóa trong khi LLSX chưa phát triển,thêm vào đó là sự phân công không hợp lý về quản lý Nhà nước và xã hội,quyền lực tập trung chủ yếu vào Đảng, Nhà nước thì quản lý quá nhiều mặt của
xã hội, nhiều quy định được ban hành và thực hiện quá cứng nhắc làm cho đờisống xã hội yếu kém, thiếu sức sống, thiếu năng động sáng tạo…dẫn đến tìnhtrạng người làm công thì chỉ cần làm theo đúng giờ qui định nên hiệu quả côngviệc không cao, người quản lý thì chỉ “ngồi chơi xơi nước” chờ đến cuối thánglĩnh lương
Thực tế đó đã cho chúng ta thấy nếu đường lối chính sách của Đảng phùhợp với quy luật phát triển sẽ làm cho đất nước phát triển, ngược lại sẽ kìm hãm
sự phát triển kinh tế của nước nhà Nhưng xét cho cùng, đường lối được đề raphải phụ thuộc vào điều kiện khách quan, hoàn cảnh cụ thể Thế giới luôn vậnđộng, vai trò tích cực của ý thức cũng chỉ tồn tại trong một giai đoạn, điều kiệnnhất định, nếu đường lối không phù hợp thì sớm muộn cũng bị đào thải Nếumột đất nước có một nền kinh tế phát triển giàu mạnh mà chính trị bất ổn thì đấtnước đó sẽ không phát triển bền vững, cuộc sống của người dân sẽ không đượcyên bình, hạnh phúc Còn đất nước có nền kinh tế phát triển, chính trị ổn địnhthì sẽ trở nên giàu mạnh, người dân có một cuộc sống ấm no
Với các chủ trương trên, Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hộiVII đã khẳng định: “Đảng ta đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quyluật khách quan” trong việc xác định mục tiêu, phương hướng về xây dựng cơ
sở vật chất,cải tạo xã hội chủ nghĩa (XHCN) và quản lý kinh tế… Biểu hiện củacăn bệnh đó là chúng ta đã chủ quan trong việc đánh giá những khả năng hiện
có, vì thế mà sinh ra những ảo tưởng về tốc độ cải tạo, phát triển kinh tế và hệquả của nó là việc đề ra những chỉ tiêu quá cao vượt quá khả năng thực tại.Không những vậy, Đảng đã mắc sai lầm là vội vàng cải tạo XHCN, phủ nhậnnền kinh tế nhiều thành phần, duy trì cơ chế quan liêu bao cấp Đảng có nhiềusai sót trong quản lý tiền tệ cũng như quản lý giai cấp lãnh đạo Chúng ta đãkhông có một đường lối, chính sách phát triển kinh tế thận trọng và khoa họcdẫn đường
Như vậy, Đảng ta đã vi phạm nguyên tắc khách quan của sự xem xét, tráivới tinh thần của phép biện chứng duy vật Qua đó, chúng ta thấy được vai tròquyết định của vật chất đối với ý thức, đó cũng là bài học quan trọng của Đảnglà: “Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quyluật khách quan”
Từ đó, Đảng ta nhận thấy rằng phải có cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa
và cơ sở vật chất phát triển Chúng ta phải xây dựng LLSX phù hợp với QHSX.Chúng ta có thể bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa nhưng không thể bỏ quanhững tính quy luật chung của quá trình từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn Bêncạnh đó, phải biết kế thừa và phát triển tích cực những kết quả của công nghiệp
tư bản cùng những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ, môi trường, cơchế thị trường với nhiều hình thức cụ thể tác động vào quá trình phát triển kinhtế
Trang 15Để vực dậy nền kinh tế lạc hậu của nước nhà, Đảng đã xác định là phảiphát triển nền kinh tế nhiều thành phần để tăng sức sống và năng động cho nềnkinh tế, phát triển LLSX Phát triển các quan hệ hàng hoá và tiền tệ, tự do buônbán, các thành phần kinh tế tự do kinh doanh và phát triển theo khuôn khổ củapháp luật, được bình đẳng trước pháp luật Mục tiêu là làm cho thành phần kinh
tế quốc doanh và tập thể đóng vai trò chủ đạo Song song quá trình phát triểnnền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì chúng ta cũng cần phát triển nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Thực tế tại Đại hội lần thứ VI (12- 1986) đã nghiêm khắc tự phêbình về những chủ trương, chính sách sai lầm mang nặng tính giáo điều chủquan duy ý chí, đồng thời đề ra đường lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nướcthoát khỏi khủng hoảng và đi vào thế ổn định và phát triển
Tại Đại hội VI đã đề ra định hướng lớn và xác định các chủ trương đổimới Hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại củanền kinh tế tiểu tư bản, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Vận dụng đúng đắn quan
hệ hàng hoá - tiền tệ Trong quá trình thực hiện nghị quyết đại hội Đảng VI,những diễn biến phức tạp trên thế giới đã ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế ởnước ta Nhưng Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã nỗ lực khắc phục khó khăn,phát huy tích cực sáng tạo, sự kiên trì tìm tòi khám phá ra con đường đổi mớikinh tế và đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đã đánh giá tình hình kinh
tế Việt Nam sau hơn bốn năm thực hiện đường lối đổi mới: Công cuộc đổi mới
đã đạt được những thành tựu rất quan trọng Nền kinh tế có những chuyển biếntích cực, bước đầu hình thành nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơchế thị trờng có sự quản lý của Nhà nước, tốc độ lạm phát giảm, so với trướcđây thì độ khủng hoảng đã giảm bớt Nhưng trong Đại hội VII cũng chỉ ranhững tồn tại lớn cần giải quyết đặc biệt là về kinh tế Đồng thời cũng tự phêbình về việc chậm xác định rõ yêu cầu và nội dung đổi mới, còn nhiều sơ hở vàlúng túng trong quản lý điều hành Đặc biệt trong Đại hội cũng xác định “vềquan hệ giữa đổi mới với các chính sách nhằm đổi mới kinh tế thì phải tập trungtrước hết đổi mới kinh tế với các chính sách nhằm để đáp ứng những nhu cầucấp bách của nhân dân về đời sống"
Như vậy, Đảng và nhà nước ta vận dụng ngày càng đúng đắn phươngpháp luận biện chứng về mối quan giữa vật chất và ý thức vào trong công cuộcđổi mới và xây dựng kinh tế Đại hội VII sau khi đã phân tích sâu sắc tình hìnhquốc tế và trong nước đã vạch ra những đường lối phát triển kinh tế một cáchtổng quát Xác định đổi mới kinh tế là trọng tâm để tạo điều kiện thúc đẩy mạnh
mẽ việc đổi mới các lĩnh vực khác Trong công cuộc đổi mới, báo cáo trước Đạihội đã nhận xét: “nét nổi bật là ở trong Đảng đã có sự đổi mới về tư duy kinh tếvới tinh thần độc lập sáng tạo”
Đảng đã cụ thể hoá và phát triển Nghị quyết Đại hội VII bước đầu hìnhthành hệ thống các quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới kinh tế ởnước ta Và hội nghị đại biểu toàn quốc giữa kỳ đã đánh giá thành tựu to lớn có
ý nghĩa hàng đầu là đã khắc phục được một bước rất quan trọng tình trạng
Trang 16khủng hoảng kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá liên tiếp trong 3 năm Tổngsản phẩm GDP trong nước tăng bình quân 8,2% (mức đề ra cho 5 năm 1991-
1995 là 5,5 và 6,5%), sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện Sảnlượng lương thực trong 5 năm (1991- 1995) tăng 26% so với 5 năm trước (1986-1990) Sản xuất công nghiệp đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 13,3%( mức kế hoạch đề ra là 7,5- 7,8%) Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộngtheo hướng đa dạng hoá và đa phương hoá, thị trường xuất nhập khẩu cũng đượccủng cố và mở rộng, vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, tăng trưởng kim ngạchxuất khẩu trong 5 năm 1991- 1995 đạt trên 17 tỷ USD ( mức kế hoạch là 2- 15
tỷ USD), đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn trong sự nghiệpđổi mới và phát triển kinh tế đất nước
Nhưng trong những năm 1991-1995, nền kinh tế vẫn còn có những mặtyếu kém Đó là, nền kinh tế vẫn còn mang tính nông nghiệp lạc hậu, côngnghiệp còn nhỏ bé, cơ sở hạ tầng kém phát triển Tuy nền kinh tế tăng trưởngkhá nhưng năng suất, chất lượng… của sản phẩm còn thấp và yếu Vì vậy, Hộinghị toàn quốc giữa kỳ đã đề ra những chủ trương và biện pháp giải quyết cụ thểnhư: thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, thực hiện chính sách nhất quán phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa trên cơ sở bám chặt vào hiện trạng của nền kinh tế thực tại
Hiện nay nền kinh tế thị trường ở nước ta vẫn còn đang ở trình độ kémphát triển so với tốc độ phát triển của thế giới: Số lượng hàng hoá và chủng loạihàng hoá quá nghèo nàn, hàng hoá lưu thông trên thị trường và kim ngạch xuấtnhập khẩu còn quá nhỏ, chi phí sản xuất lại quá cao dẫn đến giá thành caonhưng chất lượng mặt hàng lại kém Nhiều loại thị trường quan trọng còn ở trình
độ sơ khai hoặc mới đang trong quá trình hình thành như: thị trường vốn, thịtrường chứng khoán, thị trường sức lao động Chúng ta cũng cần mở rộng giaolưu kinh tế nước ngoài, nhanh chóng hội nhập vào các tổ chức thương mại thếgiới và các hiệp định song phương đồng thời phải xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ
Muốn vậy, ta phải đa phương hoá và đa dạng hoá hình thức và đối tác,phải quán triệt trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, không can thiệp vào côngviệc nội bộ của nhau và không phân biệt chế độ chính trị - xã hội Thu hút vốnđầu tư nước ngoài và phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một trong chủ trương quantrọng của Đảng Để làm điều này thì chúng ta cần giữ vững ổn định chính trị,hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới các chính sách tài chính và tiền tệ, giá cả,phát triển các thị trường quan trọng như thị trường chứng khoán, thị trường laođộng, Nhà nước cũng cần hạn chế việc can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp mà nên tập trung tốt các chức năng tạo môi trường,hướng dẫn, hỗ trợ cần thiết cho các doanh nghiệp nước ngoài Xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật đồng bộ nhưng thông thoáng lành mạnh để tạo sự tintưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài Tránh tình trạng giấy tờ phức tạp rắc rối,trên bảo dới không nghe làm cho quá trình giải toả mặt bằng gặp nhiều khókhăn
Trang 17Như vậy, kinh tế (vật chất) là tính thứ nhất, chính trị (ý thức) là tính thứhai Mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hìnhthái kinh tế: cộng sản nguyên thủy - chiếm hữu nô lệ - phong kiến - tư bản chủnghĩa - chủ nghĩa xã hội Mỗi hình thái kinh tế đều có một đặc điểm riêng, nếuhình thái kinh tế thay đổi thì đường lối chính sách cũng thay đổi để phù hợp vớinền kinh tế đó
Trình độ tổ chức quản lý và tính hiện đại của nền sản xuất chính là nhân
tố quyết định trình độ và mức sống của xã hội bởi sản xuất vật chất là nền tảnghình thành tất cả các quan hệ xã hội, đời sống tinh thần của xã hội Mối quan hệgiữa kinh tế và chính trị càng được thể hiện rõ trong quá trình xây dựng đổi mớiđất nước, hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng mọi quan hệ của đời sống xã hội baogồm quan hệ chính trị, nhà nước pháp quyền, đạo đức, khoa học, tôn giáo…đềuhình thành và biến đổi gắn liền với kinh tế và sản xuất nhất định
Vai trò tác động trở lại của ý thức đối với vật chất cũng là một trongnhững chủ trương quan trọng mà Đảng ta đặc biệt chú ý, lấy chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động Tư tưởng HồChí Minh nằm trong hệ tư tưởng Mác – Lênin, là sự thống nhất giữa chủ nghĩaMác - Lênin và thực tiễn của đất nước Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh đãbảo vệ và quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin đúng đắn, hiệu quả nhất Như vậymuốn hiểu sâu sắc và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phải nắm vững chủ nghĩaMác - Lênin, nhất là phép biện chứng duy vật và phải nghiên cứu, nắm vữngthực tiễn Chúng ta phải tập trung suy nghĩ về hai mặt:
Một là, về mục tiêu, lý tưởng và đạo đức lối sống Đây là yếu tố cơ bản
nhất chi phối mọi suy nghĩ, hành động của chúng ta quyết định phẩm chất củangười cán bộ, đảng viên trong điều kiện chuyển biến của thế giới và tình hìnhtrong nước Tư tưởng của Bác khẳng định mỗi người chúng ta hãy nâng cao đạođức cách mạng, đạo đức công dân và đạo đức của người cộng sản Cụ thể, chúng
ta phải "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", luôn vì sự nghiệp dân giàu nướcmạnh Kiên quyết chống chủ nghĩa thực dụng với các biểu hiện tính đa dạngtrong nền kinh tế thị trường mở cửa, ngăn chặn sự thoái hoá biến chất trong một
bộ phận cán bộ, đảng viên
Hai là, về yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, mỗi người
trên cương vị trách nhiệm của mình, phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Vì vậy,chúng ta phải đề cao ý chí phấn đấu, phấn đấu không mệt mỏi, không sợ giankhổ, đồng thời phải ra sức trau dồi tri thức Cần nâng cao tri thức khoa học xãhội và nhân văn, đặc biệt là nâng cao trình độ lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao tri thức về khoa học tự nhiên, đặc biệt làmũi nhọn về khoa học công nghệ hiện đại Phải nắm vững phương pháp nhậnthức và hành động của Bác, bám sát thực tiễn, bám sát cơ sở, thâm nhập dânchúng, đánh giá đúng khó khăn thuận lợi, thực trạng và triển vọng Tự nỗ lực, vìdân và thực sự dựa vào dân, thực hiện dân chủ lắng nghe và quan tâm ý kiến củadân mà tìm ra phương hướng, biện pháp, nguồn vốn sức mạnh vật chất, tinh thần
và trí tuệ để vượt qua khó khăn và thách thức
Trang 18Phấn đấu tốt hai mặt trên là chúng ta đã thực sự quán triệt tư tưởng HồChí Minh và làm theo di chúc của Người, đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng màNgười đã chỉ đường để xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình thống nhất,độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Vai trò ý thức tác động lại vật chất cũng phải được thể hiện rõ ởkhía cạnh phát huy tính năng động, tích cực và vai trò trung tâm của con người,một số giải pháp cho vấn đề này:
Một là, đổi mới hệ thống chính trị dân chủ hoá đời sống xã hội nhằm phát
huy đầy đủ tính tích cực và quyền làm chủ của nhân dân
Hai là, đổi mới cơ chế quản lý, hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội phù
hợp có ý nghĩa then chốt trong việc phát huy tính tích cực của ngời lao độngnhư: cơ chế quản lý mới phải thể hiện rõ bản chất của một cơ chế dân chủ, và cơchế này phải lấy con người làm trung tâm, vì con ngời, hướng tới con người làphát huy mọi nguồn lực Cơ chế quản lý mới phải xây dựng đội ngũ quản lý cónăng lực và phẩm chất, thành thạo về nghiệp vụ
Ba là, đảm bảo lợi ích của người lao động là động lực mạnh mẽ của quá
trình nâng cao tính tích cực của con người: cần quan tâm đúng mức đến lợi íchvật chất, lợi ích kinh tế của người lao động đảm bảo nhu cầu thiết yếu của họnhư ăn, ở, mặc, đi lại, học hành, khám chữa bệnh, nghỉ ngơi Cũng cần có chínhsách đảm bảo và kích thích phát triển về mặt tinh thần, thể chất cho nhân dân,tăng cờng xây dựng hệ thống cơ chế chính sách phù hợp để giải quyết tốt vấn đề
ba lợi ích tập thể, và lợi ích xã hội nhằm đảm bảo lợi ích trớc mắt cũng như lâudài của người lao động
Bốn là, Đảng và Nhà nước cũng cần khắc phục thái độ ỷ lại vào hoàn
cảnh bằng cách nhanh chóng cổ phần hoá các công ty nhà nước để tạo sự năngđộng, sáng tạo trong hoạt động cũng như cạnh tranh, nhất là trong thời kỳ hộinhập hiện nay Ngoài ra chúng ta cũng cần nâng cao trình độ nhận thức tri thứckhoa học cho nhân dân nói chung và đặc biệt đầu tư cho ngành giáo dục Chúng
ta cần xây dựng chiến lược giáo dục, đào tạo, với những giải pháp mạnh mẽ phùhợp để mở rộng quy mô chất lượng ngành đào tạo, đối với nội dung và phươngpháp giáo dục, đào tạo, cải tiến nội dung chương trình giáo dục, đào tạo phù hợpvới từng đối tượng, trường lớp ngành nghề Kết hợp giữa việc nâng cao dân trí,phổ cập giáo dục với việc bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ của người lao động để đáp ứng nhu cầu cao của sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước
Nhìn chung, những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua là cả mộtquá trình phấn đấu toàn điện của Đảng và nhân dân ta trong công cuộc xây dựng
và đổi mới đất nước Qua đó, chúng ta hoàn toàn tin tưởng và có cơ sở khẳngđịnh rằng công cuộc đổi mới mà chúng ta cùng nhau xây dựng và thực hiện làhoàn toàn đúng đắn và phù hợp với thực trạng nước ta trên cơ sở vận dụng sángtạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 195 Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này ntn vào sự nghiệp cách mạng ở nước ta
Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dungcủa nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới Yêu cầu của nguyên tắcnày được tóm tắt như sau: khi nhận thức khách thể ( đối tượng ), sự vật hiệntượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trongchính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện
- Vật chất là cái có trước tư duy Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giaiđoạn phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy Do tư duy phảnánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng ta không đượcxuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng mà phải xuấtphát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được bắt đối tượngtuân theo tư duy mà phải bắt tư duy tuân theo đối tượng Không ép đối tượngthỏa mãn một sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng– cái logic phát triển của chính đối tượng đó
- Toàn bộ nghệ thuật chinh phục bản chất của sự vật hiện tượng được góighém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức,phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào thế giới bên trong của sự vật Nghệ thuậtchinh phục như thế không mang đến cho sự vật hiện tượng một cái gì đó xa lạvới chính nó Điều này đã đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khan Làm nhưthế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sự vật là khách quan,
là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sungthêm yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tínhđảng
- Giới tự nhiên và xã hội không bao giờ tự phơi bày toàn bộ bản chất củamình ra thành các hiện tượng điển hình Con người không phải chỉ nhận thứcnhững cái gì bộc lộ ra trước chủ thể Do đó để phản ánh khách thể như mộtchỉnh thể, chủ thể tư duy không thể bổ sung những yếu tố chủ quan như đề xuấtcác giả thuyết, đưa ra các dự đoán khoa học Thiếu những điều này tư duy sẽkhông mang tính biện chứng, sẽ không thể hiện bản tính sáng tạo thông qua trítưởng tượng của chính mình Yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủthể đòi hỏi chủ thể tư duy phải biến đối, thậm chí cải tạo đối tượng để tìm rabản chất của nó Những biến đổi, cải tạo đối tượng phù hợp quy luật của hiệnthực thuộc lĩnh vực nghiên cứu
- Yêu cầu khách quan trong xem xét có ý nghĩa rất quan trọng trong nhậnthức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội Đối tượng nghiên cứu bao gồm cáivật chất và cái tinh thần chứa đầy những cái chủ quan, những cái lý tưởng vàluôn chịu sự tác động của các lực lượng tự phát của tự nhiên lẫn lực lượng tựgiác ( ý chí, lợi ích , mục đích, nhân cách, cá tính khác nhau) của con người Ởđây đối tượng , khách thể tư duy quyện chặt vào chủ thể tư duy bằng hệ thốngnhững mối liên hệ chằng chịt Do đó cần phải cụ thể hóa nguyên tắc khách quan
Trang 20trong xem xét các hiện tượng xã hội, tức là phải kết hợp nó với các yêu cầuphát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng Điềunày còn có nghĩa là nguyên tắc khách quan trong xem xét không chỉ bao hàmyêu cầu xuất phát từ chính đối tượng, từ những quy luật vận động và phát triểncủa nó, không được thêm bớt tùy tiện chủ quan, mà nó còn phải biết phân biệtnhững quan hệ vật chất với những quan hệ tư tưởng các nhân tố khách quan vớicác nhân tố chủ quan, thừa nhận các quan hệ vật chất khách quan tồn tại xã hội
là nhân tố quyết định Còn những hiện tượng tinh thần, tư tưởng được quy địnhbởi đời sống vật chất của con người và các quan hệ kinh tế của họ nhưng chúng
có ảnh hưởng ngược lại tồn tại xã hội Phải coi xã hội là một cơ thể sống tồn tại
và phát triển không ngừng chứ không phải là cái gì đó kết thành một cách máymóc Phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành mộthình thái kinh tế xã hội và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành vàphát triển của hình thái xã hội đó
- Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độquan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giảiquyết các vấn đề xã hội, đối với khunh hướng phát triển của các hiện tượng xãhội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội những đánh giá có giá trị hơn nhữngcách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyếtthuộc về các lực lượng cách mạng thời đại đó Vì vậy tính khách quan trongxem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng việc xemthường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quantrong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thứcđúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp
6 Đảng ta khẳng định: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Hãy chỉ ra và phân tích cơ sở triết học của khẳng định đó.
Ở Việt Nam, do bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ & hành động giảnđơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng đã xuất hiện trước Đổimới có nguyên nhân và gây ra tác hại lớn
Xuất phát từ hiện thực khách quan của nước ta yếu kém về năng lực tưduy, lạc hậu về lý luận, ít kinh nghiệm trong xây dựng và quản lý đất nước;Đồng thời do sai lầm ấu trĩ “tả” khuynh, xảy ra trong một điều kiện lịch sử rấtđặc biệt của dân tộc ta (Biết phát huy tối đa sức mạnh tinh thần, khao khát thoát
ra khỏi cuộc sống lầm than, nô lệ ) nhưng lại không xuất phát từ hiện thực, bấtchấp quy luật, coi thường tri thức KH,… Nên tạo ra những chính sách sai lầm,gây ra những hậu quả về nhiều mặt (kinh tế, xã hội…) rất nghiêm trọng & kéodài
Để có thể khắc phục triệt để chủ nghĩa chủ quan phải quán triệt thực hiệnnguyên tắc khách quan Vì nguyên tắc khách quan là nguyên tắc đầu tiên của tưduy biện chứng, Vận dụng nguyên tắc khách quan kết hợp với chủ quan tronghoạt động nhận thức sẽ tránh được những sai lầm trong chính sách phát triển đấtnước
Trang 21Trên cơ sở quy luật khách quan đó, Đảng ta khẳng định “Mọi đường lốichủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.
Để làm được điều đó Phải tôn trọng hiện thực kh.quan, tôn trọng vai trò quyếtđịnh của VC, tức:
Xuất phát của hiện thực kh.quan của đất nước, của thời đại để hoạch địnhchiến lược, sách lược phát triển đất nước;
Biết tìm kiếm, khai thác, tổ chức những lực lượng vật chất (cá nhân –cộng đồng, kinh tế – quân sự, trong nước – ngoài nước, quá khứ – tương lai,…)
để hiện thực hóa chúng
Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; Coi đại đoàn kết toàn dântộc là động lực chủ yếu phát triển đất nước Biết kết hợp hài hòa các dạng lợi íchkhác nhau (kinh tế, chính trị, tinh thần, ; cá nhân, tập thể, xã hội) thành độnglực thúc đẩy công cuộc đổi mới
Đồng thời phải phát huy tính năng động, sáng tạo của YT, ph.huy vai tròcủa các yếu tố chủ quan (t.thức, t.cảm, ý chí, lý trí, ), tức ph.huy vai trò nhân tố
CN trong h.động nhận thức & thực tiễn cải tạo đất nước Cụ thể:
Coi sự thống nhất nhiệt tình CM & tri thức KH là động lực tinh thần thúcđẩy công cuộc Đổi mới; Chống lại thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ trì trệ; Bồidưỡng nhiệt tình, phẩm chất cách mạng; Khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quậtcường, tài trí người Việt Nam,…
Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng (chủ nghĩaMác–Lênin, tư tưởng HCM); Nâng cao và đổi mới tư duy lý luận (về CNXH &con đường đi lên CNXH);
Phổ biến tri thức KH cho cán bộ, đảng viên, nhân dân
Kiên quyết khắc phục & ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí, lốisuy nghĩ, hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảotưởng; bất chấp quy luật khách quan
7 Bằng lý luận và thực tiễn chứng minh rằng "Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới ?
Ý thức con người có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
- Nguồn gốc tự nhiên: Triết học duy vật biện chứng chỉ ra rằng, phản ánh làthuộc tính chung của mọi vạn vật chất Đó là năng lực giữ lại, tái hiện lạicủa 01 hệ thống vật chất này những đặc điểm của của một hệ thống vật chất
Trang 22khác khi 02 hệ thống vật chất đó tác động lẫn nhau Cùng với sự phát triểncủa thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp lêncao Như vậy ý thức là thuộc tính của 01 dạng vật chất có tổ chức cao là bộnão người Não người và sự phản ánh của thế giới khách quan vao nãongười chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
- Nguồn gốc xã hội: Triết học duy vật biện chứng chỉ ra rằng, chính lao động
và ngôn ngữ là 02 nguồn gốc xã hội Quyết định trực tiếp đến sự hình thành
và phát triển của ý thức Chính lao động đóng vai trò Quyết định trong sựchuyển biến từ vượn thành người, làm cho con người khác với tất cả độngvật khác Lao động giúp con người cải tạo thế giới và hoàn thiện chínhmình Thông qua lao động não người càng ngày càng hoàn thiện, phát triểngiúp tư duy trừu tượng phát triển Chính lao động là cơ sở hình thành, pháttriển của ngôn ngữ Sự ra đời của ngôn ngữ sẽ giúp con người phản ánh sựvật khái quát hơn Điều này càng thúc đẩy tư duy trừu tượng phát triển Đây là 02 yếu tố quan trọng để phát triển ý thức Lao động và ngôn ngữ là
“hai sức kích thích chủ yếu” để bộ não vượn thành bộ não người, phản ánhtâm lý động vật thành phản ánh ý thức
Về bản chất của ý thức: Các Mác đã chỉ ra rằng ý thức chẳng qua chỉ là
vật chất được di chuyển vào trong bộ óc của con người và được cải biến đi ở
trong đó Như vậy bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định,
nhưng khi phản ánh thì nó mang dấu ấn chủ quan của con người
- Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào óc người nhưng đó làphản ánh sáng tạo Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú.Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thểtưởng tượng ra cái không có trong thực tế ý thức có thể tiên đoán, dự báo tươnglai, có thể tạo ra những huyền thoại, những giả thuyết
- Phản ánh của ý thức là tích cực, chủ động: con người trên cơ sở hoạtđộng thực tiễn, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng làm cho chúng bộc lộtính chất, thuộc tính, đặc điểm → hiểu biết vận dụng tri thức để nhận thức vàcải tạo TGKQ
- Ý thức mang bản chất xã hội
Khi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định
ý thức thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức con người, màphải xuất phát từ thế giới khách quan.Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng
và hành động theo các quy luật khách quan Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằngkhông được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, lấy ý chí áp đặt chothực tế vì như vậy sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.Tuy nhiên, chủ nghĩaduy vật đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng to lớn của ý thức đối vớivật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Quan hệ giữa vật chất và
ý thức là quan hệ hai chiều Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vậttầm thường và bệnh bảo thủ, trì trệ trong nhận thức và hành động
Trang 23Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ýthức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả Do đó, muốnthực hiện tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn Nghĩa là con người muốnthực hiện quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quyluật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động Vai trò của ý thức
là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con ngườihành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiệnkhách quan nhất định Do đó, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thếgiới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả "Ý thức con người khôngchỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới" Vì vậy, phải pháthuy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người đểtác động, cải tạo thế giới khách quan
Từ quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
ta thấy không được xem nhẹ quan điểm khách quan, tính năng động, sáng tạocủa ý thức mà nó còn đòi hỏi phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức,của nhân tố chủ quan Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thểphải phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc tìm ra những biện pháp, nhữngcon đường để từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đócon người thực hiện sự biến đổi từ cái “vật tự nó” (tức thực tại khách quan)thành cái phục vụ cho nhu cầu của con người đồng thời sử dụng hiệu quả cácđiều kiện, sức mạnh vật chất khách quan, sức mạnh của quy luật … để phục vụcho các mục tiêu, mục đích khác nhau của con người
Nếu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta tuyệt đối hóa, cườngđiệu hóa vai trò của nhân tố chủ quan thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự pháttriển của xã hội và rơi vào bệnh bệnh bảo thủ trì trệ Đây là khuynh hướng sai lầmcực đoan do cường điệu hóa vai trò của vật chất, sùng bái sức mạnh của quy luật,
hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan Khuynh hướng bảo thủ sẽ dẫn đến tình trạng
ỷ lại, chậm đổi mới, ngại thay đổi, dựa dẫm, chờ đợi, thậm chí cản trở cái mới,bằng lòng thỏa mãn với cái đã có
Liên hệ thực tế:
Bệnh bảo thủ trì trệ là một thực tế tồn tại trong thời kỳ khá dài trước đổimới (trước Đại hội lần VI tháng 12-1986) Trong giai đoạn này, tình trạng khủnghoảng kinh tế xã hội ngày càng trầm trọng xuất phát từ bảo thủ có tác hại rất lớn.Bênh bảo thủ trì trệ được biểu hiện qua việc “chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế đã lỗi thời”, trong công tác tổ chức thời kỳ này “khuyết điểm lớn nhất là sự trìtrệ, chậm đổi mới công tác cán bộ Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cơ quanlãnh đạo và quản lý các cấp còn theo quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn khôngđúng đắn, mang nặng tính hình thức ” Đảng ta đã “duy trì quá lâu cơ chế quản
lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp” - một cơ chế "gắn liền với tư duy kinh tếdựa trên những quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chấtchủ quan, duy ý chí"
Bệnh bảo thủ trì trệ có nguyên nhân từ sự yếu kém lạc hậu về tư duy lýluận, trí thức lý luận không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Sự giản đơn
Trang 24yếu kém về lý luận thể hiện ở chổ: hiểu và vận dụng chưa đúng nguyên lý, quyluật, phạm trù, chưa chú ý tiếp thu kế thừa những thành tựu, kỹ thuật công nghệmới của chủ nghĩa tư bản, của nhân loại, thậm chí còn có định kiến phủ nhậnmột cách cực đoan những thành tựu đó, chưa chú ý tổng kết những cái mới từ sựvận động, phát triển của thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhâncủa bệnh chủ quan là kém lý luận, lý luận là lý luận suông Còn do nguồn gốclịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của con người chi phối
Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước ta, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bướcđược ổn định và nâng cao, chế độ XHCN ngày càng củng cố và đất nước đã rakhỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và đang có những bước chuyển biến tíchcực trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội
Nền kinh tế của nước ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh tế – kỹthuật yếu, trong điều kiện sự biến đổi khoa học – công nghệ trên thế giới lại diễn
ra rất nhanh, liệu nước ta có thể đạt được những thành công mong muốn trongviệc tạo ra nền khoa học – công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc tế trong một thời gianngắn hay không? Chúng ta phải làm gì để tránh được nguy cơ tụt hậu so với cácnước trong khu vực và trên thế giới? Câu hỏi này đặt ra cho chúng ta một vấn đề
đó là sự lựa chọn bước đi và trật tự ưu tiên phát triển khoa học – công nghệtrong quan hệ với phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới Như vậy có nghĩa là
ta cần phải có tri thức vì tri thức là khoa học Chúng ta phải không ngừng nângcao khả năng nhận thức cho mỗi người Tuy nhiên nếu tri thức không biến thànhniềm tin và ý chí thì tự nó cũng không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực
cả Chỉ chú trọng đến tri thức mà bỏ qua công tác văn hoá- tư tưởng thì sẽ khôngphát huy được thế mạnh truyền thống của dân tộc Chức năng của các giá trị vănhoá đã đem lại chủ nghĩa nhân đạo, tính đạo đức Không có tính đạo đức thì tất
cả các dạng giá trị (giá trị vật chất và tinh thần) sẽ mất đi mọi ý nghĩa Còn cáchmạng tư tưởng góp phần làm biến đổi đời sống tinh thần – xã hội, xây dựng mốiquan hệ tư tưởng, tình cảm của con người với tư cách là chủ thể xây dựng đờisống tinh thần và tạo ra được những điều kiện đảm bảo sự phát triển tự do củacon người.Mà có tự do thì con người mới có thể tham gia xây dựng đất nước
Tóm lại, từ những phân tích trên cho thắng lợi của công cuộc đổi mới cóđược là dựa trên một nền tảng tư tưởng đúng, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh mà trong đó sự quán triệt và vận dụng đúng quy luật,nguyên tắc khách quan là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng
Câu 8: Hãy phân tích nội dung và ý nghĩa triết học câu nói của C.Mác: "Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng"
1 Hoàn cảnh xuất hiện: trong Lời nói đầu của bộ “Góp phần phê phán triếthọc pháp quyền của Hêgen” của C.Mác - Gồm ba tác phẩm của Mác phê phán
Trang 25quan điểm của Hêghen về nhà nước và pháp quyền Sự tán dương của tác giảvới chế độ quân chủ lập hiến, chế độ quan liêu và quân chủ Phổ Nêu vai trò lịch
sử của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh nhằm cải tổ xã hội
2 Nội dung:
C.Mác đã nói rõ rằng, "tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết.Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thựctiễn"
Ở câu nói trên, "Vũ khí của sự phê phán" và "lý luận" là khoa học, tư tưởngkhoa học, lý luận khoa học, còn "sự phê phán của vũ khí” và "lực lượng vậtchất" là hoạt động vật chất, hoạt động thực tiễn của con người Như vậy, C Mác
đã giải trình rất rõ ràng, lý luận khoa học phải thông qua hoạt động thực tiễn củacon người thì mới trở thành lực lượng vật chất Nếu lý luận không thông quahoạt động của con người mà chỉ tự bản thân nó thôi thì không thể biến thành cái
gì cả và không sinh ra tác động tích cực hay tiêu cực đến thực tiễn Trong mốiquan hệ giữa lý luận và thực tiễn, thì thực tiễn, xét đến cùng, là cái luôn giữ vaitrò quyết định; còn lý luận có tính độc lập tương đối của nó
Lý luận phải được vận dụng sáng tạo vào trong từng điều kiện cụ thể của thựctiễn để kịp thời chỉ đạo hoạt động thực tiễn, lý luận phải được kiểm nghiệmtrong thực tiễn
- Lý luận được xây dựng không dành cho lý luận mà để phục vụ cho hoạtđộng thực tiễn, sự phát triễn của lý luận không tách ra khỏi thực tiễn mà bám sátthực tiễn, giải đáp các vấn đề do thực tiễn đặt ra
- Lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm tính chân lý của nó
- Lý luận đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp để hướng dẫn, dự báohoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới Lý luận chỉ có sức mạnh khi xâm nhập vàothực tiễn, vào hoạt động của con người trong thực tế
Hoạt động của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soiđường, nhờ đó mà hoạt động thực tiễn của con người mới trở thành tự giác, cóhiệu quả và đạt được mục đích mong muốn Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lýluận, vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phươngpháp, biện pháp thực hiện Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển các mốiquan hệ thực tiễn, dự báo được những rủi ro có thể xảy ra, những hạn chế,những thất bại có thể có trong quá trình hoạt động Như vậy lý luận không chỉgiúp con người hoạt động có hiệu quả mà còn:
- Là cơ sở để khắc phục những hạn chế hiểu biết của con người
- Là cơ sở để tăng năng lực hoạt động của con người
- Lý luận có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng của con người
- Liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo thành sức mạnh cải tạo tựnhiên và xã hội
3 Ý nghĩa triết học:
Trang 26Cho thấy vị trí vai trò của triết học, của lý luận khoa học trong sự nghiệp đấutranh giải phóng nhân dân lao động thoát khỏi sự nô dịch của giai cấp bóc lột.Theo Mác, triết học phải có nhiệm vụ phản ánh mọi xung đột của đời sốnghiện thực, những điều kiện kinh tế, vật chất của những xung đột hiện thực ấy,đồng thời vạch ra con đường và những cách giải quyết các xung đột đó Vì vậy,triết học phải tìm được cho mình một lực lượng nằm ngay trong bản thân hiệnthực, có khả năng phủ định xã hội hiện tại, xây dựng một xã hội mới Lực lượng
ấy chính là giai cấp vô sản Như vậy theo Mác, triết học tiên tiến phải gắn liềnvới các lực lượng tiến bộ
9 Trình bày khái quát các hình thức lịch sử của phép biện chứng? vì sao nói phép biện chứng duy vật là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng ?
1 Khái niệm biện chứng, phép biện chứng (Trang 109, cuốn 2, triết học)
Trong chủ nghĩa Mác — Lênin, khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mốiliên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sựvật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy Biện chứng bao gồmbiện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Biện chứng khách quan là biệnchứng của thế giới vật chất, còn biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứngkhách quan vào trong đời sống ý thức của con người
Phép biện chứng vừa là lý luận (học thuyết) nghiên cứu bản tính biện chứngcủa thế giới vừa là phương pháp luận (nguyên tắc hay quan điểm) xem xét sựvật trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái luôn vận động, pháttriển; là cách thức tư duy mềm dẻo, linh hoạt Do vậy, phép biện chứng vừa là
hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù phản ánh đúng đắn bản tính biệnchứng cuả vạn vật tồn tại trong thế giới; vừa là hệ thống các nguyên tắc phươngpháp luận chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn hiệu quả Phépbiện chứng đối lập với phép siêu hình
2 Các hình thức lịch sử của phép biện chứng (Trang 109 – 115, cuốn 2, triết học)
Phép biện chứng đã phát triển qua ba hình thức, ba trình độ cơ bản: phép biệnchứng chất phác, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật
a Phép biện chứng chất phác
Là hình thức đầu tiên của phép biện chứng Nó là một nội dung cơ bản trongnhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại Tiêu biểucho nhũng tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là "biến dịch luận”(học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và "ngũhành luận" (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chấtbản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia Trong triết học Ấn Độ, biểu hiện rõ nétnhất của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm trù "vôngã", "vô thường", "nhân duyên" Đặc biệt, triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiệnmột cách sâu sắc tinh thần của phép biện chứng tự phát Ph.Ăngghen viết:
Trang 27"Những nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩmsinh, và Arixtốt, bộ óc bách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã nghiêncứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng ” Cái thế giới quanban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất thì đúng đó là thế giới quan của cácnhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclit trình bày một cách
rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi
đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi sự vật đều không ngừng phát sinh vàtiêu vong"' Tuy nhiên, những tư tưởng biện chứng đó về căn bản vẫn còn mangtính chất ngây thơ, chất phác Ph.Ăngghen nhận xét: "Trong triết học này, tư duybiện chứng xuất hiện với tính chất thuần phác tự nhiên chưa bị khuấy đục bởinhững trở ngại đáng yêu Chính vì người Hy Lạp chưa đạt tới trình độ mổ xẻ,phân tích giới tự nhiên, cho nên họ hãy còn quan niệm giới tự nhiên là mộtchỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thế ấy Mối liên hệ phổ biến giữacác hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh về chi tiết: đối với họ, mối liên
hệ đó là kết quả của sự quan sát trực tiếp” Phép biện chứng chất phác cổ đạinhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng bằng trực kiến thiên tài,bằng trực quan chất phác, ngây thơ, còn thiếu sự chứng minh bởi những thànhtựu phát triển của khoa học tự nhiên
Tổng kết lại, tuy phép biện chứng thời cổ đại nhận thức đúng về bản chất củathế giới, nhưng lại nghiên cứu bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác,ngây thơ, chưa có sự chứng minh cụ thể của khoa học tự nhiên
b Phép bi n ch ng duy tâm ện chứng duy tâm ứng duy tâm
Tồn tại trong nền triết học cổ điển Đức; nó được hình thành trong nền triếthọc của Cantơ, trải qua triết học của Phíchtơ và triết học của Senlinh Sau cùngđược hoàn thiện trong triết học của Hegel
Các nhà triết học này đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép biệnchứng duy tâm một cách có hệ thống Phép biện chứng Hegel là hệ thống lý luận
về quá trình tự vận động, phát triển của ý niệm tuyệt đối Phép biện chứng Hegelbao gồm lý luận về tồn tại, lý luận về bản chất, lý luận khái niệm Không chỉ cóHegel các nhà triết học cổ điển Đức đã xây dựng phép biện chứng duy tâm bằngmột hệ thống có logic Vladimir Ilyich Lenin đã nói: “Hegel đã đoán được mộtcách tài tình biện chứng của sự vật (của những hiện tượng, của thế giới, của giới
tự nhiên) trong biện chứng của khái niệm” Engels lại nhấn mạnh ý kiên củaKarl Marx: “Tình chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tayHegel tuyệt nhiên không ngăn cản Hegel trở thành người đầu tiên trình bày mộtcách bao quát và có y thức những hình thái vận động chung của phép biếnchứng Ở Hegel, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nólại là sẽ thấy được cái hạt nhận hợp lý của nó ở đàng sau cái vỏ thần bí của nó” Phép biện chứng duy tâm là phép biện chứng tư duy, là phép biện chứng củakhái niệm, nó mang tính tư biện, thần bí: phép biện chứng duy tâm là một hệthống các nguyên lý, quy luật, phạm trù chuyển hóa lẫn nhau phản ánh mối liên
hệ và sự vận động, phát triển diễn ra trong thế giới tinh thần, trong tư duy Nóvừa là một hệ thống lý luận khá hoàn chỉnh về mối liên hệ phổ biến và về sự
Trang 28phát triển vừa là một phương pháp tư duy triết học phổ biến Phép biện chứngduy tâm đã hòan thành cuộc cách mạng về phương pháp, nhưng cuộc cách mạng
đó xảy ra ở tận trên trời
Tính chất duy tâm trong phép biện chứng cổ điển Đức, cũng như trong triếthọc Hégel là hạn chế cần phải vượt qua C.Mác và Ăngghen đã khắc phục hạnchế đó để sáng tạo nên phép biện chứng duy vật Đó là giai đoạn phát triển caonhất của phép biện chứng trong lịch sử triết học, là sự kế thừa trên tinh thần phêphán đối với phép biện chứng cổ điển Đức Ăngghen tự nhận xét: "“…có thể nóirằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giácthoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tựnhiên và về lịch sử”
c Phép biện chứng duy vật
C.Mác và Ph.Ăngghen cải tạo “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng duytâm Hêghen theo tinh thần triết học duy vật của Phoiơbắc, xây dựng phép biệnchứng duy vật V.I.Lênin tiếp tục bảo vệ và phát triển nó Đối với họ, “phép biệnchứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”, “là môn khoa học về những quy luậtphổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người vàcủa tư duy”, “là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắcnhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức con người,nhận thức này phản ánh vật chất luôn phát triển không ngừng”
Phép biện chứng duy vật bao gồm phép biện chứng khách quan và phépbiên chứng chủ quan Phép biện chứng duy vật là đỉnh cao của tư duy nhân loại,mang tính tự giác, tính khoa học và tính cách mạng triệt để, và là công cụ hiệuquả để nhận thức và cải tạo thế giới
3 Phép biện chứng duy vật là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng vì:
Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sử dụngtriệt để những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời, chủ nghĩa duy vật biệnchứng ngay từ mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chấtphác cổ đại và chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại, đạt tới trình độ là hìnhthức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử Trên cơ sở phảnánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển,chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhậnthức khoa học và thực tiễn cách mạng
1/ Các nguyên lí của chủ nghĩa duy vật đã được giải thích một cách biệnchứng Ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao (bộ óc con người) và là
sự phản ánh tự giác, tích cực các sự vật và quá trình của thế giới vật chất, là hìnhảnh chủ quan của thế giới khách quan Tuy nhiên, khác với chủ nghĩa duy vật
cũ, CNDVBC không chỉ khẳng định sự phụ thuộc của ý thức vào vật chất màcòn thừa nhận tác dụng tích cực trở lại của ý thức đối với vật chất thông quahoạt động của con người
Trang 292/ Các nguyên lí của phép biện chứng được giải thích trên lập trường duyvật: a) mỗi kết cấu vật chất có muôn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật vàhiện tượng, quá trình khác của hiện thực; b) tất cả các sự vật cũng như sự phảnánh của chúng vào trong đầu óc con người đều ở trạng thái biến đổi, phát triểnkhông ngừng.
3/ Phép biện chứng duy vật còn bao gồm lí luận nhận thức Nhận thức là
sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người, nhưng đó không phải là sự phản ánhđơn giản, trực tiếp, hoàn toàn, mà là quá trình tư duy không ngừng tiến gần đếnkhách thể Cơ sở, động lực và mục đích của toàn bộ quá trình này là thực tiễn
Câu 10: Lý luận, phương pháp luận là gì? Vạch ra mối quan hệ biện chứng giữa chúng, đồng thời giải thích nhận định của V.I.Lênin: “Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn phát triển không ngừng”.
Lý luận là gì?
- Lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệmthực tiễn phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luậtcủa sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và được biểu đạt bằng hệ thốngcác khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật
- Cơ sở của lý luận là thực tiễn
- Lý luận có tính khái quát cao, thể hiện phản ánh bản chất sự vật, hiệntượng
- Lý luận có tính hệ thống
Phương pháp luận là gì?
Phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp nghiên cứu, phươngpháp nhận thức và cải tạo hiện thực Tất cả những lý luận và nguyên lý nào cótác dụng hướng dẫn, gợi mở, chỉ đạo đều là những lý luận và nguyên lý có ýnghĩa phương pháp luận Mọi nguyên lý thế giới quan đều có tác dụng ấy, chúnghợp thành nội dung của phương pháp luận
Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và phương pháp luận:
- Lý luận cấu tạo nên phương pháp luận, là nhân tố cơ bản để hình thànhnên một hệ thống có tác dụng hướng dẫn, gợi mở, chỉ đạo trong nghiên cứu,nhận thức và cải tạo hiện thực
- Phương pháp luận thể hiện tính bao quát của lý luận, tập hợp đầy đủnhững lý luận để hình thành một cơ sở nhận thức cho mọi hoạt động nghiên cứu,nhận thức và cải tạo hiện thực
Giải thích nhận định của V.I.Lênin: “Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không
Trang 30phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn phát triển không ngừng”.
Phép biện chứng cụ thể , hiễn nhiên , rõ ràng , biến thành chuỗi liên tiến,sợi chỉ đỏ xuyên suốt thực tại, được áp dụng được vào đời sống cụ thể rỗ ràngích lợi thực tiễn chứ không huyền hoặc xa vời thiếu thực tế
(Trang 114 và 115 cuốn 2, triết học “Một mặt…… cải tạo thế giới)
Ngoài ra, các nguyên lí của chủ nghĩa duy vật đã được giải thích một cáchbiện chứng CNDVBC không chỉ khẳng định sự phụ thuộc của ý thức vào vậtchất mà còn thừa nhận tác dụng tích cực trở lại của ý thức đối với vật chất thôngqua hoạt động của con người
- Các nguyên lí của phép biện chứng được giải thích trên lập trường duyvật:
a) mỗi kết cấu vật chất có muôn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật vàhiện tượng, quá trình khác của hiện thực;
b) tất cả các sự vật cũng như sự phản ánh của chúng vào trong đầu óc conngười đều ở trạng thái biến đổi, phát triển không ngừng
3/ Phép biện chứng duy vật còn bao gồm lí luận nhận thức Nhận thức là sựphản ánh giới tự nhiên bởi con người, nhưng đó không phải là sự phản ánh đơngiản, trực tiếp, hoàn toàn, mà là quá trình tư duy không ngừng tiến gần đếnkhách thể Cơ sở, động lực và mục đích của toàn bộ quá trình này là thực tiễn
11 Phân tích cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện (/nguyên tắc phát triển; / nguyên tắc lịch sử - cụ thể) Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn? Lấy một tình huống minh họa việc vận dụng nguyên tắc này trong hoạt động của chính mình
* Nguyên tắc toàn diện
1 Cở sở lý luận: là nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
a, Khái niệm: Mối liên hệ là sự tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập vàonhau và chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng,hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Trang 31- Do sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới thống nhất mà chúng tồntại trong muôn vàn mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau Mối liên hệ tồn tại kháchquan, phổ biến và đa dạng.
- Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của chúng có những mốiliên hệ phổ biến Mối liên hệ phổ biến cũng tồn tại khách quan, phổ biến và đadạng
2 Những yêu cầu cơ bản
- Trong hoạt động nhận thức, để hiểu đúng sự vật phải:
+ Tìm hiểu, phát hiện càng nhiều mối liên hệ, quan hệ đang chi phối sự tồntại của bản thân sự vật càng tốt Xem xét sự vật từ khắp các góc độ, từ nhiềuphương diện càng hay
+ Phân loại để xác định những mối liên hệ, quan hệ nào là bên trong, cơbản, tất nhiên, ổn định; còn những mối liên hệ, quan hệ nào là bên ngoài, không
cơ bản, ngẫu nhiên, không ổn định
+ Dựa trên những mối liên hệ, quan hệ bên trong, cơ bản, tất nhiên, ổn định
để lý giải được những mối liên hệ, quan hệ còn lại Qua đó xây dựng một hìnhảnh về sự vật như sự thống nhất các mối liên hệ, quan hệ; phát hiện ra quy luậtcủa nó
- Trong hoạt động thực tiễn, để đạt được hiệu quả phải:
+ Đánh giá đúng vai trò của từng mối liên hệ, quan hệ chi phối sự vật.+ Tìm kiếm và sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợpcủa bản thân sự vật, đặc biệt là những mối liên hệ, quan hệ bên trong, cơ bản, tấtnhiên, quan trọng của nó
+ Nắm vững sự chuyển hóa các mối liên hệ, quan hệ của bản thân sự vật,kịp thời sử dụng các công cụ, phương tiện, biện pháp bổ sung để phát huy hạnchế sự tác động của chúng, nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo đúngquy luât và hợp lợi ích chúng ta
3 Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp khắc phụcđược chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện tronghoạt động thực tiễn và nhận thức của chúng mình
- Chủ nghĩa phiến diện là cách xem xét chỉ thấy một mặt, một mối quan hệ,tính chất nào đó mà không thấy được nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, nhiều tínhchất của sự vật; chỉ xem xét sự vật ở một góc độ hay từ một phương diện nào đó
mà thôi
- Chủ nghĩa chiết trung là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mốiliên hệ của sự vật nhưng không rút ra được mặt bản chất, không thấy được mốiliên hệ cơ bản của sự vật, mà coi chúng như nhau, kết hợp chúng một cách vônguyên tắc, tùy tiện
Trang 32- Chủ nghĩa ngụy biện là cách xem xét qua đó đánh tráo cái cơ bản với cáikhông cơ bản, cái chủ yếu với các thứ yếu … hay ngược lại nhằm đạt được mụcđích hay lợi ích của mình một cách tinh vi
* Nguyên tắc phát triển
1 Cở sở lý luận: là nội dung nguyên lý về sự phát triển
a, Khái niệm: Phát triển là vận động đi lên theo ba khả năng từ thấp đếncao, từ đơn giản đến phức tạp và từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
b, Tính chất: có 3 tính chất
- Tính khách quan
- Tính phổ biến
- Tính đa dạng
c, Nội dung nguyên lý:
- Do sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới liên hệ lẫn nhau mà chúngkhông ngừng vận động Vận động mang tính tuyệt đối, tính đa dạng
- Trong muôn vàn quá trình vận động xảy ra trong thế giới tồn tại một xuhướng vận động chung, tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từkém hoàn thiện đến hoàn thiện, do việc giải quyết mâu thuẫn bên trong gây ra,được thực hiện thông qua bước nhảy về chất và đi theo xu hướng phủ định củaphủ định, đó là phát triển Phát triển mang tính khách quan, phổ biến và đa dạng
2 Những yêu cầu cơ bản
- Trong hoạt động nhận thức, để hiểu đúng sự vật phải:
+ Phát triển những xu hướng, khả năng biến đổi, chuyển hóa những giaiđoạn tồn tại của bản thân sự vật trong sự vận động, phát triển của chính nó.+ Xây dựng được hình ảnh về sự vật như sự thống nhất các xu hướng,những giai đoạn thay đổi của nó; từ đó, phát hiện ra quy luật vận động, pháttriển của sự vật
- Trong hoạt động thực tiễn, để đạt được hiệu quả phải:
+ Chú trọng đến mọi điều kiện, khả năng tồn tại của sự vật để nhận địnhđúng các xu hướng, những giai đoạn thay đổi có thể xảy ra đối với nó
+ Tìm hiểu và sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp đểbiến đổi những điều kiện tồn tại, phát huy hay hạn chế những khả năng của sựvật nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo hướng hợp quy luật và có lợicho chúng ta
3 Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc phát triển sẽ giúp chủ thểkhắc phục được quan điểm siêu hình, lối xem xét cứng nhắc, đầu óc bảo thủ,giáo điều trong hoạt động thực tiễn và nhận thức
* Nguyên tắc lịch sử - cụ thể
Trang 331 Cở sở lý luận: là nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên
lý về sự phát triển
2 Những yêu cầu cơ bản
- Trong hoạt động nhận thức, để hiểu đúng sự vật phải tìm hiểu quá trìnhhình thành, tồn tại và phát triển cụ thể của những sự vật cụ thể trong những điềukiện, hoàn cảnh, quan hệ cụ thể
- Trong hoạt động thực tiễn, để đạt được hiệu quả phải xây dựng đượcnhững đối sách cụ thể, áp dụng cho những sự vật cụ thể đang tồn tại trong nhữngđiều kiện, hoàn cảnh, quan hệ cụ thể mà không nên áp dụng những khuôn mẫuchung chung cho bất cứ sự vật nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh, quan hệnào
Câu 12: Phân tích cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của phương pháp hệ thống (/phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể; /phương pháp thống nhất cái lịch sử và cái lôgích) Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức khoa học? Lấy một ví dụ minh họa việc vận dụng phương pháp này trong hoạt động nghiên cứu khoa học.
Ghi chú: Anh (chị) và các bạn nếu gặp câu này thì tham khảo thêm tài liệu Triết học cuốn màu xanh nhé, từ trang 140-152 Câu này em làm chưa trọn vẹn được 100% vì có ý kiếm không được nên không dám chém bừa Mọi người cùng nghiên cứu nhé, chúc cả nhà thi tốt
1 Phương pháp hệ thống
* Cơ sở lý luận:
Tư duy siêu hình thừa nhận sự tồn tại của những cái bộ phận tuyệt đối,còn khoa học hiện đại phủ nhận điều đó và tạo nên quan niệm về khách thể-hệthống mang tính chỉnh thể Đó là một thuộc tính tổng hợp phát sinh từ phươngthức tồn tại của những cái bộ phận cấu thành cái toàn thể Hệ thống là cái toànthể được tạo thành từ những yếu tố và giữ cho các yếu tố nằm trong một trật tựxác định, cái này tác động qua lại với cái kia Yếu tố là cái bộ phận tương đốibền vững nằm trong một trật tự, tức –cấu trúc để tạo nên hệ thống Chức năngcủa hệ thống là sự tác động giữa các yếu tố bên trong của hệ thống hay sự tácđộng giữa một số yếu tố hay cả hệ thống với môi trường của nó, nhằm đảm bảocho hệ thống tiếp tục tồn tại và phát triển, tính chỉnh thể được củng cố và hoànthiện Cấu trúc của hệ thống quy định vị trí của mỗi yếu tố, xác định chức năng,tính chất và phương hướng tác động nội tại trong hệ thống hay giữa hệ thống vàmôi trường bên ngoài Nguyên lý tính hệ thống có tính phổ quát như một luậnđiểm triết học với những luận điểm sau:
- Mọi khách thể tồn tại trong thế giới đều được coi như những hệ thống;mỗi khách thể hệ thống là một tập hợp gồm nhiều yếu tố có mối liên hệvới nhau và với môi trường xung quanh tạo thành một trật tự; sự tác động
Trang 34qua lại giữa các yếu tố của hệ thống tạo nên những thuộc tính tổng tính chỉnh thể-đặc trưng cho hệ thống.
hợp Bản thân mỗi khách thể hệ thống vừa là một hệ thống vừa là một yếu tốhay bộ phận của một hệ thống khác lớn hơn; khách thể là hệ thống hay làyếu tố chỉ mang tính tương đối
- Khi khách thể là hệ thống đã được xác định, sự tác động qua lại giữa cácyếu tố với nhau hay với môi trường là nguyên nhân của mọi sự biến dạng,thay đổi của khách thể hệ thống theo một xu hướng nhất định-tính hướngđích của hệ thống, làm cho khách thể hệ thống không ngừng phát triển
* Những yêu cầu cơ bản: Trong nhận thức khoa học phải:
- Phân chia khách thể hệ thống ra thành các yếu tố, xác định môi trường
mà khách thể tồn tại;
- Phát hiện được những mối quan hệ, liên hệ tất yếu, ổn định giữa các yếu
tố, xác định cấu trúc, vạch rõ chức năng, làm sáng tỏ trật tự-tổ chức của kháchthể
- Xác định các thuộc tính tổng hợp; phát hiện ra tính chỉnh thể của hệthống; vạch rõ các mối liên hệ, tương tác giữa hệ thống và môi trường
- Phát hiện ra tính hướng đích của hệ thống và xu hướng phát triển củakhách thể hệ thống
Mặc dù mọi khách thể tồn tại trong thế giới đều được coi như những hệthống nhưng phương pháp hệ thống chỉ áp dụng có hiệu quả để nghiên cứunhững khách thể thể hiện rõ tính hệ thống
2 Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể
* Cơ sở lý luận:
Cái cụ thể chỉ sự tồn tại trong tính đa dạng, bao gồm cái cụ thể kháchquan và chủ quan cái cụ thể chủ quan lại bao gồm cái cụ thể cảm tính và cái cụthể trong tư duy Cái trừu tượng chỉ kết quả của sự trừu tượng hoá tách một mặtmột mối liên hệ nào đó ra khỏi sự vật như cái tổng thể phong phú đa dạng; nó là
sự phản ánh một bộ phận, một mặt của cái cụ thể khách quan Từ những cái trừutượng này tư duy tổng hợp chúng lại thành cái cụ thể trong tư duy
- Nhận thức khoa học bắt đầu từ việc xây dựng những cái trừu tượng khoahọc, phản ánh một khía cạnh bản chất của sự vật Đẩy mạnh nhận thứckhoa học thông qua việc tiếp tục đào sâu những cái trừu tượng để xâydựng thêm những cái trừu tượng mới; sau cùng tổng hợp tất cả những cáitrừu tượng đã xây dựng thành những cái cụ thể trong tư duy, cái cụ thểphản ánh được cái bản chất sâu sắc và đầy đủ của hiện tượng – đối tượngđang nghiên cứu
- Cái cụ thể lý tính là tri thức sâu sắc, tương đối đầy đủ về đối tượng đangnghiên cứu như một chỉnh thể có những yếu tố, những mặt, những mốiquan hệ tác động qua lại lẫn nhau Do đó, phải tổng hợp nhiều cái trừutượng để có được cái cụ thể trong tư duy phản ánh sự thống nhất trong
Trang 35tính đa dạng của đối tượng tồn tại trong hiện thực có vô số mối liên hệ,quan hệ với những sự vật khác và đồng thời có muôn vàn mối liên hệ,quan hệ bên trong của nó, với những tính chất khác nhau, luôn vận độngphát triển.
- Quá trình nhận thức khoa học dựa trên cái cụ thể cảm tính xây dựngnhững cái trừu tượng lý tính; và từ những cái trừu tượng lý tính tổng hợpthành cái cụ thể trong tư duy
* Những yêu cầu cơ bản: Nhận thức khoa học phải thống nhất hai quátrình nhận thức vận động đối lập; từ cụ thể (cảm tính) đến trừu tượng và từ trừutượng đến cụ thể (trong tư duy)
- Từ cụ thể (cảm tính) đến trừu tượng đòi hỏi phải dựa vào những tài liệucảm tính thông qua phân tích xây dựng các khái niệm, những định nghĩa, định
lý, định luật… đơn giản, trừu tượng phản ánh từng mặt, từng thuộc tính của đốitượng đang nghiên cứu Từ những cái trừu tượng ban đầu xây dựng những cáitrừu tượng tiếp theo
- Từ trừu tượng đến cụ thể (trong tư duy) đòi hỏi phải dựa trên những kháiniệm, những định nghĩa,… đơn giản, trừu tượng thông qua tổng hợp biện chứngxây dựng cái cụ thể (trong tư duy) – lý thuyết (hệ thống những hiểu biết sâu sắc
về đối tượng đang nghiên cứu)
* Vận dụng:
Ví dụ về nhận thức được thực hiện bằng cách đi từ cái trừu tượng đến cái
cụ thể là lý thuyết cơ học về nhiệt được sáng tạo ra vào nửa sau thế kỷ XIX Vàothời kỳ trước đó, các nhà bác học đã chú trọng nghiên cứu các thuộc tính cá biệt
về nhiệt, các hiện tượng cá biệt có liên quan đến nhiệt Nhờ các công trìnhnghiên cứu đã đề xuất ra một số những khái niệm chung trừu tượng phản ánhcác mặt và các mối liên hệ nhất định của các hiện tượng nhiệt, ví dụ các kháiniệm về tính dẫn nhiệt, bức xạ nhiệt, điểm nóng chảy, điểm sôi, nhiệt dung…Một số mối quan hệ chung, tất yếu – các quy luật vốn có của nhiệt – cũng đượcphát hiện Ví dụ như nhà bác học và vật lý học người Anh R Bôi-lơ đã trình bàyquy luật về tính bất biến của các điểm nóng chảy của các vật thể, G Ga-li-lây đãphát hiện ra quy luật về tính bất biến của điểm sôi của nước Nhà toán học ngườiPháp Gi.B.Gi Phu-ri-ê bằng thực nghiệm đã tìm ra quy luật mà theo đó, dòngnhiệt xuyên qua một lớp xác định tỷ lệ thuận với hiệu ứng các nhiệt độ ở cácgiới hạn của lớp, với diện tích của lớp và tỷ lệ nghịch với độ dày của lớp
Nhưng chỉ có trên cơ sở lý thuyết cơ học về nhiệt thì mới thống nhất đượctất cả các kiến thức đó thành một chỉnh thể thống nhất, rút ra được chúng từ mộtnguyên lý duy nhất Theo lý thuyết đó, nhiệt là sự chuyển động quay hay daođộng tịnh tiến hỗn loạn của các hạt cực nhỏ: phân tử, nguyên tử, iôn, điện tử…thường xuyên trao đổi năng lượng với nhau Do đó, đã có thể giải thích được tất
cả các hiện tượng có liên quan đến nhiệt, nhất là tính dẫn nhiệt, bức xạ nhiệt,việc chuyển từ một trạng thái hợp thể này sang trạng thái hợp thể khác, các điểmsôi và nóng chảy khác nhau đối với các vật chất khác nhau…
Trang 36Như vậy là trong tiến trình vận động từ một khái niệm trừu tượng, chung
về nhiệt với tính cách là một hình thức chuyển động đặc biệt của các hạt cựcnhỏ, có liên quan đến việc trao đổi năng lượng giữa chúng – trong tiến trình vậnđộng từ khái niệm đó đến kiến thức ngày càng cụ thể hơn thì tất cả các hiệntượng nhiệt đều được giải thích và thống nhất lại thành một chỉnh thể thống nhất
có mối liên hệ lẫn nhau, và do đó mà nhận thức được bản chất của đối tượngđang được nghiên cứu
3 Phương pháp thống nhất cái lịch sử và cái logic:
* Cơ sở lý luận: cái lịch sử chỉ quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vongcủa sự vật trong tính đa dạng sinh động của nó Cái logic chỉ tính tất yếu, quyluật, bản chất của sự vật hay mối liên hệ tất yếu giữa các tư tưởng
- Phương pháp lịch sử: đòi hỏi phải tái hiện lại trong tư duy quá trình lịch
sử cụ thể với những chi tiết của nó, phải nắm lấy sự vận động, phát triển của sựvật trong toàn bộ tính phong phú của nó Không có phương pháp lịch sử sẽkhông có khoa học lịch sử
- Phương pháp logic: đòi hỏi phải vạch ra bản chất, tính tất nhiên quy luậtcủa quá trình vận động, phát triển của sự vật dưới hình thức trừu tượng và kháiquát của nó, nghĩa là phải lại bỏ cái ngẫu nhiên, vụn vặt ra khỏi tiến trình nhậnthức sự vận động, phát triển của sự vật
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: đối lập nhau nhưng thốngnhất biện chứng với nhau giúp xây dựng hình ảnh cụ thể và sâu sắc về sự vật.Tùy theo đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu mà nhà khoa học lựa chọn phươngpháp nào cho phù hợp và khắc phục chủ nghĩa chủ quan tư biện, cũng như chủnghĩa kinh nghiệm mù quáng
* Những yêu cầu cơ bản: trong quá trình nhận thức đối tượng, logic pháttriển của tư tưởng nhất thiết phải trùng lặp một cách cơ bản, tổng quát với lịch
sử phát triển của đối tượng Logic nhận thức phải tái hiện lại logic khách quancủa sự vận động, phát triển của hiện thực
* Trong hoạt động nhận thức khoa học, việc tuân thủ nguyên tắc này sẽkhắc phục được những hạn chế sau:
- Khắc phục chủ nghĩa chủ quan tư biện, cũng như chủ nghĩa kinh nghiệm
Trang 37những mầm mống kinh tế-xã hội chủ nghĩa đã có bước thụt lùi tạm thời Từ
1950 trở đi mới lại có điều kiện phát triển Từ khái quát logich phát triển củakinh tế lúc đó là kinh tế dân chủ nhân dân, nhưng trình bày lịch sử của thời kìnày thì chúng ta phải chú ý đến những bước thụt lùi tạm thời đó
+ Nói về cách mạng tháng Tám 1945, nếu chỉ nêu lên được đặc điểm, quyluật và sự kiện điển hình thì chưa đủ để thấy được sắc thái đặc biệt của nó kháccuộc cách mạng khác Tâm lý quần chúng trước ngày khởi nghĩa, tình cảm đốivới Đảng, đối với cách mạng…nững hành vi biểu lộ tâm lý, tình cảm đó lại lànhững nét mà lịch sử phải chú ý để cho sự miêu tả được sinh động, tránh khôkhan, công thức, gò bó
+ về bước đường quanh co như sau cách mạng tháng Mười 1917 ở Nga,quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa đã thống trị, nhưng khoảng năm 1918-1920, Lênin đề ra chính sách kinh tế mới (NEP), mục đích là lợi dụng kinh tế TBCNtrong một thời gian nhất định để phát triển kinh tế xã hội Trong khái quát logichkhông thể coi thời kì đó không phải là chuyên chính vô sản, mà là chuyên chínhcông nông chẳng hạn Nhưng trong trình bày, biên soạn lịch sử thì phải hiểu rõbước quanh co đó để thấy tính muôn màu muôn vẻ trong sự phát triển của nó
-Phương pháp logic:
+ Giữa năm 1965, Mỹ ào ạt kéo quân vào xâm lược miền Nam nước ta.Các trận đánh của quân và dân diễn ra khác nhau trên các mặt trận và dưới nhiềuhình thức: quân sự, chính trị, kinh tế…Phương pháp logich đi sâu vào nghiêncứu các trận đánh và nhằm phát hiện ra cái chung của các trận đánh đó, có thểkhái quát ra nhiều nét bản chất, phổ biến, trong đó có tính chất tấn công liên tục,
từ đầu trên khắp các mặt trận
+ Trong xây dựng nông thôn mới theo cơ chế thị trường và kinh tế nhiềuthành phần hiện nay đã nảy sinh những làng có tính chất thị tứ, như làng TraiTrang, làng Hội Xuyên (Hải Dương) trong những năm 90…đó là những làng từnông nghiệp chuyển mạnh sang công, thương nghiệp “ly nông bất ly hương”, cảlàng có hàng trăm ô tô tải và ô tô chỏ hàng nhỏm có tới 50-60 máy điện thoại giađình
Rõ ràng đây là những điển hình làng xã mới có thay đổi về chất, so vớilàng xã cũ
Lãnh đạo trung ương và địa phương đang từ đó rút ra điểm có tính bảnchất để xây dựng nên các làng thị tứ, làng văn hóa trong cả nước
+ Từ cuối những năm 90 đến nay, một số xí nghiệp quốc doanh được cổphần hóa đã giúp công nhân có thể trở thành người vừa sản xuất, vừa làm chủthực sự xí nghiệp, lại cải thiện nhanh chóng được đời sống Nhà nước đã chủđộng tác động tới quá trình đó, đưa lịch sử tiến lên…
Trang 38Câu 13.Phân tích nội dung lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại; /quy luật phủ định của phủ định) Đảng Cộng sản Việt Nam đang vận dụng quy luật này như thế nào vào công cuộc Đổi mới hiện nay ở nước ta?
1 Nội dung lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của quy luậtthống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy luật về nguồngốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển Theoquy luật này, nguồn gốc và động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vậnđộng, phát triển chính là mâu thuẫn khách quan, vốn có của sự vật
a) Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn
Khái niệm mâu thuẫn
Trong phép biện chứng, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống
nhất, đấu tranh, và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượnghoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau Đây là quan niệm biện chứng về mâuthuẫn, khác căn bản với quan niệm siêu hình về mâu thuẫn Theo quan niệm siêuhình: mâu thuẫn là cái đối lập phản logic, không có sự thống nhất, không có sựchuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập
Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập Khái niệm mặt đối lập dùng đểchỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngượcnhau nhưng là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau
Các tính chất chung của mâu thuẫn
+ Mâu thuẫn có tính khách quan và tính phổ biến
Mâu thuẫn là khách quan có nghĩa là mâu thuẫn là cái vốn có của mọi sựvật hiện tượng
Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến có nghĩa là mâu thuẫn tồn tại trong tất cảcác lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiệncho đến khi kết thúc Mâu thuẫn tồn tại ở mọi không gian, thời gian và mỗi giaiđoạn phát triển
+ Mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú Tính đa dạng mâu thuẫn biểu
hiện ở chỗ: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâuthuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử, cụ thể khácnhau; chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động và pháttriển của sự vật Đó là: mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơbản, chủ yếu và thứ yếu, Trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại nhữngmâu thuẫn với những tính chất khác nhau tạo nên tính phong phú trong sự biểuhiện của mâu thuẫn
Trang 39b) Quá trình vận động của mâu thuẫn
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấutranh với nhau:
Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc,không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kialàm tiền đề tồn tại Sự thống nhất của các mặt đối lập cũng bao hàm sự đồngnhất của nó
Khái niệm đấu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tácđộng qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập Hình thức đấu tranhcủa các mặt đối lập rất phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ
và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng Quá trình thống nhất và đấu tranh của
các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng Sự chuyển hóa giữa
các mặt đối lập diễn ra hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất củacác mặt đối lập cũng như tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử, cụ thể
Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự đấu tranh giữachúng là tuyệt đối, còn sự thống nhất giữa chúng là tương đối, có điều kiện, tạmthời; trong sự thống nhất đã có sự đấu tranh, đấu tranh trong tính thống nhất củachúng Theo V.I.Lênin: "Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngangnhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sựđấu tranh của các mặt đối lập, bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự pháttriển, sự vận động là tuyệt đối
Sự tác động qua lại dẫn đến chuyển hóa giữa các mặt đối lập là một quátrình Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện ở sự khác biệt và phát triển thànhhai mặt đối lập Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt vàkhi điều kiện đã chín muồi thì chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn đượcgiải quyết Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành, và quá trìnhtác động, chuyển hóa giữa hai mặt đối lập lại tiếp diễn, làm cho sự vật, hiệntượng luôn luôn vận động và phát triển Bởi vậy, sự liên hệ, tác động và chuyểnhóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triểntrong thế giới V.I.Lênin khẳng định rằng: "Sự phát triển là một cuộc "đấu tranh"giữa các mặt đối lập."
c) Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lựccủa sự vận động, phát triển, do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôntrọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắmđược bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động và phát triển
Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, do vậy trong việc nhận thức vàgiải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử, cụ thể, tức là biết phân tích
cụ thể từng loại mâu thuẫn và phương pháp giải quyết phù hợp
Trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vaitrò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định;
Trang 40những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loạimâu thuẫn một cách đúng đắn nhất.
Đảng Cộng sản Việt Nam đang vận dụng quy luật này như thế nào vào công cuộc Đổi mới hiện nay ở nước ta?
Thực tiễn khách quan khẳng định ,với bề dày kinh nghiệm lãnh đạo cáchmạng hơn 70 năm , bản lĩnh chính trị vững vàng , nhân quan chính trị sâu sắc ,
sự nhạy cảm trước thời cuộc , Đảng ta đã xác định hướng đi đúng đắn , tiến bộ
và cách mạng trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta trongthế kỷ XXI và gắn liền tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội Để thực hiệnthành công mục tiêu này , trước hết cần thấm nhuần quan điểm chỉ đạo baochùm: kiên định con đường phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa , có mụctiêu dân giàu nước mạnh , xa hội công bằng , dân chủ ,văn minh Đây vừa làmục tiêu , vừa là phương tiện để thực hiện gắn bó keo sơn giữa giai cấp côngnhân , nông dân và lực lượng tri thức Nói khác đi , căn cứ liên kết giai cấp ,tránh phân hoá giai cấp là nội dung cốt lõi và tăng trưởng kinh tế gắn liền vớicông bằng xã hội ở Việt Nam Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với côngbằng xã hội là thực hiện liên tư tưởng chỉ đạo của quá trình chỉ đạo đổi mới ởnước ta được khởi xướng tại Đại hôI VI , liên tục khẳng định tại Đại hội VII,VIII Đó là đổi mới kinh tế là trọng tâm , từng bước đổi mới chính trị Từ quanđiểm chỉ đạo của nước ta là toàn diẹn, đồng bộ , cần tiếp tục đẩy nhanh quá trìnhhoàn thiện thể chế phát triển ở nước ta , trong đó tiếp tục hoàn thiện cơ chế thịtrường đi đôi nâng cao và tăng trưởng, nâng cao năng lực quản lý của bộ máynhà nước là then chốt Việc hoạch định chính sách kinh tế – xã hội trong thựctiễn phải hợp lý đó là : khi thực hiện phương hướng chính sách kinh tế và chínhsách xã hội hoà quỵên với nhau như là điều kiện quyết định để đảm bảo pháttriển kinh tế gắn liền với công bằng xã hội Trên cơ sở lấy con người làm trọngtâm , không ngừng phát huy , bồi dưỡng, nâng cao nguồn vốn con người ; cânnhắc thực hiện và hạn chế dần các chính sách kinh tế , thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế trước mặt nhưng không có hại cho công bằng xã hội về lâu dài Sử dụng hợp
lý chính sách xã hội , căn cứ vào hoàn cảnh kinh tế – tài chính đất nước , phùhợp với truyền thống nhân nghĩa , đạo lý tốt đẹp của dân tộc , tinh thần bao dungnhân ái của nhân dân , của Chủ tịch Hồ Chí Minh ; kiên quyết thực hiện cácchính sách kinh tế không thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có hại cho công bằng xãhội đất nước
Nội dung lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất
và ngược lại
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thayđổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung củaquá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy
a) Khái niệm chất, lượng
Khái niệm chất