Triết học, tôn giáo, khoa học là gì? Phân tích mối quan hệ giữa triết học và tôn giáo; giữa triết học và khoa học; giữa tôn giáo và khoa học; Giải thích nhận định của V.I.Lênin: “Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn phát triển không ngừng”
Trang 1Mục lục
Triết học, tôn giáo, khoa học là gì? Phân tích mối quan hệ giữa triết học và tôn giáo; giữa triết học và khoa học; giữa tôn giáo và khoa học 2Tính đảng của triết học là gì? Hãy chỉ ra tính đảng của các trường phái, trào lưu triết học trong lịch sử 7
Tư duy lý luận, tư duy biện chứng là gì? Bình luận nhận định của Ph.Ăngghen:
“Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không
có tư duy lý luận”… “Cứ mỗi lần khoa học đạt được thành tựu mới thì triết học phải thay đổi hình thức tồn tại của chính mình” 10Trình bày khái quát triết học Trung Quốc (/Ấn Độ; /Hy Lạp) cổ đại; qua đó, chứng minh rằng nó là sản phẩm tinh thần của đời sống hiện thực xã hội đó 11Chứng minh rằng, triết học phương Tây thời trung đại chỉ là công cụ tinh thần của nhà thờ Thiên chúa giáo dùng để củng cố vai trò thống trị của mình trước những thế lực khác trong đời sống xã hội 16Chứng minh rằng, triết học phương Tây thời phục hưng – cận đại thật sự là công
cụ tinh thần của giai cấp tư sản và các tầng lớp tiến bộ trong xã hội đấu tranh với các thế lực cũ nhằm tạo dựng nên một thời đại mới 17
Có thể khẳng định triết học phương Tây thời phục hưng – cận đại là một cuộc hành trình đi tìm các phương pháp mới để đẩy mạnh nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng cải tạo hiện thực xã hội phương Tây hay không, tại sao? 21Trình bày khái quát triết học cổ điển Đức, qua đó chỉ ra con đường dẫn dắt
Hêghen đến với phép biện chứng duy tâm Phân tích những thành tựu và hạn chế lớn của phép biện chứng duy tâm Hêghen 23Trình bày khái quát sự hình thành triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung Phân tích những đặc điểm của triết học Mác – Lênin Nói chỉ có triết học Mác – Lênin mới thật sự là khoa học - triết học đúng hay sai, tại sao? 24Chứng minh rằng, triết học Mác ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử triết học nhân loại; nó làm cho chủ nghĩa Mác không chỉ có giá trị lýluận mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với thời đại 26Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Vận dụng mối quan hệ này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 27Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta? 31Đảng ta khẳng định: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực
tế, tôn trọng quy luật khách quan” Hãy chỉ ra và phân tích cơ sở triết học của khẳng định đó 34
Trang 2Bằng lý luận và thực tiễn, hãy chứng minh rằng: Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới 36Hãy phân tích nội dung và ý nghĩa triết học câu nói của C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vậtchất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” 37Trình bày khái quát các hình thức lịch sử của phép biện chứng? 39
Lý luận, phương pháp luận là gì? Vạch ra mối quan hệ biện chứng giữa chúng.41Giải thích nhận định của V.I.Lênin: “Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn phát triển không ngừng” 41Phân tích cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện (/nguyên tắc phát triển; / nguyên tắc lịch sử - cụ thể) Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn? Lấy một tình huống minh họa việc vận dụng nguyên tắc này trong hoạt động của chính mình 43Phân tích cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của phương pháp hệ thống (/phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể; /phương pháp thống nhất cái lịch sử và cái lôgích) Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạnchế gì trong hoạt động nhận thức khoa học? Lấy một ví dụ minh họa việc vận dụng phương pháp này trong hoạt động nghiên cứu khoa học 53Phân tích nội dung lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (/quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại; /quy luật phủ định của phủ định) Đảng Cộng sản Việt Nam đang vận dụng quy luật này như thế nào vàocông cuộc Đổi mới hiện nay ở nước ta? 55Nội dung quy luật và các yêu cầu phương pháp luận của quy luật chuyển hóa những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại; Sự vận dụng của Đảng: 59Nội dung, yêu cầu phương pháp luật của quy luật phủ định của phủ định; sự vận dụng của Đảng: 64Bằng lý luận và thực tiễn, hãy chứng minh rằng, cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ là một quá trình khó khăn, lâu dài, phức tạp; cái mới có thể thất bại tạm thời nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng cái cũ 67Giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một
sự phát triển thêm” 68
Trang 3Cơ sở nào để khẳng định nguyên tắc lịch sử - cụ thể là “linh hồn” phương pháp luận của triết học Mác – Lênin? Nêu những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc lịch
sử - cụ thể Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào công cuộc Đổi mới hiện nay ở nước ta 69Phép biện chứng tư duy, tư duy biện chứng là gì? Mối quan hệ giữa chúng? Tư duy biện chứng có vai trò như thế nào trong hoạt động nhận thức và thực tiễn củathời đại chúng ta? 71Bằng hiểu biết về lý luận và thực tiễn, hãy làm sáng rõ luận điểm của V.I.Lênin:
“Quan điểm về đời sống, về thực tiễn là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luậnnhận thức” 72Phân tích những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Đảng Cộng Sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam? 74Dựa vào những yêu cầu của nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn và lý luận, phântích câu nói của C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” 76Vận dụng lý luận vào thực tiễn, V.I.Lênin nhận xét: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả tính hiện thực trực tiếp” Hãy phân tích nhận xét trên 77Hãy làm rõ những biểu hiện và những nguyên nhân cơ bản của bệnh kinh nghiệm
và bệnh giáo điều ở nước ta Để khắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều ở nước ta, chúng ta cần phải làm gì? 79Tại sao nói sản xuất vật chất là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận gì? 80Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất? Rút ra ý nghĩa phương pháp luận Liên hệ đến quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa ở Việt Nam 81Phân tích mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng , giữa kinh tế
và chính trị Rút ra ý nghĩa phương pháp luận Liên hệ đến công cuộc đổi mới ở Việt Nam 86Trong quá trình nghiên cứu xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ nghiên cứu
xã hội thông qua mối quan hệ biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mà còn nghiên cứu cả những quan hệ khác Trong đó mối quan hệ biện
chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũng được xem là một quy
luật chung chi phối sự vận động và phát triển của xã hội loài người 86Hình thái kinh tế - xã hội là gì? Vì sao nói sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiêân? Liên hệ tới con đường tiến lên chủ nghĩa
xă hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam 88
Trang 4Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam hiện nay? 92Trình bày quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về chính trị 95Trình bày quan điểm của Lênin về giai cấp và ý nghĩa phương pháp luận của địnhnghĩa này 97Trình bày quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ giữa giai cấp
và dân tộc Nêu nét đặc thù của mối quan hệ này ở nước ta Y nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ này đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay? (Còn
thiếu phần in nghiêng) 100Trình bày quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về nguồn gốc, bản chất của Nhà nước 104Phân tích những dấu hiệu nhận biết cơ bản của nhà nước pháp quyền với tư cách
là giá trị phổ biến 107Trình bày quan điểm cơ bản của Đảng ta về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần phải tiếp thu, kế thừa và phát huy những gì ở các nhà nước trong lịch sử dân tộc và trên thế giới? 108Phân tích khái niệm tồn tại xã hội và các yếu tố cơ bản hợp thành tồn tại xã hội? Trong số các yếu tố cơ bản hợp thành tồn tại xã hội thì yếu tố nào là quan trọng nhất, tại sao? 117Phân tích mối quan hệ giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng, tại sao tâm lý xã hội và
hệ tư tưởng là hai giai đoạn thấp và cao của ý thức xã hội nhưng tâm lý xã hội lại không trực tiếp sinh ra hệ tư tưởng? 118Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội và rút ra những ý nghĩa về mặt phương pháp luận? 121Tại sao trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chúng ta tất yếu phải xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, những nội dung cơ bản của nền tảngtinh thần đó là gì? 122Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa quan niệm về con người trong triết học phương Đông với quan niệm về con người trong triết học phương Tây
và với quan niệm về con người trong triết học Mác – Lênin 124Định nghĩa về bản chất con người của C.Mác dùng để chỉ bản chất của riêng từng
cá nhân con người hay dùng để chỉ chung bản chất của cả giống loài người, tại sao? 126Giải thích thế nào là tha hóa và tha hóa con người Nguyên nhân của sự tha hóa con người và cách thức tiến hành xóa bỏ sự tha hóa con người? 127Giải phóng cho con người là giải phóng đối tượng nào? Giải phóng bằng cách nào? Giải phóng như thế nào? 128
Trang 5CÂU HỎI môn TRIẾT HỌC
* Triết học là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị
trí của con người trong thế giới đó; nó đã có một lịch sử ra đời và phát triển trênhai ngàn năm trong lịch sử tư tưởng nhân loại
* Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh thế giơi một cách hoang
đường, hư ảo, thần thánh hóa bằng các tín điều Ph.Ăngghen viết: “Bất tôn giáo
nào cũng đều là sự phản ánh hư ảo vào đấu óc người ta sức mạnh ở bên ngoài chiphối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó sức mạnh ở thếgian đã mang hình thức sức mạnh siêu thế gian”
* Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học là hệ thống các tri
thức chân thực về thế giới đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn Đối tượng phản
ánh của khoa học rộng hơn bất cứ hình thức ý thức xã hội nào khác, đó là tất cảcác hiện tượng và quá trình tự nhiên, xã hội và tư duy con người Nôi dung cănbản của khoa học là các quy luật khách quan vốn có của thế giới được chứngminh từ lý thuyết đến thực tiễn Hình thức biểu hiện chủ yếu của các tri thức khoahọc là hệ thống các phạm trù, định luật, quy luật, nguyên lý Tri thức khoa học cóthể và cần phải xâm nhập vào tất cả các hình thái ý thức xã hội để hình thành nêncác khoa học tương ứng với từng hình thái ý thức đó, ví dụ như luật học, đạo đứchọc, lý luận nghệ thuật, tôn giáo học,
b Phân tích mối quan hệ giữa triết học và tôn giáo:
Triết học và tôn giáo là hai hình thái ý thức xã hội mang tính đa dạng, phứctạp xét về mọi phương diện: nguồn gốc hình thành, nội dung hàm chứa, đối tượngphản ánh, phương thức biểu đạt, phương pháp tiếp cận, chức năng xã hội, hìnhthái biểu hiện và lịch sử phát triển
Trước khi triết học xuất hiện, thế giới xung quanh được phản ánh trong ýthức nguyên thủy của loài người dưới hình thức thần thoại Trong thần thoại bêncạnh niềm tin vào các lực lượng thần thánh, siêu tự nhiên, thì các vấn đề vềnguồn gốc, bản chất của thế giới có một vị trí đáng kể Triết học và thần thoại rađời như một nỗ lực nhằm giải thích thế giới Thực chất triết học cũng tìm cách trảlời cho các vấn đề mà trước đó đã được đặt ra trong thần thoại, nhưng bằng mộtphương thức khác Triết học là sự phân tích lý luận các vấn đề ấy dựa trên lôgíc,các tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn
Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo không đơn giản là những ảo tưởng phi lý,hoang đường mà còn là những mơ ước, khát vọng đời thường của con người Sựbất lực trong nhận thức, sự sợ hãi, đau khổ, khó khăn triền miên, niềm mơ ước
Trang 6khao khát vươn lên trong cuộc sống đầy đau khổ bất hạnh, đầy bế tắt buồnthương của con người đã sản sinh ra tôn giáo Tôn giáo là sự tha hóa bản chất củacon người Còn Thượng đế chỉ là tập hợp những giá trị, mơ ước, khát vọng màcon người muốn có Vì vậy, giá trị, mơ ước, khát vọng của con người như thế nàothì Thượng đế như thế nấy Thượng đế là nhân cách cá nhân được thần thánh hóa.Như vậy, theo Phoiơbắc, tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý và nhận thứccủa con người; không phải Thượng đế sinh ra con người mà chính con người đãsinh ra Thượng đế Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo và niềm tin vào Thượng đế đãchia cắt thế giới cùng con người thành thế giới trần tục và thế giới hoang đường,tôn giáo làm tha hóa con người để dễ dàng thống trị nó Tôn giáo không chỉ kìmhảm mà còn tước đi ở con người tính năng động sáng tạo, sự tự do và năng lựcđộc lập phán xét.
Sự hình thành thế giới quan thần thoại và tiếp đó là thế giới quan tôn giáo
là bước chuẩn bị tư tưởng để hình thành thế giới quan triết học Lịch sử thầnthoại và tôn giáo ghi nhận sự phát triển nội dung tư duy triết học và sự biểu cảmcủa nội dung tư duy đó Qua từng chặn đường của thần thoại và tôn giáo, chúng
ta thấy người cổ đại ngày càng có tư duy triết học hơn Hegels nhận xét, trongthần thoại và tôn giáo tiềm ẩn nội dung triết lý, con đường thần thoại và tôn giáođến triết học là con đường từ lý tính hoang tưởng đến lý tính khoa học, từ hìnhthức biểu đạt thông qua biểu tượng đến hình thức bằng khái niệm Lịch sử nhânloại chứng minh rằng, ở đâu phát triển phong phú thần thoại và tôn giáo thì ở đóhưng thịnh triết học
Điểm lại toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sẻ triết học từ Đông sangTây, từ cổ chí kim, chúng ta thấy triết học có một mối quan hệ mật thiết với tôngiáo Mối quan hệ này biến thiên theo dòng chảy của lịch sử, theo sự phát triển tưduy khoa học và sự thay đổi các quan điểm – thể chế chính trị Trong mỗi thờiđại khác nhau, triết học có cách luận chứng và giải đáp khác nhau về những vấn
đề mà tôn giáo đặt ra Tuy nhiên sự luận chứng và lời giải đáp của triết học duyvật khác với triết học duy tâm Nếu triết học duy vật, đặc biệt là triết học duy vậtbiện chứng marxist có thái độ và quan niệm đối lập với tôn giáo thì triết học duytâm lại là người bạn đồng hành của tôn giáo
Tóm lại, giữa triết học và tôn giáo vừa có sự thống nhất lại vừa bao hàmmâu thuẫn; do vậy, lời nhận xét của Betrand Russell: “Triết học là hình thái tưtưởng nằm ở ranh giới giữa khoa học và tôn giáo”
c Phân tích mối quan hệ giữa triết học và khoa học:
Mối quan hệ giữa triết học và khoa học là mối quan hệ hai chiều, nghĩa là,triết học và khoa học đều có tác động biện chứng lẫn nhau Nếu như sự tác độngcủa triết học đến khoa học có thể chia thành những giai đoạn và mỗi giai đoạn cónhững hình thức nhất định, thì ngược lại, sự tác động của khoa học đến sự pháttriển của triết học không phải khi nào cũng rõ ràng và có khuynh hướng rõ rệt Từchỗ lúc đầu là một sự hòa trộn đan xen giữa tri thức khoa học và triết học, dầndần là sự tách ra của khoa học và sau đó, khoa học bắt đầu ảnh hưởng đến sự pháttriển của triết học
Trang 7c.1 Sự tác động của khoa học đối với sự phát triển của triết học
Về mặt lịch sử, sự ra đời của triết học trùng hợp với sự xuất hiện nhữngmầm mống đầu tiên của tri thức khoa học, với sự hình thành nhu cầu nghiên cứu
lý luận Chúng ta có thể thấy rõ điều này ở Hy Lạp cổ đại Triết học Hy Lạp cổđại khi mới hình thành không độc lập với các tri thức khoa học, mà thực chất làđồng nhất với chúng để hình thành nên môn khoa học tổng hợp Các nhà triết họcđầu tiên ở Hy Lạp đồng thời cũng là các nhà khoa học, như Thalets, Pithagore, Triết học đặt nhiệm vụ tìm hiểu và giải thích tự nhiên, xem xét thế giới như mộtchỉnh thể Trong nền triết học tự nhiên, khoa học nói chung bị đẩy xuống vị tríthứ yếu và bị chi phối bởi triết học Triết học tự nhiên thịnh hành ở phương Tâyvào lúc khoa học thực nghiệm chưa phát triển, không đủ để tìm ra quy luật củacác hiện tượng tự nhiên Chính vì vậy mà trên thực tế, triết học tự nhiên là dòngtriết học mang tính tư biện (speculation): Những giải thích của nó về thế giới chủyếu là dựa trên những phỏng đoán và giả định Nhưng bắt đầu từ thời Phục hưng
và đặc biệt là trong các thế kỷ XVII - XVIII, sự phát triển của khoa học, nhất làcác khoa học tự nhiên ngày càng diễn ra nhanh chóng Mối quan hệ triết học -khoa học có sự đổi chiều Khoa học tự nhiên từ chỗ phụ thuộc, bị dẫn dắt bởi triếthọc, thì giờ đây, nó độc lập trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, hơn nữa còn tácđộng quyết định đến khuynh hướng phát triển của triết học và phương pháp tưduy Chính sự thay đổi này đã tạo ra tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa thựcchứng Chủ nghĩa thực chứng tuyên bố rằng, chỉ có khoa học cụ thể mới cầnthiết, đem lại các tri thức tích cực, còn triết học thì không Chính xác hơn, chủnghĩa thực chứng thừa nhận trong quá khứ, khi mà các khoa học còn chưa pháttriển đầy đủ, thì triết học từng đóng vai trò tích cực là khoa học bao trùm, tổnghợp mọi tri thức, thậm chí là “khoa học của các khoa học” Nhưng khi các khoahọc lần lượt xuất hiện và trưởng thành, đem lại một khối lượng tri thức khổng lồthì triết học dần đánh mất vai trò lịch sử của mình
Không nghi ngờ gì nữa, kể từ thời kỳ Phục hưng trở đi, ảnh hưởng của cáckhoa học đến triết học càng ngày càng rõ rệt Theo dõi sự phát triển của khoa họctrong thời kỳ này, chúng ta thấy rằng quá trình phân ngành diễn ra nhanh chóng:
Cơ học, vật lý học, hóa học, sinh vật học, địa lý, thiên văn học, lần lượt trởthành các khoa học độc lập Mỗi một khoa học tự xác định cho mình đối tượngnghiên cứu riêng Giới tự nhiên được chia thành nhiều lĩnh vực khác nhau và trởthành đối tượng của những nghiên cứu độc lập Thời kỳ Phục hưng và cận đại,khoa học tự nhiên đã có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của triết học.Mỗi bước tiến mới của khoa học đều bằng cách này hay cách khác tác động lên
xu hướng phát triển và tư duy của triết học
Khác với các thế kỷ trước đó, khoa học tự nhiên trong thế kỷ XIX đãkhông còn là khoa học sưu tập nữa Những gì nó tích lũy được trong thời kỳtrước đã cho phép nó có thể sắp xếp, tổng hợp lại Và nhiệm vụ này đến lượt nó,khiến người ta phải chú ý nhiều hơn tới những mối liên hệ vốn có của bản thân.Ngày nay, một bức tranh bao quát về những mối liên hệ không những trong cáclĩnh vực riêng biệt, mà còn giữa các lĩnh vực hầu như của toàn bộ giới tự nhiên,được rút ra chủ yếu từ những kết quả nghiên cứu do các khoa học tự nhiên đem
Trang 8lại Trong những điều kiện như vậy, thì một thứ triết học tự nhiên đứng ngoài vàđứng trên các khoa học là hoàn toàn không cần thiết Mọi ý định khôi phục triếthọc tự nhiên của các triết gia không còn phù hợp nữa, thậm chí, theoPh.Ăngghen, phải coi ý định đó là “những bước thụt lùi”.
Tác động của khoa học lên sự phát triển của triết học không phải là trựctiếp và theo đường thẳng, mà là gián tiếp tạo ra bầu không khí tinh thần cho phéphình thành một kiểu tư duy, một cái nhìn tương ứng với trạng thái đạt được củakhoa học về thế giới Thông qua những tri thức và phát minh khoa học, các kháiniệm, các phạm trù triết học có thêm những nội dung mới Chẳng hạn, thuyếtnhật tâm của Copernicus khẳng định rằng, trái đất không phải là trung tâm của vũtrụ, thì rõ ràng nó đã giáng một đòn chí mạng vào Kitô giáo, mở đầu cho thời kỳmới của khoa học tách khỏi tôn giáo và thần học
Sự phát triển của khoa học tự nhiên nhất định sẽ đưa đến những kết luậntriết học chung như là một sự tổng kết lý luận Những kết luận triết học rút ra từcác phát minh của khoa học tự nhiên thường do chính các nhà khoa học tự nhiênthực hiện Ảnh hưởng của khoa học đến sự phát triển của triết học có thể đưa đếnnhững kết luận tích cực, nhưng cũng có thể đưa đến những kết luận tiêu cực,phản khoa học Kết luận triết học được các nhà khoa học rút ra từ những kết quảcủa mình đa phần mang tính tự phát Chỉ khi được xem xét trên một nền tảng thếgiới quan nhất định, chúng mới thực sự trở thành định hướng tích cực cho sự pháttriển khoa học
c.2 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển khoa học
Chức năng thế giới quan và phương pháp luận chung của triết học đối vớikhoa học, được hầu hết các nhà khoa học thừa nhận, trước hết là ở vai trò nhậnthức của nó làm gia tăng tri thức mới Sự phân tích, lý giải triết học đối với các
dữ liệu khoa học cũng chính là sự nghiên cứu các hiện tượng ở mức độ khái quátchung và sâu sắc hơn Hàng loạt các phạm trù nền tảng của nhận thức được hìnhthành và phát triển như là các phạm trù của triết học và các khoa học, ví dụ nhưcác phạm trù “vật chất”, “không gian”, “thời gian”, “vận động”, “nguyên nhân”,
“lượng”, “chất”, Triết học không đi sâu giải quyết các vấn đề khoa học cụ thể,
mà đi sâu giải quyết các vấn đề thuộc về lý luận nhận thức phổ quát Phát triểnsong hành cùng các khoa học cụ thể, triết học vạch ra lôgíc của các quá trìnhnhận thức, trở thành phương pháp luận của nhận thức khoa học
Chức năng thế giới quan - phương pháp luận của triết học đối với các khoahọc là ở sự tổng kết các thành tựu đã đạt được của khoa học và làm sáng tỏ cácnguyên lý chung của chúng Tất nhiên, trong mỗi khoa học đều có sự tổng kết,khái quát các tri thức thành các nguyên lý, các quy luật nhất định Nhưng nhữngtổng kết, khái quát trong mỗi khoa học cụ thể chỉ được giới hạn trong lĩnh vực
mà nó nghiên cứu Đặc điểm của khái quát triết học là những khái quát chungnhất, có liên quan đến các hiện tượng và các quá trình của tự nhiên, xã hội và tinhthần Ở đây, triết học đóng vai trò là hạt nhân lý luận kết nối các ngành khoa học,
là trung tâm phương pháp luận đem lại khả năng thâm nhập vào các quá trình nàymột cách chủ động và tích cực
Trang 9d Phân tích mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học:
Dưới cái nhìn lịch sử, gần hơn nửa thế kỷ vừa qua, mối liên hệ giữa khoahọc và tôn giáo thường bị coi là một chiến trường tư tưởng Khoa học và tôn giáothật ra vốn không xung khắc, nhưng thật khó nói Tiến bộ khoa học phần nào làmgiảm những bí mật của vũ trụ, từ thế kỉ 18 đã gây ra sự suy tàn của đức tin
Khoa học là thế giới của Trí thức và Trí tuệ Khoa học là logic, là phântích, là lý luận, là chứng cứ Khoa học nghiên cứu cái bên ngoài của Con người,
là Vạn vật, là Vũ trụ, là quy luật Tự nhiên, là các quy luật Xã hội, là các quy luậtKinh tế, Tôn giáo ngược lại Tôn giáo thuộc về Tâm linh Tông giáo không chỉquan tâm cái bên ngoài Tôn giáo là đi sâu vào cái bên trong Tôn giáo đưa conngười vào cái Tĩnh lặng sâu thẳm Tôn giáo đưa con người tới sự Phúc lạc toànphần và Vĩnh viễn Đó chỉ có thể là con đường đi vào bên trong Tôn giáo vậnhành bởi Trái Tim, bằng Tình yêu Trái tim và Tình yêu luôn có bước nhảy, nókhông bao giờ tuần tự, nó luôn là nghịch lý, nó là Phi logic
Khoa học là thế giới của Trí thức và Trí tuệ Lý thuyết, mệnh đề, phươngtrình, toán tử, tích phân, đạo hàm, xấp xỉ, gần đúng,… có nghiệm hay vô nghiệm,
… tất cả những điều này là quan trọng Nhưng nó không phải là cuối cùng, dù đãrất logic Điều cuối cùng phải là Thực nghiệm, phải là Thực tế Phải có Thựcnghiệm, phải có Thực tế kiểm tra Khoa học mới công nhận Khoa học là kháchquan Tôn giáo là chủ quan Nó hoàn toàn là kinh nghiệm cá nhân, là chủ quan, làduy nhất theo một cách nào đó Phật Gautama đạt Chứng ngộ không chỉ vì Ngài
từ bỏ ngài vàng, quyền lực, giàu sang, cung tần mỹ nữ… Phật Gautama Chứngngộ chỉ khi Ngài có sự từ bỏ lớn lao: từ bỏ tìm kiếm Jesus Christ Chứng ngộbằng Tình yêu vĩ đại Tôn giáo là như vậy Tôn giáo là Chủ quan Mỗi một Conngười đi tới Chân lý bằng con đường của mình
Nhờ sự tiến bộ của khoa học đã đưa đến một đời sống vật chất đầy đủ.Khoa học đã mở rộng nhãn giới, phát minh ra những định luật, thay đổi nhữngquan niệm cũ, có thể làm thay đổi cả thế giới Khoa học làm cho việc chế biếnđược mau lẹ, sản xuất thì nhanh chóng Con người giờ chỉ cần hưởng thụ nhữngthành tựu đó của khoa học Nhưng khi hưởng thụ một cách thái quá, cộng với sựyếu đuối của thể xác làm họ quên mất đời sống tinh thần, đời sống thiêng liêng
Họ chỉ biết chạy theo những thành tựu của khoa học mà dần quên mất đi sự hiệndiện của Tôn giáo
Darwin và Wallace cho rằng loài người là dòng dõi của động vật từ rất xaxưa, thông qua một quá trình chọn lọc tự nhiên tác động lên biến dị của các thế
hệ kế tiếp diễn ra một cách ngẫu nhiên, là quan trọng nhất ngày nay: không cầnđến một thánh thần nào để giải thích sự hình thành của loài người Phát hiện này
đã dẫn đến sự mất lòng tin Không có gì lạ là phát hiện này luôn làm cho nhữngngười theo tôn giáo bảo thủ nhất hết sức lúng túng
Thực trạng đó, đưa ta đến một vấn đề, có phải khoa học đã phá vỡ tư tưởngcủa tôn giáo không? Và khoa học càng phát triển thì tôn giáo càng mai mộtkhông? Blaise Pascal một nhà khoa học đồng thời cũng là một nhà tư tưởng nổitiếng người Pháp đã trả lời: “Tất cả mọi cố gắng của khoa học không thể làm suy
Trang 10yếu những chân lý của tôn giáo, nhưng chỉ làm cho những chân lý ấy cất cánhcao hơn”.
Ai trong chúng ta cũng biết ánh sáng của chân lý và ánh sáng của sự thậtbao giờ cũng chỉ là một ánh sáng Nhưng người ta có thể tìm đến chân lý quanhiều phương thức khác nhau, hoặc bằng lý trí của suy luận hoặc bằng lý lẽ củacon tim Nói một cách khác, người ta có thể tìm đến chân lý qua những khám phácủa khoa học thực nghiệm hoặc qua niềm tin tôn giáo với những chân lý siêuhình đã được mạc khải Chính Đức Kitô đã tuyến bố: “Tôi chính là chân lý và tôiđến để làm chứng cho chân lý ấy”
Tôn giáo là tư tưởng ra đời từ ngàn xưa, nó ra đời trước rất nhiều so vớicác nghiên cứu của khoa học Và từ cổ chí kim, con người giải thích mọi hiệntượng của tự nhiên đều dựa vào tư tưởng của tôn giáo Khi những nghiên cứukhoa học ra đời họ đã tìm ra được những cách giải thích khác Họ đã tìm ra đượcnhững quy luật, những quan niệm mới mẻ, cụ thể, chi tiết nhưng nó cũng khôngthay thế những tư tưởng của tôn giáo mà nó lại làm cho các tư tưởng đó được cấtcánh cao hơn Nhiều nhà khoa học đã tin tưởng một cách chắc chắn rằng vũ trụ
mà chúng ta đang sống không phải là một cấu tạo ngẫu nhiên, nhưng là một tuyệttác của một trật tự siêu việt Khi quan sát vũ trụ mênh mông vô tận qua lăng kínhcủa mình Nhà khoa học nổi tiếng Newton đã thốt lên: “Ôi thật tuyệt vời! tôi đãnhìn thấy Thiên Chúa qua ống kính của tôi”
Như vậy, khoa học và tôn giáo không phải là sự đối lập nhau, nhưng ở giữaluôn là chiếc cầu nối qua lại và tôn vinh nhau Mục tiêu của khoa học là mô tảcác hiện tượng trong thế giới tự nhiên và giúp giải đáp câu hỏi các hiện tượng đóhình thành như thế nào Khoa học là những gì con người giải thích được Cònnhững gì con người chưa giải thích được thì phải dựa vào tôn giáo Khoa học màkhông có tôn giáo thì khoa học có thể sẽ bị lạm dụng vào những việc phi nghĩa.Tôn giáo mà thiếu khoa học thì sẽ không theo kịp đà phát triển của loài người,không thuyết phục, không gây được sự tín tâm cho những người có đầu óc khoahọc, mà chỉ lôi kéo được những tín đồ ngoan đạo, cuồng tín mà thôi
Tính đảng của triết học là gì? Hãy chỉ ra tính đảng của các trường phái, trào lưu triết học trong lịch sử.
Triết học là một hệ thống tư tưởng kết hợp trong mình những giá trị chung vớinhững tri thức tổng quát, do các nhà tư tưởng coca các giai cấp, tầng lớp trong xãhội gây dựng nên, để giải quyết những vấn đề trọng đại do lịch sử nhân loại đặt radựa trên lợi ích coca giai cấp, tầng lớp mình Do vậy các hệ thống triết học từ cổđại đến nay đều mang tính đảng Trước khi giải quyết các vấn đề do thời đại đặt
ra, các hệ thống triết học phải giải quyết vấn đề cơ bản coca triết học; và cáchgiải quyết các vấn đề cơ bản coca triết học sẽ ảnh hưởng đến cách giải quyết cácvấn đề còn lại và xác định hệ thống triết học đó thuộc trào lưu, khuynh hướngnào
Như vậy : Tính đảng trong triết học là sự thể hiện công khai và dứt khoát quanđiểm nhất nguyên triệt để trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Trang 11V.I.Lênin nhấn mạnh rằng: "Triết học hiện đại cũng có tính đảng như triết họchai nghìn năm về trước" Trong đó Vấn đề cơ bản của triết học từ xưa đến nayđều xoay quanh giải quyết mối quan hệ giữa VC và YT Đây là vấn đề xuyênxuốt lịch sử triết học Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lờimột câu hỏi lớn
- Mặt thứ nhất : nhằm trả lời câu hỏi: Vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào
có sau, cái nào quyết định cái nào?
- Mặt thứ hai: YT của con người có khả năng phản ánh đúng đắn, chính xác,trung thực thế giới khách quan hay không? Con người có khả năng nhận biếtđược thế giới xung quanh mình được hay không?
Trả lời hai câu hỏi trên liên quan mật thiết đến việc hình thành các trường phảitriết học và các học thuyết về nhận thức của triết học
Các trường phái triết học trong lịch sử :
a -Căn cứ vào việc giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học, từtrong lịch sử triết học đã được phân chia thành những trường phái lớn sau đây:
Trường phái 1 : Những nhà triết học cho rằng vật chất, giới tự nhiên có
trước và giữ vai trò quyết định được gọi là các nhà duy vật và học thuyết của họhợp thành chủ nghĩa duy vật
Trường phái triết học duy vật có lịch sử hình thành, phát triển thông qua 3 hìnhthái chủ yếu:
- Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại mang tính chất phác, ngây thơ và trong khi thừanhận tính thứ nhất của VC đã đồng nhất VC với 1 hay 1 số chất cụ thể và nhữngkết luận của nó chủ yếu dựa trên quan sát trực tiếp, cảm tính chưa có cơ sở khoahọc Họ cho rằng VC, thế giới tự nhiên là cái có trước, YT, linh hồn con người làcái có sau cho dù quan điểm còn mộc mạc, giản đơn nhưng nó chứa đựng nhữngphỏng đoán thiên tài, là cơ sở cho thế giới quan triết học sau này Họ đã cố gắnglấy thế giới để giải thích thế giới mang tính trực quan cảm tính, chưa dựa trên cơ
sở khoa học nào (âm dương ngũ hành ở Trung quốc - Đất, nước, lửa, khí ở ấn độ
- Khí phương Tây)
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình máy móc ở thế kỷ 17, thế kỷ 18 Đây là thời kỳ mà
cơ học cổ điểm thu thập được những thành tựu rực rỡ nênkhi tiếp tục ptriển quanđiểm của CNDV thời cổ đại, CNDV thời kỳ này đã chịu tác động mạnh mẽ củaphương pháp tư duy siêu hình, máy móc nó xem xét, quan niệm thế giới như một
hệ thống máy móc phức tạp bao gồm nhiều bộ phận không có liên hệ với nhau,không vận động không phát triển, bất biến, ngưng đọng
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng có đặc điểm nổi bật: là CNDV có sự thống nhất,kết hợp chặt chẽ với phép biện chứng, đồng thời khái quát được thành tựu củacác khoa học chuyên ngành Đây là hình thức cao nhất do Mác – Eng ghen sánglập và Lênin phát triển được hình thành vào năm 40 của thế kỷ 19, nó khắc phụcnhững hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước nó, nó xem xét thế giới trong tínhchỉnh thể, thống nhất trong sự tác động qua lại biện chứng với nhau, nó là cơ sởthế giới quan, phương pháp luận để nghiên cứu và tìm hiểu thế giới Tính đảng
Trang 12của triết học Mác-Lênin: Lập trường CNDV biện chứng, đấu tranh kiên quyếtchống CNDT, siêu hình, bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, bảo vệ và mang lại lợi íchcho giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động
Ngoài ra trong lịch sử phát triển của CNDV còn có hình thái chủ nghĩa duy vậttầm thường ( đồng nhất vật chất với YT và xem nhẹ vai trò của YT), và hình tháichủ nghĩa CNDV kinh tế (trong đó xem kinh tế là nhân tố duy nhất quyết định sựtồn tại và phát triển của xã hội) Điều này được Đảng cộng sản VN khẳng địnhcon đường đi lên xây dựng CNXH là không coi kinh tế là quyết định tất cả
Trường phái 2 : Những người cho rằng tinh thần là cái có truớc, quyết
định VC được gọi là các nhà triết học duy tâm và học thuyết của học được tậphợp thành chủ nghĩa duy tâm
Trường phái triết học Duy tâm tồn tại và phát triển dưới hai hình thức sau đây:
- CNDT khách quan (Pla ton, Heghen) cho rằng có một thực thể tinh thần hay ýniệm tuyệt đối tồn tại bên ngoài độc lập với con người có trước con người đã sinh
ra vạn vật, quyết định sự tồn tại và phát triển của thế giới và con người
- CNDT chủ quan (Becoli) cho rằng cảm giác và YT của con người là cái cótrước và tồn tại sẵn có trong con người, mọi sự vật hay thế giới vật chất chỉ là kếtquả của sự phức hợp của cảm giác mà thôi Do đó, toàn bộ cái thế giới kháchquan bên ngoài chỉ là “phức hợp” của những cảm giác do cái “Tôi” sinh ra (ĐH
VI của Đảng phân tích sự chủ quan duy ý trí )
Tóm lại, cả chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ quan cho dù có những biếnthái, cách giải quyết khác nhau về mặt thứ nhất song nó giống nhau ở chỗ đều coi
YT, tinh thần là cái có trư ớc, quyết định VC, nó thường là đồng minh của tôngiáo, là vũ khí của giai cấp thống trị trong việc nô dịch quần chúng nhân dân, nóchống lại khoa học và những tư tưởng tiến bộ
Trường phái 3 : Những nhà triết học cho rằng VC và YT là hai nguyên thể
song song tồn tại không cái nào quyết định cái nào, cả hai cùng là nguồn gốc tạo rathế giới được gọi là các nhà nhị nguyên và học thuyết của học hợp thành họcthuyết nhị nguyên luận Đại biểu của nó chính là Đề các tơ
b - Căn cứ vào việc giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học là conngười có khả năng nhận thức được thế giới khách quan?
- Chủ nghĩa duy vật cho rằng VC là cái có trước, mang tính thứ nhất, YT làcái có sau, mang tính thứ hai YT chỉ là sự phản ánh thế giới VC và con người cóthể nhận thức được thế giới Đồng thời khẳng định nguyên tắc trong thế giớikhách quan đó là không có cái gì là cái không thể biết mà chỉ có cái chưa biết
- Chủ nghĩa duy tâm, mặc dù họ cũng thừa nhận khả năng nhận thức thế giớisong họ thần bí hoá, duy tâm hoá quá trình nhận thức của con người Họ cho rằngnhận thức là sự tự nhận thức, tự hồi tưởng của linh hồn bất tử của ý niệm tuyệtđối mà thôi
- Ngoài ra, để trả lời câu hỏi thứ hai còn có trường phái phủ nhận khả năngnhận thức của con người được gọi là thuyết không thể biết Theo đó, họ cho rằng
Trang 13con người không có khả năng nhận biết được thế giới xung quanh hoặc chỉ nhậnbiết được vẻ bên ngoài của thế giới mà thôi vì tính xác thực của hình ảnh về đốitưọng mà các giáic quan của con người cung cấp trong một quá trình nhận thứckhông đảm bảo tính chân thực Chính quan niệm về tính tương đối như vậy đãdẫn đến sự ra đời của trào lưu hoài nghi luận Những người theo trào lưu nàynâng cao sự hoài nghi lên thành một nguyên tắc trong việc xem xét các tri thức đãđạt được và cho rằng con người ko thể đạt được chân lý khách quan.
Tóm lại, Triết học giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan với nhau, trong đó vấn
đề cực kì quan trọng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề còn lạiđược gọi là vấn đề cơ bản của triết học Đây là vấn đề mà mọi trường phái THđều quan tâm giải quyết Vấn đề cơ bản của triết học là trả lời hai câu hỏi lớn:Vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
Và YT của con người có khả năng phản ánh đúng đắn, chính xác, trung thực thếgiới khách quan hay không? Con người có khả năng nhận biết được thế giới xungquanh mình được hay không? Viêc giải quyết các vấn đề cơ bản cuả TH có liênquan mật thiết đến sự hình thành và căn cứ vào đó mà người ta phân biệt đượccác các trường phái TH và các học thuyết về nhận thức
Tư duy lý luận, tư duy biện chứng là gì? Bình luận nhận định của Ph.Ăngghen: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”… “Cứ mỗi lần khoa học đạt được thành tựu mới thì triết học phải thay đổi hình thức tồn tại của chính mình”.
Tư duy biện chứng là trình độ cao của tư duy lý luận Câu này nói mối quan
hệ qua lại của TH và KH, TH mang lại cho KH tư duy lý luận để KH phát triểnrực rỡ, vậy dân tộc nào có tư duy lý luận phát triển cao, rực rỡ thì dân tộc đó cónền KH phát triển mạnh chẳng hạn như Anh, Pháp có nền KH phát triển rực rỡ
do tư duy lý luận của họ phát triển rực rỡ Khi KH đạt đc thành tựu mới thì THphải thay đổi hình thức của mình, ví dụ như KH đạt đc thành tựu như thuyết tếbào, định luật bảo toàn chuyển hóa năng lượng thì CNDV phải thay đổi hìnhthức từ siêu hình sang biện chứng Tư duy biện chứng là tư duy bị chi phối bởicác quy luật biện chứng, các nguyên lý và cặp phạm trù biện chứng và tư duy
nó biểu hiện ra thành một số yêu cầu theo những nguyên tắc khách quan trongxem xét, toàn diện trong xem xét, xem xét trong sự vận động phát triển, xem xét
để nắm bắt được sự thay đổi giữa lượng và chất, giữa cái cũ và cái mới, giữacác mặt đối lập, v.v.Phần bình luận nói về mối liên hệ giữa TH và KH TH thayđổi thì KH thay đổi và ngược lại vì TH là cơ sở thế giới quan, phương phápluận KH còn KH là nền tảng KH, cơ sở KH cho các phạm trù của TH
Tư duy lý luận : là hình thức cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình phảnánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quátcao bằng các khái niệm, phạm trù, quy luật Ở đó, chủ thể nhận thức sử dụngngôn ngữ và các thao tác tư duy để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất,tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức
=> TDLL : là tư duy ở cấp độ cao, dựa trên các công cụ là khái niệm, phạmtrù, phán đoán, suy luận hướng tới phân tích, tổng hợp, khái quát để tìm ra bản
Trang 14chất, quy luật của hiện thực khách quan; từ đó định hướng, hướng dẫn hoạtđộng nhận thức và thực tiễn của con người ngày càng có kết quả cao hơn.TDLL có hai mặt gắn liều với nhau là nội dung tư duy và phương pháp tư duy.
Bình luận câu nói của Engels:
Một trong những điểm khác nhau căn bản giữa con người và con vật khôngphải ở nhận thức mà ở năng lực tư duy Bởi lẽ - như Ph.Ăngghen nói - con vậtcũng có nhận thức, cho dù nhận thức ấy không có gì là tối cao cả, nhưng convật không có năng lực tư duy Về thực chất, tư duy là giai đoạn, là trình độ caocủa quá trình nhận thức hiện thực khách quan của con người Đó là quá trình ýthức con người tiếp cận và nắm bắt hiện thực khách quan một cách gián tiếpthông qua các khái niệm, phán đoán, suy luận lôgíc Nhờ có tư duy mà conngười có thể nhận thức được quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiệntượng, qua đó mà cải biến giới tự nhiên theo mục đích của mình
Sự hình thành và phát triển tư duy của loài người là một quá trình lâu dài,phức tạp Trong nhiều triệu năm của xã hội cộng sản nguyên thủy, tư duy củacon người từng bước hình thành, phát triển “Con người bản năng, người manrợ” chưa tự tách mình ra khỏi giới tự nhiên, chỉ “người có ý thức” mới tự táchmình “khỏi giới tự nhiên” Đây cũng chính là lúc tư duy con người mới thực sựhình thành và từng bước phát triển
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, khi mà con người còn hoàn toàn sống dựavào tự nhiên, hiểu biết của họ về giới tự nhiên còn hết sức ít ỏi , thì tư duy của
họ chỉ có thể hình thành được một hệ thống kinh nghiệm về một số lĩnh vực nào
đó có liên quan trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày của họ mà thôi Ngườinguyên thủy chưa có khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa những sự vật, hiệntượng riêng lẻ để xây dựng nên hệ thống các khái niệm, phạm trù khoa học.Điều đó chỉ được diễn ra khi mà lực lượng sản xuất (trước hết là công cụ laođộng) đã có những cải tiến nhất định, năng suất lao động xã hội không ngừngtăng lên, sản phẩm xã hội đã có dư thừa, phân công lao động xuất hiện Xã hộihình thành lớp người chuyên lao động trí óc, v.v Lúc này tư duy loài người đạtđến một trình độ cao hơn về chất so với xã hội cộng sản nguyên thủy: tư duy lýluận, tư duy khoa học ra đời
Trình bày khái quát triết học Trung Quốc (/Ấn Độ; /Hy Lạp) cổ đại; qua đó, chứng minh rằng nó là sản phẩm tinh thần của đời sống hiện thực xã hội đó.
Khái quát triết học Trung hoa cổ trung đại:
a/ Hoàn cảnh ra đời:
- Điều kiện tự nhiên
+ Trung hoa cổ đại là đất nước rộng lớn
+ Có 2 miền với điều kiện tự nhiên khác nhau thậm chí là đối lập Miền Bắc
xa biển có lưu vực sông Hoàng Hà, khí hậu lạnh đất đai khô cằn, cây cỏ thưathớt, sản vật hiếm hoi Miền Nam có lưu vực sông Dương Tử khí hậu ấm áp,cây cỏ tươi xanh và sản vật phong phú
- Điều kiện lịch sử
Trang 15Lịch sử Trung hoa chia làm 2 thời kỳ lớn:
+ Thời kỳ từ thế kỷ IX trước công nguyên trở về trước thời kỳ này có cáctriều đại nhà hạ, nhà thương và nhà tây chu những tư tưởng triết học đã xuấthiện tuy chưa đạt đến mức hệ thống Bên cạnh thế giới quan thần thoại, tôn giáo
và chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện những quan niệm có tính chất duy vật mộcmạc và tư tưởng vô thần sơ khai
+ Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ thứ III trước công nguyên
Thời kỳ này gọi là “Xuân thu – Chiến quốc”
Thời kỳ này sản sinh ra các nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trườngphái triết học khá hoàn chỉnh
- Phương thức tư duy trực quan dựa vào trực giác và cảm nhận
c/ Một số triết học tiêu biểu
- Thuyết âm – dương và ngũ hành
Âm dương và ngũ hành là 2 phạm trù quan trọng trong tư tưởng triết học trunghoa Thuyết âm dương và ngũ hành có 2 nguyên lý cơ bản sau:
Âm dương thống nhất thành thái cực
Âm dương đối lập, tác động qua lại lẫn nhau sinh ra vạn vật, trong âm códương, trong dương có âm, âm thịnh dần thì dương suy dần và ngược lại Khidương cực thịnh đã có mầm mống của âm xuất hiện và ngược lại
- Nho giáo
Nho giáo do Khổng tử (551 – 479 TCN) sáng lập dưới thời Xuân Thu, người
kế tục xuất sắc tư tưởng của Khổng tử ở dưới thời chiến quốc là Mạnh Tử (327– 298 TCN) Tác phẩm quan trọng nhất để nghiên cứu Nho giáo nói chung và
tư tưởng của Mạnh Tử nói riêng là sách “ luận ngữ” và “mạnh ngữ”
- Đạo gia: Do lão tử sáng lập, lão tử sống ở thời xuân thu chiến quốc Ông
đã tiếp nhận tư tưởng của Dương Chu về âm dương và ngũ hành và phép biệnchứng của kinh dịch để sáng lập nên đạo gia
- Mặc gia do Mặc tử (479 – 381 TCN) sáng lập, Mặc tử cùng thời với Khổng
tử Tư liệu tư tưởng là bộ “Mặc tử” gồm 54 chương đả kích nho gia nhiều mặtmuốn tranh chấp địa vị với nho gia trên trường chính trị
- Pháp gia: Đại biểu cao nhất của Pháp gia là Hàn Phi (280 -233 TCN)
tư liệu tư tưởng của Pháp gia là bộ “ Hàn Phi tử” gồm 53 thiên
Khái quát triết học Ấn độ cổ trung đại
a/ Hoàn cảnh ra đời
- Điều kiện tự nhiên
Là 1 lục địa rất lớn ở phía Nam Châu Á Có những yếu tố địa lý trái ngượcnhau, vừa có núi cao lại có biển rộng, 2 con sông Hằng và sông Ấn chảy về 2hướng khác nhau
Trang 16- Điều kiện kinh tế XH
Tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình “Công xã nôngthôn” Trong XH có sự phân biệt đẳng cấp, chủng tộc, dòng dõi nghề nghiệp vàtôn giáo
- Điều kiện văn hóa
Khoa học tự nhiên y học phát triển rất sớm, nét nổi bật của văn hóa ấn độtrung đại là mang đậm dấu ấn về tín ngưỡng, tâm linh và tôn giáo
- Khi bàn đến vấn đề bản thể luận 1 số học phái đem đối lập “không” và “có” , quy luật cái “có” về cái “không”
c/ Một số trường phái triết học Ấn độ cổ trung đại
- Trường phái Samkhuya
- Trường phái Mimansa
- Trường phái Vêdanta
- Trường phái Yoga
- Trường phái Nyayata – Vaisesika
- Trường phái Jaina
- Trường phái Lokayata
- Trường phái Phật Giáo (Buddha)
Khái quát về triết học Hy lạp cổ đại
a/ Hoàn cảnh ra đời
Hy lạp cổ đại là nơi thuận lợi về đường biển , kinh tế thương mại phát triển.Tuy nhiên những cuộc xâm lăng bên ngoài phần nào làm suy yếu nền kinh tếthủ công nghiệp
Hy lạp cổ đại là 1 XH chiếm hữu nô lệ, với những mâu thuẫn gay gắt giữa chủ
nô dân chủ và chủ nô quý tộc
Một số ngành khoa học cụ thể đã bắt đầu hình thành, đòi hỏi sự khái quát vềtriết học, những tư duy triết học thời kì này chưa phát triển cao, tri thức triếthọc và tri thức khoa học cụ thể hòa quyện vào nhau
b/ Đặc điểm
- Gắn bó hữu cơ với KHTN hầu hết các nhà triết học duy vật đều là các nhàKHTN
- Sự ra đời rất sớm của CNDV mộc mac thô sơ và phép biện chứng tự phát
- Đấu tranh gay gắt giữa CNDV và CNDT biểu hiện qua cuộc đấu tranh giữađường lối triết học của Đêmôcrít đại diện cho tầng lớp chủ nô dân chủ và đườnglối triết học Platon đại diện cho tầng lớp chủ nô quý tộc
c/ Các nhà triết học tiêu biểu
Heracrit (520 -460 TCN) là nhà biện chứng nổi tiếng ở Hy lạp cổ đại ông làngười sáng lập ra phép biện chứng
Trang 17Đêmôcrít (460 – 370 TCN) là đại diện xuất sắc nhất của chủ nghĩa duy vật cổđại
Platon (427 -347 TCN) là nhà triết học duy tâm khách quan
Arixtot (384 – 322 TCN) là nhà triết học cổ đại trung hòa chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm
Chứng minh rằng nó là sản phẩm tinh thần của đời sống hiện thực xã hội đó
Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Triết học Ấn
Độ là sự phản ánh xã hội Ấn Độ cổ đại – xã hội rất coi trọng và đề cao tôngiáo, một xã hội rất mê triết lý với những đặc điểm sau:
- Do chịu ảnh hưởng bởi tinhsadsfSA thần Vêđa mà Triết học Ấn độ Cổ Đạikhông thể phần chia rõ ràng thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm,phép biện chứng và phép siêu hình, mà chủ yếu chia thành hệ thống chínhthống và hệ thống không chính thống Trong các trường phái triết học cụ thểluôn có sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phépbiện chứng và phép siêu hình với nhau, song xu hướng chung là biến đổi từ
vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến duy tâm hay nhị nguyên Cáctrường phái triết học thường kế tục mà không gạt bỏ trường phái triết họctrước đó
- Do chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng tôn giáo mà triết học Ấn Độ cổđại thường là một bộ phận lý luận quan trọng tạo nên nộ dung giáo lý của cáctôn giáo lớn Tuy nhiên, tôn giáo của Ấn Độ có xu hướng hướng nội đi sâutìm hiểu đời sống tâm linh, tinh thần để phát hiện ra sức mạnh của linh hồn
cá nhân con người Vì vậy, triết học Ấn Độ cổ - Trung đại mang nặng tínhchất duy tâm chủ quan và thần bí
- Triết học Ấn Độ Cổ - Trung Đại đã đặt ra và giải quyết rất nhiều vấn đề.Khi bàn đến vấn đề bản thể luận, các trường phái xoay quanh vấn đề “tínhkhông”, đem đối lập “không” và “có”, quy cái “có” về cái “không” thể hiệnmột trình độ tư duy trừu tượng cao Song, vấn đề quan tâm nhiều nhất lại làvấn đề thuộc về lĩnh vực nhân sinh (bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồngốc nỗi khổ của con người) dưới góc độ tôn giáo với xu hướng “hướng nội”nhằn tìm kiếm phương tiện, con đường, cách thức giải thoát chúng sinh rakhỏi điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khắc nghiệt
- Triết học Ấn Độ vừa mang tính thống nhất, vừa mang tính đa dạng Thốngnhất ở chỗ dù trực tiếp hay gián tiếp nó đều bị chi phối bởi quan niệm đồngnhất thể của Upanishad; hầu hết các trường phái đều hướng đến giải thoát;một số nguyên lý chung có ở nhiều trường phái Đa dạng ở chỗ triết học Ấn
Độ chia thành nhiều khuynh hướng, nhiều nhánh nhỏ; trừ chủ nghĩa duy vật,mỗi trường phái là những con đường khác nhau để đi đến giải thoát; nhiềuvấn đề khác nhau được đặt ra ở những trường phái khác nhau
Trong thời kỳ này toàn bộ hệ thống triết học Ấn Độ được chia thành 9 trườngphái:
• Sáu trường phái “chính thống” là:
Trang 18+Vedanta: xuất hiện vào thế kỷ II TCN đưa ra các kiến giải siêu hình và duytâm về nguyên nhân hình thành thế giới (vũ trụ và vạn vật)
+ Samkhya: xuất hiện vào những năm 350-250 TCN Lý luận cơ bản củaphái này là học thuyết duy vật về bản nguyên của thế giới
+ Yoga: xuất hiện vào thế kỷ thứ II TCN Tư tưởng triết học cốt lõi của pháinày là sự thừa nhận nguyên lý hợp nhất của vũ trụ nơi mỗi cá thể và thôngqua các phương pháp yoga mà mỗi cá thể có thể tập luyện để khai thác đượcsức mạnh của vũ trụ tiềm ẩn trong mình để làm chủ mình, tiến tới làm chủmôi trường, và sau cùng, vươn tới sự giải thoát
+ Mimansa: xuất hiện vào thế kỷ thứ II TCN Mimansa đưa ra các ý kiếnnhằm biện hộ, củng cố và tuyên truyền cho các nghi thức được đề cập đếntrong Vêđa nói chung, trong giáo lý đạo Bàlamôn-Hinđu nói riêng
+ Vaisesika: xuất hiện vào thế kỷ II TCN Nội dung tư tưởng của phái này vàphái Nyaya có nhiều điểm giống nhau Tư tưởng chủ đạo của phái này tậptrung trong nguyên tử luận, logic học và nhận thức luận
+ Nyaya: xuất hiện vào thế kỷ III TCN Lý luận cơ bản của phái này bao gồm
3 bộ phận là nguyên tử luận, logic học và nhận thức luận
• Ba trường phái “không chính thống” là:
+ Lokayata: trường phái triết học vô thần, duy vật, chủ trương khoái lạc duynhất ở Ấn Độ
+ Jaina: xuất hiện vào khoảng thế kỷ V TCN Tư tưởng triết học cơ bản củaphái này là thuyết về sự tương đối, cố dung hòa quan niệm về thực thể bấtbiến với quan niệm vô thường
+ Buddha (Phật giáo): xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ V TCN Kinh điểncủa Phạt giáo chia thành Tam tạng (Kinh, Luật, Luận) Tam tạng lại đượcchia làm 2 loại là Đại thừa và Tiểu thừa Tư tưởng triết học cơ bản của Phậtgiáo nguyên thủy chủ yếu nói về thế giới quan và nhân sinh quan của Phậtthích ca- triết lý về cái khổ và con đường diệt khổ
Những đặc điểm cơ bản trên của triết học Ấn Độ là do điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội của Ấn Độ cổ đại quy định Do các điều kiện tự nhiên, vềcon người, về xã hội, về kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo, tâm linh, nềntriết học Ấn Độ đã trải qua nhiều bước thăng trầm, tạo nên nét đặc sắc mangbản chất rất Ấn Độ, rất phương Đông Triết học Ấn Độ ra đời và phát cũngnhư các nền triết học khác đều dựa trên những cơ sở nhất định, nó là sảnphẩm tinh thần của đời sống hiện thực xã hội:
- Sự phát triển của triết học Ấn Độ là sự đấu tranh giữa các trường phái vàsuy cho cùng nó phản ánh nhu cầu của đời sống xã hội trong đó tôn giáo làtrung tâm điểm Mặt khác, sự phát triển của triết học Ấn Độ chủ yếu đi theohướng tuần tự thay đổi về lượng, tức những nguyên lý nền tảng đã được đặt
ra từ thời cổ xưa, về sau chỉ phát triển, bổ sung, hoàn thiện
Trang 19- Biện chứng trong triết học Ấn Độ mang tính chất ngây thơ, duy tâm; sựphát triển đi theo vòng tròn, tuần hoàn Điều này do công xã nông thôn biệtlập, khép kín ở Ấn Độ quy định Khác với triết học Trung Quốc, tư duy trongtriết học Ấn Độ không trọng cái cụ thể, hữu hạn; họ muốn vượt cái này để điđến cái tuyệt đối Sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn và chế độ quốchữu hóa ruộng đất là hai đặc điểm lớn nhất, chi phối và ảnh hưởng tới toàn
bộ các mặt lịch sử của Ấn Độ, nhất là ảnh hưởng đến sự phát của văn hóa vàtriết học Trên cơ sở “phương thức sản xuất châu Á”, xã hội Ấn Độ được kếtcấuvới ba nhóm cơ bản: nhóm (thực chất là quan hệ gia đình, dòng họ), cộngđồng tự trị làng – xã và bang (tiểu quốc) với chế độ đẳng cấp ngặt nghèo.Xét trong điều kiện tồn tại xã hội như vậy thì triết học của Ấn Độ gắn chặtvới vấn đề tôn giáo và tâm linh cũng là yếu tố khách quan
- Quan hệ đẳng cấp ở Ấn Độ đã đã làm cho kết cấu xã hội - giai cấp thêmphức tạp Theo kinh điển Bàlamôn và Bộ luật Manu của Ấn Độ, trong xã hội
có bốn đặc cấp lớn: Tăng lữ; các đạo sỹ (Brahman); quý tộc; vương công,tướng sĩ, võ sư (Ksatriya); tự do: thương nhân, điền chủ, thường dân(Vaisya); nô lệ và tiện dân (Ksudra) Ngoài ra còn có hạng “cùng đinh” đượccoi là ngoài lề xã hội (Paria).Sự phân biệt về đẳng cấp, chủng tộc, dòng dõi,tôn giáo, nghề nghiệp tạo ra những xung đột ngấm ngầm trong xã hội nhưng
bị kiềm giữ bởi sức mạnh vật chất và tinh thần của nhà nước - tôn giáo
- Điều kiện địa lý của môi trường của Ấn Độ rất đa dạng, phức tạp như núinon hiểm trở, sa mạc khô cằn, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, hạn hán liênmiên; thêm vào đó, chiến tranh liên tục xảy ra đã làm cho dân cư và các bộtộc ở Ấn Độ bị phân hóa hết sức phức tạp Đây là những yếu tố tác động, ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống, tâm tư, tình cảm của người dân Ấn Độ; điều đó
đã buộc họ phải tìm đến, cầu xin các lực lượng siêu nhiên, bên ngoài làThượng đế cứu giúp Các vấn đề tôn giáo, tâm linh nảy sinh, tồn tại và pháttriển trên mảnh đất hiện thực này
- Triết học Ấn Độ không chỉ nảy sinh từ những cơ sở nêu trên mà còn gắnvới các thành tựu của khoa học, kỹ thuật và văn hóa của Ấn Độ Các biếnđộng lớn các điều kiện về tự nhiên, về con người, về xã hội, về kinh tế, chínhtrị, văn hóa và tôn giáo, tâm linh làm xuất hiện các trường phái trong hai hệthống triết học nêu trên
Chứng minh rằng, triết học phương Tây thời trung đại chỉ là công cụ tinh thần của nhà thờ Thiên chúa giáo dùng để củng cố vai trò thống trị của mình trước những thế lực khác trong đời sống xã hội.
Thời kỳ trung đại ở Phương Tây lúc đầu là cơ đốc giáo, sau là Thiên chúa giáo
là hệ tư tưởng thống trị, những giáo lý tôn giáo trở thành nguyên lý về chính trị,kinh thánh có vai trò như luật lệ trong mọi cuộc xét sử, tín điều nhà thờ là điểmxuất phát của mọi tư duy, thế giới quan thần học bao trùm lên triết học, luật học
và chính trị
Trang 20Nhà thờ thiên chúa giáo là thế lực phong kiến quan trọng, là một thế lực hùngmạnh không chỉ về kinh tế mà cả về chính trị, tinh thần Nhà thờ có quyền sởhiệu đối với nhiều ruộng đất, là đại diện cho phát luật và chính trị, là công cụthống trị quần chúng về mặt tinh thần Toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội đềuđặt dưới sự thống trị của nhà thơ thiên chúa giáo Sự cắt cứ phong kiến làm nảysinh nhu cầu phải có một sự thống nhất trong hoạt động Thiên chúa giáo là công
cụ tinh thần thiêng liêng giúp thực hiện sự thống nhất đó Hơn nữa, Thiên chúagiáo còn mang lại niềm tin duy nhất cho đông đảo nông dân bị tước hết mọiquyền lợi, và đặc biệt tối tăm về trí tuệ Thiên chúa giáo đã thực sự trở thành tôngiáo cần thiết cho xã hội phương Tây trong thời kỳ này
Triết học Tây Âu thời kỳ trung đại bị chi phối mạnh bởi tư tưởng thần học vàtôn giáo của thiên chúa giáo Triết học thời kỳ này mang đậm tính tôn giáo, hầuhết các nhà triết học là và chứng minh cho những tín điều tôn giáo của nhà thờ.Triết học phương Tây thời kỳ trung đại là triết học-thần học Trong điều kiện tôngiáo thống trị mọi mặt đời sống tinh thần của xã hội thì kho học và triết họckhông thể không bị phụ thuộc vào thần học Lúc này, tín điều của Nhà thờ trởthành cơ sở cho mọi hành vi hoạt động của con người, thế giới quan thần học baotrùm lên đời sống hoạt động của họ Triết học trở thành công cụ để chứng minhcho giáo lý của Nhà thờ Nó phải “ luận chứng” cho niềm tin cao hơn lý trí, nógiúp khẳng định vai trò sáng chế và kiến tạo trật tự xã hội của phong kiến, làmcho quần chúng tin vào sự bất bình đẳng và sự bóc lột trong xã hội là do sự địnhđoạt sẵn của Đấng bề trên
Như vậy,Triết học phương Tây thời trung đại chỉ là công cụ tinh thần của nhàthờ Thiên chúa giáo dùng để củng cố vai trò thống trị của mình trước những thếlực khác trong đời sống xã hội
Chứng minh rằng, triết học phương Tây thời phục hưng – cận đại thật sự là công cụ tinh thần của giai cấp tư sản và các tầng lớp tiến bộ trong xã hội đấu tranh với các thế lực cũ nhằm tạo dựng nên một thời đại mới.
Thế kỷ XV - XVI ở Tây Âu được gọi là thời kỳ Phục hưng với ý nghĩa làthời kỳ có sự khôi phục lại nền văn hóa cổ đại Về mặt hình thái kinh tế - xã hội
đó là thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản
Thời kỳ này, sự phát triển của khoa học đã dần dần đoạn tuyệt với thần học
và tôn giáo thời kỳ trung cổ, bước lên con đường phát triển độc lập Giai cấp tưsản mới hình thành và là giai cấp tiến bộ, có nhu cầu phát triển khoa học tự nhiên
để tạo cơ sở cho sự phát triển kỹ thuật và sản xuất Sự phát triển của khoa học, vềkhách quan đã trở thành vũ khí mạnh mẽ chống thế giới quan duy tâm tôn giáo
Sự phát triển khoa học tự nhiên đã đòi hỏi có sự khái quát triết học, rút ranhững kết luận có tính chất duy vật từ các tri thức khoa học cụ thể Thời kỳ này
đã có những nhà khoa học và triết học tiêu biểu như: Nicôlai Côpécních, Brunô,Galilê, Nicôlai Kuzan, Tômát Morơ, v.v
Trang 21Trong các nhà tư tưởng đó thì Côpécních (1475 - 1543), người Ba Lan, cóảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển của triết học và khoa học thời kỳ phục hưngsau này Thuyết mặt trời là trung tâm do ông xây dựng đã giáng một đòn rất nặngvào tôn giáo và nhà thờ, bác bỏ quan điểm của kinh thánh đạo Cơ đốc về Thượng
đế sáng tạo ra thế giới trong vài ngày Thuyết này đã đánh đổ thuyết "trái đất làtrung tâm" của Ptôlêmê (người Hy Lạp, thế kỷ II) cho rằng, trái đất là bất động và
ở trung tâm vũ trụ, còn vũ trụ xoay xung quanh trái đất Côpécních đã chứngminh rằng, mặt trời ở trung tâm vũ trụ, các hành tinh (kể cả trái đất) di chuyểnxung quanh mặt trời Thuyết nhật tâm đã đả kích vào chính nền tảng của thế giớiquan tôn giáo và đánh dấu sự giải phóng khoa học tự nhiên khỏi thần học và tôngiáo Phát minh của Côpécních là "một cuộc cách mạng trên trời", báo trước mộtcuộc cách mạng trong các quan hệ xã hội
Brunô (1548 - 1600), nhà triết học Italia, người kế tục và phát triển họcthuyết của Côpécních Khi tán thành quan niệm của Côpécních "mặt trời là trungtâm", Brunô đã bổ sung thêm rằng, có vô số thế giới, xung quanh trái đất có mộtbầu không khí cùng xoay với trái đất và mặt trời cũng đổi chỗ với các vì sao Ông
đã chứng minh về tính thống nhất vật chất của thế giới (vũ trụ) Theo ông có vôvàn thế giới giống thái dương hệ của chúng ta Với học thuyết đó, Brunô đã bác
bỏ một quan điểm cơ bản của tôn giáo về sựtồn tại của thế giới bên kia, thế giớithần linh Ông còn cho rằng, thế giới vật chất vận động không ngừng Triết họccủa Brunô cũng như các nhà triết học tiến bộ khác thời kỳ phục hưng đã bị nhàthờ lên án; bản thân Brunô đã bị toà án tôn giáo kết án tử hình và thiêu sống tại
La Mã Điều đó phản ánh lịch sử vào thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩaduy vật với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo diễn ra gay gắt Tuy nhiên cũng cầnthấy rằng, triết học của hầu hết các nhà tư tưởng thời kỳ này còn lẫn lộn các yếu
tố duy vật với duy tâm và có tính chất phiếm thần luận (chẳng hạn, Brunô chorằng Thượng đế và tự nhiên chỉ là một) Cùng với Côpécních và Brunô, các nhàtriết học và khoa học khác như Galilê,Kuzan, Tômát Morơ cũng đã có nhữngđóng góp quan trọng cho sự phục hưng nền văn hóa cổ đại
2 Triết học Tây Âu cận đại thế kỷ XVII - XVIII
Từ cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII là thời kỳ của những cuộc cách mạng
tư sản bắt đầu ở Hà Lan, sau đến Anh, Pháp, ý, áo, v.v và đây cũng là thời kỳphát triển rực rỡcủa triết học Tây Âu Sự phát triển của lực lượng sản xuất mớilàm cho quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời và mâu thuẫn giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất trở nên gay gắt là nguyên nhân kinh tế củanhững cuộc cách mạng thời kỳ này Nhưng đòn giáng mạnh nhất vào chế độphong kiến Tây Âu là cuộc cách mạng tư sản Anh (giữa thế kỷ XVII) và cáchmạng tư sản Pháp (cuối thế kỷ XVIII) Theo lời Mác, đó là những cuộc cáchmạng có quy mô toàn châu Âu, đánh dấu thắng lợi của trật tự tư sản mới đối vớitrật tự phong kiến cũ Thời kỳ này cũng là thời kỳ phát triển mạnh của khoahọc
kỹ thuật do nhu cầu của sự phát triển sản xuất; thế kỷ XVII - XVIII cơ học phát
Trang 22triển, thế kỷ XVIII - XIX, vật lý học, hóa học, sinh học, kinh tế học ra đời Tất cảcái đó làm tiền đề cho sự phát triển triết học mới với nhiều đại biểu nổi tiếng.Phranxi Bêcơn (1561 - 1626) là nhà triết học Anh, sống vào thời kỳ tích lũytiền tư bản Về lập trường chính trị, ông là nhà tư tưởng của giai cấp tư sản vàtầng lớp quý tộc mới, là tầng lớp quan tâm đến sự phát triển của công nghiệp vàthương nghiệp Bêcơn đặt cho triết học của mình nhiệm vụ tìm kiếm con đườngnhận thức sâu sắc giới tự nhiên Ông đặc biệt đề cao vai trò của tri thức Ông nói:Tri thức là sức mạnh mà thiếu nó, con người không thể chiếm lĩnh được của cảicủa giới tự nhiên Ông phê phán phương pháp triết học của các nhà tư tưởngtrung cổ chỉ biết ngồi rút ra sự thông thái của mình từ chính bản thân mình, muốnthay thế việc nghiên cứu giới tự nhiên và những quy luật của nó bằng những luậnđiểm trừu tượng, bằng việc rút ra kết quả riêng từ những kết luận chung chung,không tính đến sự tồn tại thực tế của chúng Ông gọi phương pháp ấy của họ làphương pháp "con nhện" Bêcơn cũng phê phán phương pháp nghiên cứu của cácnhà kinh nghiệm chủnghĩa Ông ví họ như những con kiến tha mồi, không biếtchế biến, không hiểu gì cả Triết học của Bêcơn đã đặt nền móng cho sự pháttriển của chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc thế kỷ XVII - XVIII ở Tây Âu Tômát Hốpxơ (1588 - 1679) là nhà triết học duy vật Anh nổi tiếng, người
kế tục và hệ thống hóa triết học của Bêcơn Ông là người sáng tạo ra hệ thốngđầu tiên của chủ nghĩa duy vật siêu hình trong lịch sử triết học Chủ nghĩa duyvật trong triết học của ông có một hình thức phù hợp với đặc trưng và yêu cầucủa khoa học tự nhiên thời đó
Nhìn chung quan niệm của Hốpxơ về con người như một cơ thể sống cũngmang tính siêu hình rõ rệt Dưới con mắt của ông, trái tim con người chỉ như lò
xo, dây thần kinh là những sợi chỉ, còn khớp xương là các bánh xe làm cho cơ thểchuyển động
Rơnê Đêcáctơ (1596 - 1654) là nhà triết học và khoa học nổi tiếng ngườiPháp Ông đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đánh giá là một trongnhững người sáng lập nên khoa học và triết học của một thời đại mới chống lạitôn giáo, chống lại chủ nghĩa kinh viện, xây dựng nên một tư duy mới có thể giúpcho việc nghiên cứu khoa học
Khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, Đêcáctơ đứng trên lập trườngnhịnguyên luận (thuyết về hai nguồn gốc) Ông thừa nhận có hai thực thể vật chất
và tinhthần tồn tại độc lập với nhau Ông cố gắng đứng trên cả chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm để giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và tinh thần,giữa tồn tại và tư duy, song cuối cùng đã rơi vào chủ nghĩa duy tâm, vì ông thừanhận rằng hai thực thể vật chất và tinh thần tuy độc lập nhưng đều phụ thuộc vàothực thể thứ ba, do thực thể thứ ba quyết định, đó là Thượng đế Đêcáctơ đã đấutranh chống lại triết học kinh viện thời trung cổ, phủ nhận uy quyền của nhà thờ
và tôn giáo Ông muốn sáng tạo một phương pháp khoa học mới nhằm đề cao sứcmạnh lý tưởng của con người, đem lý tính khoa học thay thế cho niềm tin tôngiáo mù quáng Theo ông, nghi ngờ là điểm xuất phát của phương pháp khoa học.Nghi ngờ có thể giúp con người tránh được những ý kiến thiên lệch, xác địnhđược chân lý Đêcáctơ nhấn mạnh rằng, dù anh nghi ngờ mọi cái nhưng không
Trang 23thể nghi ngờrằng anh đang nghi ngờ Và ông đã đi đến một kết luận nổi tiếng:
"Tôi suy nghĩ vậy tôi tồn tại"
Điểm tiến bộ của luận điểm trên là phủ nhận một cách tuyệt đối tất cả nhữngcái gì mà người ta mê tín Trong luận điểm đó cũng thể hiện chủ nghĩa duy lý, vìông nhấn mạnh sự suy nghĩ, tư duy Ông cho rằng không phải cảm giác, mà tưduy mới chứng minh được sự tồn tại của chủ thể Và tư duy rõ ràng, mạch lạc làtiêu chuẩn của chân lý.Nhưng luận điểm "Tôi suy nghĩ vậy tôi tồn tại" cũng bộc
lộ chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Đêcáctơ, vì ông đã lấy tư tưởng, lấy sự suynghĩ của chủ thể làm khởi điểm của sự tồn tại
Xpinôda (1632 - 1677) nhà triết học Hà Lan nổi tiếng, nhà duy vật và vôthần, nhà tư tưởng của tầng lớp dân chủ tư sản Trong lĩnh vực triết học, nóichung Xpinôda cố gắng khắc phục những sai lầm của triết học Tây Âu thời trung
cổ Khi chống lại quan điểm nhị nguyên của Đêcáctơ coiquảng tính và tư duy làhai thực thể hoàn toàn độc lập, Xpinôda là nhà nhất nguyên luận, khẳng định rằngquảng tính và tư duy là hai thuộc tính của một thực thể
Ông đã có quan niệm duy vật về thế giới Thế giới, theo Xpinôda, có vô vàncáchthức vận động và đứng im Có những cách thức thì gắn với thế giới các sựvật riêng lẻcó quảng tính (khoảng cách); có những cách thức thì gắn với thế giớicác sự vật riêng lẻcó thuộc tính tư duy (thế giới con người)
Về tôn giáo, Xpinôda quan niệm rằng, sự sợ hãi là nguyên nhân của mê tíntôn giáo Tư tưởng chống giáo quyền của ông thể hiện ở chỗ coi vai trò chính trịcủa nh àthờ là ở sự liên minh của nó với chính quyền chuyên chế
Những tư tưởng duy vật - vô thần của Xpinôda có ảnh hưởng sâu sắc đếncác nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII sau này
Giôn Lốccơ (1632 - 1704) nhà triết học duy vật Anh Lốccơ mở đầu nhậnthức luận của mình bằng việc phê phán học thuyết thừa nhận tồn tại các tư tưởngbẩm sinh của Đêcáctơ và môn phái theo học thuyết trên
Theo ông, toàn bộ các tri thức, chân lý đều là kết quả nhận thức của conngười chứ không phải là bẩm sinh
Từ việc phê phán học thuyết thừa nhận các tư tưởng bẩm sinh, Lốccơ đưa ranguyên lý tabula rasa (tấm bảng sạch); "Linh hồn chúng ta khi mới sinh ra, có thểnóinhư một tờ giấy trắng, không có một ký hiệu hay ý niệm nào cả"
Theo tinh thần duy vật của nguyên lý tabula rasa, Lốccơ khẳng định: "Mọitri thứcđều dựa trên kinh nghiệm, và suy cho cùng đều xuất phát từ đó"2
Gioocgiơ Béccli (1684 - 1753) nhà triết học duy tâm, vị linh mục ngườiAnh Triết học của ông chứa đầy tư tưởng thần bí, đối lập với chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa vô thần Ông dựa vào quan điểm của các nhà duy danh luận thờitrung cổ để khẳng định rằng, khái niệm về vật chất không tồn tại khách quan, màchỉ tồn tại những vật cụ thể, riêng rẽ; sự tranh cãi về khái niệm vật chất là hoàntoàn vô ích, khái niệm đó chỉ là cái tên gọi thuần túy mà thôi Ông đưa ra mộtmệnh đề triết học nổi tiếng "vật thể trong thếgiới quanh ta là sự phức hợp củacảm giác" Nói tóm lại, theo Béccli, mọi vật chỉ tồn tại trong chừng mực mà
Trang 24người ta cảm biết được chúng Ông tuyên bố: tồn tại có nghĩa làđược cảm biết.Triết học của Béccli (như Lênin nhận xét trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật vàchủnghĩa kinh nghiệm phê phán) là mẫu mực và là một trong những nguồn gốccủa các lý thuyết triết học tư sản duy tâm chủ quan cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX
Đavít Hium (1711 - 1766) nhà triết học, nhà lịch sử, nhà kinh tế học ngườiAnh Ông là người sáng lập những nguyên tắc cơ bản của thuyết không thể biết ởchâu Âu thời cận đại Lý luận nhận thức của Hium xây dựng trên cơ sở kết quảcải biến chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Béccli theo tinh thần của thuyết khôngthể biết và hiện tượng luận (một học thuyết triết học cho rằng con người, chỉ nhậnbiết được hiện tượng bề ngoài của sự vật, mà không thể xâm nhập được vào bảnchất của chúng, tách rời hiện tượng và bản chất) Trung tâm trong lý luận nhậnthức của Hium là học thuyết về tính nhân quả Ông đã giải quyết vấn đề mối liên
hệ nhân quả theo lập trường thuyết không thể biết Ông cho rằng sự tồn tại củacác mối liên hệ này là không thể chứng minh được, bởi vì, cái mà người ta cho làkết quả thì lại không thể chứa đựng trong cái nguyên nhân, về mặt lôgíc khôngthể rút kết quả từ nguyên nhân, kết quả không giống nguyên nhân Nói cáchkhác,theo Hium, tính nhân quả không phải là một quy luật của tự nhiên mà chỉ là thóiquen tâm lý
Có thể khẳng định triết học phương Tây thời phục hưng – cận đại là một cuộc hành trình đi tìm các phương pháp mới để đẩy mạnh nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng cải tạo hiện thực xã hội phương Tây hay không, tại sao?
Trả lời:
Có thể khẳng định triết học phương Tây thời phục hưng – cận đại là một cuộchành trình đi tìm các phương pháp mới để đẩy mạnh nhận thức khoa học và thựctiễn cách mạng cải tạo hiện thực xã hội phương Tây
Xét về bản chất kinh tế, thời kỳ phục hưng là giai đoạn quá độ của PTSXTBCN Đây là thời kỳ tích luỹ tư bản đầu tiên được mở rộng Người nông dân bịđuổi ra khỏi ruộng đất của họ, bạo lực của kẻ cường quyền đã tách người lao động
ra khỏi tư liệu sản xuất Các công trường thủ công dần dần át cách làm ăn kiểuphường hội phong kiến Các chủ thủ công nghiệp ngày càng có vị trí và vai trò quantrọng trong nền kinh tế, họ trở thành giai tầng mới nắm giữ sức mạnh kinh tế - giaicấp tư sản; trong khi người nông dân do không còn ruộng đất phải ra thành phốkiếm kế sinh nhai bằng cách làm thuê cho các công trường, xưởng thợ Họ là tiềnthân của giai cấp vô sản sau này
Chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và các đạo luật hà khắc của nó đãbước vào giai đoạn lụi tàn.Phong trào chống phong kiến của nông dân, thợ thủ côngtrào dâng khắp Châu Âu.Giai cấp tư sản trở thành kẻ đồng minh Người ta không chỉđòi xoá bỏ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp phong kiến, những chướng ngại trên conđường phát triển theo xu hướng TBCN mà còn chĩa mũi nhọn vào giáo hội La Mã,thành luỹ tinh thần của chế độ phong kiến Đặc điểm của phong trào đã ảnh hưởng
Trang 25đến toàn bộ cuộc đấu tranh tư tưởng lúc bấy giờ, bao gồm cả sự phát triển của triếthọc.Thế giới quan của giai cấp tư sản thể hiện dưới hình thức duy vật và vô thần nàycàng rõ nét.
Do đòi hỏi của thực tiễn sản xuất vật chất, các ngành khoa học tự nhiên bắtđầu phát triển và đây cũng là thời kỳ gặt hái bội thu về các thành tựu khoa học kỹthuật như sử dụng năng lượng nước, dệt, khai mỏ, luyện kim, chế tạo vũ khí, in ấn,hàng hải… Chẳng hạn với việc sử dụng năng lượng nước đã cho phép thay thế dầnsức người và sức súc vật trong sản xuất
Chính sự phát triển của khoa học tự nhiên và kỹ thuật đã trở thành chỗ dựavững chắc cho giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống thần học và chủ nghĩa duytâm
Về mặt văn hoá, những tư tưởng triết học, những phát kiến khoa học của thời
cổ đại được khôi phục và phát triển Các nhà tư tưởng tiên tiến của thời đại phụchưng đặc biệt dương cao ngọn cờ nhân văn Họ xem con người là đối tượng nghiêncứu của triết học, những tư tưởng tốt đẹp về con người của Protagore, Xocrate…trởthành tiền đề lý luận cho ước mơ giải phóng con người Các giá trị toán học củaTalet, hình học của Euclide, những yếu tố duy vật trong triết học của Epicure, cũngdược xem xét và ghi nhận thoả đáng
Triết học thời phục hưng có những đặc diểm chính sau đây:
Thứ nhất, triết học thời kỳ này là vũ khí lý luận của giai cấp tư sản trong
cuộc đấu tranh chống phong kiến và giáo hội
Thứ hai, tư tưởng của các nhà triết học phục hưng có tính hai mặt: vừa có
những tiến bộ nhưng còn chứa nhiều yếu tố duy tâm, luẩn quẩn với hình thức
“phiếm thần luận” hay “tự nhiên thần luận”
Thứ ba, triết học thời kỳ này gắn liền với vấn đề nâng cao giá trị khát vọng
giải phóng con người
Thứ tư, triết học thời kỳ này là những tư tưởng xã hội học thấm nhuần chủ
nghĩa nhân văn
Khác với thời phục hưng, thời cận đại (thế kỷ XVII - XVIII) ở các nướcTây Âu là thời kỳ giai cấp tư sản đã dành được chính quyền, PTSX TBCN đượcxác lập và trở thành PTSX thống trị, nó đã tạo ra những vận hội mới cho khoahọc, kĩ thuật phát triển mà trước hết là khoa hoc tự nhiên, trong đó cơ học đã đạtđược trình độ là cơ sở cổ điển Khoa học tự nhiên thời kỳ này mang đặc trưng làkhoa học tự nhiên - thực nghiệm Đặc trưng ấy tất yếu dẫn tới “thói quen” nhìnnhận đối tượng nhận thức trong sự trừu tượng, tách rời, không vận động, khôngphát triển, nếu có đề cập đến vận động thì là sự vận động máy móc không pháttriển
Chính điều kiện kinh tế - chính trị và khoa học tự nhiên thời cận đại đã quyđịnh những đặc trưng về mặt triết học thời kỳ này:
Thứ nhất, đây là thời kỳ thắng lợi của CNDV đối với CNDT, của những tư
tưởng vô thần đối với hữu thần
Trang 26Thứ hai, CNDV thời kỳ này mang hình thức của CNDV siêu hình, máy
móc.Phương pháp siêu hình thống trị, phổ biến trong lĩnh vực tư duy triết học vàkhoa học
Thứ ba, đây là thời kỳ xuất hiện những quan điểm triết học tiến bộ về lĩnh
vực xã hội, nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm trong việcgiải thích xã hội và lịch sử
Trình bày khái quát triết học cổ điển Đức, qua đó chỉ ra con đường dẫn dắt Hêghen đến với phép biện chứng duy tâm Phân tích những thành tựu và hạn chế lớn của phép biện chứng duy tâm Hêghen.
Khái quát triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức do Can tơ đặt nền móng và gồm 2 nhánh lớn duy tâmkhách quan biện chứng gồm đi từ Can tơ, G.Phích tơ, Ph.Senlinh đến Ph Hêghen; nhánh duy vật xuất phát cũng từ Can tơ và đến Phoi ơ bắc Triết học Hêghen là đỉnh cao của nền triết học cổ điển Đức, ông xây dựng nên phép biệnchứng duy tâm Còn Phoi ơ bắc xây dựng chủ nghĩa duy vật siêu hình trừutượng chung chung.( viết thêm “Triết học cổ điển Đức…phương Tây, trang 44 -
45 Sách Triết Học – Tài liệu tham khảo cho học viên cao học và nghiên cứusinh không thuộc chuyên ngành triết học, năm 2014, Trường ĐHKTTP Hồ ChíMinh)
Con đường dẫn dắt Hê ghen đến phép biện chứng.
Đầu tiên là Phích tơ cải tạo toàn bộ học thuyết của Can tơ thu về một mấuchốt đó là : Đi tìm hiểu con người đóng vai trò chủ thể tiên nghiệm Từ chủ thểtiên nghiệm của Can tơ Phích xây dựng nên triết học về Cái Tôi Tuyệt Đối Sau
đó, Senlinh mới dựa vào Cái Tôi Tuyệt Đối mà xây dựng nên Triết học đồngnhất cho rằng trong cái tuyệt đối thì tinh thần cũng là vật chất, vật chất cũng làtinh thần Đến lượt Hê ghen kế thừa Triết học đồng nhất của Senlinh hoàn thiện
nó và xây dựng nên học thuyết về Ý niệm tuyệt đối Hê ghen trình bày tiến trìnhvận động phát triển của Ý niệm và từ đó ông ta xây dựng nên Phép biện chứngduy tâm Thế giới quan duy tâm là thế giới quan xuyên suốt toàn bộ nội dungtriết học Hê ghen Mọi sự vật, quá trình dù là vật chất hay tinh thần đều là hiệnthân của ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối chi phối mọi sự sinh thành,tồn tại
và tiêu vong của hết thảy mọi cái trong thế giới Vật chất, giới tự nhiên chỉ là sự
tự tha hóa, một sự tồn tại khác, một sản phẩm sơ cứng bất động của ý niệmtuyệt đối Đề cao tinh thần, khẳng định tính quyết định của nó trong việc đưa racác phương thức giải quyết cho các vấn đề thuộc về lí luận cũng như thực tiễn
là tư tưởng chủ đạo được trình bày trong toàn bộ nội dung triết học Hê ghen
Thành tựu:
Phép biện chứng là linh hồn sống động của hệ thống triết học Hê ghen, tưtưởng về mối liên hệ phổ biến và tư tưởng về sự phát triển Bên cạnh đó, Hêghen còn xây dựng các nguyên tắc của lô gic biện chứng, các quan điểm biệnchứng về nhận thức, ông cũng đặt nền móng cho sự thống nhất giữa phép biệnchứng, lô gic học và nhận thức luận Phép biện chứng của ông về thực chất là
Trang 27tích cực và cách mạng, nhưng nó lại bị giam hãm trong hệ thống triết học duytâm thần bí của ông Vì vậy, bên cạnh những nội dung biện chứng tiến bộ, vạchthời đại, khoa học và cách mạng lại có không ít quan điểm siêu hình, phảnđộng, phản khoa học và bảo thủ, tư biện; nghĩa là nó chứa đựng nhiều mâuthuẫn.
Hạn chế lớn nhất của Triết học Hê ghen là Duy tâm
Vì vậy, nó dẫn đến sự xuyên tạc bóp méo nội dung biện chứng làm cho biệnchứng của Hê ghen trở thành tư biện và từ đó rút ra những kết luận mang tínhchất siêu hình Ví dụ như Hê ghen cho rằng triết học của mình là đỉnh cao củatriết học và về sau sẽ không còn triết học nào cả Hê ghen cho rằng dân tộc Đức
là dân tộc vĩ đại nhất, nhà nước Đức, văn minh Đức là đỉnh cao của hiện thântinh thần tuyệt đối trên trần gian, là chuẩn mực cuối cùng mà mọi dân tộc trênthế giới phải hướng đến Hê ghen đề cao vai trò của nhà nước, ông ta cho rằngnhà nước là hiện thân của Đức Chúa Trời nơi trần gian Đức Chúa Trời là mạnh
mẽ nhất vô địch vô song nên nhà nước là cấu trúc mạnh mẽ nhất của trần gian
vì vậy không có thế lực nào vượt qua nhà nước được Trong đó nhà nước Đức
là vĩ đại nhất Tất cả những kết luận như vậy mang tính chất siêu hình vì phépbiện chứng của ông ta nằm trong lớp vỏ duy tâm thần bí cho nên những kết luậnnày là xuyên tạc, không đúng hiện thực
Trình bày khái quát sự hình thành triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung Phân tích những đặc điểm của triết học Mác – Lênin Nói chỉ có triết học Mác – Lênin mới thật sự là khoa học - triết học đúng hay sai, tại sao?
Khái quát sự hình thành triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung
Điều kiện kinh tế - xã hội
- Nền đại công nghiệp cơ khí ra đời và phát triển nhờ cuộc cách mạng côngnghiệp cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19: như Nước Anh đã trở thành cường quốc tưbản chủ nghĩa lớn nhất với lực lượng công nghiệp hùng mạnh Cuộc cách mạngcông nghiệp ở Pháp đang được hoàn thành
- Cùng với nền đại công nghiệp cơ khí là CNTB được xác lập và giữ địa vịthống trị; giai cấp công nhân công nghiệp ra đời Đây là giai cấp đại biểu cholực lượng sản xuất mới có bản chất cách mạng triệt để nhất
- Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn xãhội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt Nhiều cuộc đấu tranh của côngnhân đã mang ý nghĩa như là: Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở Lyông (Pháp) năm
1831 -1834 Cuộc khởi nghĩa tự phát của thợ dệt Xilêdi năm 1844 Ở Anh cóphong trào Hiến chương vào cuối những năm 1930
- Trong điều kiện lịch sử xã hội đó, giai cấp vô sản không còn đóng vai trò
là giai cấp cách mạng, vì vậy giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử khôngchỉ là “ kẻ phá hoại” chủ nghĩa Tư bản mà còn là lực lượng tiên phong trongcuộc đấu tranh cho nền dân chủ
Trang 28- Thực tiễn xã hội, đặc biệt là thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản nảysinh yêu cầu khách quan là phải được soi sáng bằng lý luận khoa học Sự ra đờicủa chủ nghĩa Mác là sự giải đáp về mặt lý luận những vấn đề thời đại đặt ratrên lập trường của giai cấp vô sản cách mạng.
Nguồn gốc lý luận của triết học Mác nói riêng, của chủ nghĩa Mác nói chung.
Một là: triết học cổ điển Đức, đặc biệt với hai nhà triết học tiêu biểu làHêghen và Phiơbắc, là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác
* C.Mác và Ph Ăngghen đánh giá cao tư tưởng biện chứng của triết họcHênghen C Mác cho rằng ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuốngđất; chỉ cần dựng nó lại sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó sau lớp vỏthần bí
* Kế thừa những giá trị trong chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc; đồng thời đãcải tạo chủ nghĩa duy vật cũ, khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sửcủa nó
Từ những giá trị của phép biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật củaPhoiơbắc, Mác và Ăng ghen đã xây dựng lên học thuyết triết học mới, trong đóchủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ làchủ nghĩa duy vật biện chứng, một hình thức mới, một giai đoạn phát triển caocủa chủ nghĩa duy vật triết học
Hai là: thừa kế và cải tạo kinh tế chính trị học Anh với những đại biểu xuấtsắc là A.Xơmít và Đ Ricácđô là một nhân tố không thể thiếu được góp phầnlàm hình thành quan niệm duy vật về lịch sử của triết học Mác
Ba là: cải tạo một cách phê phán chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp vớinhững đại biểu tiêu biểu là Xanh Ximông và S Phuriê Nhờ đó, triết học Máctrở thành vũ khí lý luận cải tạo xã hội bằng cách mạng
Những tiền đề khoa học tự nhiên của triết học Mác
Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên thời đó, Ăngghen nêu bật ý nghĩacủa ba phát minh lớn đối với sự hình thành triết học duy vật biện chứng: địnhluật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, thuyết tế bào và thuyết tiến hoá củaĐắcuyn Với những phát minh lớn của khoa học tự nhiên đã làm cho quan niệmmới về tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản
Như vậy, triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác đã ra đời như một tấtyếu lịch sử không những vì nó một sự phản ánh thực tiễn xã hội, nhất là thựctiễn cách mạng của giai cấp công nhân mà còn là sự phát triển hợp logíc củalịch sử tư tưởng nhân loại
Phân tích những đặc điểm của triết học Mác – Lênin:
Triết học Mác Lê nin có 5 đặc điểm và được phân tích rất rõ ràng ở Sách TriếtHọc – Tài liệu tham khảo cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộcchuyên ngành triết học, năm 2014, Trường ĐHKTTP Hồ Chí Minh, Trang 60 –64
Nói triết học Mác Lê nin mới là khoa học – triết học thực sự đúng hay sai:
Đứng trên quan điểm triết học Mác thì Mác cho rằng mình thực sự là triết họckhoa học bởi vì triết học mang tính đảng còn khoa học thì mang tính khoa học.Trong triết học Mác có sự thống nhất của tính đảng và tính khoa học, vì vậy nó
Trang 29được coi là khoa học vì: trước hết, nhà khoa học nghiên cứu các quy luật chungnhất của tự nhiên và tư duy con người Thứ hai, triết học bao giờ cũng mangtính chủ quan, nhưng, triết học Mác không những chủ quan mà còn khách quan.
Sở dĩ như vậy là do lợi ích của giai cấp vô sản và lợi ích khách quan chung củaloài người là phù hợp với nhau Cho nên triết học Mác không xuyên tạc thế giới
mà là cố tái hiện thế giới, phản ánh đúng thế giới Nhờ có sự phản ánh đúng thếgiới mà giai cấp và nhân dân lao động mới có thể đạt được những thành tựu, đạtđược những mục đích của chính mình Vì vậy, dựa trên 2 cơ sở, thứ nhất tínhđảng của triết học thống nhất với khoa học, thứ hai tính chủ quan của triết họcMác thống nhất với tính khách quan, với xu hướng phát triển chung của loàingười Nhờ vậy mà triết học Mác mới là triết học khoa học
Tuy nhiên không chỉ có triết học Mác mới là triết học khoa học, cách đây
300 năm về trước, những trào lưu triết học ví dụ như triết học Đề cát, Bê cơncũng mang tính khoa học Lúc bấy giờ lợi ích của giai cấp tư sản mà Bê cơn, Đềcát bảo vệ phù hợp với lợi ích chung của loài người Lúc bấy giờ, những trào lưutriết học đó ra sức làm sáng tỏ bản tính khách quan của thế giới Vì vậy, khôngchỉ có riêng duy nhất triết học Mác mới là khoa học mà có thể có nhiều hệ thốngtriết học là khoa học đó là hệ thống triết học của các giai cấp tiến bộ và cáchmạng trong xã hội thì triết học của họ mang tính khoa học
Chứng minh rằng, triết học Mác ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử triết học nhân loại; nó làm cho chủ nghĩa Mác không chỉ
có giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với thời đại.
Chủ nghĩa, triết học Mác-Lênin ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cáchmạng trong lịch sử triết học nhân loại, nó làm cho chủ nghĩa Mác không chỉ cógiá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với thời đại, nó thể hiện quacác đặc điểm của chủ nghĩa Mác Lenin:
1 Triết học MacLenin thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biệnchứng tách rời nhau, các nhà triết học vẫn còn bị chi phối của phương pháp tưduy siêu hình Tư tưởng biện chứng đã đạt được những thành tựu to lớn trongtriết học cổ điển Đức nhưng nó lại phát triển trong hệ thống triết học duy tâm,thần bí
Triết học MacLenin ra đời thống nhất trong mình thế giới quan duy vật vớiphương pháp luận biện chứng Kế thừa chủ nghĩa duy vật và phép biên chứngtrong triết học cổ điển Đức, Cac1Mac1 đã xây dựng nên chủ nghĩa duy vậtbiện chứng( hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng trong lịch sửtriết học, với tính cách là khoa học về sự phát triển của TGTN, LSXH loàingười và tư duy
2 Triết học Mac là chủ nghĩa duy vật triệt để Nhờ Các Mac chủ nghĩaduy vật được mở rộng sang lĩnh vực lịch sử xã hội hình thành nên chủ nghĩa
Trang 30duy vật lịch sử, Các Mác đã mở rộng học thuyết từ chỗ nhận thức thế giới tựnhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mac Lenin đã chỉ ra quy luật vận độngcủa lịch sử xã hội loài người, sự thay thế của các hình thái kinh tế xã hội là mộtquá trình lịch sử tự nhiên Trong các quy luật lịch sử xã hội, quy luật biệnchứng giữa LLSX và quan hệ S/X có vai trò quyết định Các quan hệ về kinh tế
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.Với bản chất duy vật triệt để, triết học MacLenin trở thành công cụ vĩ đại đểnhận thức và cải tạo TG, tạo ra bước phát triển mới về chất
3 Triết học MacLenin thống nhất giữa lý luận và thực tiểnCác Mác viết “Khuyết điểm chủ yếu của chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay là
sự vật, hiện thực, cái cảm giác được chỉ được nhận thức dưới hình thức kháchthể hay hình thức trực quan, chỉ không được nhận thức là hoạt động cảm giáccủa con người, là thực tiển, không nhận thức về mặt chủ quan” “vấn đề tìmhiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàntoàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề TT Chính trong thựctiễn mà con người phải chứng minh chân lý, nghĩa là C/M hiện thực và sứcmạnh, tính trần tục của tư duy của mình Sự tranh cãi về tính lý luận hay thựctiễn khogn6 hiện thực của tư duy tách rời TT là một vấn đề kinh nghiệm thuầntúy
Triết học Mác Lein không chỉ là lý luận khoa học phản ánh vản chất quy luật của
sự vận động và phát triển của thế giới, mà quan trọng hơn đó là học thuyết đượcxây dựng nhằm mục đích cải tạo thế giới vì vậy sự thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn là nguyen tắc cơ bản của triết học MacLein Chỉ khi triết học Mac Lenin
ra đời vai trò thực tiễn và sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn mới được xem
là một nguyen tắc cơ bản, chi phối mọi hoạt động của con người
Tham khảo
Bước ngoặt là vì lần đầu tiên chủ nghĩa duy vật trở thành duy vật biện chứng,lần đầu tiên phép biện chứng thực sự là phép biện chứng duy vật và từ đó xâydựng nên CNDV lịch sử Sự xuất hiện CNDV lịch sử là một bước ngoặt vĩ đạitrong nhận thức lịch sử của loài người Thành tựu lớn nhất của triết học Máctạo ra bước ngoặt lịch sử đó là sự ra đời của CNDV lịch sử Bước ngoặt củatriết học này không chỉ là giải thích thế giới mà còn tham gia vào cải tạo thềgiới Thêm vào đó nó tạo ra một bước ngoặt có ý nghĩa to lớn nữa là vì nóvạch ra mối quan hệ đúng đắn giữa triết học với các nghành khoa học cụ thể Bước ngoặt này nằm cụ thể trong các đặc điểm của triết học Mác (NÊU thêmđặc điểm triết học Mác Sách Triết Học – Tài liệu tham khảo cho học viên caohọc và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học, năm 2014,Trường ĐHKTTP Hồ Chí Minh, Trang 60 – 64.) Từ việc tổng hợp các đặcđiểm này triết học Mác vạch ra bước ngoặt
Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Vận dụng mối quan hệ này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Trang 3111.1 Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
Theo quan điểm duy vật biện chứng:
‘‘Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem
lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
“ Ý thức là toàn bộ hoạt động tinh thần diễn ra trong đầu óc của con người,
phản ánh thế giới vật chất xunh quanh, hình thành, phát triển trong quá trình laođộng và được định hình, thể hiện ra bằng ngôn ngữ”
Vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tác độnglẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn; trong mối quan hệ đó vật chất giữ vai tròquyết định đối với ý thức, còn ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông quahoạt động thực tiễn của con người
a Tính quyết định của vật chất đối với ý thức:
Vật chất là cái có trước, ý thức có sau Vật chất quyết định ý thức, còn ý thức
là sự phản ánh thế giới vật chất vào trong bộ não con người
Vật chất là nguồn gốc của ý thức Không có sự tác động của thế giới kháchquan vào trong bộ não con người thì sẽ không có ý thức Điều đó có nghĩa, ý thức
ra đời và tồn tại được là nhờ các yếu tố vật chất đóng vai trò là nguồn gốc tựnhiên (Bộ óc người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc người) và nguồn gốc
xã hội (lao động, ngôn ngữ) Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chứccao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức Mà con người là kếtquả của quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giớivật chất
Vật chất quyết định nội dung của ý thức: ý thức là hình ảnh chủ quan của thếgiới khách quan, nội dung của ý thức mang tính khách quan, do thế giới kháchquan quy định Vật chất quyết định phương thức, kết cấu của ý thức Ý thức bị vậtchất quy định cả về nội dung và cả về hình thức biểu hiện (do sự vận động và pháttriển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, quy luật
xã hội và môi trường sống mang tính chất vật chất quyết định)
b Vai trò của ý thức đối với vật chất:
Quan hệ giữa vật chất và ý thức không phải là quan hệ một chiều mà là quan
hệ tác động qua lại Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định, song sau khi ra đời,
ý thức có tính độc lập tương đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất.Tuy nhiên, ý thức là ý thức của con người, do đó sự tác động trở lại vật chất của ýthức thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Ý thức trang bị cho con người sự hiểu biết về thế giới xung quanh, giúp conngười xác định mục tiêu, lựa chọn phương thức cho hoạt động của mình tạo nên ởcon người tình cảm, niềm tin, ý chí, thôi thúc con người nỗ lực hành động để đạtđược mục tiêu đề ra Theo Mác “lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lựclượng vật chất”, cho nên muốn thực hiện được các quy luật khách quan thì phảinhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và có phương
Trang 32pháp tổ chức hành động Thực tế cho thấy, mọi hoạt động của con người đều do ýthức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thếgiới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cở
sở ấy con người đề ra phương hướng, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v đểthực hiện mục tiêu của mình
Ý thức có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự vận động, phát tiển của những điềukiện vật chất ở những mức độ nhất định Nói cách khác, sự tác động trở lại của ýthức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực Nếu ý thứccon người phản ánh đúng hiện thực khách quan thì hành động của con người phùhợp với các quy luật khách quan, cải tạo được thế giới; Nếu ý thức của con ngườiphản ánh không đúng hiện thực khách quan thì hành động của con người đi ngượclại các quy luật khách quan và hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đối với hoạtđộng thực tiễn, đối với hiện thực khách quan
Như vậy bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thểquyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng haysai, thành công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả
11.2 Vận dụng mối quan hệ này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay:
Ở nước ta, trong thời kỳ trước đổi mới Đảng ta đã nhận định rằng chúng tamắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việcxây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa; về bố trí cơ cấu kinh tế; vềviệc sử dụng các thành phần kinh tế …
Trong những năm 1976-1980 trên thực tế chúng ta chủ trương đẩy mạnhcông nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết đó là lực lượng sảnxuất còn nhỏ bé, chưa phát triển; chủ yếu là sản xuất nhỏ, lạc hậu và kinh tế hànghoá chưa phát triển Chúng ta chỉ muốn đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vậtchất kỹ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội mà không tính đến điều kiện thực tế của đấtnước
Trong bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư, thườngchỉ xuất phát từ mong muốn đi nhanh, không tính đến điều kiện và khả năng thực
tế, đề ra những chỉ tiêu kế hoạch hoá cao về xây dựng cơ bản và phát triển sảnxuất Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, sử dụng các thành phần kinh tế, đã có hiệntượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa,nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra làphải duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thíchhợp, phù hợp với thời kỳ quá độ trong một thời gian tương đối dài để phát triểnlực lượng sản xuất
Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu, yếukém về lý luận, do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độquan liêu bao cấp
Trên cơ sở nền tảng triết học Mác – Leenin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập
và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chínhxác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước
Trang 33Như chúng ta đã biết vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, tác động qualại lẫm nhau Ý thức chỉ có thể tác động đối với vật chất khi nó được hoạt độngthông qua thực tiễn, nên nếu thực tiễn trì trệ thì ý thức cũng trì trệ theo Nhờ cóhoạt động thực tiễn mà ý thức của Đảng ta được nâng cao đề ra những đường lốimới và cải cách cùng phát triển đất nước.
Công cuộc đổi mới chính thức bắt đầu từ việc Đảng ta thừa nhận và chophép phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thịtrường Đó là một yếu tố khách quan khi ở thời kỳ quá độ như nước ta hiện nay.Bên cạnh việc thừa nhận sự tồn tại kinh tế tư bản tư nhân, đương nhiên phảithường xuyên đấu tranh với xu hướng tụ phát tư bản chủ nghĩa và những mặt tiêucực trong các thành phần kinh tế, giải quyết mâu thuẫn tồn tại trong sản xuất giữachúng
Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học:
”Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luậtkhách quan Năng lực nhận thức và hành động theo qui luật là điều kiên đảm bảo
sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng” (VKĐH 6, trang 30)
Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạtđộng thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng, phải thừa nhận và tôntrọng tính khách quan của vật chất, của các qui luật tự nhiên và xã hội, khôngđược xuất phát từ ý muốn chủ quan
Bài học mà Đảng ta đã nêu ra, trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn
và hành động phù hợp với hệ thống qui luật khách quan Tiếp tục đổi mới tư duy
lý luận, nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta Đó là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trảiqua một thời kỳ quá độ lâu dài nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế
xã hội có tính chất quá độ
Mỗi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tếkhách quan của đất nước và phù hợp qui luật Chúng ta biết rằng ý thức là sựphản ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới Do đócàng nắm bắt thông tin về thực tế khách quan chính xác, đầy đủ trung thực và xử
lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu quả.Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vậndụng tri thức cũng như các qui luật của thế giới khách quan
Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Đảng ta xácđịnh: “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế tôn trọng và hành động theo quiluật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan):
“Năng lực nhận thức và hành động theo qui luật là điều kiện đảm bảo sự lảnh đạođúng đắn của Đảng “là khẳng định vai trò tích cực của ý thức trong việc chỉ đạohành động con người Như vậy, từ chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ vật chất
và ý thức, cũng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trìnhlãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta đả rút ra bài học trên
Bài học ấy có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước.Hiện nay, trong tình hình đổi mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở nước
Trang 34ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy sự hiệu quả lãnh đạo của mình thôngqua việc nhận thức đúng, tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học côngnghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại.
Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đảng Cộng sản Việt Nam
đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta?
Cơ sở lý luận :
Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung củanguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới Yêu cầu của nguyên tắc nàyđược tóm tắt như sau: khi nhận thức khách thể (đối tượng), sự vật, hiện tượngtồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó
mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện
- Vật chất là cái có trước tư duy Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọanphát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy Do tư duy phản ánh thếgiới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát
từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng.mà phải xuất phát từchính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt” đối tượng tuântheo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng Không ép đối tượng thỏamãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từđối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng- cái lôgíc phát triển củachính đối tượng đó
- Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được góighém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức,phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật “nghệthuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó
xa lạ với chính nó Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn Làm nhưthế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan,
là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sungthêm yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tínhđảng
- Giới tự nhiên và xã hội không bao giờ tự phơi bày tòan bộ bản chất của mình
ra thành các hiện tượng điển hình Con người không phải chỉ nhận thức nhữngcái gì bộc lộ ra trước chủ thể Do đó để phản ánh khách thể như một chỉnh thể,chủ thể tư duy không thể không bổ sung những yếu tố chủ quan như đề xuất cácgiả thuyết, đưa ra các dự đóan khoa học… Thiếu những điều này tư duy sẽkhông mang tính biện chứng, sẽ không thể hiện bản tính sáng tạo thông qua trítưởng tượng của chính mình Yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủthể đòi hỏi chủ thể tư duy phải biến đổi, thậm chí cải tạo đối tượng để tìm rabản chất của nó Những biến đổi, cải tạo đó là chủ quan nhưng không phải tùytiện, mà là những biến đổi và cải tạo đối tượng phù hợp quy luật của hiện thựcthuộc lĩnh vực nghiên cứu
Trang 35- Yêu cầu khách quan trong xem xét có ý nghĩa rất quan trọng trong nhận thứccác hiện tượng thuộc đời sống xã hội Đối tượng nghiên cứu bao gồm cái vậtchất và cái tinh thần chứa đầy những cái chủ quan, những cái lý tưởng và luônchịu sự tác động của các lực lượng tự phát của tự nhiên lẫn lực lượng tự giác (ýchí, lợi ích, mục đích, nhân cách, cá tính khác nhau) của con người Ơ đây đốitượng, khách thể tư duy quyện chặt vào chủ thể tư duy bằng hệ thống nhữngmối liên hệ chằng chịt Do đó cần phải cụ thể hóa nguyên tắc khách quan trongxem xét các hiện tượng xã hội, tức là phải kết hợp nó với các yêu cầu phát huytính năng động, sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng Điều này cónghĩa là nguyên tắc khách quan trong xem xét không chỉ bao hàm yêu cầu xuấtphát từ chính đối tượng, từ những quy luật vận động và phát triển của nó, khôngđược thêm bớt tùy tiện chủ quan, mà nó còn phải biết phân biệt những quan hệvật chất với những quan hệ tư tưởng, các nhân tố khách quan với các nhân tốchủ quan, thừa nhận các quan hệ vật chất khách quan tồn tại xã hội là nhân tốquyết định.còn những hiện tượng tinh thần, tư tưởng được quy định bởi đờisống vật chất của con người và các quan hệ kinh tế của họnhưng chúng có ảnhhưởng ngược lại tồn tại xã hội Phải coi xã hội là một là một cơ thể sống tồn tại
và phát triển không ngừng chứ không phải là cái gì đó kết thành một cách máymóc Phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành mộthình thái kinh tế xã hội nhất định và cần phải nghiên cứu những quy luật vậnhành và phát triển của hình thái xã hội đó
- Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độquan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyếtcác vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội,đối với việc đánh giá tình hình xã hội ….những đánh giá có giá trị hơn, nhữngcách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyếtthuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến,của những lực lượng cách mạng của thời đại đó Vì vậy tính khách quan trongxem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng Việc xemthường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quantrong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thứcđúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp
Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét :
Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyêntắc khác của lôgíc biện chứng Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau :
Trong hoạt động thực tiễn :
Chủ thể phải :
Trang 36Một là : Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chiphối nó.
Hai là : Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu,
kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện Kịp thờiđiều chỉnh, uốn nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt
ra
Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò trithức, tình cảm, ý chí, lý trí ….tức là phát huy vai trò nhân tố con người tronghọat động nhận thức và họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươnlên làm chủ thế giới
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng nguyên tắc này vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta :
Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất
cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội….) thành động lực mạnh mẻ thúc đẩycông cuộc đổi mới
- Đảng ta rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trướcđổi mới, Đảng ta kết luận :“mọi đường lối, chủ trương của đảng phải xuất phát
từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”
Biết phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của cácyếu tố chủ quan (tri thức, tình cảm … ) tức phát huy vai trò nhân tố con ngườitrong họat động nhận thức và thực tiển :
- Coi sự thống nhất giữa tình cảm (nhiệt tình cách mạng, lòng yêu nước, ý chíquật cường ….) và tri thức (kinh nghiệm dựng nước và giữ nước, hiểu biết khoahọc) là động lực tinh thần thúc đẩy công cuộc đổi mới Chống lại thái độ ỷ lại,trì trệ, chỉ biết làm theo cách cũ mà không biết dũng cảm làm theo cái mới, biếtkhơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường…… phải phổ biến tri thức khoa học,công nghệ hiện đại cho đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, biết nâng caodân trí, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài
- Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng Đặc biệt là giáodục chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho đông đảo người ViệtNam chúng ta Phải nâng cao và đổi mới tư duy lý luận mà trước hết là chủnghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
- Kiên quyết khắc phục và ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí, lốisuy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng
mà bất chấp quy luật khách quan, coi thường tình hình thực tế
Trang 37Ở Việt Nam, do bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ & hành động giản đơn,nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng đã xuất hiện trước Đổi mới
có nguyên nhân và gây ra tác hại lớn
Xuất phát từ hiện thực khách quan của nước ta yếu kém về năng lực tư duy,lạc hậu về lý luận, ít kinh nghiệm trong xây dựng và quản lý đất nước; Đồngthời do sai lầm ấu trĩ “tả” khuynh, xảy ra trong một điều kiện lịch sử rất đặc biệtcủa dân tộc ta (Biết phát huy tối đa sức mạnh tinh thần, khao khát thoát ra khỏicuộc sống lầm than, nô lệ ) nhưng lại không xuất phát từ hiện thực, bất chấpquy luật, coi thường tri thức KH,… Nên tạo ra những chính sách sai lầm, gây ranhững hậu quả về nhiều mặt (kinh tế, xã hội…) rất nghiêm trọng & kéo dài
Để có thể khắc phục triệt để chủ nghĩa chủ quan phải quán triệt thực hiệnnguyên tắc khách quan Vì nguyên tắc khách quan là nguyên tắc đầu tiên của tưduy biện chứng, vận dụng nguyên tắc khách quan kết hợp với chủ quan tronghoạt động nhận thức sẽ tránh được những sai lầm trong chính sách phát triển đấtnước
Trên cơ sở quy luật khách quan đó, Đảng ta khẳng định “Mọi đường lối chủtrương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Đểlàm được điều đó phải tôn trọng hiện thực kh.quan, tôn trọng vai trò quyết địnhcủa VC, tức:
Xuất phát của hiện thực kh.quan của đất nước, của thời đại để hoạch địnhchiến lược, sách lược phát triển đất nước;
Biết tìm kiếm, khai thác, tổ chức những lực lượng vật chất (cá nhân – cộngđồng, kinh tế – quân sự, trong nước – ngoài nước, quá khứ – tương lai,…) đểhiện thực hóa chúng
Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; coi đại đoàn kết toàn dân tộc
là động lực chủ yếu phát triển đất nước Biết kết hợp hài hòa các dạng lợi íchkhác nhau (kinh tế, chính trị, tinh thần, ; cá nhân, tập thể, xã hội) thành độnglực thúc đẩy công cuộc đổi mới
Đồng thời phải phát huy tính năng động, sáng tạo của YT, ph.huy vai trò củacác yếu tố chủ quan (t.thức, t.cảm, ý chí, lý trí, ), tức ph.huy vai trò nhân tố
CN trong h.động nhận thức & thực tiễn cải tạo đất nước Cụ thể:
Coi sự thống nhất nhiệt tình CM & tri thức KH là động lực tinh thần thúcđẩy công cuộc Đổi mới; chống lại thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ trì trệ; bồidưỡng nhiệt tình, phẩm chất cách mạng; khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quậtcường, tài trí người Việt Nam,…
Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng (chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng HCM); nâng cao và đổi mới tư duy lý luận (về CNXH & conđường đi lên CNXH);
Phổ biến tri thức KH cho cán bộ, đảng viên, nhân dân
Kiên quyết khắc phục & ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suynghĩ, hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng;bất chấp quy luật khách quan
Đảng ta khẳng định: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát
từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Hãy chỉ ra và phân tích cơ sở triết học của khẳng định đó.
Trang 38Ở Việt Nam, do bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ & hành động giản đơn,nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng đã xuất hiện trước Đổi mới
có nguyên nhân và gây ra tác hại lớn
Xuất phát từ hiện thực khách quan của nước ta yếu kém về năng lực tư duy,lạc hậu về lý luận, ít kinh nghiệm trong xây dựng và quản lý đất nước; Đồngthời do sai lầm ấu trĩ “tả” khuynh, xảy ra trong một điều kiện lịch sử rất đặc biệtcủa dân tộc ta (Biết phát huy tối đa sức mạnh tinh thần, khao khát thoát ra khỏicuộc sống lầm than, nô lệ ) nhưng lại không xuất phát từ hiện thực, bất chấpquy luật, coi thường tri thức KH,… Nên tạo ra những chính sách sai lầm, gây ranhững hậu quả về nhiều mặt (kinh tế, xã hội…) rất nghiêm trọng & kéo dài
Để có thể khắc phục triệt để chủ nghĩa chủ quan phải quán triệt thực hiệnnguyên tắc khách quan Vì nguyên tắc khách quan là nguyên tắc đầu tiên của tưduy biện chứng, Vận dụng nguyên tắc khách quan kết hợp với chủ quan tronghoạt động nhận thức sẽ tránh được những sai lầm trong chính sách phát triển đấtnước
Trên cơ sở quy luật khách quan đó, Đảng ta khẳng định “Mọi đường lối chủtrương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Đểlàm được điều đó Phải tôn trọng hiện thực kh.quan, tôn trọng vai trò quyết địnhcủa VC, tức:
- Xuất phát của hiện thực kh.quan của đất nước, của thời đại để hoạch địnhchiến lược, sách lược phát triển đất nước;
- Biết tìm kiếm, khai thác, tổ chức những lực lượng vật chất (cá nhân – cộngđồng, kinh tế – quân sự, trong nước – ngoài nước, quá khứ – tương lai,…) đểhiện thực hóa chúng
- Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; Coi đại đoàn kết toàn dân tộc
là động lực chủ yếu phát triển đất nước Biết kết hợp hài hòa các dạng lợi íchkhác nhau (kinh tế, chính trị, tinh thần, ; cá nhân, tập thể, xã hội) thành độnglực thúc đẩy công cuộc đổi mới
Đồng thời phải phát huy tính năng động, sáng tạo của YT, ph.huy vai trò củacác yếu tố chủ quan (t.thức, t.cảm, ý chí, lý trí, ), tức ph.huy vai trò nhân tố
CN trong h.động nhận thức & thực tiễn cải tạo đất nước Cụ thể:
- Coi sự thống nhất nhiệt tình CM & tri thức KH là động lực tinh thần thúcđẩy công cuộc Đổi mới; Chống lại thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ trì trệ; Bồidưỡng nhiệt tình, phẩm chất cách mạng; Khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quậtcường, tài trí người Việt Nam,…
- Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng (chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng HCM); Nâng cao và đổi mới tư duy lý luận (về CNXH & conđường đi lên CNXH);
- Phổ biến tri thức KH cho cán bộ, đảng viên, nhân dân
Kiên quyết khắc phục & ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suynghĩ, hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng;bất chấp quy luật khách quan
Trang 39Bằng lý luận và thực tiễn, hãy chứng minh rằng: Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới.
Lý luận
Bản chất Ý thức: là sự phản ánh, nhưng là sự phản ánh có sáng tạo
-Ý thức bao gồm nhiều yếu tố: tri csm tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí,…trong đó tri thức và tình cảm có vai trò rất quan trọng tri thức và tình cảm thốngnhất, chuyển hóa lẫn nhau, sự thống nhất này tạo ra động lực tinh thần mạnh mẽthúc đẩy hoạt động của con người, góp phần làm cho con người trở thành chủ thểsáng tạo ra lịch sử
-Sáng tạo và phản ánh là 2 mặt thuộc bản chất ý thức, do vậy lý luận về bảnchất của ý thức có thể dung để CM luận điểm trên Ý thức là sự phản ánh, nhưng
là sự phản ánh sáng tạo Tính sáng tạo của ý thức là tính sáng tạo của sự phảnánh, dựa trên những gì đã được phản ánh, theo quy luật của phản ánh từ đó tạo ranhững hình tượng, tư tưởng, hiểu biêt mang lại tri thức cho con người Khi nói ýthức là hình ảnh chủ quan của thế giới KQ, có nghĩa ý thức là sự phản ánh năngđộng sáng tạo về thế giới Thế giới vật chất không bao giờ bộc lộ hêt bản chất của
nó, nhờ nhu cầu khám phá và chính phục giới tự nhiên để phục vụ nhu cầu cuộcsống, trên cơ sở những cái đã được phản ánh, con người đề xuất các mô hình, giảthuyết, đề án, dự báo,… về sv-ht trong thế giới vật chất và dung thực tiễn để buộcsv-ht bộc lộ bản chất nhằm kiểm chứng các mô hình, giả thuyết cũng như mộtcách khẳng định chân lý Đồng thời, thông qua hoạt động thực tiễn, ý thức conngười thâm nhập vào lực lượng vật chất để hiện thực hóa, biến những mô hình,
đề án,… đi vào cuộc sống, từ đó cải tạo thế giới mà trước hết là đsXH của loàingười
+Sức tác dụng của ý thức phụ thuộc vào mức độ xâm nhập của các nhân tố ýthức vào lực lượng vật chất Nếu các nhân tố ý thức không xâm nhập được vàolực lượng vật chất thì chúng ko có tác dụng j cả Ý thức có vai trò sáng tạo khi vàchỉ khi xâm nhập vào hiện thực cs, được vật chất hóa, quần chúng hóa Nếuchúng xâm nhập cnafg sâu rộng thì sức mạnh càng lớn, phản ánh càng đúng quyluật, do đó sức sáng tạo, sức tác dụng của chúng đến hiện thực vật chất càng cao.-Ý thức là một bộ phận của thế giới góp phần tạo ra thế giới tự nhiên thứ 2gọi là XH loài ng
Trang 40Bộ phận thế giới mà ý thức góp phần tạo ra gọi là đsXH con ng Con ng làchủ thể sáng đạo ĐSXH Con ng có ý thức và thông qua hiện tương vật chất, ýthức xâm nhập hđ thực tiễn Bộ phận thế giới con ng góp phần sang tạo ra gọi là
XH loài ng Trật tự XH, chế độ XH là giới tự nhiên thứ 2 với những công trìn,thành tựu KHCN, VHXH,…ha ĐSXH thể hiện vai trò tác dụng của các nhân tố ýthức Vì vậy, ý thức con ng ko chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạonên TG
Thực tiễn
-CN cộng sản là sự sáng tạo của nhân dân LĐ dưới sự lãnh đạo của ĐCS
CN cộng sản là kêt quả sáng tạo của đông đảo quần chúng NDLĐ dưới sựlãnh đạo của ĐCS được trang bị bằng lý luận của CN Mac-Lenin Cách mạng làđổi mới, sáng tạo CM thực sự làm thay đổi cơ bản cơ cấu XH VN Cm tư tưởnggóp phần ko nhỏ đưa dân tộc ta thoát khỏi áp bưc, bóc lột, xây dựng cs ấm no.Trong công cuộc đổi mới và bảo vệ tổ quốc hiện nay, ĐCS vẫn đóng vai tròquyết định sự đi lên, phát triển của đất nước thông qua sự lãnh đạo bằng cácđường lối, chủ trương đúng đắn Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đường lối chínhsách đã được điều chính phù hợp Đó là kết quả của tri thức và tri thức khoa học,thể hiện sự ko ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho mỗi ng Tuy nhiên nếu trithức ko biến thành niềm tin và ý chí thì tự nó cg ko có vai trò j với đs hiện thựccả
-Sản phẩm làm ra có một phần chất xám là ý thức con người tham gia vàoquá trình tạo nên sản phẩm
Mỗi sản phẩm tạo ra là sự đúc kết của tri thức con người, tri thức thma giacấu thành và tạo nên sp Tác động của ý thức, mà chủ yếu là tri thức đối với con
ng là vô cùng to lớn Nó ko những là kim chỉ nam cho hđ thực tiễn mà còn làđộng lực thực tiễn Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cựchay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội phụ thuộc vàovai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện là vai trò của KH, VH va tư tưởng
-Tư tưởng hướng dẫn quần chúng nhân dân xóa bỏ chế độ cũ tạo ra chế độmới
Sự thay đổi trong mô hình Xh cũng là một minh chứng thực tiễn của luậnđiểm trên, Các cuộc Cm bao giờ cũng được hướng dẫn bởi tư tưởng hcm Lất TTHCM làm kim chỉ nam cho hành động TT HCM xâm nhập vào quần chúng,được quần chúng ủng hộ thì sẽ tạo ra động lực thúc đẩy quần chúng xóa bỏ XH
cũ, xây dựng XH mới Điều này có thể được thấy rất rõ rang trong cuộc CM của
CN tư bản, tư tưởng tư sản đã hướng dẫn quần chúng nhân dân xóa bỏ XH phongkiến, sáng tạo và xây dựng nên CN tư bản
Hãy phân tích nội dung và ý nghĩa triết học câu nói của C.Mác: “Vũ khí của
sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận