1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Bài dịch CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI CÁC QUỐC GIA BRICS BẰNG MÔ HÌNH VÉC – TƠ TỰ HỒI QUY VỚI DỮ LIỆU BẢNG

21 629 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 423,67 KB
File đính kèm CSTT va CSTT o cac nuoc BRICS.rar (402 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI CÁC QUỐC GIA BRICS BẰNG MÔ HÌNH VÉC – TƠ TỰ HỒI QUY VỚI DỮ LIỆU BẢNGSử dụng mô hình Véc – tơ tự hồi quy với dữ liệu bảng, chúng tôi đánh giá các tác động đến nền kinh tế vĩ mô của những cú sốc chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại 5 thị trường mới nổi quan trọng là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi (BRICS). Chúng tôi thấy rằng chính sách tiền tệ thắt chặt dẫn đến sự suy giảm trong hoạt động của nền kinh tế thực và thắt chặt tính thanh khoản của thị trường; trong khi những cú sốc trong chi tiêu của Chính phủ có tác Keynes mạnh. Chúng tôi cũng tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại sự tương quan giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, điều rất quan trọng đối với kinh tế và những quyết định chính trị. Kết quả của chúng tôi có giá trị ngay cả sau khi đã kiểm soát các giai đoạn bất ổn lớn, chẳng hạn như các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính.

Trang 1

CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

TẠI CÁC QUỐC GIA BRICS BẰNG MÔ HÌNH VÉC – TƠ TỰ HỒI QUY VỚI DỮ LIỆU BẢNG

Fredj Jawadi a,*, Sushanta K Mallick b, Ricardo M Sousa c,d

a Đại học Evry Val d'Essone, 2, rue Facteur Cheval, 91025 Evry, Pháp

b Trường Queen Mary thuộc Đại học Luân Đôn, ngành Kinh doanh và Quản lý,đường Mile End, London E1 4NS, Vương Quốc Anh

c Đại học Minho, khoa Kinh tế và Nghiên cứu chính sách kinh tế (NIPE), Campus ofGualtar, 4710-057 Braga, Bồ Đào Nha

d Trường Kinh tế Luân Đôn, Hội cựu sinh viên LSE, đường Houghton, London WC22AE, Vương Quốc Anh

Tóm tắt

Sử dụng mô hình Véc – tơ tự hồi quy với dữ liệu bảng, chúng tôi đánh giá các tácđộng đến nền kinh tế vĩ mô của những cú sốc chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại 5thị trường mới nổi quan trọng là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi (BRICS).Chúng tôi thấy rằng chính sách tiền tệ thắt chặt dẫn đến sự suy giảm trong hoạt động của nềnkinh tế thực và thắt chặt tính thanh khoản của thị trường; trong khi những cú sốc trong chitiêu của Chính phủ có tác Keynes mạnh Chúng tôi cũng tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại

sự tương quan giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, điều rất quan trọng đối vớikinh tế và những quyết định chính trị Kết quả của chúng tôi có giá trị ngay cả sau khi đãkiểm soát các giai đoạn bất ổn lớn, chẳng hạn như các cuộc khủng hoảng kinh tế và tàichính

2015 Elsevier B.V Tất cả bản quyền được bảo lưu

Trang 2

1 Giới thiệu bài nghiên cứu

Sau cuộc Đại suy thoái 1929 -1932, cuộc khủng hoảng tài chính giai đoạn 2007 -2009được xem như một sự kiện khủng hoảng toàn diện toàn cầu Có nguồn gốc từ thị trường thếchấp dưới chuẩn của Mỹ, nó nhanh chóng lan rộng trên toàn cầu, ảnh hưởng đến các nềnkinh tế phát triển cũng như các nền kinh tế thị trường mới nổi cả về kinh tế vĩ mô và cácchính sách(1) Không ngạc nhiên khi mức độ nghiêm trọng và ảnh hưởng sâu sắc của cuộckhủng hoảng đã buộc các Chính phủ và ngân hàng trung ương ở nhiều thị trường mới nổiphải quyết định một cách nhanh chóng, phối hợp hành động với các đối tác và các nhà chínhsách của các nước phát triển

Các chính sách của Fed được các nhà hoạch định chính sách đối ngoại nhìn nhận như

sự chịu trách nhiệm cho việc tạo ra thặng dư thanh khoản toàn cầu và sự gia tăng của dòngvốn vào các thị trường mới nổi từ năm 2009, dẫn đến đồng tiền được định giá không đúng,tăng trưởng tín dụng quá nhanh, đóng góp vào sự hình thành bong bóng giá tài sản và sự tích

tụ của việc mất cân bằng tài chính vĩ mô ở các nước này (Eichengreen, 2011, 2013)

Trong bối cảnh này, cần đánh giá rằng liệu chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

có thể được sử dụng là các công cụ có tác dụng ổn định kinh tế, đặc biệt là đối với nền kinh

tế mới nổi Về chính sách tiền tệ, nhiều câu hỏi vẫn còn mở, cụ thể là, liên quan đến hiệu quảcủa nó trong việc kiểm soát lãi suất và thúc đẩy sản lượng Tương tự như vậy, đối với chínhsách tài khóa, không có sự đồng thuận về tác động đến kinh tế vĩ mô của nó: một mặt, tăngđầu tư công dẫn đến thâm hụt ngân sách có thể lấn át chi tiêu cá nhân; mặt khác, việc tăngđầu tư công có thể thúc đẩy phục hồi kinh tế, đặc biệt là sau sự sụp đổ của bong bóng giá tàisản (Agnello vàSousa, 2011)

Bài viết này sẽ đóng góp kinh nghiệm cho cuộc tranh luận hiện tại bằng cách tậptrung vào năm nền kinh tế thị trường mới nổi: Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi(được gọi là BRICS) Cụ thể hơn, chúng tôi đánh giá những tác động đến kinh tế vĩ mô củanhững cú sốc chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa bằng cách sử dụng mô hình PanelVector Auto-Regression (PVAR); thống nhất khuôn khổ theo dõi sự phát triển và lan truyềntiềm năng giữa hai chính sách

Sử dụng dữ liệu từng quý trong giai đoạn từ quý 1 năm 1990 đến quý 2 năm 2013,chúng tôi bắt đầu bằng cách điều tra những ảnh hưởng của một cú sốc tích cực trong lãi suất,

và thấy rằng sự thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ:

( 1) Tuy nhiên, các nền kinh tế thị trường mới nổi đã khắc phục được khá tốt trong thời gian khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua và được quản lý để thực hiện các biện pháp phản chu kỳ

Trang 3

(i) Có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của nền kinh tế thực;

(ii) Dẫn đến sự sụt giảm dần trong các chỉ số giảm phát giá; và

(iii) Sẽ thắt chặt các điều kiện thanh khoản trên thị trường

Sau đó, chúng tôi đánh giá các tác động tích cực trong việc bất ngờ tăng chi tiêu củachính phủ, và thấy rằng việc mở rộng chính sách tài khóa bất ngờ sẽ dẫn đến:

(i) Có tác động làm tăng GDP thực tế;

(ii) Có ảnh hưởng liên tục và tích cực trên mức giá; và

(iii) Không làm tăng lãi suất

Khi xem xét các vấn đề của các mối liên kết giữa chính sách tài khóa và chính sáchtiền tệ, kết quả thực nghiệm của chúng tôi cho thấy rằng các mặt tích cực của việc tạo cú sốctrong chi tiêu chính phủ được theo sau bởi một sự gia tăng trong tỷ lệ tăng trưởng của tổngnguồn cung cầu tiền tệ, trong đó tiếp tục làm tăng GDP thực tế Trong trường hợp của cácmặt tích cực của cú sốc ảnh hưởng đến tỷ giá ngân hàng trung ương, chúng tôi cho thấy rằng

nó được đi kèm với giảm chi tiêu chính phủ, do đó, khuếch đại những ảnh hưởng của sự thắtchặt tiền tệ Do đó, chính sách tài khóa và tiền tệ xuất hiện để hiển thị lan truyền hợp lý,trong đó có liên quan cho các quyết định kinh tế và chính trị trong BRICS

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra các thành phần của sự bất ổn định, cụ thể làcác cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính và / hoặc khủng hoảng tiền tệ Ngoài

ra, khi tập trung vào giai đoạn từ quý 1 năm 2000 đến qúy 2 năm 2013, chúng tôi thấy rằngcác kết quả thực nghiệm bao gồm cả số lượng và chất lượng

Bài báo được chia làm 6 phần:

- Phần 2 trình bày về tổng quan các nghiên cứu trước

- Phần 3 mô tả phương pháp nghiên cứu kinh tế lượng

- Phần 4 thảo luận về dữ liệu và kết quả thực nghiệm

- Phần 5 phân tích độ nhạy

- Phần 6 tổng kết

2 Tổng quan các nghiên cứu trước

Bài báo góp phần vào việc nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của chính sáchtiền tệ và chính sách tài khóa trong các nền kinh tế thị trường mới nổi

Liên quan đến chính sách tiền tệ, Taylor (2001) nhấn mạnh rằng tỉ giá hối đoái ổnđịnh có thể giúp thúc đẩy sự ổn định sản lượng và kiềm chế lạm phát tới mức mục tiêu

Trang 4

Theo Taylor (2002) khi thị trường tài chính kém phát triển, chẳng hạn như trườnghợp của các thị trường mới nổi, các ngân hàng trung ương đóng một vai trò rất quan trọngtrong việc quản lý sự kỳ vọng của các tác nhân kinh tế.

Tương tự, Calvo and Mishkin (2003) chỉ rõ rằng độ tin cậy thể chế thấp buộc cácnhà chính sách tiền tệ ở những quốc gia này phải chịu một hạn chế thông qua việc áp dụngmột cơ chế lạm phát mục tiêu

Đối với Brazil, Minella et al (2003) cho rằng bao gồm cả tỷ giá hối đoái và tổng tiền

là các biến nội sinh của hệ thống tính toán không đầy đủcho sự phản ứng của nền kinh tếtrước những cú sốc của chính sách tiền tệ

Ahmed (2003) điều tra về các yếu tố quyết định đến động thái kinh tế vĩ mô ở MỹLatinh bằng cách sử dụng mô hình Panel Vector Auto Regression (PVAR), trong khiAllegret et al (2012) phát hiện ra sự liên quan của biến động tỷ giá hối đoái thực và cácdòng vốn

Devereux et al (2006) nhấn mạnh tầm quan trọng của những rào cản tài chính vàBatini et al (2007) cho rằng chúng làm tăng các chi phí liên quan đến việc thực thi chế độ

tỷ giá cố định

Đối với Trung Quốc, Wang và Handa (2007) và Burdekin và Siklós (2008) ước tínhcác quy tắc chính sách tiền tệ và cho rằng sự thăm dò khối ngoại, lạm phát mục tiêu, chedấu sản lượng mô tả hành vi của nhà chính sách về tiền tệ nước này

Đối với Nam Phi, du Plessis (2006) thấy rằng chính sách tiền tệ là một công cụ chínhsách tài chính ổn định chủ đạo kể từ những năm 90

Erten (2012) nhấn mạnh tầm quan trọng của những cú sốc nhu cầu ngoại trong việcgiải thích kết quả tăng trưởng nền kinh tế của các nước mới nổi, trong khi Saldarriaga vàWinkelried (2013) nhấn mạnh các liên kết thương mại song phương

Sử dụng dữ liệu cho BRICS, Mallick và Sousa (2012) dựa trên các ước tính phươngpháp Bayesian hiện đại và một mô hình Sign-Restrictions VAR để xác định những cú sốcchính sách tiền tệ (lãi suất)

Các tác giả cho thấy sự thu hẹp tiền tệ có ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh tế thực

sự và giúp cho lạm phát trong ngắn hạn Mallick và Sousa (2013) cũng xác định giá cảhàng hóa và các cú sốc chính sách tiền tệ đối với cùng một nhóm các quốc gia giống nhau

Họ nhận thấy rằng chính sách tiền tệ có thể dựa vào những cú sốc kinh tế vĩ mô bất lợi, vàcác cú sốc giá cả hàng hóa đòi hỏi một phản ứng tích cực từ các ngân hàng trung ương với

Trang 5

mục tiêu lạm phát Jawadi et al (2014a) chỉ rõ qui tắc tiền tệ cho Trung Quốc và Brazil vàcho thấy mỗi quan hệ quan trọng giữa việc thực hiện các chính sách tiền tệ ở những quốcgia này với các biến số như tỷ giá hồi đoái và giá cả hàng hóa

Đối với các công trình về chính sách tài khóa tại các thị trường mới nổi, Gavin vàPerotti (1997), Talvi và Végh (2005), Alesina et al (2008) và Ilzetski và Végh (2008) lậpluận rằng lạm phát cao và chính sách tài khóa cùng chu kỳ (pro-cyclicality) vẫn còn nhữngvấn đề về chính sách nghiêm trọng Velasco (2000) cũng chỉ ra sự liên quan của sai lệch tàikhóa, như tài sản ròng của chính phủ có xu hướng giảm dần qua các chu kỳ kinh doanhtrong nhóm những quốc gia này Mallick (2006) cho thấy, trong những hậu quả của cuộckhủng hoảng tài chính Châu Á, các biện pháp thắt chặt tài khóa góp phần vào sự sụp giảmsản lượng Jawadi et al (2014b) dùng một hệ thống hệ phương trình đầy đủ để tìm hiểunhững ảnh hưởng kinh tế vĩ mô của chính sách tài khóa trong BRICs, và một mô hìnhsmooth transition (STR) để ước tính các quy tắc chính sách tài khóa Các tác giả đã pháthiện ra những hiệu ứng chính sách tài chính Keynes mạnh mẽ, tức là không có bằng chứng

về “thu hẹp chính sách tài chính mở rộng”.Ngoài ra, cân nhắc về sự tăng trưởng, lạm phát

và giá cả hàng hóa điều khiển hành vi tài chính ở những quốc gia này

Công trình của chúng tôi cũng liên quan đến các tài liệu kinh tế về các biện pháp bắtnguồn từ sự thay đổi bất ngờ trong chính sách kinh tế Những nghiên cứu cấp quốc giachẳng hạn như các công trình của Afonso và Sousa (2012) và Christiano et al (2005) tậptrung vào mô hình VAR và thứ tự Cholesky để xác định cú sốc tiền tệ và tài khóa tươngứng Blanchard và Perotti (2002) sử dụng thông tin đối ngoại về tính đàn hồi của các biếntài chính để kiểm soát các phản ứng tự động của chính sách tài khóa trong chu kỳ kinhdoanh Leeper và Zha (2003) và Afonso và Sousa (2011) dựa vào phương pháp Bayesian

và một hệ thống phương trình đầy đủ để số lượng các tác động kinh tế vĩ mô của những cúsốc lãi suất ngân hàng và để ước lượng cầu tiền và chính sách điều khiển cân bằng Uhlig(2005) sử dụng thuật toán dấu hiệu hạn chế trên hàm phản ứng đẩy để xác định sự thay đổibất ngờ của lãi suất ngân hàng và chi tiêu chính phủ Ramey và Shapiro (1998) và Romer

và Romer (2004, 2010) lập luận rằng các biện pháp thông thường có thể sai lệch và pháttriển "phương pháp tiếp cận thuyết minh" (narrative approach), tách biệt khỏi các sự kiệnchính trị

Nghiên cứu dựa trên một danh sách các nước đã sử dụng hình thức rút gọn củakhuôn khổ Panel VAR (Panel VAR frameworks), phù hợp cho việc nghiên cứu sự chuyểngiao của cú sốc đặc tính riêng qua thời gian và đơn vị Ví dụ, Beetsma và Giuliodori(2011) và Lane và Benetrix (2015) phân tích sự chuyển giao của chi tiêu chính phủ các

Trang 6

quốc gia Agnello và Sousa (2011, 2013) nghiên cứu kinh tế vĩ mô và hiệu ứng giá tài sảncủa chính sách tài khóa Những công trình khác thì tập trung vào mô hình cấu trúc PanelVAR Ví dụ, Ravn et al (2012) nghiên cứu tác động của "sự gia tăng trong mua sắm chínhphủ" trên các biến vĩ mô quan trọng bằng một mô hình Panel VAR Pedroni (2013) đề xuấtmột mô hình cấu trúc Panel VAR để giải thích cho cả những cú sốc đặc tính và phổ biến vàcho phépgiữa các đơn vị không đồng nhất của các động thái của các phản ứng.

3 Phương pháp kinh tế lượng

Chúng tôi sử dụng một hình thức rút gọn của phương pháp Véc - tơ tự hồi quy(PVAR) Tương tự như phương pháp Véc - tơ tự hồi quy truyền thống (VAR), đây làphương pháp xem xét với tất cả các biến trong hệ thống như là biến nội sinh Tuy nhiên, nó

sử dụng một cấu trúc bảng, nơi mà ta có thể kiểm soát tính không đồng nhất của các biếnkhông quan sát được Khung bảng điều khiển cũng cho phép chúng tôi tăng hiệu quả, vì nótránh được các sai lệch tiềm ẩn gây ra bởi số lượng nhỏ các bậc tự do của phương sai ở cấp

độ quốc gia

Chúng tôi xác định của mô hình bảng VAR thứ hai như sau:

Y i,t = Γ 0 + Γ(L)YL)YY i,t + νi + d c,t + εi,ti = 1,… ,N t = 1,….Ti

Trong đó:

Yi,t là một vector của các biến nội sinh,

Γ0 là một vector của các hằng số,

Γ(L) là một đa thức ma trận trong độ trể của điều hành,

νi là hiệu ứng cố định quốc gia cụ thể,

dc,t là thời gian tác dụng quốc gia cụ thể,

εi,t là một vector củasai số

Bởi vì sự tương quan giữa các tác động cố định và các biến hồi quy, các khác biệttrung bình của dữ liệu sẽ dẫn đến hệ số sai lệch (Holtz-Eakin et al., 1988) Do đó, chúng tôi

áp dụng một quy trình hai bậc thang, trong đó:

1) Chúng tôi chuyển các khác biệt trung bình và loại bỏ chỉ số trung bình của tất cảcác quan sát trong tương lai có sẵn cho mỗi quốc gia theo từng năm (Arellano và Bover,1995) -i.e cái gọi là 'thủ tục Helmert';

2) Chúng tôi ước tính hệ thống bằng GMM, sử dụng độ trễ của các biến hồi quy nhưcác công cụ (Blundell và Bond, 1998)

Trang 7

Đối với các tính toán của hàm “phản ứng đẩy”, chúng tôi sử dụng phương pháp bóctách, phân rã Cholesky của ma trận phương sai-hiệp phương sai của phần dư, có nghĩa là,chúng ta chuyển đổi hệ thống trong một VAR "đệ quy" và áp đặt một cấu trúc dạng hình tamgiác (Hamilton, 1994).

Chúng tôi giả định rằng các vector của các biến nội sinh có trong hệ thống có thểđược biểu diễn như:

Yt = [US_IRt, GDPt, Pt, GOVSt, IRt, M2_GRt]'

Cùng với các tác phẩm của Christiano et al (2005), Mallick và Sousa (2012, 2013) vàSousa (2010, 2014a, 2014b), chúng tôi cho rằng GDP thực tế và chỉ số giảm phát giá phảnứng với chính sách tiền tệ có một độ trễ, trong khi tốc độ tăng trưởng của tổng tiền tệ (M2)phản ứng tức thời với những cú sốc chính sách tiền tệ Các biến này thường được sử dụngtrong các tài liệu chu kỳ kinh doanh tiền tệ Cân nhắc thực tế của hàm phản ứng đẩy, chúngtôi không hiển thị giá cả, có nghĩa là không bao gồm giá cả hàng hóa trong tập hợp các biếncủa hệ thống Theo đề nghị được thực hiện bởi Kim và Roubini (2000), chúng tôi cũng baogồm lãi suất quỹ vốn tại FED (đây là tỷ lệ các ngân hàng ấn định với nhau cho khoản vayqua đêm các quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang) trong khuôn khổ của chúng tôi, cho phépchúng tôi để giải thích cho những thay đổi trong chính sách tiền tệ của Mỹ(2)

Phù hợp với các tác phẩm của Blanchard và Perotti (2002), Perotti (2004), Akitoby

và Stratmann (2008), Uhlig (2005), Afonso và Sousa (2011, 2012), Agnello và Sousa (2011,2013) và Jawadi et al (2014b), những tác động của chính sách tài khóa được chụp bởi sựtương tác giữa GDP thực tế, chỉ số giảm phát giá cả, chi tiêu chính phủ và lãi suất SauAgnello et al (2013), chúng tôi tập trung vào các chi tiêu của chính phủ là các công cụ chínhsách tài khóa thay vì thu nhập của chính phủ Điều này cũng phản ánh sự khó khăn trongviệc có được một nhận dạng đúng của những cú sốc thu nhập của chính phủ

Cuối cùng, chúng ta xem xét một mô hình thống nhất cho cả hai chính sách Giả địnhcủa chúng tôi là chính sách tài khóa phản ứng với biến động của chính sách tiền tệ, như việchoạch định chính sách sẽ tác động nhanh hơn đến việc điều chỉnh tỷ giá ngân hàng trungương hơn để thực hiện những thay đổi trong chi tiêu chính phủ Một số tác giả cũng đã phântích những tác động liên quan đến sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ,

( 2) Theo kết quả của chúng tôi, khi chúng ta thay thế lãi suất quỹ vốn tại FED với tốc độ tăng trưởng M2 ở Mỹ hay tốc độ tăng trưởng dự trữ của Fed thì cho thấy rằng mặc dù có vai trò của chính sách tiền tệ của Mỹ trong việc giải thích sự biến động của các nền kinh tế BRICS nhưng các yếu tố trong nước dường như liên quan chính Để ngắn gọn, những kết quả này không được báo cáo trong bài báo, nhưng họ có sẵn theo yêu cầu.

Trang 8

đặc biệt là, trong bối cảnh của một liên minh tiền tệ Trong bối cảnh này, Gali và Monacelli(2008) xem xét trường hợp của chính sách tiền tệ được thực hiện bởi một ngân hàng trungương chung và chính sách tài khóa được thực hiện ở cấp quốc gia.

4 Dữ liệu và kết quả thực nghiệm

4.1 Dữ liệu và phân tích sơ bộ

Chúng tôi sử dụng dữ liệu tại BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi).Các dữ liệu của các quý trong gian đoạn từ quý 1 năm 1990 đến quý 2 năm 2013, cho phépchúng tôi để nghiên cứu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

Các biến trong mô hình PVAR như sau:

1) Lãi suất quỹ vốn tại FED (US_IRt), được sử dụng để nắm bắt các động thái củachính sách tiền tệ của Mỹ;

2) GDP thực (GDPt), được sử dụng như là một đại diện cho hoạt động kinh tế và chu

kỳ kinh doanh;

3) Chỉ số giảm phát giá (Pt), dựa trên chỉ số giảm phát của GDP;

4) Chi tiêu Chính phủ (GOVSt), tương ứng với các chi tiêu, tiêu dùng chung cuốicùng của Chính phủ và được sử dụng như các công cụ chính sách tài khóa;

5) Lãi suất danh nghĩa của Ngân hàng trung ương (IRt), được sử dụng như là công cụchính sách tiền tệ; và

6) Sự tăng trưởng tỷ lệ cung tiền (M2t), yếu tố thể hiện sự quan tâm của Ngân hàngtrung ương liên quan đến những biến đổi của thị trường tiền tệ (Mallick, 2006)

Dữ liệu có nguồn gốc từ Haver Analytics, ngoại trừ Lãi suất quỹ vốn tại FED, đượccông bố bởi Hội đồng thống đốc của Cục Dự trữ liên bang và chi tiêu của Chính phủ đượccông bố bởi Ngân hàng Thế giới và các tài khoản quốc gia OECD

Bảng 1 trình bày một loạt các thống kê mô tả, trong khi chúng tôi báo cáo hệ số tươngquan trong Bảng 2 Điều đáng chú ý là tất cả các biến thể hiện một sự tương quan đáng kểgiữa lãi suất của Ngân hàng trung ương và các chi tiêu của chính phủ

Cuối cùng, ở bảng 3, chúng tôi đánh giá sự hiện diện của nghiệm đơn vị trong dữ liệubằng cách sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị với dữ liệu bảng của Maddala và Wu (1999).Các kết quả của kiểm định cho thấy rằng tất cả các biến được tích hợp bậc một

Trang 9

Ghi chú: Ký hiệu ***, ** và * đại diện cho ý nghĩa 1% 5% và 10% tương ứng

Bảng 3: Kiểm định nghiệm đơn vị với dữ liệu bảng

Trang 10

Chúng tôi bắt đầu bằng cách nhìn vào những ảnh hưởng của một cú sốc chính sáchtiền tệ, tức là một cú sốc tích cực đến lãi suất danh nghĩa của Ngân hàng trung ương Hình 1thể hiện hàm phản ứng đẩy Đường liền nét tương ứng với ước lượng điểm và đường đứt gãy

là khoảng tin cậy 68% dựa trên 10.000 kết quả Vì vậy, chúng xấp xỉ một độ lệch chuẩn trên

và dưới mức trung, do đó khoảng cách giữa hai đường là khoảng hai lần độ lệch chuẩn.Thiết lập này cũng là phù hợp với các nghiên cứu của Leeper và Zha (2003), Sousa (2010,2014a, 2014b), Afonso và Sousa (2011, 2012), Agnello và Sousa (2011, 2013), Mallick vàSousa (2012, 2013) và một số tác giả khác

Hình 1 Hàm phản ứng đẩy với một cú sốc tích cực trong lãi suất

Ghi chú: Mỗi cột của các biểu đồ đưa ra các hàm phản ứng đẩy (trên 12 quý) với một cú sốc tích cực trong lãi suất tương ứng với một độ lệch tiêu chuẩn (tức là thắt chặt tiền tệ) Các biến đáp ứng được đặt tên ở bên trái của mỗi biểu đồ Những đường đứt gãy trên và dưới thể hiện trong mỗi đồ thị là những kết quả tương ứng với 1 độ lệch chuẩn, trong khi đường kẻ liền mạch tương ứng với phản ứng trung bình.

Như vậy, việc thắt chặt chính sách tiền tệ dẫn đến:

(i) Giảm GDP thực tế;

(ii) Giảm dần của chỉ số giảm phát giá; và

(iii) Một tác động tiêu cực lớn nhất đến tính thanh khoản của thị trường kéo dài 6 quý đầu

tiên sau cú sốc

Ngày đăng: 27/06/2017, 10:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w