1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TỔNG HỢP CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN TRIẾT HỌC

38 834 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 638,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảy là, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do ĐCS lãnh đạo; Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phốihợp giữa các cơ quan trong việc thựchiện các quy

Trang 1

I TRIẾT HỌC:

Câu 1: Sự phát triển của các hình

thái KT-XH là quá trình lịch sử - tự

nhiên? Ý nghĩa của vấn đề này với

việc bỏ qua giai đoạn phát triển

TBCN ở Việt Nam hiện nay.

Trả lời:

XH là tổng thể của nhiều lĩnh vực

với những mối quan hệ XH hết sức

phức tạp Với sự ra đời của học thuyết

theo những quy luật vốn có của chúng

1 Khái niệm, kết cấu của hình thái

- Kết cấu của hình thái KT-XH:

Theo khái niệm trên thì kết cấu của

hình thái KT-XH bao gồm:LLSX,

QHSX và KTTT, trong đó: LLSX

quyết định toàn bộ quá trình phát triển

của hình thái KT-XH, quan hệ hạ tầng

cơ sở và KTTT là hình thức, diện mạo

của các hình thái KT-XH Ba bộ phận

này quan hệ mật thiết với nhau tạo

thành hai quy luật cơ bản của toàn bộ

lịch sử nhân loại, đó là: QHSX phải

phù hợp với trình độ phát triển LLSX

và CSHT quyết định KTTT

+ LLSX: là sự kết hợp giữa người

lao động với TLSX, trước hết là

CCLĐ LLSX biểu hiện mối quan hệgiữa con người với tự nhiên trong quátình sản xuất của cải vật chất, bao gồmcon người và tư liệu SX (TLSX gồmCCLĐ, đối tượng lao động và phươngtiện sản xuất như đường xá, xe cộ, bếncảng, kho chứa,…),trong đó con người

là yếu tố quan trọng nhất Con người ởđây gồm cả thể lực và trí lực, nó thayđổi tùy theo mỗi thời đại kinh tế

Trình độ LLSX thể hiện trình độchinh phục tự nhiên của con ngườitrong một giai đoạn lịch sử nhất định

và được thể hiện ở trình độ của CCLĐ,trình độ KHKT, trình độ của người laođộng Trong thời đại ngày nay, khoahọc đã trở thành LLSX trực tiếp, nóvừa là ngành sản xuất riêng, vừa thâmnhập vào các yếu tố cấu thành LLSX

và đem lại sự thay đổi về chất củaLLSX Nếu con người là yếu tố quantrọng nhất xuyên suốt trong lịch sử củaLLSX thì KHKT là LLSX số một, làtiêu chí chủ yếu của LLSX tiên tiến

LLSX tồn tại một cách khách quan,như Mác nói con người không được tự

do lựa chọn LLSX cho mình, mỗi thế

hệ sau đã có sẵn LLSX do thế hệ trướcxây dựng lên

+ QHSX: là quan hệ giữa người với

người trong quá trình SX (SX và tái

SX XH) QHSX gồm ba mặt: quan hệ

về sở hữu đối với TLSX, quan hệtrong tổ chức và quản lý SX, quan hệtrong phân phối sản phẩm SX ra

Trong ba mặt của QHSX thì quan hệ

sở hữu về TLSX là quan hệ cơ bản,quyết định 2 mặt kia của QHSX cũngnhư các quan hệ XH khác, đặc trưngcho QHSX trong từng XH Ba mặt củaQHSX quan hệ khăng khít, thống nhấtvới nhau, tạo thành một hệ thốngmang tính ổn định tương đối so với sự

vận động, phát triển không ngừng của

LLSX.QHSX do con người tạo ra, nhưng

nó hình thành một cách khách quantrong quá trình SX, không phụ thuộcvào ý muốn chủ quan của con người

Tổng hợp các QHSX của một XHtrong sự vận động hiện thực của chúnghợp thành CSHT (CSHT) của một XHnhất định

CSHT của XH, trong sự vận độngcủa nó, được tạo nên bởi cả ba loạihình QHSX: QHSX thống trị, QHSXtàn dư và QHSX mới tồn tại dưới hìnhthức mầm mống, đại biểu cho sự pháttriển của XH tương lai, trong đóQHSX thống trị chiếm địa vị chủ đạo,chi phối các QHSX khác, định hướng

sự phát triển của đời sống kinh tế XH

và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độkinh tế của một XH nhất định

Hệ thống QHSX hiện thực của một

XH đóng vai trò hai mặt: một mặt làhình thức kinh tế cho sự phát triển củaLLSX và mặt khác với các quan hệchính trị XH, nó đóng vai trò là cơ sởhình thành kết cấu kinh tế, làm cơ sởcho sự thiết lập hệ thống KTTT của

XH đó

Vì vậy, khi nghiên cứu, xem xéttính chất của một hình thái XH nào thìkhông thể chỉ nhìn ở trình độ pháttriển của LLSX mà còn phải xét đếntính chất của các QHSX

+ KTTT (KTTT): là toàn bộ những

quan điểm chính trị, pháp luật, triếthọc, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật vớinhững thể chế chính trị XH tương ứng(nhà nước, đảng phái, giáo hội và cácđoàn thể) được hình thành trên mộtCSHT nhất định Mỗi yếu tố của yếu

tố của KTTT có đặc điểm riêng, cóquy luật phát triển riêng, nhưng khôngtồn tại tách rời nhau mà liên hệ tác

động qua lại, lẫn nhau và đều nảy sinhtrên CSHT, phản ánh CSHT

LLSX và QHSX có mối quan hệ biện chứng với nhau và tạo thành quy

luật QHSX phải phù hợp với trình độphát triển của LLSX Mối quan hệbiện chứng này được thể hiện ở:

LLSX quyết định QHSX: LLSX làyếu tố động, khi nó thay đổi thì sớmhay muộn cũng kéo theo sự thay đổicủa QHSX vì LLSX là nội dung cònQHSX là hình thức, nội dung quyếtđịnh hình thức

QHSX có tính độc lập tương đối vàtác động trở lại LLSX: QHSX quyđịnh mục đích XH của sản xuất, xuhướng phát triển của quan hệ lợi ích,

từ đó hình thành những yếu tố thúcđẩy hoặc kìm hãm sự phát triển củaLLSX Sự tác động trở lại của QHSXđối với LLSX bao giờ cũng thông quacác quy luật kinh tế XH, đặc biệt làcác quy luật kinh tế cơ bản

Sự phù hợp hay không phù hợpgiữa LLSX và QHSX là khách quan

và phổ biến của mọi phương thức sảnxuất Sẽ không đúng nếu quan niệmtrong CNTB luôn diễn ra không phùhợp, còn dưới CNXH luôn phù hợpgiữa QHSX với LLSX

Quan hệ biện chứng giữa CSHT vàKTTT:

CSHT và KTTT là hai phương diện

cơ bản của đời sống XH đó là phươngdiện kinh tế và phương diện chính trị -

XH, chúng có quan hệ thống nhất biệnchứng với nhau, tác động lẫn nhautrong đó CSHT đóng vai trò quyếtđịnh đối với KTTT, KTTT có sự tácđộng trở lại CSHT đã sản sinh ra nó

CSHT quyết định KTTT theo nghĩa:

Tương ứng với một CSHT sẽ sản sinh

ra KTTT phù hợp, có tác dụng bảo vệ

CSHT đó CSHT quyết định nội dung

và tính chất của KTTT CSHT thayđổi thì sớm hay muộn KTTT cũngphải thay đổi theo

Tính chất phụ thuộc của KTTT vàoCSHT có nguyên nhân từ vai trò quyếtđịnh của QHSX, quan hệ kinh tế đốivới toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của

XH, trong đó có quan hệ về chính trị,pháp quyền, tư tưởng,…

KTTT có tính độc lập tương đối vàtác động trở lại CSHT: các yếu tố củaKTTT đều có khả năng gây ra nhữngbiến động không nhỏ đối với CSHTbằng nhiều hình thức, theo những cơchế, khuynh hướng (tích cực, tiêu cực)khác nhau

Ngoài 03 yếu tố LLSX, QHSX,KTTT, hình thái KT- XH còn có Cácquan hệ dân tộc, quan hệ gia đình,quan hệ giai cấp, quan hệ quốc tế, vàcác sinh hoạt XH khác, các quan hệ đóđều gắn bó chặt chẽ với QHSX, biếnđổi cùng với sự biến đổi của QHSX

2 Sự phát triển của các hình thái KTXH là quá trình lịch sử tự nhiên

Lịch sử phát triển của XH loàingười đã trải qua nhiều giai đoạn pháttriển nối tiếp nhau từ thấp đến cao.Tương ứng với mỗi giai đoạn là mộthình thái KT-XH Sự vận động thaythế nhau của các hình thái KT-XHtrong lịch sử đều do tác động của cácquy luật khách quan, đó là quá trìnhlịch sử tự nhiên

- Phát triển tự nhiên là sự phát triển

tự nó, khách quan không phụ thuộcvào ý muốn chủ quan của con người.Còn các quá trình phát triển trong XHđều có sự tham gia tích cực của conngười Con người sáng tạo ra lịch sửnhưng không phải sáng tạo một cáchtùy tiện, chủ quan mà sáng tạo trongnhững điều kiện, hoàn cảnh, tiền đề

1

Trang 2

vật chất nhất định, tuân theo và phù

hợp với quy luật khách quan

- Sự phát triển của các hình thái

KT-XH là quá trình lịch sử tự nhiên

bởi vì:

+ Mang tính tự nhiên: Hình thái

KT-XH là một hệ thống, trong đó, các

mặt không ngừng tác động qua lại lẫn

nhau tạo thành các quy luật vận động,

phát triển khách quan của XH Đó là

quy luật về sự phù hợp của QHSX với

trình độ phát triển của LLSX, quy luật

phát triển của LLSX Sự phát triển của

LLSX đã dẫn tới mâu thuẫn với tính

ổn định tương đối của QHSX và nó

buộc QHSX phải thay đổi Đến lượt

mình, QHSX (CSHT) thay đổi sẽ làm

cho KTTT thay đổi theo, và do đó mà

hình thái KT-XH cũ được thay thế

bằng hình thái KT-XH mới cao hơn,

tiến bộ hơn Hay nói cách khác từ mâu

thuẫn giữa LLSX và QHSX, giữa

CSHT và KTTT, mâu thuẫn giữa các

giai cấp trong XH có giai cấp và sự

giải quyết các mâu thuẫn này sẽ làm

cho các hình thái KTXH phát triển,

hình thái KTXH mới ra đời thay thế

cho hình thái HTXH cũ Quá trình đó

diễn ra một cách khách quan chứ

không phải theo ý muốn chủ quan của

con người và nó cũng đi từ thấp đến

cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém

hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

+ Mang tính lịch sử: Mặc dù sự thay

thế các hình thái KT-XH là quá trình

tự nhiên, không phụ thuộc ý muốn chủ

quan, nhưng nó cũng phụ thuộc vào

điều kiện kinh tế XH, chính trị, văn

hóa, truyền thống dân tộc,… tức là dođiều kiện lịch sử cụ thể nữa Tùy thuộcvào điều kiện lịch sử, điều kiện củamỗi quốc gia, quá trình thay thế cáchình thái KT-XH có thể tuần tự từthấp lên cao, hoặc cũng có thể bỏ quamột hoặc một vài hình thái KT-XH,hoặc ngay trong cùng một thời đại, cácquốc gia khác nhau thì ở các hình tháiKT-XH khác nhau (lịch sử loài người

đã chứng kiến, có thời điểm cùng tồntại quốc gia ở hình thái phong kiến, cóquốc gia ở hình thái TBCN,…) hoặctrong cùng một hình thái KT-XHnhưng cũng có sự khác nhau ở mỗiquốc gia Mặt khác, quá trình pháttriển của các hình thái KT-XH, tức làquá trình thay thế lẫn nhau của cáchình thái KT-XH là do sự tác động củacác quy luật khách quan làm cho cáchình thái KT-XH không tồn tại vĩnhviễn mà chỉ tồn tại trong những giaiđoạn lịch sử nhất định Điều đó nói lêntính lịch sử của sự thay thế này

Như vậy, quá trình lịch sử - tự nhiêncủa sự phát triển XH chẳng nhữngdiễn ra bằng con đường phát triển tuần

tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua,trong những điều kiện nhất định, mộthoặc một vài hình thái KT-XH nhấtđịnh., Tuy nhiên sự bỏ qua đó cũng làkhách quan, hợp quy luật, không phụthuộc ý muốn chủ quan của con người,

nó cũng là một quá trình lịch sử tựnhiên Chỉ có bỏ qua, rút ngắn mộtcách duy ý chí, bất chấp quy luật thìmới không phải là một quá trình lịch

sử tự nhiên, ví dụ như các nướcXHCN trước kia và ở VN những năm

1975 - 1986

3 Ý nghĩa đối với việc lựa chọn con đường đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN ở VN.

Từ lý luận của CN Mác - Lênin vềhình thái KT-XH và sự phát triển lịch

sử tự nhiên của các hình thái KT-XHtrong đó có sự "bỏ qua" một hoặc mộtvài hình thái KT-XH đối với từngquốc gia cho thấy việc bỏ qua giaiđoạn phát triển TBCN để đi lênCNXH ở Việt Nam là tuân theo quyluật, hợp quy luật, tất nhiên, điều quantrọng phải nhận thức đúng "bỏ qua" lànhư thế nào?

- Trước khi tiến hành đổi mới(1986) do nhiều nguyên nhân kháchquan và chủ quan, Việt Nam cũnggiống như các nước XHCN trước đâyhiểu "bỏ qua" giai đoạn phát triểnTBCN một cách máy móc, giáo điều,duy ý chí không đúng với lý luận của

CN MacLenin (vi phạm quy luật về sựphù hợp QHSX với trình độ củaLLSX, CSHT phù hợp với KTTT) Đó

là việc bỏ qua theo kiểu phủ định sạchtrơn, đem đối lập chủ nghĩa XH vớiCNTB, bỏ qua cả những cái “khôngthể bỏ qua” như khoa học công nghệ,kinh tế,… những thứ là thành tựu của

cả loài người chứ đâu phải của CNTB

Vì vậy đã dẫn tới những sai lầm, đổ vỡ

ở hệ thống các nước XHCN ở Liên

Xô, Đông Âu và sự khủng hoảng kinh

tế XH trầm trọng ở Việt Nam nhữngnăm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20

- Hiện nay, từ Đại hội IX của Đảng,

"bỏ qua" được hiểu là bỏ qua việc xáclập vị trí thống trị của QHSX vàKTTT TBCN, nhưng tiếp thu, kế thừanhững thành tựu mà nhân loại đã đạtđược dưới chế độ TBCN, đặc biệt vềkhoa học công nghệ để phát triểnnhanh LLSX, xây dựng nền kinh tếhiện đại

Với nhận thức đúng đắn quan điểm

"bỏ qua" hình thái KT-XH theo họcthuyết của Mác-Lênin và điều kiện

thực tiễn của đất nước, Việt Nam có

cơ sở khoa học bằng lý luận và thựctiễn để khẳng định "bỏ qua" giai đoạnphát triển TBCN đi lên CNXH là hợpquy luật, tất yếu và khách quan

Những cơ sở đó cơ bản là:

+ Điều kiện chủ quan:

Có Đảng Cộng sản, Đảng của giaicấp vô sản, cầm quyền lãnh đạo đấtnước, lãnh đạo hệ thống chính trị,Đảng kiên định lập trường CN Mác-Lênin, tư tưởng HCM, giàu kinhnghiệm và truyền thống trong lãnh đạocách mạng, phát huy sức mạnh đạiđoàn kết toàn dân, kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại

Đã và đang tập trung từng bước xâydựng và thực hiện Nhà nước phápquyền XHCN của dân, do dân, vì dân

Có hệ thống chính trị đoàn kết đã vàđang được đổi mới nâng cao chấtlượng hoạt động quyết tâm cao phấnđấu thật sự vững mạnh đưa đưa nềnkinh tế đất nước theo định hướngXHCN

Nền kinh tế Việt Nam sau 27 nămđổi mới đã đạt được những thành tựuquan trọng, có tính chất nền tảng tạothế và lực mới để hội nhập thành côngvới nền kinh tế thế giới Đặc biệt vớiquyết tâm cao, tư duy biện chứng lịch

sử, Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnhđổi mới toàn diện, tái cấu trúc nềnkinh tế theo hướng phát triển theochiều sâu, đẩy mạnh CNH - HĐH, gắnliền với phát triển nền kinh tế tri thứctạo điều kiện cơ sở vật chất choCNXH

Quá độ lên chủ nghĩa XH khôngnhững phù hợp với quy luật phát triểnlịch sử mà còn phù hợp với nguyệnvọng của tuyệt đại đa số nhân dân ViệtNam đã chiến đấu, hi sinh không chỉ

vì độc lập dân tộc mà còn vì cuộc sống

ấm no, hạnh phúc, xây dựng XH côngbằng, dân chủ, văn minh Những yêucầu ấy chỉ có CNXH mới đáp ứngđược Quyết tâm của nhân dân sẽ trởthành lực lượng vật chất để vượt quakhó khăn, xây dựng thành côngCNXH

+ Điều kiện khách quan:

Thời đại ngày nay là thời đại củanền kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, lànước đi sau, Việt Nam có điều kiện,

cơ hội để di tắt, rút ngắn thời gian pháttriển thông qua chính sách đối ngoại,hội nhập quốc tế rộng mở và các chínhsách phát triển đất nước phù hợp, đúngđắn, hợp xu thế phát triển chung củathế giới

Sự phát triển cao của LLSX, tínhchất quốc tế hóa của LLSX đã tạo lênmột xu thế mới trong quan hệ giữa cácquốc gia, dân tộc, làm thức tỉnh cácdân tộc có thể đi vào con đường pháttriển phi TBCN Xu thế này cũng tácđộng tích cực đối với VN

Thời đại ngày nay, quá độ lênCNXH là xu hướng khách quan củaloài người Đi trong dòng chảy đó củalịch sử, VN đã, đang và sẽ nhận được

sự đồng tình, ủng hộ ngày càng mạnh

mẽ của loài người, của các quốc giađộc lập đang đấu tranh để lựa chọncon đường phát triển tiến bộ của mình

- Những khó khăn, thuận lợi khi

VN đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN:

+ Những khó khăn: Nước ta quá độ

lên CNXH không qua chế độ TBCN từmột nước kinh tế chưa phát triển, nềnnông nghiệp lạc hậu, LLSX thấp kém,giáo dục đào tạo còn nhiều hạn chế,khoa học công nghệ yếu kém, bị chiếntranh tàn phá nặng nề,…Trong khi đó,các thế lực thù địch trên thế giới luôn

2

Trang 3

Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng,

có ý chí vươn lên mãnh liệt;

Nhân dân ta có lòng yêu nước nồng

nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân

ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn

luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh

triển kinh tế tri thức cùng với quá trình

toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là

một thời cơ để phát triển

- Những giải pháp để Việt Nam đi

lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát

triển TBCN

Trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất

nước trong thời kì quá độ lên CNXH

(bổ sung, phát triển năm 2011) những

giải pháp cơ bản để nước ta quá độ lên

CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển

TBCN là:

Một là, phát triển LLSX, thực hiện

CNH, HĐH đất nước gắn với phát

triển kinh tế tri thức là nhiệm vụ trung

tâm để từng buớc xây dựng cơ sở vật

chất kỹ thuật của CNXH; không

ngừng nâng cao năng suất lao động

XH, chất lượng, hiệu quả, khả năng

độc lập, tự chủ của nền kinh tế và cải

thiện đời sống nhân dân

Hai là, phát triển nền kinh tế thị

trường định hướng XHCN Trong đó,

cơ chế thị truờng được vận dụng đầy

đủ phát huy mặt tích cực, hạn chế mặttiêu cực của cơ chế thị trường để pháthuy mạnh mẽ, có hiệu quả mọi nguồnlực nhằm phát triển nhanh, bền vữngnền kinh tế Phát triển kinh tế đi đôivới phát triển văn hóa, XH, thực hiệntiến bộ và công bằng XH

Ba là, chăm lo phát triển văn hóa,

xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc; làm cho CN Lênin, tư tưởng HCM trở thành nềntảng, giữ vai trò chỉ đạo trong đời sốngtinh thần, XH Đấu tranh chống tưtưởng, văn hoá hóa phản tiến bộ, tráivới những truyền thống tốt đẹp củadân tộc

Mác-Bốn là, củng cố quốc phòng, an

ninh, xây dựng thế trận quốc phòngtoàn dân, thế trận an ninh nhân dânvững chắc để bảo vệ vững chắc độclập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng,Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN,giữ vững hòa bình, ổn định chính trị,

an ninh quốc gia và trật tự an toàn XH;

chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi

âm mưu và hành động chống phá củacác thế lực thù địch đối với sự nghiệpcách mạng của nhân dân ta

Năm là, thực hiện nhất quán đường

lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình,hợp tác và phát triển; đa phương hóa,

đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tíchcực hội nhập quốc tế; giữ vững môitrường hòa bình, ổn định, thuận lợicho sự phát triển đất nước, bảo vệvững chắc độc lập, chủ quyền, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vịthế của đất nước; là bạn, là đối tác tincậy và thành viên có trách nhiệm trongcộng đồng quốc tế, góp phần tích cựcvào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc

lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thếgiới

Sáu là, xây dựng nền dân chủ

XHCN, thực hiện và phát huy sứcmạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Lấymục tiêu xây dựng nước Việt Nam hoàbình, độc lập, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, XHcông bằng, dân chủ, văn minh để tậphợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớpnhân dân, đồng bào các dân tộc, tôngiáo, người Việt Nam định cư ở nướcngoài Xây dựng, phát huy vai trò củaMặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhândân trang việc tập hợp, đoàn kết toàndân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bảy là, xây dựng nhà nước pháp

quyền XHCN của dân, do dân, vì dân

do ĐCS lãnh đạo; Quyền lực nhà nước

là thống nhất, có sự phân công, phốihợp giữa các cơ quan trong việc thựchiện các quyền lập pháp, hành pháp và

tư pháp; có tổ chức bộ máy tinh gọn,hợp lý, trong sạch, vững mạnh; có độingũ cán bộ, công chức có phẩm chất

và năng lực cao; có cơ chế kiểm soát,ngăn ngừa, trừng trị tệ quan liêu, thamnhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, xâmphạm quyền dân chủ của nhân dân

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch,

vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổchức; kiên định CN Mác–Lênin, tưtưởng HCM là nền tảng tư tưởng; thật

sự là đội tiên phong của giai cấp côngnhân, đồng thời là đội tiên phong củanhân dân lao động và dân tộc ViệtNam, đại biểu trung thành lợi ích củagiai cấp công nhân, nhân dân lao động

và toàn dân tộc; có năng lực lãnh đạo

và sức chiến đấu cao, thường xuyên tựchỉnh đốn, tự đổi mới, ra sức nâng caotrình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo

Trước những sự thay đổi của lịch sử

và sự phát triển của khoa học, đã có

không ít học thuyết, lý luận mới về sựphát triển của XH loài người Tuynhiên học thuyết về hình thái KT-XHcủa Mác vẫn giữ nguyên giá trị khoahọc, tính đúng đắn và thời đại của nó

Lý luận hình thái KT-XH cũng làphương pháp luận khoa học để chúng

ta phân tích công cuộc xây dựng đấtnước hiện nay, luận chứng được sự tấtyếu, khách quan con đường đi lênCNXH bỏ qua giai đoạn phát triểnTBCN ở Việt Nam Kiên định với mụctiêu độc lập dân tộc và CNXH, dưới

sự lãnh đạo sáng suốt của ĐảngCSVN, phát huy sức mạnh đại đoànkết toàn dân tộc, tiếp tục đẩy mạnhCNH-HĐH, kết hợp sáng tạo sứcmạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,nhân dân ta sẽ thực hiện thắng lợi mụctiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh

Kết luận: Ngày nay, trước sự phát

triển mạnh mẽ của KHKT và sự sụp

đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu

đã tạo cơ hội cho kẻ thù mở đợt tấn công vào học thuyết Mác nói chung và

lý luận về hình thái KTXH nói riêng.

Chính vì vậy vấn đề học tập nâng cao

lý luận CN Mác - Lê nin nói chung có

ý nghĩa rất quan trọng Một mặt đả phá những tư tưởng thù địch Khẳng định lý luận hình thái KTXH CN Mác

là hoàn toàn đúng đắn và ngày nay vẫn còn nguyên giá trị Mặt khác quán triệt lý luận hình thái KTXH của CN Mác cũng khẳng định con đường và bước đi lên CNXH của nước ta theo hướng đổi mới mà Đảng ta đã và đang lãnh đạo thực hiện là hoàn toàn đúng đắn phù hợp qui luật tự nhiên, phù hợp điều kiện hoàn cảnh của nước ta Trên cơ sở nhận thức đó ra sức tuyên truyền vận động mọi người trong XH hăng say lao động, học tập

trên mọi lĩnh vực để góp phần nhanh chóng đưa nước ta phát triển đi lên.

3

Trang 4

Câu 2: Nguyên tắc thống nhất giữa

lý luận và thực tiễn? Ý nghĩa của

nguyên tắc này trong việc ngăn

ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm

và bệnh giáo điều ở Việt Nam.

người nhằm cải tạo tự nhiên và XH

Con người muốn biến đổi được tự

nhiên và xã hội thì cần phải có những

hiểu biết về chúng, nhưng những hiểu

biết đó không có sẵn trong con người

Muốn có tri thức, con người phải tác

động vào thế giới khách quan bằng

hoạt động thực tiễn Trên cơ sở đó,

con người tích lũy được những tri thức

kinh nghiệm Những tri thức kinh

nghiệm mới chỉ đem lại sự hiểu biết về

từng mặt riêng lẻ, bên ngoài của sự

vật, hiện tượng Ph.Ăng-ghen đã từng

chỉ rõ: "Sự quan sát dựa vào kinh

nghiệm tự nó không bao giờ có thể

chứng minh được đầy đủ tính tất

yếu"(C.Mác- PhẨngghen: Toàn tập,

Nxb CTQG, 1994, tập 20, trang 718).

Để nắm được cái tất yếu sâu sắc nhất,

mối quan hệ bản chất của các sự vật,

hiện tượng, con người phải khái quát

những tri thức kinh nghiệm thành lý

luận Nếu lý luận chỉ là sản phẩm khái

quát hoá, trừu tượng hóa thuần túy của

tư duy, thì lý luận đó chỉ mang lại sự

hiểu biết hư ảo, hoang đường Lý luận

thực sự khoa học khi nó được khái

quát từ kinh nghiệm thực tiễn Hồ Chí

Lý luận được hình thành trên cơ sởkhái quát kinh nghiệm thực tiễn, songkhông phải cứ có kinh nghiệm thựctiễn là hình thành được lý luận Lýluận được hình thành thông qua hoạtđộng tổng kết kinh nghiệm thực tiễncủa các nhà lý luận Vì vậy, lý luậnkhông thể ra đời một cách tự phát vàluôn luôn phải được bổ sung, pháttriển bằng những kinh nghiệm thựctiễn mới, phong phú Do tính độc lậptương đối của mình lý luận có thể vượttrước các dữ liệu thực tiễn Nhưng xétđến cùng, lý luận không thể không dựatrên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn

Lý luận khoa học thông qua thựctiễn của con người góp phần làm biếnđổi thế giới khách quan và chính thựctiễn Lý luận đóng vai trò soi đường,dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nó vạch raphương hướng và phương pháp chohoạt động thực tiễn, nhằm biến đổihiện thực khách quan theo hướng tiến

bộ vì lợi ích của con người Lý luậnkhi thâm nhập vào quần chúng thì trởthành sức mạnh vật chất vĩ đại Lýluận với sức mạnh nội tại của mình, cóthể dự kiến được xu hướng vận động,biến đổi, phát triển của sự vật, hiệntượng cũng như của thực tiễn Nó giúpcon người chủ động, tự giác hơn tronghoạt động thực tiễn, tránh bớt được

mò mẫn tự phát

Lý luận khoa học là một hệ thốngnhững tri thức được khái quát từ thựctiễn, phản ánh những mối liên hệ bảnchất, tất nhiên, tính quy luật của các sựvật, hiện tượng trong thế giới kháchquan Lý luận bắt nguồn từ thực tiễnphản ánh khái quát những vấn đề sinhđộng của thực tiễn Nó do thực tiễnquy định, phụ thuộc vào thực tiễn vì

chính thực tiễn là cơ sở, là động lực, làmục đích, là tiêu chuẩn để kiểm tranhận thức và lý luận; thực tiễn cungcấp chất liệu phong phú sinh động đểhình thành lý luận và thông qua hoạtđộng thực tiễn, lý luận mới được vậtchất hóa, hiện thực hóa, mới có sứcmạnh cải tạo hiện thực Đồng thời, lýluận có tính độc lập tương đối so vớithực tiễn, có thể tác động trở lại thựctiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn

Sự tác động của lý luận thể hiện quavai trò xác định mục tiêu, khuynhhướng cho hoạt động thực tiễn (lý luận

là kim chỉ nam cho hoạt động thựctiễn), vai trò điều chỉnh hoạt động thựctiễn, làm cho hoạt động thực tiễn cóhiệu quả hơn Lý luận có vai trò tácđộng tích cực đối với thực tiễn, mộtkhi nó phản ánh đúng hiện thực kháchquan và thâm nhập được vào đông đảoquần chúng Nếu lý luận sai lầm, ảotưởng, chủ quan, giáo điều, kinhnghiệm sẽ tác động tiêu cực trở lạiđối với thực tiễn Cho nên, phải coitrọng lý luận nhưng không được coithường, hạ thấp thực tiễn và khôngtách rời lý luận khỏi thực tiễn

Từ mối quan hệ biện chứng giữa lýluận và thực tiễn, ta rút ra được quanđiểm thực tiễn Quan điểm thực tiễnđòi hỏi khi xem xét sự vật hiện tượngphải gắn với thực tiễn, phải theo sát sựphát triển của thực tiễn để điều chỉnhnhận thức cho sự phù hợp với sự pháttriển của thực tiễn, hiệu quả của thựctiễn để kiểm tra những kết luận củanhận thức, kiểm tra những luận điểmcủa lý luận Quan điểm thực tiễn cũngđòi hỏi những khái niệm của chúng ta

về sự vật phải được hình thành, bổsung và phát triển bằng con đườngthực tiễn, trên cơ sở thực tiễn chứkhông phải bằng con đường suy diễn

thuần túy, không phải bằng con đường

tự biện Do thực tiễn luôn vận động vàphát triển nên phải thường xuyên tổngkết quá trình vận dụng lý luận vàothực tiễn, xem nó thừa thiếu nhằm bổsung phát triển nó cho phù hợp

Vì vậy việc vi phạm sự thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn dẫn tới cănbệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnhgiáo điều

2 Ý nghĩa của nguyên tắc này trong việc ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều ở Việt Nam.

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

là một nguyên tắc căn bản của chủnghĩa Mác-Lênin Quán triệt nguyêntắc này, có ý nghĩa phương pháp luậnquan trọng trong việc đấu tranh ngănngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệmgiáo điều Như Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ:

“Thực tiễn không có lý luận hướngdẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lýluận mà không liên hệ với thực tiễn là

lý luận suông”

Kinh nghiệm đóng vai trò hết sức tolớn trong nhận thức cũng như tronghoạt động thực tiễn Nhưng nếu coikinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóakinh nghiệm, coi nhẹ lý luận, đề caothực tiễn, không chịu học tập lý luậnthì sẽ mắc bệnh kinh nghiệm Ngườimắc bệnh kinh nghiệm thì nhân danh

đề cao thực tiễn, hạ thấp lý luận, coithường lý luận Họ không hiểu đượcrằng: “Có kinh nghiệm mà không có

lý luận, cũng như một mắt sáng mộtmắt mờ” Bệnh kinh nghiệm có nhiềutác hại, dễ dẫn tới việc coi thường lýluận, coi thường việc học tập lý luận,coi nhẹ vai trò của cán bộ lý luận, củađội ngũ trí thức; dễ rơi vào lối suynghĩ đơn giản, tư duy áng chừng, đạikhái Trong hoạt động thực tiễn thì mò

mẫm, tùy tiện, sự vụ, bặp đâu hay đó,thiếu nhìn xa trông rộng

Bệnh kinh nghiệm ở nước ta cónhiều nguyên nhân khác nhau:

- Ảnh hưởng tiêu cực của XH nôngnghiệp cổ truyền: nền sản xuất nhỏ,nông nghiệp lúa nước, làm theo mùa

vụ, theo chu kỳ;

-Ảnh hưởng của tư tưởng phongkiến, tư tưởng tiểu tư sản, gia trưởngphong kiến;

-Ảnh hưởng của kinh nghiệm chiếntranh;

- Vi phạm nguyên tắc thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn, không nắmđược thực chất mối quan hệ biệnchứng giữa kinh nghiệm và lý luận

Để khắc phục và ngăn ngừa có hiệuquả căn bệnh này phải quán triệt tốttrên thực tế sự thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn, coi trọng cả lý luận vàthực tiễn; coi trọng công tác tổng kếtthực tiễn; nâng cao trình độ lý luậncho cán bộ, đảng viên và nhân dân;từng bước khắc phục triệt để tư tưởngphong kiến, tư tưởng tiểu tư sản Đồngthời tiếp tục đổi mới tư duy lý luận,đổi mới công tác lý luận theo tinh thầnNghị quyết TW V (khóa IX), Nghịquyết Đại hội X của Đảng)

Nếu cường điệu lý luận, coi nhẹthực tiễn, coi lý luận là bất di, bấtdịch, tách lý luận khỏi thực tiễn, vậndụng lý luận không căn cứ vào hoàncảnh lịch sử - cụ thể sẽ mắc phải bệnhgiáo điều Ở nước ta có hai loại giáođiều đó là giáo điều lý luận biểu hiện ởviệc học tập lý luận tách rời thực tiễn,

xa rời cuộc sống, rơi vào bệnh sách

vở, câu chữ, Giáo điều kinh nghiệmcủa nước khác vào nước mình, của địaphương khác vào địa phương mình, không tính đến những điều kiện lịch

4

Trang 5

sử cụ thể Bệnh giáo điều ở nước ta cĩ

nhiều nguyên nhân:

-Sự yếu kém về trình độ lý luận của

cán bộ, đảng viên và nhân dân;

-Ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế tập

trung quan liêu bao cấp tồn tại quá lâu;

-Ảnh hưởng của chủ nghĩa thành

tích, hình thức;

-Vi phạm nguyên tắc thống nhất

giữa lý luận và thực tiễn

Để khắc phục và ngăn ngừa cĩ hiệu

quả hai loại giáo điều này, chúng ta

phải từng bước nâng cao trình độ lý

luận, trình độ tư duy lý luận cho cán

bộ, đảng viên và nhân dân; hồn thiện

nền dân chủ XH chủ nghĩa; quán triệt

tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực

tiễn

Như vậy, cả bệnh kinh nghiệm và

bệnh giáo điều ở nước ta ngồi những

nguyên nhân khách quan cùng cĩ

chung một nguyên nhân: vi phạm sự

thống nhất giữa thực tiễn và lý luận

Đĩ là thực chất của cả hai căn bệnh

này Vì vậy, cùng với các giải pháp

khác thì quan trọng là phải quán triệt

tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực

tiễn

Quán triệt sự thống nhất giữa lý

luận và thực tiễn cĩ thể bằng nhiều

hình thức phong phú khác nhau như:

tổng kết thực tiễn; vận dụng các lý

thuyết khoa học vào sản xuất, vào cải

tạo XH; đẩy mạnh sự hợp tác giữa các

trung tâm nghiên cứu với các cơ sở

sản xuất’ tăng cường hợp tác giữa các

nhà lý luận và các nhà hoạt động thực

tiễn trong tổng kết kinh nghiệm thực

tiễn, Trong đĩ, tổng kết thức tiễn là

biện pháp cơ bản, trực tiếp, quan trọng

nhất Vì vậy, Đảng ta đề ra nhiệm vụ:

“Coi trọng tổng kết thực tiễn trong

nghiên cứu lý luận và trong hoạt động

của các cấp ủy đảng; coi tổng kết thựctiễn là nhiệm vụ thường xuyên của cáccấp, các ngành”

Tổng kết thực tiễn là quá trinh bằng

tư duy khoa học với phương pháp duyvật biện chứng phân tích, đánh giá,khái quát thực tiễn nhằm rút ra nhữngbài học cho chỉ đạo thực tiễn tiếp theo

Trên cơ sở của tổng kết thực tiễn,chúng ta mới thấy rõ những ưu điểmcủa kinh nghiệm thực tiễn, đồng thờiphát hiện hạn chế của nĩ, cĩ căn cứ đểkhơng ngừng xem xét lại, bổ sung, sửađổi, phát triển lý luận Đồng thời, cĩ

cơ sở để khái quát thành lý luận

Tổng kết thực tiễn giúp chúng takhơng bị dừng lại ở những tri thứckinh nghiệm cụ thể, cá biệt; khơng bịtrĩi buộc vào một thực tiễn cụ thể nhấtđịnh hay những tình huống cá biệt vớinhững cách thức, phương pháp hànhđộng cũ Cho nên, tổng kết thực tiễnvai trị hết sức quan trọng trong việcphát triển lý luận, khắc phục hết bệnhkinh nghiệm và bệnh giáo điều Đồngthời, tổng kết thực tiễn đĩng gĩp phầnđảm bảo trên thực tiễn sự thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn Để tổng kếtthực tiễn cĩ hiệu quả thì phải đảm bảođược ba yêu cầu cơ bản: tính kháchquan; tính khái quát cao và tính mụcđích đúng đắn

Yêu cầu khách quan trong tổng kếtthực tiễn địi hỏi phải quán triệt tốtquan điểm duy vật biện chứng và phải

cĩ thái độ trung thực, để tránh tổngkết thực tiễn theo kiểu “tơ hồng” hoặc

“bơi đen” Yêu cầu khách quan cũngđịi hỏi khơng được lấy ý đồ cĩ sẵncủa người tổng kết thực tiễn để áp đặtcho việc tổng kết thực tiễn, cũngkhơng được lấy việc tổng kết thực tiễn

để “chứng minh” cho ý muốn chủquan cá nhân Phải tơn trọng kết quả

tổng kết thực tiễn, dù kết quả đĩ cĩtrái với mong muốn chủ quan Cầnphải khắc phục tình trạng là khi tổngkết thực tiễn hoặc chỉ đổ lỗi cho hồncảnh khách quan, hoặc chỉ đổ lỗi chonhững thiếu sĩt, khuyết điểm chủquan Bởi lẽ, cả hai xu hướng này đều

vi phạm nghiêm trọng yêu cầu kháchquan trong tổng kết thực tiễn

Tính khái quát trong tổng kết thựctiễn địi hỏi qua phân tích, đánh giá,xem xét các sự kiện thực tế, khi tổngkết kinh nghiệm thực tiễn phải rút rađược kết luận cĩ tính quy luật, tức lànắm được các mối liên hệ bản chấtnhất Những kết luận được rút ra từthực tiễn cĩ tính khái quát cao lànhững kết luận phải cĩ tính phổ biến,tính điển hình và phải cĩ giá trị thựctiễn cao, tức là chúng cĩ tác dụng địnhhướng, dẫn đường, chỉ đạo cho hoạtđộng thực tiễn khơng chỉ trước mắt màcịn cho giai đoạn tiếp theo Đồng thời,chúng gĩp phần vào việc bổ sung,hồn chỉnh, phát triển lý luận

Tính mục đích đúng đắn địi hỏitổng kết thực tiễn, dù ở cấp nào, đềuphải phục vụ cho mục đích xây dựngthành cơng chủ nghĩa XH, phát triểnchủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HồChí Minh trong điều kiện mới Mọibiểu hiện xa rời những mục tiêu trên,như chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơhội, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa thànhtích, chủ nghĩa hình thức, tư tưởng cụcbộ, đều làm cho tổng kết thực tiễnbiến dạng nghiêm trọng Như vậy sẽkhơng quán triệt được thực tế thốngnhất giữa lý luận và thực tiễn

Cùng với việc quán triệt tốt nhữngyêu cầu trên trong tổng kết thực tiễn,chúng ta cịn phải thực hiện tốt quytrình tổng kết thực tiễn Quy trình tổngkết thực tiễn gồm các bước cơ bản:

xác định mục đích và lựa chọn đúngvấn đề cần tổng kết; lập chương trình

kế hoạch, tổ chức lực lượng tổng kết;

tiến hành điều tra, thu thập tư liệu,khảo sát thực tế; xử lý thơng tin, phântích tư liệu, dữ liệu, rút ra kế hoạch vàhướng dẫn vận dụng

Những giải pháp khắc phục bệnhkinh nghiệm và bệnh giáo điều cĩquan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy,thực hiện chúng phải đồng bộ, nhấtquán Cĩ như vậy, chúng mới mang lạihiệu quả thiết thực

Khi cĩ lý luận thì phải vận dụng vào thực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn để làm giàu lý luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới Chỉ thơng qua quy trình như vậy thì lý luận mới gắn với thực tiễn, mới khơng trở thành giáo điều Đồng thời thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo bởi lý luận sẽ khơng bị

Từ những sai lầm về việc vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, không nắm được thực chất mối quan hệ biện chứng giữa kinh nghiệm và lý luận đã dẫn đến bệnh kinh nghiệm, giáo điều như phân tích

ở trên Đĩ là một trong số rất nhiều căn bệnh dẫn tới cái giá mà những người cộng sản đã phải trả quá đắt, đó là sự tan vở của hệ thống xã hội chủ nghĩa, sự thóai trào của phong trào công sản và công nhân quốc tế Đó là bài học xương máu mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã rút ra được để tiến hành họach định và thực hiện đường lối đổi mới từ Đại Hội tòan quốc của Đảng lần thứ 6 đến nay Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục tổng kết từ sự vận động của thực tiễn

5

Trang 6

trong nước và trên thế giới đã khẳng

định một trong những bài học chủ

yếu đưa công cuộc đổi mới ở nước ta

đi đến thắng lợi là : “ đường lối đúng

đắn của Đảng là nhân tố quyết định

thành công của đổi mới Đảng khởi

xướng và lãnh đạo công cuộc đổi

mới, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu

lý luận, hòan thiện đường lối đổi

mới; thường xuyên xây dựng, chỉnh

đốn Đảng, tạo ra sự thống nhất về

quan điểm, ý chí và hành động trong

tòan Đảng; lãnh đạo tổ chức thực

hiện, xây dựng và kiện tòan bộ máy

nhà nước trong sạch, vững mạnh”.

( VK-ĐHĐBTQ lần thứ IX – NXB –

CTQG, H.2001, trang 82 ) /.

II KINH TẾ CHÍNH TRỊ:

Câu 3: Hai con đường phát triển

TBCN trong nơng nghiệp Đặc điểm của tư bản kinh doanh nơng nghiệp.

Bản chất và các hình thức địa tơ TBCN Sự tiến bộ của địa tơ TBCN

so với địa tơ phong kiến.

Trong lịch sử, CNTB trong nơngnghiệp hình thành theo hai con đườngđiển hình:

Thứ nhất, bằng cải cách tuần tựchuyển kinh tế địa chủ phong kiếnsang kinh doanh theo phương thứcTBCN, sử dụng lao động làm thuê Đĩ

là con đường của các nước Đức, Italia,Nhật, Nga

Thứ hai: bằng cuộc cách mạng dânchủ tư sản, xĩa bỏ chế độ kinh tế địachủ phong kiến, thủ tiêu quyền sở hữuruộng đất phong kiến, phát triểnCNTB trong nơng nghiệp Đĩ là conđường diễn ra ở các nước Pháp

2 Đặc điểm của tư bản kinh doanh nơng nghiệp

Đặc điểm nổi bật của QHSX TBCNtrong nơng nghiệp là chế độ độcquyền sở hữu ruộng đất và độc quyềnkinh doanh ruộng đất Cả hai loại độc

quyền ruộng đất đã ngăn cản tự docạnh tranh trong nơng nghiệp

Về quan hệ XH đối với ruộng đấttrong CNTB, nếu khơng kể đến một số

ít nơng dân cá thể tự canh tác trênmảnh đất của họ thì bao gồm ba giaicấp: địa chủ (là người sở hữu ruộngđất, nhưng khơng trực tiếp kinh doanh

mà cho thuê đất), tư bản kinh doanhnơng nghiệp (là người thuê ruộng đấtcủa địa chủ để kinh doanh theophương thức TBCN) và cơngnhân nơng nghiệp (là người lao độnglàm thuê cho các nhà tư bản kinhdoanh nơng nghiệp)

Cơng nhân nơng nghiệp là thànhphần trực tiếp canh tác ruộng đất vàtạo ra giá trị thặng dư cho tư bảnkinhdoanh nơng nghiệp dưới hình thức lợinhuận nơng nghiệp Tư bản kinhdoanh nơng nghiệp hưởng lợi nhuậnbình quân., Địa chủ sở hữu ruộng đấthưởng địa tơ

3 Bản chất và các hình thức địa tơ TBCN

a Khái niệm địa tơ TBCN:

Trong CNTB, người thực sự canhtác ruộng đất là những người lao độnglàm thuê, nhà tư bản muốn kinhdoanh trong nơng nghiệp thì phải thuêruộng đất của địa chủ Vì vậy ngồi lợinhuận bình quân ra, nhà tư bản kinhdoanh nơng nghiệp cịn phải thu thêmđược một phần giá tri thặng dư dơi ranữa tức là lợi nhuận siêu ngạch để nộpcho chủ đất Khoản lợi nhuận siêungạch này phải được đảm bảo thườngxuyên và tương đối ổn định Đĩ là địa

tơ TBCN

b Bản chất của địa tơ TBCN:

Địa tơ TBCN là bộ phận lợi nhuậnsiêu ngạch do cơng nhân làm thuêtrong nơng nghiệp tạo ra ( tức bộ phận

giá trị thặng dư sau khi trừ đi lợinhuận bình quân của tư bản đầu tư vàonơng nghiệp) và do nhà tư bản thuêđất nộp cho chủ sở hữu ruộng đất

Địa tơ TBCN phản ánh quan hệ bagiai cấp cơ bản Biểu hiện quan hệgiữa địa chủ với nhà tư bản kinhdoanh nơng nghiệp trong việc chianhau giá trị thặng dư do cơng nhânnơng nghiệp tạo ra, mặt khác biểu hiệnquan hệ bĩc lột giữa địa chủ với laođộng làm thuê trong nơng nghiệp

c Các hình thức địa tơ của TBCN:

Địa tơ TBCN cĩ các hình thức cơbản:

* Địa tơ chênh lệch: Trong ngành

nơng nghiệp cũng như cơng nghiệpđều cĩ lợi nhuận siêu ngạch Trongcơng nghiệp lợi nhuận siêu ngạch chỉ

là hiện tượng tạm thời đối với các nhà

tư bản cá biệt nào đĩ cĩ được do điềukiện sản xuất tốt hơn điều kiện sảnxuất trung bình của XH, cịn trongnơng nghiệp nĩ luơn tồn tại tương đốidài và ổn định

-Trong sản xuất nơng nghiệp, ruộngđất là TLSX cơ bản, nĩ cĩ đặc điểm là

cĩ diện tích giới hạn, vị trí cố định vàtốt xấu khác nhau Người ta khơng thểtạo thêm được ruộng đất tốt cĩ điềukiện canh tác thuận lợi Trong khi đĩhầu hết ruộng đất đã bị độc quyền kinhdoanh Do đĩ những người kinh doanhtrên ruộng đất tốt, cĩ điều kiện sảnxuất thuận lợi sẽ sử dụng được sức tựnhiên một cách độc quyền nên luơnthu được lợi nhuận siêu ngạch ổn địnhlâu dài

-Khác với trong lĩnh vực cơngnghiệp, trong nơng nghiệp giá cả sảnxuất chung của nơng phẩm do điềukiện sản xuất xấu nhất quyết định

Bởi vì, nếu chỉ canh tác trên ruộng đấttốt và trung bình thì sẽ khơng đủ nơng

phẩm cho nhu cầu XH mà phải canhtác trên cả ruộng đất xấu Do đĩ giá cảsản xuất chung phải đảm bảo cho tưbản đầu tư trên ruộng xấu cũng thuđược lợi nhuận bình quân Như vậy,các nhà tư bản kinh doanh trên ruộngđất trung bình và tốt đều thu được lợi

nhuận siêu ngạch Như vậy địa tơ

chênh lệch là những phần lợi nhuận siêu ngạch ngồi lợi nhận bình quân thu được trên những ruộng đất tốt và trung bình, là số chênh lệch giữa giá

cả sản xuất chung của nơng phẩm được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả cá biệt trên ruộng đất trung bình và tốt

Nguồn gốc của địa tơ và địa tơchênh lệch khơng phải do độ màu mỡcủa ruộng đất sinh ra mà do lao độngthặng dư của cơng nhân nơng nghiệptạo ra Màu mỡ ruộng đất chỉ là điềukiện tự nhiên để cho lao động củacơng nhân cĩ năng suất cá biệt caohơn và là điều kiện để hình thành lợinhuận siêu ngạch Địa tơ chênh lệchgắn liền với độc quyền kinh doanhTBCN về ruộng đất Nĩi cách khác nĩsinh ra là do cĩ sự độc quyền kinhdoanh ruộng đất theo lối TBCN.Khơng cĩ sự độc quyền về sức tựnhiên thì khơng cĩ bất cứ lợi nhuậnsiêu ngạch Địa tơ chênh lệch vì thếkhơng tham gia tham gia hình thànhgiá trị nơng phẩm Chế độ tư hữuruộng đất cũng khơng phải nguyênnhân sinh ra lợi nhuận siêu ngạch mà

là nguyên nhân làm cho mọi lợi nhuậnsiêu ngạch chuyển hố thành địa tơ,tức là làm cho địa chủ chiếm lợi nhuậnsiêu ngạch đĩ

Địa tơ chênh lệch cĩ hai loại đĩ là:địa tơ chênh lệch I và địa tơ chênh lệch

II

6

Trang 7

+ Địa tô chênh lệch I là địa tô thu

được trên cơ sở đất đai có điều kiện tự

nhiên thuận lợi (như ruộng đất màu

mỡ hoặc ở vị trí thuận lợi gần nơi tiêu

thụ hay đường giao thông thuận tiện )

Như vậy hai yếu tố làm cơ sở xuất

hiện địa tô chênh lệch I có thể phát

sinh tác dụng ngược chiều nhau: Đất

tốt ở xa hoặc ngược lại Địa tô chệnh

lệch gắn với điều kiện tự nhiên thuận

lợi bị độc chiếm Do vậy, nó thuộc về

chủ ruộngđất

+ Địa tô chênh lệch II là địa tô do

thâm canh mà có

Thâm canh ruộng đất là đầu tư thêm

tư bản để tăng thêm một cách hợp lí

TLSX, sức lao động, cải tiến kỹ thuật

vào một đơn vị diện tích để cải tạo đất

đai, nâng cao chất lượng canh tác

nhằm tăng năng suất lao động, năng

suất ruộng đất và chất lượng sản

phẩm Khi năng suất lần đầu tư thêm

lớn hơn năng suất tư bản đầu tư trên

ruộng đất xấu nhất thì có được địa tô

chênh lệch II Vì lợi nhuận siêu ngạch

của loại này có được là kết quả được

đầu tư thêm tư bản, cho nên chừng

nào thời hạn hợp đồng thuê ruộng đất

vẫn còn thì nó thuộc về tư bản kinh

doanh ruộng đất Nhưng khi hợp đồng

hết hạn thì địa chủ sẽ tìm mọi cách để

nâng mức địa tô lên để chiếm lấy lợi

nhuận siêu ngạch, biến nó thành địa tô

chênh lệch I Chính vì vậy mà địa chủ

chỉ muốn cho thuê ngắn hạn, còn nhà

tư bản muốn thuê ruộng đất dài hạn

Đồng thời cũng vì lẽ đó các nhà tư bản

không muốn bỏ tư bản lớn đầu tư thâm

canh, họ tìm cách khai thác triệt để độ

màu mỡ của ruộng đất trong thời gian

hợp đồng C.Mác đã chỉ ra rằng: mỗi

một bước tiến của nền nông nghiệp

TBCN không những là một bước tiến

trong nghệ thuật bóc lột công nhân,

đồng thời còn là một bước tiến trongnghệ thuật bóc lột đất đai.Sự giànhgiật khoản địa tô này giưuã chủ ruộngđất và nhà tư bản kinh doanh thuê đất

đã có thời kỳ làm cho đất đai ngàycàng bị bạc màu đi Đó không phải làqui luật của tự nhiên, mà là xu hướngchịu sự tác động của quan hệ kinh tếtrong nông nghiệp

* Địa tô tuyệt đối: Là địa tô mà tất

cả các nhà tư bản kinh doanh nôngnghiệp đều phải nộp cho địa chủ dùruộng đất tốt hay xấu Đây là loại tôthu trên tất cả mọi thứ ruộng đất.Vậy

tư bản kinh doanh trên ruộng đất xấulấy gì để nộp tô? Hiển nhiên không thểlấy trong số lợi nhuận bình quân, màphải là số lợi nhuận ngoài lợi nhuậnbình quân đó là lợi nhuận siêu ngạch

Vấn đề đặt ra là làm sao kinh doanhtrên ruộng đất xấu cũng có được lợinhuận siêu ngạch?

Dưới CNTB lĩnh vực nông nghiệplạc hậu hơn so với lĩnh vực côngnghiệp về kinh tế và kĩ thuật, nên cấutạo hữu cơ của tư bản trong nôngnghiệp thấp hơn trong công nghiệp Vìvậy nếu tỷ suất giá trị thặng dư bằngnhau thì tư bản bằng nhau đầu tư trongnông nghiệp sẽ thu được nhiều giá trịthặng dư hơn trong công nghiệp Do

sự độc quyền tư hữu ruộng đất đã ngăncản quá trình tự do di chuyển tư bảnvào nông nghiệp, do đó đã ngăn cảnviệc hình thành lợi nhuận bình quânchung giữa công nghiệp và nôngnghiệp Nông sản được bán theo giáthị trường vì thế số giá trị thặng dư dôi

ra ngoài lợi nhuận bình quân không bịbình quân hoá mà được giữ lại để nộpđịa tô tuyệt đối cho địa chủ

Vậy địa tô tuyệt đối là lợi nhuận

siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư

bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, mà bất cứ nhà tư bản thuê loại ruộng đất nào đều phải nộp cho địa chủ.

Đó là số chênh lệch giữa giá trị củanông phẩm với giá cả sản xuất chungcủa nông phẩm

Độc quyền tư hữu ruộng đất lànguyên nhân làm cho lợi nhuận siêungạch hình thành trong nông nghiệp

và làm cho nó chuyển thành địa tô

Do đó nếu không còn chế độ độcquyền tư hữu ruộng đất thì địa tô này

sẽ bị xoá bỏ, giá cả nông sản sẽ bị hạxuống có lợi cho người tiêu dùng

Địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đốigiống nhau ở chỗ: cả hai đều là lợinhuận siêu ngạch, đều có chung nguồngốc và bản chất là một bộ phận giá trịthặng dư do lao động của công nhânnông nghiệp tạo ra Do đó chúng đềuphản ánh quan hệ bóc lột TBCN

Nhưng chúng khác ở chỗ, nếu nhưnguyên nhân sinh ra địa tô chêng lệch

là độc quyền kinh doanh ruộng đất thìđối với địa tô tuyệt đối lại là độcquyền sở hữu ruộng đất Nếu nhưđiều kiện hình thành địa tô chênh lệch

là điều kiện thuận lợi của đất đai thìđối với địa tô tuyệt đối lại là cấu tạohữu cơ của tư bản trong nông nghiệpthấp hơn trong công nghiệp Địa tôchênh lệch không tham gia hình thànhgiá nông phẩm

* Địa tô đất xây dựng, địa tô hầm

mỏ, địa tô độc quyền

+ Địa tô đất xây dựng:

Địa tô đất xây dựng về cơ bản đượchình thành như địa tô đất nông nghiệp

do những tư bản cố định sáp nhật vàoruộng đất ngày càng tăng lên

Loại địa tô này nêu bật tinh chất ănbám của giai cấp địa chủ, tính chất phi

lý của chế độ tưu hữu đất đai

+ Địa tô hầm mỏ:

Đất hầm mỏ có khoáng sản cũngđem lại địa tô chênh lệch và địa tôtuyệt đối cho người sở hữu đất đai ấy

Địa tô hầm mỏ cũng hình thành vàđược quyết định như địa tô đất nôngnghiệp Đối với địa tô hầm mỏ, giá trịcủa khoáng sản, hàm lượng, trữ lượngcủa khoáng sản, vị trí và điều kiệnkhai thác là những yếu tố quyết định

+ Địa tô độc quyền:

Địa tô luôn gắn liền với độc quyền

sở hữu ruộng đất, độc chiếm các điềukiện tự nhiên thuận lợi, cản trở sựcạnh tranh của tư bản, tạo nên giá cảđộc quyền của nông sản Tuy nhiên,

có những loại đất có thể trồng nhữngloại cây cho những sản phẩm quýhiếm, có giá trị cao hay có nhữngkhoáng sản đặc biệt có giá trị, thì địa

tô của những đất đai đó sẽ rất cao, cóthể xem đó là địa tô độc quyền Nguồngốc của địa tô độc quyên này cũng làlợi nhuận siêu ngạch do giá cả độcquyền cao của sản phẩm thu được trênđất đai ấy mà nhà tư bản phải nộp chođịa chủ, người chủ sở hữu đất đai đó

4 Sự tiến bộ của địa tô TBCN so với địa tô Phong kiến

-Giữa địa tô tư bản chủ nghĩa và địa

tô phong kiến có điểm giống nhau vàkhác nhau:

Sự giống nhau trước hết là quyền sởhữu ruộng đất, được thực hiện về mặtkinh tế, tức là đem lại thu nhập.Cả hailoại địa tô đều là kết quả của sự bóclột đối với người lao động

Song hai loại địa tô trên khác nhau

về lượng và chất:

+Về mặt lượng: địa tô phong kiếngồm toàn bộ sản phẩm thặng dư donông dân tạo ra và bị chúa phong kiếnchiếm đoạt, có khi còn lạm cả vàophần sản phẩm cần thiết Địa tô TBCN

là một phần sản phẩm thặng dư dôi rangoài lợi nhuận bình quân và do nhà

tư bản kinh doanh nông nghiệp trả chođịa chủ Đây cũng chính là sự tiến bộcủa địa tô TBCN so với địa tô phongkiến

+Về mặt chất: địa tô phong kiếnphản ánh quan hệ của hai giai cấp, địachủ và nông dân Địa tô TBCN phảnánh quan hệ giữa ba giai cấp: địa chủ,

tư bản kinh doanh nông nghiệp vàcông nhân nông nghiệp làm thuê.Địa tô phong kiến dựa trên sựcưỡng bức siêu kinh tế của địa chủ vớinông dân, thì địa tô TBCN dựa trên cơ

sở quan hệ kinh tế giữa địa chủ và tưbản, giữa tư bản với người lao độnglàm thuê

Trong CNTB, có các loại địa tô: địa

tô chênh lệch, địa tô tuyệt đối và địa tôđộc quyền

-Sự tiến bộ củã địa tô tư bản chủnghĩa so với địa tô phong kiến:Nếu như địa tô phong kiến là toàn

bộ sản phẩm thặng dư và nhiều khilạm cả vào phần sản phẩm tất yếu củangười nông dân lao động thì địa tô tưbản chủ nghĩa là phần giá trị thặng dưdôi ra ngoài phần lợi nhuận bình quân.Hơn nữa, địa tô TBCN phản ánh sựphát triển của QHSX TBCN trong

7

Trang 8

điều kiện trình độ phát triển của LLSX

của CNTB Xét về mặt phát triển thì

CNTB tiến bộ hơn so với phong kiến

trước đó

5.Vì sao C.Mác khẳng định rằng:

“ Công lao lớn của phương thức sản

xuất TBCN là làm cho quyền sở hữu

ruộng đất trở thành một điều phi lý ”

Quyền sở hữu ruộng đất về nguyên

tắc chỉ liên quan trực tiếp đến việc thu

địa tô CNTB đã hoàn thành việc tách

rời quyền sở hữu khỏi quyền sử dụng

đất đai và người chủ đất có thể cả đời

sống ở TP mà không cần biết kinh

doanh trên ruộng đất ngoài việc thu

địa tô Vì thế, C.Mác viết: “Những

công lao lớn của phương thức sản

xuất TBCN là, một mặt thì hợp lý hóa

nông nghiệp, việc hợp lý hóa này lần

đầu tiên đã tạo khả năng kinh doanh

nông nghiệp theo phương thức XH, và

mặt khác làm cho quyền sở hữu (tư

hữu) ruộng đất trở thành một điều phi

lý” Trong khi đó, thực hiện các quyền

chiếm hữu và sử dụng ruộng đất lại

gắn trực tiếp với việc khai thác, canh

tác trên đất đai, nó là một điều kiện tất

yếu cho sản xuất vì ruộng đất là tư liệu

lao động quan trọng của nông nghiệp

Bởi vậy, để khuyến khích thâm canh

và đầu tư dài hạn, pháp luật các

nước phải quy định thời hạn lâu dài,

điều kiện ổn định và bảo hộ đầy

đủ cho chủ thể thực hiện các quyền

này

6 Từ lý luận địa tô của C.Mác liên

hệ với thực tiễn quản lý đất đai hiện

nay ở nước ta.

Lý luận địa tô TBCN của C.Mác

không chỉ vạch rõ bản chất QHSX

TBCN trong nông nghiệp mà còn là cơ

sở khoa học để xây dựng các chính

sách kinh tế liên quan đến thuế, đến

điều tiết các loại địa tô, đến giải quyết

các quan hệ đất đai, Tất cả nhằm kếthợp hài hòa các lợi ích, khuyến khíchthâm canh, sử dụng đất đai tiết kiệm,phát triển một nền nông nghiệp hànghóa sinh thái bền vững

Trong chủ nghĩa XH, khi ruộng đấtthuộc sở hữu toàn dân, không còn là tưhữu của địa chủ hay nhà tư bản, thìnhững cơ sở kinh tế để hình thành địa

tô tuyệt đối và địa tô độc quyền cũng

bị xoá bỏ, nhưng vẫn tồn lại địa tôchênh lệch, song nó thuộc sở hữu củanhà nước và khác về bản chất với địa

tô chênh lệch dưới CNTB

Ở Việt Nam với chiến thắng lịch sửĐiện biên phủ (07/5/1954) kết thúccuộc chiến tranh xâm lược của thựcdân Pháp Đảng và Nhà nước ta đãtiến hành cuộc cải cách ruộng đất,quốc hữu hóa ruộng đất của địa chủphong kiến chia cho nông dân xâydựng hợp tác xã nông nghiệp Đầu tiênnhững năm 60 của thế kỷ 20, nhiệm vụcách mạng của nước ta là: xây dựngchủ nghĩa và XH ở miền Bắc và tiếptục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

ở miền Nam để tiến tới thống nhất đấtnước cùng đi lên CNXH

Chúng ta đang ở thời kỳ quá độ lênCNXH với điểm xuất phát thấp Nướcnông nghiệp lạc hậu, tiến lên CNXH

bỏ qua giai đoạn TBCN, lại phải tiếnhành hai cuộc kháng chiến với thựcdân Pháp, đế quốc Mỹ trong thời giandài Chính vì vậy vấn đề quản lý đất,các chính sách về đất đai chúng takhông có điều kiện thực hiện sớm

Mãi đến năm 1993 chúng ta mới cóLuật đất đai Đồng thời được sửa đổi,

bổ sung vào năm 1998, 2001 và ngày10/12/2003 Chủ tịch nước Cộng hòaXHCN VN ký lệnh công bố Luật đấtđai - Được Quốc hội khóa XI, kỳ họpthứ tư thông qua ngày 26/11/2003

Luật này được sửa đổi, bổ sung hoànchỉnh hơn

Về vấn đề sở hữu đất đai, trước khi

có Luật đất đai và sau khi có Luật nàyđều khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữutoàn dân do nhà nước đại diện chủ sởhữu” Nhà nước thực hiện quyền địnhđoạt đối với đất đai: quyết định mụcđích sử dụng đất; quy định về hạn mứcgiao đất, thời hạn sử dụng đất; địnhgiá đất Nhà nước thực hiện quyềnđiều tiết các nguồn lợi đất đai thôngqua các chính sách tài chính

Trong thời gian dài sống trong thời

kỳ cơ chế kế hoạch tập trung quan liêubao cấp; ruộng đất nông nghiệp đượcNhà nước giao cho chủ sử dụng đất làhợp tác xã Nông nghiệp Với suy nghĩcủa xã viên hợp tác xã là: ruộng đấtcủa hợp tác xã, đi làm theo cách

“Đánh kẻng ghi tên” vì vậy khôngphát huy được năng xuất của ruộngđất, năng xuất của cây trồng, bỏ phínhiều ruộng đất hoang không khuyếnkhích được người nông dân, xã viênhợp tác xã tích cực lao động

Từ khi có cơ chế khoán 100, tuy đã

có đổi mới nhưng khoán theo vụ, theonăm (gần như thời gian hợp đồng rấtngắn) Nông dân không giám đầu tưnhiều mà chỉ tích cực sử dụng phânhóa học bón cho cây trồng để nhằmtăng năng suất Xong lại làm cho đấtbạc màu đi, giá phân bón lên cao Khi

cơ chế khoán 10, giao ruộng đất lâunăm đã tạo điều kiện cho nông dângiám đầu tư, thâm canh để tăng năngxuất cây trồng, sử dụng đất có hiệuquả

Mấy năm gần đây, Đảng và Nhànước có chủ trương đổi thửa, dồnnhiều ô thửa nhỏ thành nhiều ô thửalớn; chuyển dịch cơ cấu kinh tế trongnông nghiệp đặc biệt là chuyển ruộng

đất cấy lúa kém hiệu quả sang sản xuất

đa canh nhằm nâng cao hiệu quả kinh

tế trên một đơn vị diện tích

Những việc làm trên của Đảng vàNhà nước ta đối với nông nghiệp,nông thôn và nông dân đã làm rõ haivấn đề về sở hữu đất và quyền sử dụngđất, giúp cho nông dân đầu tư có hiệuquả trên những thửa ruộng của mình,

áp dụng các ứng dụng KHKT để tăngnăng suất

Chính vì vậy năng suất lúa, câytrồng tăng lên; diện tích đất nôngnghiệp được sử dụng hết và giao chonông dân Đất nước ta, trước đây lànước thiếu gạo, dân còn đói ăn Nhữngnăm gần đây Việt Nam đã đủ gạo vàthừa gạo để xuất khẩu, là nước đứngthứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo

Về vấn đề đất đai, đất nông nghiệp

đã được Nhà nước quản lý chặt chẽhơn, đề ra các chính sách phù hợp vớithời kỳ kinh tế thị trường nhiều thànhphần kinh tế có định hướng XHCNnhư giá đất, các chính sách tài chính

về đất: thu tiền sử dụng đất, tiền thuêđất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từchuyển quyền sử dụng đất, điều tiếtphần giá trị tăng thêm từ đất mà không

do đầu tư của người sử dụng đất manglại,

Nhà nước đã thực hiện chuyểnquyền sử dụng ruộng đất lâu dài chonông dân, và người sử dụng đất phảinộp thuế sử dụng đất; cho người nướcngoài thuê đất để lập doanh nghiệphay để xây dựng trụ sở cơ quan ngoạigiao; cho phép các tổ chức, cá nhânngười Việt Nam tham gia xí nghiệpliên doanh với người nước ngoài đượcgóp vốn pháp định bằng giá trị đất sửdụng

Ta nhận thức được rằng, tuy hìnhthức địa tô tuyệt đối không còn, nhưng

ruộng đất vẫn là một TLSX có giá trị

và người sử dụng vẫn phải trả giá như

là một loại địa tô

Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX BanChấp hành TW Đảng khóa IX đã tiếptục khẳng định: “Hướng dẫn thi hànhLuật Đất đai (sửa đổi) và các văn bảnpháp luật có liên quan khác để pháttriển và quản lý có hiệu quả thị trườngbất động sản; áp dụng những biệnpháp mạnh mẽ, đồng bộ để xóa baocấp về đất, chống đầu cơ trục lợi, kíchcầu ảo, gây khan hiếm “sốt” nhà đấtgiả tạo, tham nhũng, chiếm dụng tráiphép và lãng phí về đất đai”

Nghiên cứu sâu sắc lý luận địa tôTBCN của Mác và thực tiễn quản lýđất đai nông nghiệp Với sự lãnh đạocủa Đảng, trên lộ trình quá độ tiến lênCNXH,chắc chắn kinh tế nông nghiệp,quản lý đất đai góp phần thắng lợitrong chiến lược phát triển KT-XH củađất nước

8

Trang 9

III CNXH KHOA HỌC

Câu 4: Dân chủ XH chủ nghĩa và

xây dựng nền dân chủ XH chủ nghĩa

ở Việt Nam hiện nay.

Trả lời

Dân chủ xuất hiện từ khi XH có chế

độ tư hữu, có giai cấp, xuất hiện sự

thống trị của giai cấp này đối với giai

cấp khác trong XH Nhà nước dân chủ

chủ nô đầu tiên xuất hiện ở Aten-Hi

lạp cổ đại và chính thức sử dụng danh

từ “dân chủ - Demokratia”, trong đó

demos là “nhân dân” và kratos là

chính quyền hay “quyền lực” Có

nghĩa là Nhà nước dân chủ chủ nô có

“quyền lực của dân” Theo nguyên

nghĩa của nó, dân chủ có nghĩa là

quyền lực của nhân dân, nó nói lên

rằng nhân dân là chủ thể của quyền

lực Nhưng dân theo quy định của

pháp luật gồm giai cấp chủ nô, tăng lữ,

thương gia, một số trí thức và người tự

do, còn đại đa số là nô lệ thì không

được coi là dân Như vậy, về thực chất

giai cấp bóc lột đầu tiên đã lập ra Nhà

nước và luật pháp, lạm dụng khái niệm

dân chủ để chiếm lấy quyền lực thực

sự của nhân dân lao động

Trong suốt chiều dài lịch sử, khi

Nhà nước nằm trong tay giai cấp bóc

lột thì dù có mang tên dân chủ nhưng

thực chất vẫn không phải là Nhà nước

thực hiện quyền lực thực sự của nhân

dân, nó chỉ phục vụ quyền và lợi cho

một số thiểu số thống trị mà thôi Chỉ

đến cách mạng XHCN Tháng 10 Nga

thắng lợi, mở ra thời đại mới, khi đó

nhân dân lao động mới thực sự giành

được chính quyền, giành lại những

TLSX chủ yếu của XH, giành lại

quyền lực thực sự của mình, lập ra

Nhà nước dân chủ XHCN Khi đó dân

chủ mới đúng nghĩa là nhân dân lao

động làm chủ

Tóm lại, nhân loại từ lâu đời đã cónhu cầu và bước đầu thực hiện dânchủ và có quan niệm về dân chủ, đó làviệc thực thi quyền lực của dân Đây

là một khái niệm lịch sử, tuy nhiên dân

là những ai, còn do bản chất của chế

độ XH quy định, nhất là từ khi XHphân chia thành giai cấp, thì dân còn

do bản chất giai cấp thống trị XH quyđịnh cụ thể trong từng XH nhất định

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nêu quanniệm về dân chủ với các luận điểm cơbản sau:

Thứ nhất: Kế thừa những thành tựu

dân chủ mà nhân loại đã đạt được trên

cả hai phương diện lý luận và thựctiễn, chủ nghĩa Mác-Lê nin cho rằng:

Dân chủ là một nhu cầu khách quancủa nhân dân lao động, dân chủ làquyền lực thuộc về nhân dân lao động

Thứ hai: Khi XH có giai cấp, mọi

chế độ dân chủ gắn với Nhà nước đềumang bản chất giai cấp thống trị XH

Lịch sử nhân loại từng chứng kiến cáckiểu dân chủ khác nhau: Dân chủ chủ

nô, dân chủ tư sản, dân chủ XHCN Vìvậy, dân chủ không phải phạm trù bấtbiến, ngược lại nó là phạm trù lịch sử,phạm trù chính trị

Thứ ba: Từ khi có Nhà nước, dân

chủ còn có ý nghĩa là một hình thứcNhà nước, trong đó có chế độ bầu cử,bãi miễn các thành viên Nhà nước, cóquản lý XH theo pháp luật và thừanhận ở Nhà nước đó quyền lực thuộc

về nhân dân (theo quan niệm của giaicấp thống trị), gắn với một hệ thốngchuyên chính của giai cấp thống trị

XH đó

Thứ tư: Với một chế độ dân chủ và

Nhà nước tương ứng, đều do giai cấpthống trị cầm quyền chi phối tất cả cáclĩnh vực của toàn XH, do vậy tính giaicấp cũng gắn liền và chi phối tính dân

tộc, tính chất của chế độ chính trị, kinh

tế, văn hóa, XH … ở mỗi quốc gia,dân tộc cụ thể

Về bản chất của nền dân chủ XHCN.

Theo chủ nghĩa Mác-Lênin thì:

chuyên chính vô sản và dân chủXHCN về căn bản là thống nhất TừĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,Đảng ta thống nhất gọi chuyên chính

vô sản là nền dân chủ XHCN (Vẫnthực hiện nội dung cơ bản của chuyênchính vô sản)

Ta có thể khái quát về bản chất củanền dân chủ XHCN như sau:

Bản chất chính trị: Dưới sự lãnh

đạo duy nhất của một đảng của giaicấp công nhân-đảng Mác-Lênin màtrên mọi lĩnh vực XH đều thực hiệnquyền lực của nhân dân, thể hiện quacác quyền dân chủ, làm chủ, quyềncon người, thỏa mãn ngày càng caohơn các nhu cầu và các lợi ích củanhân dân

Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ: Bảnchất chính trị của nền dân chủ XHCN

là sự lãnh đạo chính trị của giai cấpcông nhân thông qua đảng của nó đốivới toàn XH, nhưng không phải chỉ đểthực hiện quyền lực và lợi ích riêngcho giai cấp công nhân, mà chủ yếu là

để thực hiện quyền lực và lợi ích củatoàn thể nhân dân, trong đó có giai cấpcông nhân

Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: Trongchế độ dân chủ XHCN thì bao nhiệuquyền lực đều là của dân, bao nhiêusức mạnh đều ở nơi dân, bao nhiêu lợiích đều là vì dân… Chế độ dân chủXHCN, Nhà nước XHCN do đó vềthực chất là của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân Cuộc cách mạngXHCN, khác với các cuộc cách mạngtrước đây là ở chỗ nó là cuộc cách

mạng của số đông, vì lợi ích của sốđông nhân dân

V.I.Lênin còn nhấn mạnh rằng: Dânchủ XHCN là chế độ mà nhân dânngày càng tham gia nhiều vào côngviệc Nhà nước Với ý nghĩa đó,V.I.Lênin đã diễn đạt một cách kháiquát về bản chất và mục tiêu của dânchủ XHCN rằng: đó là nền dân chủ

“gấp triệu lần dân chủ tư sản”

Tóm lại, xét về bản chất chính trị,dân chủ XHCN vừa có bản chất giaicấp công nhân, vừa có tính nhân dânrộng rãi, tính dân tộc sâu sắc

Bản chất kinh tế: Nền dân chủ

XHCN dựa trên chế độ công hữu vềnhững TLSX chủ yếu của toàn XHđáp ứng sự phát triển ngày càng caocủa LLSX dựa trên cơ sở khoa học -công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãnngày càng cao những nhu cầu vật chất

và tinh thần của toàn thể nhân dân laođộng

Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộđầy đủ qua một quá trình ổn địnhchính trị, phát triển sản xuất và nângcao đời sống của toàn XH, dưới sựlãnh đạo của đảng Mác-Lênin và quản

lý, hướng dẫn, giúp đỡ của Nhà nướcXHCN

Bản chất kinh tế của nền dân chủXHCN dù khác về bản chất kinh tếcủa các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột,bất công, nhưng cũng như toàn bộ nềnkinh tế XHCN, nó không hình thành

từ “hư vô” theo mong muốn của bất

kỳ ai Kinh tế XHCN cũng là sự kếthừa và phát triển mọi thành tựu nhânloại đã tạo ra trong lịch sử, đồng thờilọc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực,kìm hãm… của các chế độ kinh tếtrước đó, nhất là bản chất tư hữu, ápbức bóc lột bất công… đối với đa sốnhân dân

Bản chất tư tưởng - văn hóa: Nền

dân chủ XHCN lấy hệ tư tưởng Mác Lênin - hệ tư tưởng của giai cấp côngnhân làm nền tảng, chủ đạo đối vớimọi hình thái ý thức XH khác trong

-XH mới (như văn học nghệ thuật, giáodục, đạo đức, lối sống, văn hóa, XH,tôn giáo v.v…) Đồng thời nó kế thừa,phát huy những tinh hoa văn hóatruyền thống các dân tộc; tiếp thunhững giá trị tư tưởng - văn hóa, vănminh, tiến bộ XH… mà nhân loại đãtạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc…

Do đó, đời sống tư tưởng - văn hóacủa nền dân chủ XHCN rất phong phú,

đa dạng, toàn diện và ngày càng trởthành một nhân tố quan trọng hàngđầu, thành mục tiêu và động lực choquá trình xây dựng CNXH

Dân chủ XHCN luôn gắn bó mậtthiết với hệ thống chính trị XHCN

Hệ thống chính trị XHCN là hệthống các tổ chức chính trị căn bản, cóquy mô quốc gia, có ý nghĩa chiếnlược đối với sự tồn tại, ổn định và pháttriển của một nước XHCN, được hìnhthành và hoạt động trong khuôn khổpháp luật chung, phù hợp với vai trò,nhiệm vụ, chức năng của mỗi tổ chức

và mối quan hệ giữa các tổ chức đó.Toàn bộ hệ thống này hoạt động là sựthể hiện trên thực tế nền dân chủXHCN trong quá trình xây dựngCNXH

Cấu trúc của hệ thống chính trịXHCN là một hệ thống chỉnh thể baogồm ba thành tố cơ bản là: Đảng cộngsản (đảng duy nhất lãnh đạo XH); Nhànước XHCN (nhà nước của dân, dodân, vì dân); Các tổ chức chính trị -

XH hợp pháp Hệ thống này vận hànhtheo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Nhànước quản lý, nhân dân làm chủ

9

Trang 10

Xét về bản chất hệ thống chính trị

XHCN và hệ thống chuyên chính vô

sản là đồng nhất Nó là cơ chế đảm

bảo quyền lực của nhân dân, vì những

lợi ích của nhân dân Những vấn đề đó

chỉ có thể thực hiện được khi hệ thống

Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện

nay bao gồm: Đảng CSVN; Nhà nước

Cộng hòa XHCN Việt Nam; Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể

nhân dân Trong đó, Đảng CSVN là

Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính

trị của các đoàn thể nhân dân, vừa để

bảo vệ những lợi ích chính đáng của

các đoàn viên, hội viên, vừa để tổ

chức và giáo dục họ tham gia bảo vệ,

xây dựng Đảng, quản lý Nhà nước,

quản lý XH, bảo vệ chế độ XHCN

Nhà nước XH chủ nghĩa là một

trong những tổ chức chính trị cơ bản

nhất của hệ thống chính trị XHCN,

một công cụ quản lý mà đảng của giai

cấp công nhân lãnh đạo nhân dân tổ

chức ra để qua đó nhân dân lao động

thực hiện quyền lực và lợi ích của

mình, cũng qua đó là chủ yếu mà giai

cấp công nhân và Đảng của nó lãnh

đạo XH về mọi mặt trong quá trình

bảo vệ và xây dựng CNXH Chủ nghĩa

Mác - Lênin cũng quan niệm nhà nước

XHCN là thống nhất về căn bản với

nhà nước chuyên chính vô sản cả về

bản chất, mục tiêu, vai trò, chức năng

và các hoạt động theo những nguyêntắc, pháp luật, chính sách của nó

Mối liên hệ giữa đổi mới hệ thống chính trị với dân chủ hóa ở Việt Nam:

Thứ nhất: Phát huy vai trò người

lãnh đạo duy nhất là Đảng cộng sảnViệt Nam, không chia sẻ quyền lãnhđạo XH cho bất kỳ giai cấp nào, tầnglớp nào hay cá nhân nào (đó là điều cótính nguyên tắc cao nhất) Điều đóxuất phát từ thực tế lịch sử của đấtnước, từ yêu cầu khách quan của sự ổnđịnh và phát triển XH, từ lợi ích cơbản của nhân dân lao động và của dântộc ta

Thứ hai: Khẳng định bản chất chế

độ dân chủ và hệ thống chính trị nước

ta hiện nay là XHCN (dù mới bướcđầu xây dựng), thể hiện cả tính giaicấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi,tính dân tộc và nhân đạo sâu sắc, có kếthừa những thành quả tích cực của dânchủ tư sản, nhưng khác về bản chất,mục đích và nhiều vấn đề khác

Thứ ba: Trong nền dân chủ và hệ

thống chính trị nước ta hiện nay, Nhànước là tổ chức đặc biệt quan trọng,nhà nước chuyên chính vô sản, chuyênchính với mọi kẻ thù của nhân dân,của CNXH và mọi thế lực cản trởcông cuộc đổi mới đất nước theo địnhhướng XHCN, từng bước tổ chức vàxây dựng CNXH mới với mục tiêu dângiàu, nước mạnh, XH công bằng, dânchủ, văn minh; đây vẫn là chức năng,nhiệm vụ cơ bản quyết định nhất, khókhăn, phức tạp và lâu dài nhất

Thứ tư: Cơ cấu chủ yếu của hệ

thống chính trị ở nước ta hiện nay xéttheo nghĩa hẹp, vẫn gồm có ĐảngCộng sản lãnh đạo, Nhà nước quản lý,các đoàn thể chính trị của nhân dân

Thứ năm: Vai trò, chức năng, nhiệm

vụ chung nhất của mỗi tổ chức trong

hệ thống chính trị và mối quan hệ giữacác tổ chức đó, vẫn quán triệt những

tư tưởng chỉ đạo rất cơ bản của chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh

Các nội dung cơ bản trong đổi mới

hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ ởnước ta hiện nay

-Trong đổi mới hệ thống chính trị

ở nước ta hiện nay cần quán triệt tốt các nguyên tắc chung sau:

Một là: Đổi mới HTCT tức là ngày

càng làm rõ vai trò, nhiệm vụ, chứcnăng, nội dung, phương thức hoạtđộng của mỗi bộ phận và các mốiquan hệ giữa các tổ chức chính trị hợppháp và đang có vai trò với cả nước

Đổi mới không phải là “đổi hướng”

chính trị, không thay đổi mục tiêu, conđường XHCN

Hai là: Thực hiện ngày càng tốt hơn

những nguyên tắc, chức năng, nhiệm

vụ của chuyên chính vô sản trong quátrình xây dựng, hoàn thiện nền dânchủ XHCN

Ba là: Không chấp nhận đa nguyên

chính trị, đa đảng đối lập, giữ vững anninh chính trị, trật tự an toàn XH nhằmmục tiêu ổn định về phát triển vì mụctiêu dân giàu, nước mạnh, XH côngbằng, dân chủ, văn minh

Bốn là: Trên cơ sở ổn định, phát

triển kinh tế và đời sống nhân dân đểtừng bước đổi mới hệ thống chính trị,đáp ứng những đòi hỏi ngày càng caocủa mọi lĩnh vực XH

Năm là: Tổ chức cho nhân dân tham

gia đóng góp vào sự nghiệp đổi mới,

mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế theonguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, tôntrọng lẫn nhau và cùng có lợi Kiên

quyết làm thất bại mọi âm mưu “diễnbiến hòa bình” của các thế lực thù địchmuốn xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta

- Các phương hướng, nhiệm vụ cụ thể để đổi mới hệ thống chính trị thực hiện dân chủ.

Một là: Đổi mới xây dựng và chỉnh

đốn đảng nhằm giữ vững và nâng caovai trò, năng lực hiệu quả và uy tínlãnh đạo của đảng với toàn XH Trướchết đổi mới tư duy lý luận, thực hiệndân chủ trong đảng, không ngừngnâng cao chất lượng đảng viên, kiệntoàn các tổ chức cơ sở và cấp ủy đảng,làm cho đảng ngày càng gắn bó chặtchẽ với GCCN và nhân dân trong toàn

XH

Hai là: Cải cách Nhà nước XHCN

Việt Nam theo hướng xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN, dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thực hiện quản lý Nhà nước theonguyên tắc tập trung, dân chủ, thốngnhất trên toàn quốc

Văn kiện Đại hội Đảng IX, Đảng tachỉ rõ: “Nhà nước ta là công cụ chủyếu để thực hiện quyền làm chủ củanhân dân, là Nhà nước pháp quyền củadân, do dân, vì dân Quyền lực nhànước là thống nhất, có sự phân công

và phối hợp giữa các cơ quan nhànước trong việc thực hiện các quyềnlập pháp, hành pháp và tư pháp Cảicách tổ chức và hoạt động của nhànước gắn liền với xây dựng, chỉnh đốnĐảng, đổi mới nội dung, phương thứclãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

Xây dựng bộ máy Nhà nước tinh gọn;

nâng cao chất lượng hoạt động của các

tổ chức Đảng và Đảng viên trong các

cơ quan Nhà nước”

Ba là: Đổi mới phương thức hiệu

quả hoạt động của Quốc hội: Nâng caonăng lực am hiểu về lập pháp, lập

quy của các cơ quan và các đại biểucủa Quốc hội (nhất là đại biểu chuyêntrách) “Đổi mới quy trình chuẩn bị

và thông qua các dự án luật tại kỳ họpQuốc hội; xây dựng Luật về hoạt độnggiám sát của Quốc hội, xác định rõ cơchế giám sát đối với Chính phủ, Tòa

án nhân dân tối cao, Viện kiểm sátnhân dân tối cao; từng bước tăng tỷ lệđại biểu Quốc hội chuyên trách; coitrọng việc lấy ý kiến nhân dân trongquá trình xây dựng pháp luật và chuẩn

bị những quyết sách của Quốc hội ”.Trên cơ sở đổi mới Quốc hội màkiện toàn, nâng cao năng lực và hiệuquả của các cấp Hội đồng nhân dânvới những chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và nội dung cụ thể gắn với

cơ sở, địa phương

Bốn là: Đổi mới hoạt động của Chính

phủ và hệ thống cơ quan hành pháp; Tiếnhành cải cách bộ máy hành chính, trướchết là bố trí lại cơ cấu tổ chức Chính phủcho tinh gọn, năng động và quản lý vĩ mô

có hiệu quả hơn Từ đó điều chỉnh cơ cấucác bộ, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cáccấp cũng theo hướng gọn nhẹ, năng độnghiệu quả trong thực thi pháp luật, chínhsách, kế hoạch phục vụ phát triển KT-

XH trên cả nước Từng bước hiện đại hóa

cơ quan hành chính các cấp, trong đó cóvấn đề vai trò hoạt động “hành chínhcông”

Đối với đội ngũ cán bộ công chứcNhà nước: Nâng cao chất lượng đàotạo, đào tạo lại cán bộ, công chức theoyêu cầu mới của cải cách hành chínhNhà nước Đổi mới việc quản lý, đánhgiá cán bộ, công chức; sử dụng, đãingộ cán bộ, công chức theo hướng tiêuchuẩn hóa; cải cách hành chính chế độtiền lương, nâng cao phẩm chất đạođức cán bộ, công chức; tăng cường

10

Trang 11

kiểm tra, giám sát, thưởng, phạt

nghiêm minh

Năm là: Đổi mới phương thức hoạt

động của Mặt trận Tổ quốc và các

đoàn thể nhân dân Nâng cao chất

lượng tham gia quản lý, giám sát các

hoạt động của nhà nước, tham gia xây

dựng và bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích

chính đáng của các thành viên, gắn

hoạt động của các đoàn thể với các

hoạt động kinh tế, văn hóa, XH, dân

tộc, tôn giáo v.v một cách thiết

thực, chủ động và hiệu quả

* Liên hệ thực tiễn

Sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ

thị số 10CT/TW của Ban Bí thư

Trung ương, 5 năm thực hiện Chỉ thị

số 22 CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh

ủy về xây dựng và thực hiện Quy chế

dân chủ ở cơ sở đã tạo được sự

chuyển biến hết sức quan trọng về

quan điểm, nhận thức, trách nhiệm

của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã

hội tỉnh Hòa Bình nói chung và Liên

đoàn lao động tỉnh nói riêng đối vói

việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ

sở.

Tổng số công nhân viên chức lao

động tỉnh Hòa Bình có trên 50.000

người, 1328 công đoàn cơ sở của 19

Liên đoàn lao động huyện, TP, công

đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn lao

động tỉnh Đảng bộ Liên đoàn lao

động tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo sát

sao với việc thực hiện Quy chế dân

chủ ở cơ sở, phát huy thực hiện tốt

Nghị định số 71, nghị định số 07 của

Chính phủ ban hành Quy chế thực

hiện dân chủ ở doanh nghiệp Nhà

nước và Nghị định số 87 về phát huy

quyền lảm chủ của cán bộ, công nhân

viên chức lao đông, góp phần xây

dựng cơ quan trong sạch vững mạnh,

xây dựng đội ngũ cán bộ công chức cơ quan có đủ phẩm chất, năng lực, làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước Đảng

bộ và chính quyền luôn có sự trao đổi trên các lĩnh vực hoạt động, quán triệt phổ biến chủ trương pháp luật của Nhà nước tới toàn thể công nhân viên chức lao động trong toàn tỉnh, quán triệt tinh thần của Ban chỉ đạo Quy chế dân chủ của Trung ương, của Tỉnh ủy và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam Hàng năm Liên đoàn lao động tỉnh đã chỉ đạo, triển khai việc thực hiện Quy chế dân chủ tói các Liên đoàn lao động huyện, TP, công đoàn ngành và công đoàn cơ sở trực thuộc.

Các cấp công đoàn trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện Nghị định 71/NĐ-CP được thể chế các quy định cụ thể về nội quy

cơ quan, quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế thi đua khen thưởng, kỷ ỉuật phù hợp với từng loại hình cơ quan đơn vị.

Đối với các doanh nghiệp, công ty

cổ phần thực hiện Nghị định 07, Nghị định 87 với nhiều nội dung nhằm phát huy quyền dân chủ của công nhân viên chức lao động như: phối hợp với thủ trưởng cơ quan, ban giám đốc doanh nghiệp tổ chức hội nghị cán bộ công chức, đại hội công nhân viên chức và hội nghị người lao động các quy định về ký kết thỏa ước lao động như ừang thiết bị bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động, tiền lương, thời gian làm việc

Căn cứ các văn bản hướng dẫn của cấp trên Liên đoàn ỉao động tỉnh đã chủ động xây dựng kế hoạch và những nội dung công việc để phổ biến, tuyên truyền tới công đoàn các cấp, đồng thời tổng họp ý kiến của cơ sở để điều

chỉnh các nội quy, quy chế cho phù hợp với điều kiện thực tế.

Qua thực hiện Quy chế dân chủ ở các huyện, ngành hầu hết các doanh nghiệp các tổ chức công đoàn đều thực hiện tốt Các lãnh đạo cộng ty, doanh nghiệp đã có nhận thức đúng đắn hơn, sâu sắc hơn trong việc thực hiện Quy ché dân chủ.

Với việc thực hiện và phát huy có hiệu quả Quy chế dân chủ, tỷ lệ tổ chức đại hội công nhân viên chức, hội nghị cán bộ công chức ngày càng đạt

tỷ lệ cao.

Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại một số hạn chế đó là:

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một

số ít thủ trưởng trong doanh nghiệp chưa thực sự nhiệt tình phối hợp với công đoàn nên việc chấp hành thực hiện

Quy chế dân chủ còn mang tính hình thức, chưa tạo được động lực thúc đẩy phong trào.

Một số đơn vị có ban hành nội quy, quy chế hoạt động nhưng nội dung còn mang tính sao chép, không thiết thực với điều kiện của đơn vị hiệu quả thực hiện chưa cao.

Phương hướng chỉ đạo trong những năm tới là:

Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục.

Tiếp tục quán triệt tổ chức học tập đầy đủ, sâu sắc Chỉ thị 30/CT-TW, các Nghị định, pháp lệnh của Chính phủ, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và Tỉnh ủy Hòa Bình, xác định mục tiêu thực hiện Quy chế dân chủ là nhiệm

vụ thường xuyên và lâu dài của các cấp ủy đảng, chính quyền và mặt trận, đoàn thể.

Nâng cao chất lượng hội nghị cán

bộ công chức, đại hội công nhân viên chức, hội nghị người lao động.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng:

Các cấp ủy và người đứng đầu tổ chức đảng, cấp ủy đảng cần đặc biệt quan tâm tạo lập, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của

tổ chức đảng ở địa phương, đơn vị mình Phải nghiên cứu, tháo gỡ vướng mắc, ách tắc trong phương thức lãnh đạo, khắc phục cho được cả hai khuynh hướng là buông lỏng lãnh đạo hoặc bao biện, làm thay.

Việc xác định rõ chức năng, nhiệm

vụ của từng tổ chức và phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng đối với cơ quan nhà nước, đoàn thể thể hiện tập trung ở quy chế làm việc, quy chế quan hệ công tác Quy chế cần được thảo luận dân chủ, có tổng kết thực tiễn và đạt sự thống nhất cao Khi đã

có quy chế thì nhất thiết phải thực hiện nghiêm quy chế Định kỳ rà soát lại, bổ sung, hoàn thiện thêm quy chế.

Yêu cầu có tính bao trùm đối với các quy chế là phải bảo đảm đúng Điều lệ các quy đinh, nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng; tuân thủ nghiêm Hiến pháp, pháp luật và điều lệ của đoàn thể; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức, cá nhân liên quãn; quyền đi đôi với trách nhiệm.

Một yêu câu cấp bách hiện nay trong phương thức lãnh đạo của Đảng

là tăng cường bám sát thực tiễn, hướng mạnh về cơ sở, lắng nghe được nhiều ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân Vì vậy, cần giảm bớt những cuộc họp, hội nghị không cần thiết; có chế độ đi cơ sở,

trực tiếp tiếp xúc với cán bộ, nhân dân; coi trọng việc làm thí điểm trước khi nhân ra diện rộng; thường xuyên kiểm tra và tổng kết thực tíễn.

Các cấp ủy đảng quan tâm xây dựng hệ thống thông tin phong phú, chính xác, kịp thời phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo; duy trì nghiêm chế độc báo cáo; từng bước hiện đại hóa, tin học hóa hệ thống thu thập và xử lý thông tin phục vụ lãnh đạo.

Về phong cách và chế độ công tác, các cán bộ lãnh đạo phải thực hiện dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của tập thể, kể cả các ý kiến thuộc thiểu số, chống độc đoán, gia trưởng, trù dập; xây dựng nền nếp làm việc khoa học, lời nói đi đôi với việc làm; coi trọng hiệu quả công việc, không phô trương hình thức; tăng cường đối thoại, thảo luận thẳng thắn với đảng viên trong tổ chức đảng, với cơ bản công chức trong cơ quan nhà nước và với nhân dân; dũng cảm nhận thiếu sót, khuyết điểm và có biện pháp sửa chữa kịp thời./.

11

Trang 12

IV TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Câu 5: Tư tưởng Hồ Chí Minh về

Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ

thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về

những vấn đề cơ bản của cách mạng

Việt nam, là kết quả của sự vận dụng

và phát triển sáng tạo chủ nghĩa

Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước

ta, kế thừa và phát triển các giá trị

truyền thống tốt đẹp, tinh hoa văn hóa

của nhân loại Một trong những tư

tưởng lớn của người là xây dựng nhà

nước pháp quyền của dân, do dân, vì

dân

Theo quan điểm của Chủ nghĩa

Mác-Lê nin, vấn đề cơ bản của mọi

cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền

nhà nước Qua quá trình hoạt động

cách mạng của mình, Hồ Chí Minh

gắn liền với những nhận thức, tìm

kiếm, lựa chọn mọi hình thức, chế độ

nhà nước thích hợp, đưa dân tộc Việt

Nam phát triển theo đúng quỹ đạo tiến

bộ XH Người đã thấy rõ bộ mặt phân

nhân tính của Nhà nước thực dân

phong kiến và tính chất phiến diện nửa

vời, không triệt để, chứa đầy những

đối kháng không thể điều hòa của Nhà

nước dân chủ tư sản Bằng những

khảo nghiệm thực tiễn, với tư duy

nhạy cảm, sắc sảo để quyết định lựa

chọn kiểu nhà nước theo học thuyết

Mác-Lênin

Để lựa chọn kiểu nhà nước theo xu

thế vận động của lịch sử, người dựa

trên hai cơ sở chính: đó là tính chất

nhân dân và khả năng của Nhà nước

trong việc đảm bảo cuộc sống tự do,

ấm no, hạnh phúc thảo mãn các “nhu

cầu trần thế” của nhân dân và con

người, lựa chọn của người gắn bó chặt

chẽ với mục tiêu giải phóng con người

và phát triển XH

Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân có thể được thể hiện trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, xây dựng Nhà nước do nhân dân làm chủ

Xây dựng Nhà nước do nhân dânlao động làm chủ là tư tưởng nhấtquán trong cuộc đời hoạt động cáchmạng của Hồ Chí Minh Nhà nướcViệt Nam kiểu mới thể hiện khối đạiđoàn kết toàn dân tộc, trong đó công,nông là gốc và trí thức ngày càng có vịtrí quan trọng đặc biệt khi đất nướcbước vào thời kỳ xây dựng Tất cả mọingười dân Việt Nam, không phân biệttrai, gái, giàu nghèo, nòi giống, tôngiáo, đều là chủ của nước nhà, cótrách nhiệm xây dựng Nhà nước

Điều 3, Hiến Pháp 1959 ghi rõ:

‘Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa làmột nước thống nhất gồm nhiều dântộc Các dân tộc trên nước Việt Namđều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa

vụ, Nhà nước có nghĩa vụ giữ gìn vàphát triển sự đoàn kết giữa các dântộc Mọi hành vi khinh miệt, áp bức,chia rẽ dân tộc đều bị nghiêm cấm”

Sự sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh

về bản chất Nhà nước là sự kết hợpnhuần nhuyễn giữa các phạm trù dântộc và giai cấp, độc lập dân tộc và chủnghĩa XH, dân tộc và thời đại, dân chủnhân dân và chính quyền vô sản

Hồ Chí Minh khẳng định tất cảquyền binh trong nước là của toàn thểnhân dân Việt Nam “Nước ta là nướcdân chủ Bao nhiêu quyền hạn đều củadân” Tính chất dân chủ nhân dân làđặc trưng nổi bật của chính quyền nhànước kiểu mới Trong nước ta nhândân là người nắm giữ mọi quyền lực,còn các cơ quan Nhà nước do nhândân tổ chức ra, nhân viên Nhà nước là

người được ủy quyền, thực hiện ý chínguyện vọng của nhân dân, trở thànhcông bộc của nhân dân, nhân dân đượcđặt ở vị trí cao nhất, nhà nước khôngcòn là công cụ thống trị, nô dịch dânnhư trong thời phong kiến, tư bản

Nhà nước dân chủ nhân dân donhân dân trực tiếp tổ chức, xây dựngthông qua tổng tuyển cử phổ thôngđầu phiếu Hồ Chí Minh nhận thứctổng tuyển cử là một quyền chính trị

mà nhân dân giành được qua đấu tranhcách mạng là hình thức dân chủ, thểhiện năng lực, thực hành dân chủ củanhân dân “Tổng tuyển cử là một dịpcho toàn thể quốc dân tự do lựa chọnnhững người có tài, có đức để gánhvác việc nước nhà Trong cuộc tổngtuyển cử, hễ là người muốn lo việcnước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ làngười công dân thì đều có quyền đibầu cử, do tổng tuyển cử mà toàndân bầu ra quốc hội, Quốc hội sẽ cử raChính phủ, Chính phủ đó thực sự làcủa nhân dân” Thông qua việc bầu cửquốc hội và chính phủ, nhân dân thựchiện quyền lực của mình bằng hìnhthức dân chủ trực tiếp và đại diện Với

tư cách là một nội dung làm chủ củaNhà nước của nhân dân, quyền bầu cửđược ghi rõ trong hiến pháp năm 1946

và Hiến pháp năm 1959 do Hồ ChíMinh chỉ đạo soạn thảo và ban hành

Trong tư tưởng Hồ Chí minh, quyềnlực tối cao của nhân dân không chỉ thểhiện ở việc bầu cử Quốc hội, Hội đồngnhân dân các cấp mà còn ở quyền bãimiễn họ, kiểm soát, giám sát hoạtđộng của các đại biểu, cơ chế dân chủnày là cho Quốc hội được trong sạch,giữ được phẩm chất năng lực hoạtđộng

Hồ Chí Minh có ý thức sâu sắc rằngđây là nội dung rất khó của làm chủ

nhưng lại thể hiện rất rõ các tư cách làchủ nhà nước và năng lực thực hànhdân chủ của quần chúng lao động

Theo người để nhân dân lao động làmchủ nhà nước thì đại biểu do dân bầu

ra phải có mối liên hệ thường xuyênvới nhân dân, thoát ly mọi mối liên hệnày, Nhà nước rất dễ rơi vào quanliêu, trì trệ, đứng trên đầu nhân dân,trái với bản chất dân chủ đích thực vốn

có của nhà nước kiểu mới

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhànước của dân, do nhân dân làm chủcòn bao hàm một nội dung quan trọngkhác, đó là nhân dân có quyền kiểmsoát nhà nước, như vậy thực hiện chứcnăng kiểm soát nhà nước, nhân dânđược đặt ở vị trí tối thượng có quyềnđược đảm bảo trên thực tế chứ khôngchỉ trên danh nghĩa lời nói Hồ ChíMinh viết: “Chính phủ ta là Chính phủcủa nhân dân chỉ có một mục đích làphụng sự cho lợi ích của nhân dân

Chính phủ mong đồng bào giúp đỡ,đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làmtròn nhiệm vụ của mình là người đầy

tớ trung thành tận tụy của nhân dân”

Là người làm chủ nhà nước, nhândân có quyền, thông quan cơ chế làmchủ thực thi quyền lợi nhưng đồngthời nhân dân phải có nghĩa vụ xâydựng và bảo vệ nhà nước làm cho nhànước ngày càng hoàn thiện, trongsạch, vững mạnh Hồ Chí Minh luônđòi hỏi với tư cách là chủ nhân củamột nước độc lập, tự do, quyền vànghĩa vụ của công dân phải luôn gắn

bó chặt chẽ với nhau

Hồ Chí Minh đề cập đến mặt thứhai này của quyền dân chủ với tinhthần nhất quán và triệt để cách mạng

Người cho rằng: “Chế độ ta là chế độdân chủ, nhân dân là chủ Chính phủ làđầy tớ của nhân dân Nhân dân có

quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ.Chính phủ thì việc to, việc nhỏ đềunhằm mục đích phục vụ lợi ích củanhân dân Vì vậy, nhân dân lại cónhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theođúng kỷ luật của Chính phủ và làmđúng cách của Chính phủ để Chínhphủ làm tròn phận sự mà nhân dân đãgiao phó”

Nét độc đáo đặc sắc của Hồ ChíMinh là ở chỗ quan niệm nghĩa vụcông dân không chỉ trên tinh thần lậppháp mà cả trên bình diện đạo đức,nhân cách người công dân Người chỉrõ: “ nhân dân có quyền làm chủ thìphải có nghĩa vụ là tròn bổn phận côngdân, giữ đúng đạo đức công dân, nghĩalà: tuân thủ pháp luật Nhà nước; tuânthủ kỷ luật lao động; giữ gìn trật tựchung; đóng góp “đúng kỳ, đúng số,

để xây dựng lợi ích chung”; hăng háitham gia công việc chung; bảo vệ tàisản cộng đồng; bảo vệ tổ quốc”.Trong nhà nước dân chủ, nhân dân

là người có địa vị cao nhất HCM đãnhiều lần khẳng định: “Trong bầu trờikhông có gì quý bằng nhân dân” Chỉ

có nhân dân, do địa vị tối cao củamình, mới có quyền quyết định nhữngvấn đề quan trọng nhất của Quốc gia,dân tộc và đất nước; chỉ có nhân dânmới trở thành chỗ dựa vững chắc củaNhà nước Tâm đắc với quan niệm củacha ông: “Lật thuyền là dân mà chởthuyền cũng là dân” và quan điểm củaChủ nghĩa Mác – Lê nin “quần chúngnhân dân là động lực chủ yếu của mọitiến trình lịch sử”, HCM khẳng định:

“Nhân nghĩa là nhân dân Trong thếgiới không gì mạnh bằng lực lượngđoàn kết của nhân dân”

Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò củaNhà nước và sức mạnh của lực lượngnhân dân trong mối quan hệ giữa nhân

12

Trang 13

dân và nhà nước Người cho rằng:

“Nếu không có nhân dân thì Chính

phủ không có lực lượng, nếu không có

Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn

đường Vậy nên Chính phủ với nhân

dân đoàn kết thành một khối”

Nhận thức rõ vai trò to lớn của quần

chúng nhân dân, Hồ Chí Minh chủ

trương xây dựng một nhà nước do dân

Nhà nước do dân theo Hồ Chí Minh

là:

Chính quyền từ xã đến Chính phủ

TW do dân cử ra Đoàn thể từ TW đến

xã do dân tổ chức nên”

Nhân dân sử dụng quyền lực của

mình thông qua Quốc hội và Hội đồng

nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra

và chịu trách nhiệm trước nhân dân;

Nhân dân tham gia vào công việc

của nhà nước;

Mọi việc xây dựng đất nước là trách

nhiệm của dân Nhà nước nhất định

phải dựa vào lực lượng của dân, dựa

vào sáng kiến và trí tuệ của dân

Dân tự làm, tự lo thông qua các mối

quan hệ trong XH, qua các đoàn thể,

các hội quần chúng, chứ không phải là

nhà nước bao cấp, lo thay cho nhân

dân Nhà nước tin dân, dân tin nhà

nước thì việc gì cũng làm được, “dễ

trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn

lần dân liệu cũng xong”

Thứ hai, xây dựng nhà nước phục

vụ quyền lợi của nhân dân

Nhà nước ta là một nhà nước dân

chủ vì dân trên thực tế và hành động

HCM chỉ rõ: “ Các cơ quan của

Chính phủ từ toàn quốc cho đến làng,

đều là công bộc của dân, nghĩa là để

gánh vác việc chung cho dân chứ

không phải để đè đầu dân như trong

thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp,

có thể nâng cao đời sống vật chất tinhthần cho nhân dân phải được đặc biệtchú ý Theo HCM: “Chúng ta tranhđược tự do, độc lập rồi mà dân cứ chếtđói, chết rét, thì tự do độc lập ấy cũngkhông làm gì Dân chỉ biết rõ giá trịcủa tự do độc lập khi mà dân được ăn

no, mặc đủ Chúng ta phải thực hiệnngay: Làm cho dân có ăn; Làm chodân có mặc; Làm cho dân có chỗ ở;

Làm cho dân có học hành Cái mụcđích của chúng ta đi đến là muốn điều

đó Đi đến để nhân dân nước ta xứngđáng với độc lập tự do và giúp sứcđược cho tự do, độc lập”

Theo người việc đáp ứng và thỏamãn nhu cầu lợi ích của nhân dân làtiêu chí số một để đánh giá hiệu quảnăng lực trong hoạt động của nhànước

Muốn đạt được mục đích nhân bản

đó thì phải bảo đảm sự trong sạch củanhà nước Người ý thức rằng quản lýđất nước, XH là một việc làm khó, nênđòi hỏi cán bộ phải thành thật học hỏi,đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết

Cũng theo Người nguy hại nhất là khiđược nhân dân ủy quyền mà cán bộích kỷ, chủ nghĩa cá nhân, kéo bè, kéocánh thu vén lợi ích lợi cá nhân, nảysinh những “lỗi lầm rất nặng” Ngườigọi đó là “giặc nội xâm”

Thứ ba, Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân

Quán triệt học thuyết Mác – Lênin

về Nhà nước chuyên chính vô sản,Người thường nhấn mạnh tới tính chất

dân chủ của nhà nước ta Nhưng HCMcũng xác định dứt khoát, rõ ràng bảnchất giai cấp công nhân của nhà nước

đó Nhà nước của dân, do dân , vì dântheo tư tưởng HCM, không có nghĩa

là “nhà nước toàn dân”, nhà nước phigiai cấp Người khẳng đinh: “Nhànước ta là nhà nước dân chủ nhân dân,dựa trên nền tảng liên minh côngnông, do giai cấp công nhân lãnhđạo” Quan điểm này được cụ thể hóathành hiến pháp và pháp luật Trongkhi khẳng định bản chất giai cấp côngnhân của nhà nước ta, HCM đã khéoléo xử lý, kết hợp tính giai cấp và tínhđộc lập thành một thể thống nhất, Nhànước dân chủ nhân dân do Đảng Cộngsản lãnh đạo, theo hệ tư tưởng Mác-Lênin, mang bản chất của giai cấpcông nhân Nhưng mặt khác còn làmột nhà nước thống nhất của khối đạiđoàn kết dân tộc Cơ sở XH của nhànước không bó hẹp trong phạm vi mộtgiai cấp, tầng lớp mà là toàn thể dântộc và không thay đổi trong quá trìnhvận động đi lên của cách mạng

Theo tư tưởng HCM để đảm bảo vàgiữ vững bản chất của giai cấp côngnhân của nhà nước cần quán triệtnhững vấn đề có tính nguyên tắc sau:

Một là, xây dựng tổ chức và hoàn

thiện chính quyền nhà nước phải trên

cơ sở các nguyên lý phổ biến của chủnghĩa Mác-Lênin về nhà nước, nhànước chuyên chính vô sản, áp dụngthích hợp vào đặc điểm điều kiện củanước ta Xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin sẽ làm biến dạng nhà nước, lu mờbản chất giai cấp, chệch hướngXHCN

Hai là, xác lập và tăng cường vai

trò lãnh đạo của ĐCS đối với nhànước, đây là vấn đề có tính nguyên tắc

số một bảo đảm bản chất giai cấp côngnhân của nhà nước

Ba là, thiết chế, tổ chức và hoạt

động của nhà nước phải theo nguyêntắc tập trung dân chủ, nguyên tắc nàyđảm bảo bản chất giai cấp công nhân

và là nguyên tắc đặc thù của nhà nướckiểu mới Thực chất của nguyên tắcnày theo quan điểm của người là:

“Nhân dân là ông chủ nắm chínhquyền, nhân dân bầu ra đại biểu thaymặt mình thi hành chính quyền ấy”

Các cơ quan của chính quyền làthống nhất, tập trung; số ít phải phụctùng số nhiều; cấp dưới phải phục tùngcấp trên; địa phương phải phục tùng

TW Thế là vừa dân chủ vừa tập trung

Chế độ dân chủ tập trung khiến chotoàn thể nhân dân, đều trở nên là chủnhân chân chính của nước nhà, đềuđoàn kết để kháng chiến kiến quốc

Thứ tư, xây dựng nhà nước của dân,

do dân, vì dân có sự thống nhất giữaquản lý bằng pháp luật với nâng caogiáo dục đạo đức trong tư tưởng HồChí Minh

Trước hết phải khẳng định rằng,trong tư tưởng HCM về nhà nướckhông hề có quan điểm “trị nước” hay

“trị dân”, Đối với dân với nước ngườithường dùng từ lãnh đạo, quản lý, điềuhành, phụng sự, hay phục vụ khi dân

đã có chính quyền Tuy HCM khôngdùng hai từ này nhưng trong thực tếngười đã kết hợp chặt chẽ việc quản lýđiều hành XH bằng pháp luật với việctuyên truyền giáo dục đạo đức cáchmạng, nâng cao bản lĩnh công dân chocán bộ và nhân dân Người đặc biệtquan tâm tới cả hai lĩnh vực pháp luật

và đạo đức trong sự kết hợp hài hòa

Theo người pháp luật cũng nhằm mụcđích thực hiện mục tiêu lý tưởng củacách mạng, do đó phải giáo dục mọi

người ý thức tự giác, đạo đức cáchmạng mới làm cho luật pháp đượcthực hiện

Theo Hồ Chí Minh, trước hết nhànước pháp quyền phải được tổ chức vàhoạt động theo pháp luật, bảo đảm tínhtối cao của pháp luật trong mọi lĩnhvực của đời sống XH

Đây là tư tưởng đặc sắc của HCM,phản ánh cốt lõi của nhà nước dân chủmới NN quản lý XH bằng pháp luật,theo người một XH có trật tự kỷcương, một nhà nước mạnh, có hiệulực, thì nhất thiết không để một giờthiếu pháp luật, coi thường pháp luật

Sự thống nhất giữa đạo đức và phápluật trong tư tưởng HCM còn thể hiện

ở quan điểm xử lý các hành vi phạmpháp theo nguyên tắc “có lý, có tình”.Pháp luật không loại trừ một ai nhằmngăn cái xấu, cái ác, phát huy cái tốt,cái thiện, có tấm lòng độ lượng, baodung nhưng không bao che, khoanhồng nhưng nghiêm khắc, luôn đấutranh một cách chân thành thẳng thắnvới những khuyết điểm, sai lầm vớinhững hành vi vi phạm pháp luật

Thứ năm, về xây dựng bộ máy, đội

ngũ cán bộ, công chức trong nhà nướccủa dân, do dân, vì dân

Về xây dựng bộ máy nhà nước:

Từ rất sớm HCM đã đặt vấn đề thiết

kế và xây dựng một nhà nước phápquyền mạnh mẽ, sáng suốt, hoạt động

vì lợi ích của nhân dân theo nguyêntắc chung là:

Xây dựng Quốc hội là cơ quanquyền lực cao nhất của đất nước, giảiquyết những vấn đề chung cho toànquốc, xây dựng hiến pháp pháp luật,một Quốc hội lập hiến và lập pháprộng rãi, đại diện cho tiếng nói củaquốc dân;

13

Trang 14

Xây dựng một chính phủ mạnh,

hoạt động có hiệu quả, là cơ quan

hành pháp cao nhất của nhà nước, hoạt

động trên cơ sở hiến pháp, pháp luật,

là trung tâm đầu não điều chỉnh mọi

hoạt động quản lý của các cơ quan nhà

nước

Xây dựng một nền hành chính hiện

đại từ TW đến địa phương và cơ sở,

với việc xử lý tốt các mối quan hệ

đặc biệt coi trọng việc xây dựng đội

ngũ cán bộ, công chức Theo người

cán bộ là “nguồn vốn của nhà nước”,

là cái gốc của mọi công việc; công

việc thành công hay thất bại do cán bộ

quyết định Vì thế chất lượng, hiệu lực

của nhà nước phụ thuộc vào chất

lượng của đội ngũ cán bộ, công chức

Trong vấn đề này HCM đề cập đến

những vấn đề cốt lõi cơ bản sau:

HCM có một quan điểm nhất quán,

chuẩn xác hiện đại về cán bộ công

chức, xác định rõ tính cách chuyên

nghiệp của công chức theo chế độ

chức nghiệp

Về tiêu chuẩn cán bộ công chức

theo người, cán bộ công chức phải có

đức, tài, vừa hồng, vừa chuyên nhưng

đức phải là gốc Người nhấn mạnh các

tiêu chuẩn trung thành, hăng hái, liên

lạc mật thiết với quần chúng nhân dân,

thạo việc, dám phụ trách giải quyết

những vấn đề trong lúc khó khăn, khi

thất bại không hoang mang, khi thắng

lợi không kiêu ngạo, khi thi hành nghị

quyết thì gan góc, kiên quyết Cán bộ,

Người có yêu cầu rất cao đội ngũcán bộ, công chức phải mang tínhchuyên nghiệp và được tiêu chuẩnhóa Người chỉ đạo xây dựng khungthi tuyển cho cán bộ, công chức rấtchăt chẽ về cách làm, hình thức, nộidung Chế độ thi tuyển cán bộ côngchức do người khởi xướng, thể hiệnmột cách rõ nét tư tưởng chính quyhiện đại, dân chủ, công khai, côngbằng, bình đẳng XH

Liên hệ thực tiễn

Cải cách hành chính nâng cao chất lượng phục vụ dân sinh tại TP.Đà Nẵng, đơn vị đầu tiên trong

cả nước thực hiện việc đánh giá xếp hạng cải cách hành chính hàng năm đối với các cơ quan nhà nước trên địa bàn TP.

Bắt đầu từ năm 2012, Đà Nẵng đã phát động thực hiện Cuộc vận động

“3 hơn”: Nhanh hơn hợp lý hơn thân thiện hơn trong cải cách hành chính NHANH HƠN - đẩy nhanh tốc độ xử lý công việc, hoàn thành trước tiến độ, thời gian theo quy định hoặc thời hạn được giao; HỢP

-LÝ HƠN - cải tiến, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ các quy trình, thủ tục, phương pháp quản lý, làm việc, phối hợp chưa thực sự hợp lý; THÂN THIỆN HƠN - thực hiện phương châm “thân thiện hơn” trong việc tiếp xúc, giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân.

Kết quả thực hiện cuộc vận động

“3 hơn” của các cơ quan, đơn vị được coi là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá xếp hạng về công tác cải cách hành chính.

Từ đầu năm 2013 đến nay, TP đã tiến hành việc khảo sát trực tuyến mức độ hài lòng của công dân, tổ chức đối với các các dịch vụ hành chính công trực tuyến và cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của các đơn vị.

Kết quả triển khai 6 tháng đầu năm

2013 thông qua phần mềm trực tuyến, cho thấy: tổng số ý kiến tham gia trả lời khảo sát trực tuyến là 5.113 ý kiến Qua phân tích kết quả khảo sát đối với chất lượng dịch vụ hành chính công, cho thấy có 95.7%

công dân, tổ chức đánh giá hài lòng

và rất hài lòng; kết quả khảo sát đối với công chức tiếp nhận và trả kết quả: có 92% công dân, tổ chức đánh giá mức tốt và rất tốt

Hiện nay, công dân tổ chức có thể truy cập website cchc.danang.gov.vn

để đánh giá công chức tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ thủ tục hành chính tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn

TP Đồng thời, TP đã và đang xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá kết quả CCHC gồm các công cụ như:

Bộ chỉ số đánh giá, xếp hạng kết quả CCHC hàng năm; kiểm tra, giám sát định kỳ của cơ quan quản lý Nhà nước về CCHC; giám sát của Hội đồng nhân dân và Ủy ban Mặt trận

Tổ quốc TP và các cấp; giám sát của báo đài và các phương tiện truyền thông, và đặc biệt là sự đánh giá của công dân, tổ chức, doanh nghiệp thông qua các công cụ khảo sát sự hài lòng khách hàng trực tiếp

và trực tuyến Kết quả theo dõi, đánh

giá đều được thông tin thường xuyên

và định kỳ hàng quý, năm.

Đến nay trên toàn địa bàn TP đã

có 1.066 nội dung TTHC được đăng

ký thực hiện nhanh hơn (tiết kiệm được cho công dân, tổ chức 73.263 ngày làm việc), 392 nội dung TTHC hợp lý hơn, 131 giải pháp thân thiện hơn, góp phần giảm chi phí hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước và phục vụ nhân dân trên địa bàn TP.

TP đã chỉ đạo nhiều giải pháp nâng cao chất lượng của các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của công dân, tổ chức như: nghiêm túc thực hiện các quy định về công khai công vụ; công khai các nội dung hướng dẫn về giải quyết thủ tục hành chính, số điện thoại của lãnh đạo cơ quan, đơn vị, tên người trực tiếp giải quyết hồ sơ, quyền và nghĩa

vụ của công dân, tổ chức; cơ chế thực hiện khiếu nại, tố cáo và cung cấp thông tin; nâng cao chất lượng

cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc tiếp nhận hồ sơ, thủ tục hành chính; ứng dụng công nghệ thông tin; nâng cao trình độ và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ công chức Trong các yếu tố trên, cán bộ, công chức đóng vai trò quyết định đến chất lượng cung ứng dịch vụ và mức độ hài lòng của công dân, tổ chức Do đó, TP đã triển khai nhiều giải pháp để cải thiện nội dung này như sau:

-Thứ nhất, tập trung nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ đối với đội ngũ cán bộ, công chức:

Theo Chỉ thị số 04/CT-UBND ngày 27/4/2010 của Chủ tịch UBND

TP, hằng năm, từng cơ quan, đơn vị

và cá nhân CBCCVC tự soát xét và

đăng ký một nhiệm vụ, giải pháp để làm chuyển biến rõ nét hơn lề lối làm việc và thái độ phục vụ nhân dân Việc thực hiện nội dung cam kết này có vai trò quan trọng trong việc đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm

vụ của cán bộ, công chức cuối năm Đồng thời, TP cũng đã quy định rõ, trong quá trình tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính đối với công dân, tổ chức, nếu từ chối tiếp nhận phải có văn bản giải thích hướng dẫn cụ thể, rõ ràng đối với công dân tổ chức.

Thứ hai, thực hiện nghiêm túc công tác giám sát, đánh giá quá trình tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức: Hằng năm, UBND TP giao Sở Nội

vụ tiến hành thường xuyên các hoạt động thanh tra, kiểm tra công vụ (trung bình hơn 80 lượt đơn vị/năm) Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn

và Chủ tịch UBND quận, huyện cũng tiến hành kiểm tra hàng năm tại hơn 80% đơn vị, địa phương trực thuộc Nhiều cơ quan, đơn vị đã ứng dụng công nghệ thông tin, hệ thống camera giám sát để theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các thủ tục hành chính theo đúng quy định.

Đồng thời, TP còn phát huy sự tham gia giám sát, đánh giá của công dân, tổ chức thông qua công tác khảo sát mức độ hài lòng đối với chất lượng dịch vụ hành chính công

và thái độ phục vụ của đội ngũ cán

bộ tiếp nhận thông qua phần mềm khảo sát trực tuyến và phiếu khảo sát Kết quả khảo sát được công bố một cách công khai, thường xuyên để các đơn vị theo dõi và triển khai các giải pháp khắc phục những nội dung

14

Trang 15

công dân, tổ chức còn chưa hài lòng

về chất lượng phục vụ.

Thứ ba, thực hiện tốt các giải

pháp nâng cao chất lượng đội ngũ

cán bộ, công chức từ công tác tuyển

dụng, sử dụng, quản lý, đào tạo bồi

dưỡng, đánh giá, đề bạt

TP tổ chức thực hiện có hiệu quả

chính sách phát triển nguồn nhân

lực chất lượng cao, thực hiện tốt

việc đánh giá công chức theo kết quả

làm việc, các giải pháp đào tạo, bồi

dưỡng nâng cao trình độ chuyên

môn, nghiệp vụ, văn hóa giao tiếp,

ứng xử… nhằm xây dựng một đội

ngũ cán bộ, công chức chuyên

nghiệp và có đạo đức công vụ tốt.

Bên cạnh đó, thực hiện các giải pháp

động viên đối với đội ngũ công chức

thực hiện công tác tiếp nhận và trả

kết quả như chế độ phụ cấp hằng

tháng là 20% mức lương tối thiểu…

Việc thực hiện các giải pháp trên

đã góp phần mang lại hiệu quả khá

tốt và góp phần vào việc nâng cao

mức độ hài lòng của công dân, tổ

chức đối với chất lượng dịch vụ

hành chính công của TP Tuy vẫn

còn một số ít lĩnh vực thủ tục hành

chính còn khiến người dân chưa thật

sự hài lòng nhưng với việc thực hiện

một cách đồng bộ và quyết liệt các

giải pháp trên, TP Đà Nẵng sẽ từng

bước giải quyết được những hạn

chế, bất cập về yếu tố cán bộ, công

chức trong giải quyết thủ tục hành

chính đối với công dân, tổ chức

trong thời gian tới.

V XÂY DỰNG ĐẢNG

Câu 6: Cơ sở lý luận và thực tiễn

của việc Đảng ta khẳng định: xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.

Phân tích các giải pháp xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Trả lời:

I- Tình hình tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên

Trong những năm qua, Ban Chấphành TW, Bộ Chính trị, Ban Bí thư

đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nhằmnâng cao năng lực lãnh đạo, sứcchiến đấu của tổ chức cơ sở đảng vàchất lượng đội ngũ cán bộ, đảngviên Quán triệt chủ trương và thựchiện sự chỉ đạo của TW, công tácxây dựng Ðảng ở cơ sở đã có một sốchuyển biến tiến bộ, góp phần đẩymạnh sự nghiệp đổi mới đất nước

Nhiều tổ chức cơ sở đảng đã giữvững và phát huy được vai trò hạtnhân chính trị ở cơ sở; lãnh đạo cán

bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Ðảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước

Nhiều cấp ủy viên và cán bộ, đảngviên đã được rèn luyện, thử thách,trưởng thành qua thực tiễn công tác;

kiên định lập trường giai cấp côngnhân, trung thành với chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàđường lối đổi mới của Ðảng; gươngmẫu thực hiện quan điểm, đường lốicủa Ðảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước, hoàn thành nhiệm vụđược giao

Có được những chuyển biến tiến

bộ trên là do Ban Chấp hành TW, BộChính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy

đã có những nghị quyết, chỉ thị, quy

định và giải pháp lớn về xây dựng tổchức cơ sở đảng, nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ, đảng viên

Nhiều cấp ủy cấp trên đã quan tâmlãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng tổchức cơ sở đảng trong sạch, vữngmạnh, củng cố cơ sở yếu kém; xâydựng đội ngũ cán bộ, đảng viên

Các cấp ủy cơ sở đã nhận thức đầy

đủ hơn vị trí, vai trò, chức năng,nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng vàchăm lo công tác xây dựng Ðảng Ða

số cán bộ, đảng viên đã được rènluyện, thử thách qua thực tiễn Cơ sởvật chất, phương tiện và điều kiệnlàm việc của cơ sở từng bước đượctrang bị tốt hơn trước

Tuy nhiên, năng lực lãnh đạo, sứcchiến đấu của tổ chức cơ sở đảng vàchất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viêncòn một số khuyết điểm, yếu kém:

Nhiều cấp ủy chưa thực sự coitrọng vị trí then chốt của công tácxây dựng Ðảng; chưa dành thời gian,công sức để tập trung chỉ đạo xâydựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng

Không ít tổ chức cơ sở đảng chưanhận thức và thực hiện đúng chứcnăng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sởđảng Công tác giáo dục chính trị tưtưởng, bồi dưỡng lý tưởng cáchmạng, đạo đức, lối sống cho cán bộ,đảng viên ở cơ sở chưa đúng mức,tính định hướng, tính chiến đấu vàtính giáo dục, thuyết phục chưa cao

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu,khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thểhóa và tổ chức thực hiện các chủtrương, đường lối của Ðảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước và củacấp ủy cấp trên của nhiều tổ chức cơ

sở đảng còn yếu, chưa đủ sức pháthiện, giải quyết những vấn đề phức

tạp xảy ra ở cơ sở; có tổ chức cơ sởđảng bị mất sức chiến đấu

Nhiều cấp ủy, đảng bộ, chi bộchưa thực hiện nghiêm nguyên tắctập trung dân chủ trong Ðảng; chưathực hiện có nền nếp chế độ sinhhoạt đảng, nội dung sinh hoạt chi bộchậm đổi mới; chưa coi trọng đổimới phương thức lãnh đạo và phongcách, lề lối làm việc; bệnh thành tíchcòn nặng và khá phổ biến Một bộphận không nhỏ cán bộ, đảng viênphai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chíphấn đấu, vi phạm nguyên tắc Ðảng,

tự phê bình và phê bình yếu

Công tác quản lý, kiểm tra, giámsát, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán

bộ, đảng viên còn bị buông lỏng,

Những khuyết điểm, yếu kém trên

có nguyên nhân khách quan, songchủ yếu là do một số nguyên nhânchủ quan sau:

Trong quá trình phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng XHchủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc

tế, do chưa lường hết tác động bởimặt trái của cơ chế thị trường nêncông tác xây dựng Ðảng nói chung,xây dựng Ðảng ở cơ sở nói riêng tuy

đã được đổi mới nhưng chưa theokịp sự biến đổi của tình hình

Chưa nhận thức đúng, đầy đủnhiệm vụ then chốt của công tác xâydựng Ðảng; chưa quán triệt sâu sắc

vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụcủa chi bộ, của tổ chức cơ sở đảng

Sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giámsát của cấp ủy cấp trên đối với cơ sởchưa thường xuyên; việc xử lý cán

bộ, đảng viên vi phạm chưa kịp thời,thiếu kiên quyết

Việc ban hành các quy định,hướng dẫn của TW về công tác xâydựng Ðảng còn chậm, thiếu đồng bộ,

một số quy định, hướng dẫn chưa sátthực tế

II- Giải pháp xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn hiện nay

Các cấp ủy, tổ chức đảng cần thựchiện đồng bộ các nhiệm vụ và giảipháp chủ yếu sau đây :

1- Tăng cường công tác giáo dụcchính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũcán bộ, đảng viên có bản lĩnh chínhtrị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chấtđạo đức cách mạng, có ý thức tổchức kỷ luật, thực sự tiền phonggương mẫu, đủ năng lực hoàn thànhnhiệm vụ được giao

Các cấp ủy phải quan tâm làm tốtcông tác chính trị tư tưởng, chủ động

dự báo tình hình để kịp thời trang bịnhững thông tin có định hướng củaÐảng cho cán bộ, đảng viên Ðổimới, nâng cao chất lượng công tácgiảng dạy và học tập lý luận chínhtrị; chú ý bồi dưỡng cho cán bộ, đảngviên kỹ năng lãnh đạo, giải quyếtnhững tình huống cụ thể xảy ra ở cơ

sở Chủ động khắc phục những biểuhiện phai nhạt lý tưởng; chống chủnghĩa cơ hội, thực dụng, vụ lợi, cánhân, trung bình chủ nghĩa; kiênquyết đấu tranh với những luận điệutuyên truyền xuyên tạc, phản động,góp phần làm thất bại mọi âm mưu

"diễn biến hòa bình" của các thế lựcthù địch

Xây dựng sự đoàn kết thống nhấttrong cấp ủy, chi bộ, đảng bộ trên cơ

sở Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệÐảng, đường lối, chính sách củaÐảng và tình đồng chí Cấp ủy phảinắm chắc tình hình tư tưởng, pháthiện kịp thời những cán bộ, đảngviên vi phạm về đạo đức, lối sống,

15

Trang 16

tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực

khác; có biện pháp cụ thể để phòng

ngừa, giáo dục, giúp đỡ và xử lý

nghiêm minh đối với những cán bộ,

đảng viên sai phạm

2- Hoàn thiện mô hình tổ chức của

các loại hình tổ chức cơ sở đảng theo

hướng gắn tổ chức cơ sở đảng với

lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị

và lãnh đạo các tổ chức chính trị

-XH; chăm lo kết nạp đảng viên, nhất

là ở những địa bàn, đơn vị chưa có tổ

chức đảng, chưa có đảng viên

Tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tổ chức

của các tổ chức cơ sở đảng cho đồng

bộ, thống nhất với các tổ chức của hệ

thống chính trị ở cơ sở Ðồng thời,

xây dựng mô hình tổ chức phù hợp

với những tổ chức cơ sở đảng có tính

đặc thù, vừa tạo sự thống nhất chung,

vừa phù hợp với đặc điểm cụ thể của

từng địa phương, đơn vị

Ðối với khu vực xã, phường, thị

dưới đảng bộ phường, thị trấn nói

chung là chi bộ tổ dân phố Những

thôn, tổ dân phố có đông đảng viên

thì thành lập đảng bộ bộ phận, có các

chi bộ trực thuộc Ðối với những

đảng bộ cơ sở trong cơ quan, đơn vị

sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước

hoạt động trên địa bàn nhiều tỉnh,

TP, tổ chức đảng và các đoàn thể

quần chúng trực thuộc nhiều cấp trên

khác nhau, cần sắp xếp lại cho phù

hợp, bảo đảm sự lãnh đạo của tổ

chức cơ sở đảng trong việc thực hiện

mẹ - công ty con và các tổng công tyhạng đặc biệt có nhiệm vụ chính trịthống nhất, có cùng ngành nghề vàsản phẩm chính, gắn bó và chi phốilẫn nhau, thì trên cơ sở tổng kết, rútkinh nghiệm những mô hình đã có đểtừng bước thực hiện chủ trươngthành lập tổ chức đảng toàn tập đoàn,toàn tổng công ty; đồng thời cũngcho phép có một số mô hình có tínhđặc thù Gắn công tác xây dựngÐảng với lãnh đạo thực hiện nhiệm

vụ sản xuất kinh doanh, công tác cán

bộ của doanh nghiệp; có quy định cụthể về mối quan hệ giữa đảng ủy tậpđoàn, đảng ủy tổng công ty với cáccấp ủy địa phương có liên quan

Ðối với các tỉnh, TP có nhiều khucông nghiệp tập trung thì thành lậpđảng bộ cơ sở khu công nghiệp, đặttrực thuộc cấp ủy cấp trên trực tiếpphù hợp Những doanh nghiệp tưnhân, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài có quy mô lớn, đôngcông nhân và đông đảng viên thìthành lập tổ chức cơ sở đảng; nhữngdoanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ,

số lượng công nhân và đảng viên ítthì thành lập chi bộ trực thuộc đảng

ủy cơ sở phù hợp Những địa phươngcòn nhiều thôn, làng, ấp, bản, tổ dânphố, trường học, doanh nghiệp chưa

có tổ chức đảng, chưa có đảng viên,cấp ủy cấp trên trực tiếp của cơ sởphân công cấp ủy viên và các ban,ngành, đoàn thể phụ trách từng đơn

vị để chỉ đạo công tác kết nạp đảngviên, xây dựng tổ chức đảng và các

tổ chức chính trị - XH Những đảngviên làm việc ổn định trong cácdoanh nghiệp phải chuyển sinh hoạt

đảng về nơi làm việc hoặc tổ chứcđảng phù hợp Nâng cao chất lượngkết nạp đảng viên mới, khắc phụcbệnh thành tích, chỉ chú ý nhiều đến

số lượng mà hạ thấp tiêu chuẩn

3- Thực hiện mạnh mẽ chủ trươngtrẻ hóa, tiêu chuẩn hóa, thể chế hóa

và từng bước nhất thể hóa chức danhcán bộ; tạo bước chuyển có tính độtphá về xây dựng đội ngũ cán bộ,công chức ở cơ sở

Ðể trẻ hóa và nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở,cần sớm ban hành chính sách thu hút

để thực hiện chủ trương đưa sinhviên tốt nghiệp đại học, cao đẳng vềcông tác ở xã, phường, thị trấn,doanh nghiệp; có cơ chế, chính sách

để giải quyết đối với những cán bộchưa được chuẩn hóa nhưng chưa đủtuổi, đủ năm công tác để nghỉ theochế độ

Xây dựng hệ thống chính sáchphù hợp và đồng bộ đối với cán bộ,công chức cơ sở xã, phường, thị trấntheo hướng: Một số chức danh cán

bộ chuyên trách ở xã, phường, thịtrấn cần và có đủ điều kiện, tiêuchuẩn theo quy định của Chính phủthì được xem xét chuyển thành côngchức nhà nước để tạo sự liên thôngtrong đội ngũ cán bộ, công chức ởcác cấp; các chức danh cán bộchuyên trách khác không đủ điềukiện, tiêu chuẩn để trở thành côngchức nhà nước thì thực hiện theo chế

độ hiện hành, khi được giữ chức vụ

do bầu cử thì hưởng chế độ phụ cấptrách nhiệm và thực hiện chế độ bảohiểm, khi thôi đảm nhiệm chức vụthì thôi hưởng phụ cấp và đóng bảohiểm tự nguyện

Ðổi mới mạnh mẽ nội dung, hìnhthức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ

cán bộ, công chức cơ sở xã, phường,thị trấn theo chức danh cán bộ; chú ýbồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp

vụ và kinh nghiệm giải quyết nhữngtình huống cụ thể ở cơ sở Hằng năm,cán bộ chuyên trách, cấp ủy viên cơ

sở xã, phường, thị trấn phải được bồidưỡng để cập nhật kiến thức mới tạitrung tâm bồi dưỡng chính trị cấphuyện hoặc trường chính trị tỉnh, TP

Bổ sung, sửa đổi một số quy định

về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức

cơ sở đảng nhằm xác định rõ hơn vaitrò lãnh đạo của tổ chức đảng tronglãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị

và công tác cán bộ Bổ sung, sửa đổicác quy định, hướng dẫn về đánh giáchất lượng tổ chức cơ sở đảng vàđảng viên theo hướng đánh giá đúngthực chất Ban hành hướng dẫn vềđảng viên làm kinh tế tư nhân, việckết nạp chủ doanh nghiệp tư nhânvào Ðảng; xử lý đối với đảng viên cóliên quan đến yếu tố nước ngoài đểthực hiện thống nhất trong toànÐảng

Thực hiện thí điểm chủ trươngnhất thể hóa hai chức danh cán bộchủ chốt ở cơ sở Thực hiện thí điểmtừng bước việc đại hội đảng bộ cơ sởbầu cấp ủy, ban thường vụ, bí thư vàphó bí thư Ðối với những nơi có khókhăn về cán bộ, có thể vận dụng linhhoạt hơn chủ trương chủ tịch hộiđồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhândân xã, phường, thị trấn không giữmột chức vụ quá hai nhiệm kỳ

Các tổ chức cơ sở đảng trong cơquan hành chính nhà nước, đơn vị sựnghiệp, thực hiện thống nhất chủtrương thủ trưởng cơ quan, đơn vịhoặc một đồng chí lãnh đạo của cơquan, đơn vị trực tiếp làm bí thư cấpủy

Trong các đơn vị cơ sở thuộcCông an nhân dân, thực hiện chế độthủ trưởng đơn vị đồng thời làm bíthư cấp ủy, đồng chí lãnh đạo cấpphó làm phó bí thư và phụ trách côngtác xây dựng lực lượng

4- Nâng cao chất lượng, đổi mớimạnh mẽ nội dung, phương thức hoạtđộng của các loại hình tổ chức cơ sởđảng theo hướng vừa mở rộng dânchủ, vừa tăng cường kỷ cương, kỷluật; khắc phục tính hình thức, đơnđiệu trong sinh hoạt, bảo đảm tínhlãnh đạo, tính giáo dục, tính chiếnđấu của tổ chức cơ sở đảng

Tập trung sức củng cố, xây dựng

tổ chức cơ sở đảng vững mạnh vềchính trị, tư tưởng và tổ chức Thựchiện đúng nguyên tắc tập trung dânchủ, nâng cao chất lượng sinh hoạtđảng, thực hiện tự phê bình và phêbình, giữ nghiêm kỷ luật, tăng cườngđoàn kết trong Ðảng Thường xuyêngiáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩmchất chính trị, đạo đức cách mạng,trình độ, kiến thức và năng lực côngtác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên Các cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sởthực hiện nghiêm túc, có nền nếp chế

độ sinh hoạt đảng định kỳ Nội dungsinh hoạt chi bộ phải cụ thể, thiếtthực, giải quyết kịp thời những vấn

đề bức xúc xảy ra ở địa phương, cơquan, đơn vị Mỗi quý, các chi bộphải sinh hoạt chuyên đề ít nhất mộtlần để bồi dưỡng, cập nhật kiến thứcmới cho đảng viên trong chi bộ Việc tự phê bình và phê bìnhtrong sinh hoạt đảng cần tiến hànhthường xuyên, nghiêm túc, thiếtthực, nhất là trong các đợt tự phêbình và phê bình trong quá trình thựchiện Cuộc vận động "Học tập và làmtheo tấm gương đạo đức Hồ Chí

16

Trang 17

Minh"; kịp thời phát hiện và nêu

gương những đảng viên tiền phong

gương mẫu, có thành tích xuất sắc và

giáo dục, giúp đỡ những đảng viên

có sai phạm Thi hành kỷ luật

nghiêm minh đối với đảng viên vi

phạm Ðiều lệ Ðảng và đưa ra khỏi

Ðảng những người không đủ tư cách

đảng viên Ðộng viên những đảng

viên không còn tác dụng tự nguyện

xin ra Ðảng

Ðịnh kỳ 6 tháng một lần, cấp ủy

cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở

đảng kiểm tra việc thực hiện nền

nếp, nội dung, chất lượng sinh hoạt

của các chi bộ và thông báo kết quả

kiểm tra trong toàn đảng bộ Các cấp

ủy viên, người đứng đầu địa phương,

cơ quan, đơn vị và đảng viên là cán

bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp phải

chăm lo chỉ đạo công tác xây dựng

Ðảng ở nơi mình đang sinh hoạt và

phải chịu trách nhiệm khi tổ chức cơ

sở đảng nơi mình sinh hoạt yếu kém

Thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ

cấp ủy viên, bí thư cấp ủy về kỹ năng

cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có

hiệu quả chủ trương, đường lối của

Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà

nước, các nghị quyết, chỉ thị của cấp

ủy cấp trên; về biện pháp quy tụ, tập

hợp quần chúng, phát huy sức mạnh

tổng hợp của hệ thống chính trị ở cơ

sở để thực hiện có kết quả nhiệm vụ

chính trị của địa phương, cơ quan,

đơn vị Những cơ quan, đơn vị sự

nghiệp, doanh nghiệp có đủ số lượng

đảng viên để bố trí cán bộ chuyên

trách thì phân công những đảng viên

có phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm

làm chuyên trách và hưởng lương từ

ngân sách đảng

5- Tăng cường công tác chỉ đạo,kiểm tra, giám sát, quản lý đảngviên; dựa vào dân để xây dựng Ðảng

Các cấp ủy cấp trên phải nắmchắc tình hình cơ sở, phân công cấp

ủy viên trực tiếp phụ trách cơ sở, kịpthời tháo gỡ khó khăn, giải quyếtnhững vấn đề xảy ra ở cơ sở Cácvăn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cấp

ủy cấp trên phải có nội dung ngắngọn và dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện,

dễ kiểm tra, dễ quy trách nhiệm Cán

bộ lãnh đạo, quản lý và các cấp ủyviên cấp trên của tổ chức cơ sở đảngphải bố trí thời gian để gặp gỡ đảngviên và nhân dân tại cơ sở, giải quyếtkịp thời những kiến nghị chính đángcủa đảng viên và quần chúng; bảo vệnhững cán bộ tốt, những người trungthực, thẳng thắn đấu tranh chống tiêucực

Thực hiện nghiêm túc Nghị quyếtHội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành

TW khóa X về tăng cường công táckiểm tra, giám sát của Ðảng; Quyđịnh của Bộ Chính trị về xử lý đảngviên vi phạm; về những điều đảngviên không được làm Cấp ủy cơ sởphải giám sát đảng viên về các mặt,

kể cả đảng viên là cán bộ do cấp ủycấp trên quản lý Phát huy vai trò củaMặt trận Tổ quốc và các đoàn thểchính trị - XH trong việc vận độngnhân dân giám sát cán bộ, đảng viên

ở địa bàn dân cư; tổ chức tốt việc lấyphiếu tín nhiệm đối với các chứcdanh do hội đồng nhân dân cấp xãbầu ra

Các chi bộ phải thực hiện tốt việcphân công công tác cho đảng viên,bảo đảm mọi đảng viên trong chi bộđều được phân công công tác phùhợp Ðối với những đảng viên là cán

bộ nghỉ hưu, sức khỏe yếu và tự

nguyện, được chi bộ và cấp ủy cơ sở

đề nghị, cấp ủy cấp trên trực tiếp của

tổ chức cơ sở đảng xem xét, cấp giấychứng nhận miễn sinh hoạt và côngtác Những đảng viên 2 năm liền xếploại vi phạm tư cách thì đưa ra khỏiÐảng bằng hình thức phù hợp

Hằng năm, các tổ chức cơ sở đảngphải đăng ký phấn đấu thực hiện cácnhiệm vụ với cấp ủy cấp trên, trong

đó có nội dung cam kết không có cán

bộ, đảng viên tham nhũng, lãng phí,tiêu cực và kiên quyết đấu tranhchống tham nhũng, lãng phí, tiêucực Cuối năm, cấp ủy cấp trên căn

cứ vào nội dung đăng ký để đánh giáchất lượng tổ chức cơ sở đảng vàđảng viên

Tiếp tục đổi mới nội dung vàphương pháp đánh giá chất lượng tổchức cơ sở đảng và đảng viên Ðánhgiá chất lượng tổ chức cơ sở đảngphải gắn với kết quả thực hiện nhiệm

vụ chính trị, sự vững mạnh của các

tổ chức trong hệ thống chính trị vàchất lượng đội ngũ cán bộ, đảngviên, đồng thời thông báo để cán bộ,đảng viên và nhân dân tham gia ýkiến Cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổchức cơ sở đảng phải kiểm tra, thẩmđịnh chặt chẽ và chịu trách nhiệm vềkết quả đánh giá chất lượng tổ chức

cơ sở đảng và đảng viên Biểudương, khen thưởng những tổ chức

cơ sở đảng, đảng viên có thành tíchxuất sắc và tuyên truyền, phổ biếnkinh nghiệm để nhân rộng

VI QUẢN LÝ KINH TẾ:

Câu 7: Đổi mới quản lý nhà nước về

kinh tế phù hợp với kinh tế thị trường định hướng XH chủ nghĩa ở nước ta

Trả lời:

Ngày nay, trong điều kiện cạnhtranh và hội nhập quốc tế, quản lýkinh tế là mối quan tâm hàng đầu củacác nước quốc gia Ở nước ta từ khithực hiện đường lối đổi mới của Đảng

và Nhà nước, các nội dung quản lýkinh tế của nhà nước cũng đã và đangđổi mới sâu sắc và triệt để theo hướngngày càng khẳng định cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nướctheo định hướng XHCN

Quá trình phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN cần tăngcường vai trò quản lý nhà nước vềkinh tế nhằm phát huy những mặt tíchcực của cơ chế thị trường, giữ vữngbản chất của chế độ XHCN, đạt đượcmục tiêu của chế độ XHCN và đồngthời khắc phục những mặt hạn chế -tiêu cực của cơ chế thị trường; Quátrình đổi mới quản lý nhà nước vềkinh tế được hình thành từ đại hội VI,được tổng kết thực tiễn qua các Đạihội VII, Đại hội VIII và Đại hội IX

Qua quá trình đổi mới chúng ta đã thuđược một số thành tựu quan trọng: giữvững được ổn định chính trị - XH;

đảm bảo kinh tế tăng trưởng khá; đưanước ta ra khỏi khủng hoảng gópphần to lớn vào thành công của côngcuộc đổi mới Tuy nhiên, quản lý nhànước về kinh tế ở nước ta hiện nayđang đứng trước những thời cơ vàthách thức to lớn, đòi hỏi mỗi cán bộ,đảng viên đặc biệt là cán bộ lãnh đạo,quản lý các cấp cần phải nghiên cứuvai trò, chức năng, quá trình đổi mớiquản lý nhà nước về kinh tế và các

giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế

1 Bản chất, vai trò của QLNN trong nền Kinh tế thị trường

Phát triển kinh tế thị trường địnhhướng XHCN là quá trình khách quan,hợp quy luật và là một nội dung cơbản của công cuộc đổi mới, cải cách ởcác nước XHCN trước đây, trong đó

có nước ta Đây cũng là một quá trìnhkhó khăn, phức tạp vì phải đổi mới cả

cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, tổ chức

bộ máy quản lý và con người, đổi mới

tư duy, phong cách và đường lối cũ đã

ăn sâu vào từng con người Do đó, đổimới thành công hay không lại phụthuộc vào sự lãnh đạo của Đảng vàquản lý của Nhà nước Trong quá trìnhchuyển đổi sang cơ chế thị trường -khi cơ chế thị trường đã được xâydựng đồng bộ, vai trò quản lý kinh tếcủa nhà nước không hề bị suy giảm

Cần nhận thức rằng, tăng cường vaitrò quản lý nhà nước về kinh tế không

có nghĩa nhà nước nắm tất cả, canthiệp vào tất cả mọi hoạt động kinh tếcủa toàn XH, mà trái lại nhà nướcphải nắm những lĩnh vực, những khâu,thực hiện những công việc quan trọngnhất mà thị trường và nhân dân khônglàm được; biết sử dụng cơ chế thịtrường một cách khôn khéo để phục

vụ cho mục tiêu quản lý của mình, biếtphát huy những mặt tích cực của cơchế thị trường và hạn chế mặt tiêu cựccủa cơ chế đó, biết “nắm những cái

17

Trang 18

cần nắm và buông những cái cần

buông”, phát huy động lực của sự phát

triển kinh tế, xử lý những bất trắc và

tình huống mới nảy sinh, đảm bảo cho

cơ chế thị trường ra đời đồng bộ và

vận hành thông suốt, thúc đẩy kinh tế

phát triển

Như vậy, vai trò của nhà nước trong

bước chuyển đổi sang cơ chế thị

trường hết sức quan trọng và nặng nề

vì:

- Vừa phải tiến hành đổi mới cách

thức điều hành từ cơ chế cũ sang cách

thức điều hành, quản lý theo cơ chế

mới, nguyên tắc mới nhằm thiết lập

mối quan hệ hợp lý giữa nhà nước –

thị trường – doanh nghiệp, vừa phải

liên tục hoàn thiện phương pháp, công

cụ và kỹ thuật điều hành trong điều

kiện vừa chuyển đổi vừa hội nhập, vừa

phát triển theo hướng CNH, HĐH đất

nước Quan trọng và khó khăn nhất là

nhà nước phải xác định được phương

hướng, nguyên tắc, lộ trình cải cách

phù hợp và nâng cao năng lực để có

đủ khả năng quản lý nền kinh tế đang

chuyển đổi - hoàn toàn khác với nền

kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước

đây

-Với định hướng XHCN của mô hình

kinh tế đã được Đảng và nhân dân ta

lựa chọn, nhà nước phải thực hiện vai

trò làm người đại diện cho nhân dân

để quản lý nền kinh tế vì lợi ích của

đất nước và nhân dân, là người chịu

trách nhiệm về tài sản công hữu, đồng

thời là một tổ chức chịu sự lãnh đạo

của Đảng, thực hiện thể chế hóa, cụ

thể hóa đường lối, chủ trương của

Chức năng QLNN về kinh tế lànhững nhiệm vụ tổng quát, mà nhànước phải thực hiện để phát huy vaitrò và hiệu lực của mình Chức năngquản lý nhà nước về kinh tế do bảnchất của nhà nước, do yêu cầu củanhiệm vụ chính trị, KT-XH và tìnhhình KT-XH của từng giai đoạn lịch

sử quy định Các chức năng QLNN vềkinh tế quy định vị trí của mỗi cơ quantrong hệ thống QLNN về kinh tế

Một là, chức năng tạo lập môi

trường và điều kiện cho hoạt độngkinh doanh:

Nhà nước bảo đảm môi trường(chính trị, pháp luật, XH ) thuận lợi,bình đẳng cho hoạt động sản xuất kinhdoanh Nhà nước ban hành và bảo đảmviệc thi hành pháp luật, bảo đảm cácđiều kiện và nguyên tắc cơ bản nhưquyền sở hữu, tự do kinh doanh, xử lýtranh chấp theo pháp luật, bảo đảmmột XH lành mạnh, có văn hóa

Với chức năng này, nhà nước có vaitrò như một bà đỡ giúp cho các cơ sởsản xuất kinh doanh, nói cách khác lànhà nước có chức năng tạo ra các dịch

vụ công về môi trường chính trị, pháp

lý, an ninh, thủ tục quản lý, điều kiệnkinh doanh, thông tin, an toàn XH

xử lý tranh chấp theo pháp luật, bảođảm một XH lành mạnh có văn hóa,

Hai là, chức năng định hướng và

hướng dẫn phát triển kinh tế:

Trong nền kinh tế có sự quản lý củaNhà nước, nhà kinh doanh và các tổchức kinh tế được tự chủ kinh doanhnhưng không thể nắm được hết tìnhhình và xu hướng vận động của thịtrường Vì vậy, họ thường chạy theothị trường một cách bị động, dễ gây rathua lỗ, thất bại và đổ vỡ, gây thiệt hạichung cho nền kinh tế Do đó, nhànước có chức năng định hướng pháttriển kinh tế và hướng dẫn các nhàkinh doanh, các tổ chức kinh tế hoạtđộng hướng theo các mục tiêu chungcủa đất nước

Nhà nước định hướng và hướng dẫnbằng các công cụ như chiến lược, quyhoạch, chính sách, kế hoạch, thông tin

và các nguồn lực của nhà nước Nhànước cần sử dụng cách thức tác độnggián tiếp mang tính chất mềm dẻo,uyển chuyển, vừa bảo đảm tính tự chủcác cơ sở kinh tế, vừa bảo đảm mụctiêu chung

Ba là, chức năng tổ chức thực hiện

- Sắp xếp tổ chức lại các đơn vị kinh

tế Trong đó quan trọng và cấp thiếthơn là sắp xếp, củng cố lại các doanhnghiệp nhà nước, tổ chức các vùngkinh tế, các khu công nghiệp, khu chếxuất, để tạo nên cơ cấu kinh tế hợplý

- Tổ chức lại hệ thống quản lý, sắp xếplại các cơ quan quản lý nhà nước vềkinh tế từ TW đến địa phương, đổimới thể chế thủ tục hành chính, sắpxếp lại cán bộ công chức quản lý nhànước và quản lý doanh nghiệp

Bốn là, chức năng điều tiết

Trong khi điều hành nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN, nhà nướcvừa phải tuân thủ và vận động các quyluật khách quan của kinh tế thị trường– phát huy mặt tích cực của cơ chế thịtrường, vừa điều tiết, chi phối hoạt

động theo định hướng của nhà nước,bảo đảm cho kinh tế phát triển ổnđịnh, công bằng và có hiệu quả

Để điều tiết, nhà nước sử dụng hàngloạt biện pháp bao gồm các chínhsách, các đòn bẩy kinh tế, các công cụtài chính, thuế, tín dụng,

Năm là, chức năng kiểm tra, kiểm

soátNhà nước thực hiện chức năng kiểmtra, kiểm soát nhằm thiết lập trật tự, kỷcương trong hoạt động kinh tế, pháthiện và ngăn ngừa các hiện tượng viphạm pháp luật, sai phạm chính sách,bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích củanhân dân, góp phần tăng trưởng kinh

tế và từng bước thực hiện công bằngXH

Ở nước ta, trong điều kiện chuyểnsang nền kinh tế thị trường còn sơkhai, tình trạng rối loạn, tự phát, vô tổchức cần phải đề cao chức năng kiểmtra, kiểm soát của nhà nước

Mối quan hệ giữa các chức năngquản lý nhà nước và kinh tế:

Quản lý nhà nước về kinh tế có 5chức năng cơ bản đã nêu ở trên Nămchức năng này có mối quan hệ chặtchẽ và tác động hỗ trợ lẫn nhau Quátrình quản lý NN về kinh tế phải đồngthời thực hiện cả 5 chức năng, khôngcoi nhẹ hoặc xem nhẹ chức năng nào

Ví dụ: chức năng tạo lập môi trườngtốt tạo điều kiện cho các thành phầnkinh tế phát triển, đồng thời cũng tạocho chức năng kiểm tra, kiểm soátđiều chỉnh, tạo điều kiện cho các chứcnăng khác tốt hơn và ngược lại cácchức năng khác bảo đảm tác độngngược lại chức năng tạo lập môitrường hoặc chức năng định hướng(quy hoạch, kế hoạch) tạo cho mức

tăng tổ chức thực hiện tốt góp phầnphát triển KT-XH phát triển

4.Quá trình đổi mới quản lý nhà

nước về kinh tế ở nước ta

Trước đổi mới (1986): do yêu cầuxây dựng nền kinh tế theo chế độ cônghữu phi hàng hóa và được quản lý theo

cơ chế kế hoạch hóa tập trung nên Nhànước quản lý tuyệt đối toàn bộ đờisống KT-XH, nắm và chi phối toàn bộhoạt động kinh tế của đất nước vàkhông chỉ thực hiện toàn bộ các chứcnăng quản lý nhà nước về kinh tế màcòn làm cả chức năng trực tiếp quản lýsản xuất, can thiệp sâu vào hoạt độngsản xuất kinh doanh các đơn vị kinh tế

cơ sở

Cơ chế quản lý đó đã thực hiệnđược những mục tiêu kinh tế và chínhtrị - XH quan trọng, thể hiện được tính

ưu việt của CNXH trên nhiều mặt.Tuy nhiên, cơ chế quản lý đó cũng bộc

lộ nhiều khuyết tật, về cơ bản là triệttiêu động lực phát triển, nền kinh tế trìtrệ, rơi vào tình trạng khan hiếm, dẫntới khủng hoảng KT-XH Còn nhànước thì bao biện, làm thay đổi thịtrường và xã hội, bộ máy cồng kềnh,quan liêu, quản lý kém hiệu lực vàhiệu quả Thực trạng đó buộc nhànước phải đổi mới quản lý kinh tế vàđổi mới quản lý nhà nước về kinh tế

Từ khi đổi mới đến nay: nước tatiến hành đổi mới toàn diện từ năm

1986, Đại hội VII, VIII, IX của Đảngtiếp tục phát triển quan điểm đổi mới

đó Trong quá trình chuyển đổi sangnền kinh tế thị trường, vai trò quản lýnhà nước về kinh tế không hề bị suygiảm mà ngày càng tăng lên; Trongnền kinh tế thị trường hoạt động kinh

tế do thị trường và XH đảm nhận, nhànước chỉ tập trung thực hiện nhữngchức năng quản lý chủ yếu nhất mà thị

18

Trang 19

trường và XH không làm được và làm

không tốt

4.1 Thành tựu của đổi mới quản lý

nhà nước về kinh tế.

Sau hơn 27 năm thực hiện chủ

trương đổi mới quản lý nhà nước về

kinh tế, nước ta đã đạt được một số

thành tựu quan trọng: nhà nước đã

phát huy vai trò, quản lý kinh tế - XH,

đổi mới quản lý kinh tế nhưng vẫn giữ

vững ổn định chính trị - XH, tăng

trưởng kinh tế khá, đưa nước ta ra

khỏi khủng hoảng; đổi mới cơ chế,

chính sách quản lý kinh tế và điều

hành, xử lý các tình huống có kết quả

tốt Nhà nước cũng đã đổi mới hệ

thống kinh tế nhà nước, đổi mới hệ

thống tổ chức bộ máy nhà nước, đổi

mới và xây dựng đội ngũ cán bộ, công

chức quản lý nhà nước phù hợp với cơ

chế mới Do đó, đã góp phần to lớn

vào phát triển KT-XH và thành công

của công cuộc đổi mới Cụ thể, từ khi

đổi mới, nhà nước đã thực hiện thành

công các nội dung sau đây:

triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng cơ

bản như giao thông, điện, nước, thông

tin liên lạc

Ba là, chuyển đổi cách thức định

hướng, hướng dẫn từ kiểu trực tiếp

trước đây sang kiểu gián tiếp: nhà

nước chủ yếu quản lý kinh tế vĩ mô,

tăng cường sử dụng các chính sách

kinh tế như tài chính, tiền tệ

Bốn là, trong quá trình phát triển,

nhà nước thực hiện điều tiết thành

công, đảm bảo các tiêu chí công bằng

XH trong điều kiện trình độ phát triểnkinh tế còn thấp

Năm là, bước đầu làm quen và từng

bước đổi mới các phương pháp kiểmtra, kiểm soát phù hợp với điều kiệnthị trường

4.2 Hạn chế của đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế

Thứ nhất, quản lý nhà nước chưa

ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới,chưa phát huy đầy đủ mặt tích cực vàhạn chế được tính tự phát, tiêu cực củakinh tế thị trường

Thứ hai, hệ thống pháp luật, cơ chế

chính sách chưa đồng bộ và nhất quán,thực hiện chưa nghiêm

Thứ ba, quản lý các lĩnh vực tài

chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạchhóa, thương mại, phân phối thu nhập,đất đai, vốn và tài sản của nhà nướcchưa tốt và chậm đổi mới

Thứ tư, tổ chức bộ máy quản lý nhà

nước còn nặng nề quan hệ phân công

và hợp tác chưa rõ ràng còn nhiềuvướng mắc; tình trạng tham nhũng,lãng phí, quan liêu, phân tán cục bộcòn nghiêm trọng; cán bộ và côngchức nhà nước còn nhiều hạn chế cả

về trình độ năng lực và phẩm chất,chưa tương xứng với yêu cầu củanhiệm vụ

Thứ năm, cải cách hành chính tiến

vì dân và quản lý nền kinh tế đangchuyển sang kinh tế thị trường là côngviệc mới mẻ phải vừa làm, vừa tìm tòi,rút kinh nghiệm

- Việc đổi mới hệ thống tổ chức bộmáy quản lý nhà nước về kinh tế trongđiều kiện cụ thể của nước ta, vừa thiếu

cơ sở lý luận khoa học nên khi thựchiện còn vướng mắc hiệu quả và tácdụng còn hạn chế, vừa thiếu tráchnhiệm và kiên quyết tự đổi mới, tựchỉnh đốn của các cơ quan quản lý nhànước để đảm bảo sự trong sạch vànâng cao hiệu quả hoạt động quản lý

- Sự lãnh đạo của Đảng đối với việcđổi mới và kiện toàn bộ máy quản lýnhà nước còn nhiều hạn chế

5 Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời gian tới

Quản lý nhà nước về kinh tế ở nước

ta đang đứng trước những thời cơ vàthách thức lớn Chúng ta đã có kinhnghiệm và kết quả của trên 25 năm đổimới, đang đứng trước xu thế mở cửa,hội nhập và hợp tác quốc tế; nhưngkhủng hoảng kinh tế khu vực và thếgiới vẫn còn nặng nề; việc nhà nướcphải tự đổi mới, tự cải cách hệ thốngquản lý càng trở lên phức tạp hơn;

cạnh tranh quốc tế ngày càng ngay gắt

Tất cả các yếu tố đó đòi hỏi quản lýnhà nước về kinh tế phải tiếp tục đổimới một cách toàn diện Yêu cầu đặt

ra là phải tiếp tục đổi mới quản lý nhànước để nhà nước thực sự của dân, dodân, vì dân dưới sự lãnh đạo củaĐảng; bộ máy nhà nước trong sạchvững mạnh, hoạt động có hiệu lực,hiệu quả; cán bộ, công chức nhà nướcthực sự là công bộc của dân, làm tốtcông tác quản lý kinh tế XH

5.1 Nhận thức và xử lý tốt mối quan

hệ giữa nhà nước với nhân dân, giữa

sự lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước về kinh tế, giữa quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp.

- Cần khẳng định rằng nhân dân làmngười chủ đích thực và cao nhất củađất nước, nhà nước là đại diện củanhân dân để quản lý đất nước, do nhândân bầu ra và chịu sự giám sát củanhân dân Do đó, nhà nước phải tôntrọng quyền làm chủ của dân, phục vụdân, còn nhân dân phải chấp hànhnghiêm chỉnh pháp luật, chính là sựbảo vệ quyền làm chủ của mình

- Cần nhận thức và phân biệt rõ chứcnăng lãnh đạo của Đảng và chức năngquản lý nhà nước Đảng lãnh đạo kinh

tế bằng đường lối, chính sách và bằngphương pháp giáo dục, thuyết phục,còn nhà nước thể chế hóa đường lốichính sách của Đảng thành pháp luật,quản lý, điều hành nền kinh tế Thôngqua nhà nước, đảng đưa đường lối,chính sách của Đảng vào cuộc sống,như vậy Đảng phải tăng cường lãnhđạo nhà nước nhưng không làm thaynhà nước và tạo điều kiện để phát huytính chủ động và nâng cao hiệu quảquản lý, điều chỉnh của nhà nước

- Đối với các doanh nghiệp, nhà nước

có chức năng và trách nhiệm quản lýnhà nước về kinh tế, không can thiệptrực tiếp vào hoạt động kinh doanh củacác doanh nghiệp Riêng các doanhnghiệp nhà nước, tùy theo sự phân cấp

và ủy quyền của chính phủ và các bộ,

cơ quan thuộc chính phủ và ủy bannhân dân địa phương có trách nhiệmđại diện sở hữu nhà nước đối vớidoanh nghiệp trên một số chức năngnhất định nhưng phải tôn trọng quyền

tự chủ, không can thiệp sâu vào hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp

5.2 Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về KTế

- Nâng cao hiệu lực quản lý thống nhấtcủa nhà nước TW đi đôi với phân cấp

quản lý cho địa phương Để thực hiệnnguyên tắc này, nhà nước TW chỉ tậptrung quản lý ở tầm chiến lược, chínhsách quốc gia, chương trình, quyhoạch, kế hoạch, các chính sách kinh

tế lớn có tác dụng chung cho toàn bộnền kinh tế Còn chính quyền địaphương có trách nhiệm và thẩm quyềnquyết định những vấn đề của địaphương, đặc biệt là kế hoạch đầu tưcho các khu vực công cộng, thu chingân sách, về tổ chức và nhân sự hànhchính địa phương, xử lý các vụ việchành chính

- Tăng cường phối hợp quản lý theongành và theo lãnh thổ Các ngành

TW có trách nhiệm quản lý theo ngànhtrên phạm vi cả nước bao gồm tất cảcác thành phần kinh tế Chính quyềnđịa phương có trách nhiệm quản lýtoàn bộ hoạt động kinh tế trên phạm vilãnh thổ

5.3 Đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước.

- Tiếp tục xây dựng hoàn chỉnh hệthống pháp luật kinh tế, bao gồm hệthống luật và văn bản pháp quy nhằmtạo khuôn khổ pháp lý cho việc hìnhthành đồng bộ các yếu tố thị trườngtheo định hướng XHCN; đổi mới côngtác kế hoạch hóa đảm bảo phù hợp vàđịnh hướng được nền kinh tế thịtrường đang trong bước sơ khai quanhiều biến động Xây dựng và hoànchỉnh các chính sách kinh tế và XH,trong đó quan trọng nhất là chính sáchtài chính – tiền tệ

- Cải cách một bước thủ tục hànhchính cả về quy chế và tổ chức thựchiện, giảm đến mức tối đa các thủ tục,quy chế và tình trạng quan liêu, sáchnhiễu và phiền hà đối với nhân dân vàcác doanh nghiệp

19

Ngày đăng: 19/02/2015, 16:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w