1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN VAI TRÒ của KINH tế NHÀ nước TRONG VIỆC KHẮC PHỤC NHỮNG hạn CHẾ của nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM HIỆN NAY

29 737 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 208 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bất cứ Nhà nước nào cũng có vai trò kinh tế nhất định đối xã hội mà nó quản lý. Tuỳ thuộc vào bản chất của Nhà nước và trình độ phát triển kinh tế của từng chế độ xã hội mà vai trò kinh tế của Nhà nước có những biểu hiện thích hợp. Các nhà nước trước chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, vai trò kinh tế chủ yếu thể hiện ở việc điều tiết bằng thuế và luật pháp.Đến CNTB độc quyền nhà nước, với sự xuất hiện khu vực sở hữu nhà nước, làm cho nhà nước tư sản bắt đầu có vai trò kinh tế mới. Ngoài việc điều tiết nền sản xuất xã hội thông qua thuế và luật pháp, nó còn có vai trò tổ chức quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Bất cứ Nhà nước nào cũng có vai trò kinh tế nhất định đối xã hội mà nóquản lý Tuỳ thuộc vào bản chất của Nhà nước và trình độ phát triển kinh tế củatừng chế độ xã hội mà vai trò kinh tế của Nhà nước có những biểu hiện thíchhợp Các nhà nước trước chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, vai trò kinh tếchủ yếu thể hiện ở việc điều tiết bằng thuế và luật pháp

Đến CNTB độc quyền nhà nước, với sự xuất hiện khu vực sở hữu nhànước, làm cho nhà nước tư sản bắt đầu có vai trò kinh tế mới Ngoài việc điềutiết nền sản xuất xã hội thông qua thuế và luật pháp, nó còn có vai trò tổ chứcquản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước

Đến nhà nước XHCN có vai trò kinh tế đặc biệt đó là: Tổ chức, quản lýtoàn bộ nền kinh tế quốc dân ở cả tầm vĩ mô và vi mô, trong đó vĩ mô là chủyếu, bởi vì: Nhà nước XHCN là người đại diện cho nhân dân, toàn xã hội,nhiệm vụ tổ chức, quản lý đất nước về mọi mặt hành chính, kinh tế, xã hội; Nhànước XHCN là người đại diện cho sở hữu toàn dân về TLSX có nhiệm quản lýcác doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước

Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta với tư cách là một hình thái kinh

tế - xã hội, có những mặt tích cực và hạn chế ở cả LLSX; QHSX và Kiến TrúcThượng Tầng Vì vậy cần có sự quản lý của nhà nước để hạn chế mặt tiêu cực,phát huy mặt tích cực nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế một cáchbền vững Với ý nghĩa đó tác giả chọn vấn đề: “Vai trò của nhà nước trong khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay” Để nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

1 Những hạn chế của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

Mô hình KTTT định hướng XHCN mà chúng ta đang xây dựng đó là môhình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ đi lên xây dựng CNXH ở nước tahiện nay Đó chính là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơchế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và quản lý của nhà nướcXHCN dựa trên LLSX hiện đại, với nhiều loại hình sở hữu ( 3 loại hình sở hữu

đó là: sở hữu toàn dân; sở hữu tập thể và sở hữư tư nhân) Nhiều thành phần kinh

tế bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nướccùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tếquốc dân

Trang 2

Thực tế sau 30 năm đổi mới chúng ta đã đạt được những thành tựu vô cùngquan trọng và thật đáng tự hào Kể cả những năm gần đây khi mà kinh tế thếgiới rơi vào khủng hoảng, song chúng ta vẫn đạt được những thành tựu nhấtđịnh Văn kiện đại hội 11 đảng ta khẳng định: “ Nền kinh tế vượt qua nhiều khókhăn, thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởngkhá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kémphát triển”.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được nghiêm túc kiểm điểm Đảng ta cũngchỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm hết sức cụ thể

“Kinh tế phát triển chưa bền vững; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh

thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, cơ hội và yêu cầu phát triển của đất nước;một số chỉ tiêu không đạt kế hoạch Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộngdựa vào tăng đầu tư, khai thác tài nguyên; các cân đối vĩ mô chưa vững chắc.Công nghiệp chế tạo, chế biến phát triển chậm, gia công, lắp ráp còn chiếm tỉtrọng lớn Cơ cấu kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực chuyển dịch theo hướng tíchcực nhưng còn chậm Cơ cấu trong nội bộ từng ngành cũng chưa thật hợp lý.Năng suất lao động xã hội thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực Nănglực cạnh tranh quốc gia chậm được cải thiện Đầu tư vẫn dàn trải Hiệu quả sửdụng các nguồn vốn đầu tư còn thấp, còn thất thoát, lãng phí, nhất là nguồn vốnđầu tư của Nhà nước Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển chậm, thiếu đồng bộ,đặc biệt đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số Chất lượng nhiều công trìnhxây dựng cơ bản còn thấp Quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiênhiệu quả chưa cao, còn lãng phí Tình trạng khai thác rừng, khai thác khoáng sảnbất hợp pháp vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi, nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu,ngăn chặn kịp thời Trình độ phát triển giữa các vùng cách biệt lớn và có xuhướng mở rộng Các chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế không đạt kế hoạch Đại hội X đề ra

Những yếu tố bảo đảm định hướng XHCN của nền KTTT chưa được chú ýđúng mức Một số tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua

lỗ, gây bức xúc trong xã hội Chỉ đạo đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, cácnông, lâm trường quốc doanh chậm, lúng túng Chất lượng xây dựng và thựchiện quy hoạch, kế hoạch phát triển một số ngành, vùng, nhất là quy hoạch sửdụng đất đai, tài nguyên khoáng sản còn yếu, gây lãng phí, thất thoát lớn Quản

lý thị trường, nhất là thị trường bất động sản, thị trường tài chính, có lúc cònlúng túng, sơ hở, thiếu chặt chẽ dẫn đến tình trạng đầu cơ, làm giàu bất chínhcho một số người; chính sách phân phối còn nhiều bất hợp lý” Tiếp cận dưới

Trang 3

góc độ kinh tế chính trị có thể khẳng định những hạn chế của nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay được thể hiện ở những nội dungsau đây:

Một là, chậm chễ trong đổi mới tư duy lý luận về KTTT định hướng XHCN

Cụm từ KTTT định hướng XHCN được sử dụng chính thức trong văn kiệnđại hội 9 ĐCSVN năm 2001 Song trên thực tế về mặt pháp lý việc xây dựng vàphát triển nó bắt đầu từ đại hội 6 ĐCSVN năm 1986 Có thể khẳng định rằng sauhơn 26 năm đổi mới tư duy lý luận về KTTT định hướng XHCN của chúng tachưa theo kịp và đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn nhất là những vấnđề: về sở hữu, về thành phần kinh tế, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vềđịnh hướng XHCN của nền KTTT, về vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lýcủa Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN.v.v vẫn chưa được làm sáng

tỏ, chưa đi đến thống nhất còn tranh luận, bàn cãi nhiều Việc nghiên cứu lý luậntrên cơ sở tổng kết thực tiễn về KTTT ở nước ta cần phải nỗ lực cố gắng nhiềuhơn nữa mới đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đặt ra

Hai là, nhà nước pháp quyền XHCN còn nhiều yếu kém.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN chưa theo kịp yêu cầu phát triển

của nền kinh tế và quản lý đất nước Năng lực xây dựng thể chế kinh tế, quản lý,

điều hành, tổ chức thực thi luật kinh tế còn yếu Tổ chức bộ máy ở nhiều cơquan còn chưa hợp lý, biên chế cán bộ, công chức tăng thêm; chức năng, nhiệm

vụ của một số cơ quan chưa đủ rõ, còn chồng chéo Chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức trong quản lý Nhà nước về kinh tế chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm

vụ trong tình hình mới của đất nước Cải cách hành chính kinh tế chưa đạt yêucầu đề ra; thủ tục hành chính kinh tế còn gây phiền hà cho các chủ thể kinh tế.Năng lực dự báo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực kinh tếcòn yếu; phân cấp mạnh nhưng thiếu kiểm tra, kiểm soát; trật tự, kỷ cương kinh

tế không nghiêm Cải cách tư pháp kinh tế còn chậm, chưa đồng bộ Công tácđiều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số vụ án kinh tế chưa chính xác; ántồn đọng, án bị huỷ, bị cải sửa còn nhiều

Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí về kinh tế chưa đạt được yêucầu đề ra Quan liêu, tham nhũng, lãng phí về kinh tế vẫn còn nghiêm trọng, vớinhững biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xãhội

Ba là, duy trì khu vực kinh tế nhà nước cồng kềnh, yếu kém

Sau nhiều lần cải tổ, cải cách, xắp xếp, đổi mới bộ máy tổ chức của khuvực kinh tế nhà nước vẫn còn khá cồng kềnh; hiệu quả hoạt động còn nhiều yếu

Trang 4

kém nhất là các DNNN: Kết luận số 50-KL/TW, ngày 29/10/2012, Hội nghị lầnthứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Đề án “Tiếp tục sắp xếp,đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” Đảng ta chỉ rõ: Việc sắpxếp và cổ phần hóa DNNN còn chậm, chưa chặt chẽ; trình độ công nghệ lạc hậu,quản trị doanh nghiệp còn nhiều yếu kém, hiệu quả thấp Việc phân định chứcnăng quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu nhà nước còn chưa đủ rõ; thểchế, cơ chế quản lý, giám sát của chủ sở hữu nhà nước có nhiều sơ hở, yếu kém.

Cơ cấu ngành, lĩnh vực chưa hợp lý, dàn trải, đầu tư ra ngoài ngành kém hiệuquả Một số doanh nghiệp vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gây thất thoát, lãngphí lớn vốn và tài sản nhà nước

Tái cơ cấu DNNN còn gắn chặt với mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp Đây

là chủ trương lớn nhưng đến nay cổ phần hóa diễn ra với tốc độ hết sức chậm chạp.Khởi động từ năm 1992, đẩy mạnh vào năm 2001, nhưng theo con số thống kê, đếnhết năm 2011 trên địa bàn cả nước mới cổ phần hóa được 4.000 doanh nghiệp, gópphần cơ bản vào việc sắp xếp DNNN từ chỗ 12.000 doanh nghiệp nay chỉ còn6.000 doanh nghiệp Đặc biệt từ năm 2011 đến nay, tình hình cổ phần hóa chậmhẳn lại Trong năm 2011 cả nước chỉ cổ phần hóa được 60 doanh nghiệp Kế hoạch

2012 cổ phần hóa 93 doanh nghiệp đã không hoàn thành

Chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của DNNN cònthấp, chưa tương xứng với tiềm năng, đầu tư của Nhà nước Một số doanhnghiệp sản xuất, kinh doanh thua lỗ, trình độ công nghệ chỉ đạt mức trung bình,năng suất lao động thấp, năng lực cạnh tranh yếu

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, DNNN chiếm 70% vốn đầu tư toàn

xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 60% tín dụng của các ngân hàng thương mại,70% nguồn vốn ODA nhưng chỉ đóng góp khoảng 37% - 38% GDP Có đến31% DNNN bị lỗ trong sản xuất kinh doanh, 29% hoạt động không hiệu quả.Còn theo Tổng cục Thống kê, mức lỗ bình quân của một DNNN bị lỗ cao gấp

12 lần so với doanh nghiệp ngoài nhà nước

Báo cáo tại Hội nghị Chính phủ với Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhànước diễn ra sáng 16/1/2012 Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo đổi mới

và Phát triển doanh nghiệp cho biết, tổng nợ phải trả của các TĐ, TCT năm 2012trên 1,33 triệu tỷ đồng, một số TĐ, TCT vượt tỷ lệ nợ cho phép

Đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, các chuyên giakinh tế còn nhìn nhận vấn đề ở một góc độ khác: hệ số ICOR, chỉ số đo lường sốđơn vị vốn cần tăng thêm để tạo ra một một đơn vị sản lượng Theo báo cáocạnh tranh của Viện Cạnh tranh châu Á: chỉ số ICOR của Việt Nam giai đoạn

Trang 5

2006 - 2008 là 5,3 Đây là con số cao hơn hẳn so với các nước và khu vực nềncông nghiệp mới trong đầu thời kỳ tăng trưởng kinh tế 1961 - 1980 Theo đó hệ

số ICOR của Hàn Quốc là 3, Đài Loan là 2,7 Thái Lan giai đoạn 1981 - 1995 là4,1 Đáng quan tâm và lo lắng hơn, hệ số ICOR của các doanh nghiệp khu vựcnhà nước ngày càng tăng cao Giai đoạn 2011 - 2012 đã lên đến 7,5 Sự kémhiệu quả này, cùng với sự nóng vội, duy ý chí mở quá nhanh quy mô hoạt động,đầu tư tràn lan ra ngoài lĩnh vực hoạt động chính nhất là lĩnh vực bất động sản

và ngân hàng, khiến hàng loạt doanh nghiệp nhà nước, trong đó có các tập đoànkinh doanh lỗ, làm lãng phí lớn tài sản công của nhà nước

Bốn là, thể chế KTTT định hướng XHCN chưa hoàn thiện

Thể chế kinh tế hiện nay chưa tạo ra bình đẳng thật sự trong sân chơi kinhdoanh giữa các thành phần kinh tế thể hiện ở: quy chế về cho vay vốn, cấp và chothuê đất, về chế độ thuế, ưu tiên xuất – nhập khẩu, quan điểm của nhà nước đối vớirủi ro, thua lỗ của doanh nghiệp…Thực tế quy chế còn có sự đối sử, phân biệt giữacác thành phần kinh tế Nhất là còn dành nhiều ưu ái cho các DNNN

Có quá nhiều số lượng văn bản, mâu thuẫn giữa các quy định, thẩm quyền

ban hành các thể chế quá rộng rãi, giao cho nhiều cơ quan Số lượng văn bảnquá nhiều, nếu không kịp thời đơn giản hoá thì không những hiệu lực không cao

mà còn có thể dẫn tới lạm dụng thể chế Chỉ thực hiện những thể chế có lợi, cònthể chế khác thì không Việc cải cách các thủ tục hành chính chưa đạt được nhưmong đợi, chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của công cuộc đổi mới

Tốc độc cải cách hành chính còn chậm, việc xác định và phân công chứcnăng, nhiệm vụ của chính phủ và các cơ quan trung ương chưa hợp lý, cònchồng chéo trùng lắp, còn có sự giao thoa, đan xen về phạm vi, đối tượng, giữacác bộ, các nghành Không làm rõ phạm vi quản lý của từng Bộ, Nghành, từ đókhó xác định kết quả, hiệu quả công việc của mỗi cơ quan cũng như trách nhiệmkhi xảy ra những sai sót trong hoạt động quản lý kinh tế của nhà nước Dẫn đếntình trạng cha chung không ai khóc

Năn là, hạ tầng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN rất yếu kém và lạc hậu

Kết cấu hạ tầng hay còn gọi là môi trường kỹ thuật là một trong những điểmnghẽn cản trở sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế hiện nay Kết cấu hạ tầngbao gồm: giao thông vận tải, năng lượng, bưu chính viễn thông, điện, nước, bảohiểm, dịch vụ, ngân hàng.v.v Đây là những nghành phải mang tính hậu thuẫncao cho nền kinh tế, đóng vai trò then chốt, mở đường, hỗ trợ, dẫn dắt, địnhhướng các thành phần kinh tế cùng phát triển theo quỹ đạo XHCN Song trên

Trang 6

thực tế lại không mang lại được kỳ vọng như mong muốn Thậm chí có nhữngmặt còn được xem là yếu kém và lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển Vì vậy,kết cấu hạ tầng được xác định là một trong ba khâu đột phá trong chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay.

Sáu là, nền kinh tế chưa bảo đảm chất lượng, hiệu quả, sự phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh

Chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp dẫn đếnnhững mục tiêu của phát triển bền vững chưa được bảo đảm một cách vững chắc

cả về nội hàm và ngoại diên Biểu hiện cụ thể: Chỉ tiêu giá trị gia tăng của nền

kinh tế thấp; Năng suất lao động tổng hợp (TFP) thấp; Môi trường kinh doanh,đầu tư tuy có được cải thiện nhưng so với yêu cầu còn khoảng cách lớn; Sứccạnh tranh của nền kinh tế không cao (Sản phẩm với sản phẩm; doanh nghiệp

với doanh nghiệp; quốc gia với quốc gia)

Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quantrong đó nguyên nhân chủ quan là quan trọng nhất cụ thể là chúng ta chưa bảo đảmcác điều kiện cần thiết cho phát triển KTTT định hướng XHCN

2 Vai trò của nhà nước trong khắc phục những hạn chế của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

Trên cơ sở những hạn chế của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đãtrình bày ở nội dung trên, chúng ta thấy để khắc phục những hạn chế này thì việccan thiệp của Nhà nước (Chính phủ) vào nền kinh tế là một đòi hỏi tất yếu Vềvai trò của chính phủ trong khắc phục những hạn chế của nền KTTT định hướngXHCN ở nước ta hiện nay được thể hiện ở các nội dung sau đây:

2.1 Chức năng quản lý kinh tế của nhà nước

Một là: Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi và đảm bảo ổn định chính trị, xã hội cho sự phát triển kinh tế.

Thứ nhất, tạo lập môi trường pháp lý

Nội dung này phản ánh năng lực xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTTđịnh hướng XHCN của nhà nước nó bao gồm: thiết lập khung khổ pháp luật, cácnguyên tắc, quy định trong hoạt động kinh tế; xây dựng các cơ chế, chính sáchdựa trên cơ sở hiến pháp, pháp luật, các đạo luật, các văn bản quy phạm phápluật, các nghị định, thông tư, hướng dẫn cụ thể đối với từng nghành, từng lĩnhvực của nền kinh tế, nói cách khác nó là cơ chế vận hành của nền kinh tế Điềuquan trọng hơn cả là xây dựng tổ chức, bộ máy vận hành của nền kinh tế

Trang 7

Như vậy, thể chế KTTT định hướng XHCN bao gồm khung khổ pháp luật;

cơ chế, cách thức vận hành, các loại thị trường cơ bản và tổ chức, bộ máy đểđiều hành hệ thống đó Thể chế được ví như hai bờ của một con sông; cơ chế chỉ

ra phương thức, cách thức vận hành của hệ thống; Như vậy tạo lập môi trườngpháp lý chính là tạo ra sân chơi, luật chơi, cách chơi và người chơi trong các tròchơi kinh tế Các chủ thể tham gia vào các trò chơi kinh tế đều bình đẳng trướcpháp luật, không phân biệt, đối xử Vì vậy nó sẽ góp phần chống rủi ro, chốngđộc quyền, chống lợi ích nhóm…

Mục đích bảo đảm cho nền kinh tế vận hành lành mạnh, an toàn, hiệu quả;kêu gọi, kích thích đầu tư cả ở trong nước và nước ngoài; khắc phục nhữngkhuyết tật của nền KTTT; ổn định kinh tế vĩ mô Góp phần định hướng XHCNcho nền KTTT ở nước ta

Hệ thống pháp luật của chúng ta hiện nay vừa yếu, vừa thiếu Vì vậy việc

bổ xung, sửa đổi hiến pháp năm 1992 để trình Quốc hội thông qua trong giaiđoạn hiện nay là một tất yếu khách quan, là mệnh lệnh của cuộc sống Đối vớilĩnh vực kinh tế cần tập trung làm tốt các nội dung sau đây:

Hoàn thiện môi trường thể chế, tôn trọng tự do cạnh tranh và kiểm soát độcquyền Hoàn thiện môi trường thể chế, trước hết là môi trường pháp lý, để thịtrường hoạt động trong một hành lang pháp lý thông thoáng và minh bạch lànhiệm vụ cấp bách để thúc đẩy sự phát triển các loại thị trường ở Việt Namtrong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế Hiện nay, môi trường pháp lý

và năng lực quản lý nhà nước của các cơ quan công quyền chưa thực sự đáp ứngđược với yêu cầu phát triển của thị trường Để tạo môi trường thể chế phát triểncác loại thị trường, trước hết cần rà soát lại hệ thống văn bản pháp luật nhằmkhắc phục những quy định không thống nhất giữa các văn bản, xóa bỏ những bấtcập trong hệ thống chính sách và pháp luật hiện hành làm ảnh hưởng đến việchình thành môi trường kinh doanh chung của nền kinh tế và hội nhập kinh tếquốc tế Các văn bản pháp luật phải có tính thực thi cao, phù hợp với thực tiễn

và có tính ổn định tương đối

Thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm hẳn sự canthiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp Để thực hiệnnhiệm vụ này cần xác định các định hướng: tách chức năng quản lý hành chínhcủa Nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp Xoá bỏ

"chế độ chủ quản"; tách hệ thống cơ quan hành chính công khỏi kinh tế cơ quan

sự nghiệp; phát triển mạnh các dịch vụ công cộng (giáo dục và đào tạo, khoa học

và công nghệ, y tế, văn hoá, thể dục thể thao)… Thực hiện việc phân công, phối

Trang 8

hợp giữa các chức năng hành pháp, tư pháp và lập pháp trong hoạt động của bộmáy Nhà nước, khắc phục sự chồng chéo, bỏ sót và giảm hiệu lực quản lý của

bộ máy Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật theohướng minh bạch, công khai, tạo ra môi trường kinh doanh, cạnh tranh bìnhđẳng cho mọi thành viên tham gia thị trường, chú ý tạo môi trường tâm lý xã hộithuận lợi cho việc khuyến khích, tạo điều kiện cho phát triển khu vực kinh tế tưnhân, khắc phục tư tưởng kỳ thị, phải coi sự phát triển kinh tế tư nhân như mộtđộng lực phát triển của kinh tế dân tộc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.Thực sự coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành củaKTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, được khuyến khích phát triển lâu dài,bình đẳng với các thành phần kinh tế khác

Vấn đề đặt ra ở đây chính là phải nâng cao phẩm chất, năng lực,

chuyên môn của các cơ quan soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật

Hệ thống luật phải đầy đủ, đồng bộ, mang tính ổn định cao phù hợp với quốcgia và thông lệ quốc tế Vì vậy hệ thống luật phải được xây dựng hết sứckhoa học, nhất là phải xuất phát từ thực tiễn, từ đòi hỏi của cuộc sống Đápứng được yêu cầu cả trước mắt và lâu dài tránh áp đặt , chủ quan, duy ý chí.Trên cơ sở đó phải tiếp tục nâng cao năng lực xây dựng luật, đồng thời nângcao dân trí và trình độ nhận thức và chấp hành pháp luật Tiếp tục hoàn thiệncác bộ luật liên quan đến KTTT

Thứ hai, tạo lập môi trường chính trị- xã hội

Tức là xây dựng môi trường chính trị- xã hội ổn định, an toàn cho các nhàđầu tư Nếu môi trường chính trị -xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện đểđổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp những điều kiện thực tế.Tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng, trực tiếp góp phần địnhhướng XHCN cho nền KTTT Ngược lại môi trường chính trị- xã hội không ổnđịnh sẽ gây ra cản trở, thậm chí phá vỡ những quan hệ cơ bản làm cho nền kinh

tế rơi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng trầm trọng Thậm chí gây ra nhữngxung đột chính trị- xã hội

Môi trường chính trị -xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện để nền kinh tế hoạtđộng thật sự hiệu quả, tranh thủ được vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của thếgiới, tập hợp được đông đảo đội ngũ những người có năng lực quản lý, có trình

độ khoa học kỹ thuật tiên tiến đủ sức lựa chọn và áp dụng thành công các kỹthuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất trong nước, cũng như đổi mới cơ chế

Trang 9

quản lý, tạo sự kích thích mạnh mẽ mọi nguồn lực vật chất trong nước hướngvào đầu tư cho sản xuất và xuất khẩu.

Để có được môi trường chính trị- xã hội ổn định đòi hỏi Đảng, Nhà nướcphải có đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn Nhất là phải giữ vững độc lập chủquyền quốc gia, dân tộc, phải khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc

tế Đặc biệt nhà nước phải có công cụ bạo lực mạnh như Công an, Quân đội,Tòa án…mạnh, đủ sức răn đe và đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của bọn phảnđộng trong nước và các thế lực thù địch quốc tế Không bị bất ngờ, xử lý có hiệuquả mọi tình huống xảy ra, sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quantrọng để phát triển Nó là điều kiện quan trọng để các nhà sản xuất kinh doanhtrong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư

Bản chất của vấn đề này chính là phải bảo đảm giữ vững ổn định về chínhtrị- xã hội Giữ vững ổn định chính trị ở nước ta hiện nay là giữ vững vai tròlãnh đạo của ĐCSVN, tăng cường hiệu lực và quản lý của nhà nước, phát huyđầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đây là vấn đề có

tính nguyên tắc và là nhân tố quyết định nhất bảo đảm định hướng XHCN củaKTTT, cũng như toàn bộ sự nghiệp phát triển của đất nước Đây cũng là mộttrong những bài học lớn nhất được rút ra trong những năm đổi mới

Càng đi vào KTTT, thực hiện dân chủ hóa xã hội, mở rộng hợp tác quốc tếcàng phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Thực tế ở một

số nước cho thấy, chỉ cần một chút mơ hồ, buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng làlập tức tạo điều kiện cho các thế lực thù địch dấn tới phá rã sự lãnh đạo củaĐảng, cướp chính quyền, đưa đất nước đi theo con đường khác

Hiện nay, có ý kiến cho rằng, đã chuyển sang KTTT - tức là nền kinh tếvận động theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… thìkhông cần phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Sự lãnh đạo của Đảng nhiềukhi cản trở, làm “vướng chân” sự vận hành của kinh tế Ý kiến này không đúng

và thậm chí rất sai lầm Bởi vì, Việt Nam chủ trương phát triển KTTT nhưngkhông phải để cho nó vận động một cách tự phát, mù quáng mà phải có lãnhđạo, hướng dẫn, điều tiết, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, vì lợi íchcủa đại đa số nhân dân, vì một xã hội công bằng và văn minh Người có khảnăng và điều kiện làm được việc đó không thể ai khác ngoài Đảng Cộng sản – làđảng phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng XHCN và cộng sản chủ nghĩa, thật sự đạidiện và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

Trang 10

Đảng lãnh đạo có nghĩa là Đảng đề ra đường lối, chiến lược phát triểncủa đất nước nói chung, của lĩnh vực kinh tế nói riêng, bảo đảm tính chínhtrị, tính định hướng đúng đắn trong sự phát triển kinh tế, làm cho kinh tếchẳng những có tốc độ tăng trưởng và năng suất lao động cao, có LLSXkhông ngừng lớn mạnh mà còn đi đúng định hướng XHCN, tức là hạn chếđược bất công, bóc lột, chăm lo và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân laođộng Trên cơ sở đường lối, chiến lược đó, Đảng lãnh đạo toàn bộ hệ thốngchính trị và guồng máy xã hội, trước hết là Nhà nước, tổ chức thực hiệnbằng được phương hướng và nhiệm vụ đã đề ra.

Đương nhiên, để có đủ trình độ, năng lực lãnh đạo, Đảng phải thực sự trongsạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó chặt chẽ với nhândân, được nhân dân tin cậy và ủng hộ Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, độingũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên địnhmục tiêu lý tưởng, có trí tuệ, có kiến thức, giữ gìn đạo đức cách mạng và lốisống lành mạnh, đấu tranh khắc phục có hiệu quả tệ tham nhũng và các hiệntượng thoái hóa, hư hỏng trong Đảng và trong bộ máy của Nhà nước

Tăng cường hiệu lực và quản lý của nhà nước và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Nhà nước của chúng ta là nhà nước của Dân, do Dân và vì Dân Vì vậyĐảng ta xác định Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quyhoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luật thịtrường Tăng cường công tác giám sát, nhất là giám sát thị trường tài chính, chủđộng điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không phó mặc cho thịtrường hoặc can thiệp làm sai lệch các quan hệ thị trường Thấu triệt nội dungnày chúng ta cần làm tốt các yêu cầu sau đây:

Xác định lại và bổ xung kịp thời vị trí, vai trò, chức năng của nhà nước Từ

đó hoàn thiện tổ chức, biên chế của nhà nước cho phù hợp với thực tiễn đặt ra.Đặc biệt là việc phát huy vai trò của nhà nước trong xây dựng và hoàn thiện hệthống luật pháp, đảm bảo cho hệ thống luật của chúng ta đầy đủ, chặt chẽ tạotiền đề để định hướng XHCN cho nền KTTT

Quản lý nhà nước trên lĩnh vực kinh tế phải phát huy được mọi tiềm năng,thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa bảo đảm cho các thành phần kinh tếphát triển tuân theo các quy luật của KTTT vừa chấp hành nghiêm chỉnh phápluật của nhà nước và bình đẳng trước pháp luật, vừa bảo đảm vai trò chủ đạo củakinh tế nhà nước Đặc biệt là phát huy tốt vai trò làm chủ của nhân dân trên lĩnhvực kinh tế

Trang 11

Phát huy có hiệu quả chức năng chấn áp với chức năng tổ chức xây dựngcủa nhà nước; chức năng đối nội với chức năng đối ngoại trên cơ sở đó phát huytối đa nội lực, tận dụng ngoại lực để phát triển kinh tế Đồng thời không ngừnghoàn thiện cơ chế hoạt động giữa ba cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư phápcùng với nâng cao sức mạnh của các tổ chức, các thiết chế về luật; thống nhất từtrung ương đến địa phương trên cơ sở đó định hướng XHCN cho nền KTTT.

Nhà nước phải phát huy tốt vai trò làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực kinh tế, nhất là việc chống tham ô, lãng phí, và các hiện tượng tiêu cực khác trên

lĩnh vực kinh tế Để làm được điều này nhà nước cần có chính sách đặc thù vềlợi ích và bảo đảm an toàn cho người dân trong việc cung cấp thông tin cho các

cơ quan bảo vệ pháp luật hoặc trực tiếp tham gia đấu tranh bảo vệ lợi ích, tài sảncủa nhà nước và nhân dân

Hai là, nhà nước tạo môi truờng kinh tế vĩ mô ổn định cho phát triển kinh tế

Chúng ta phải thực hiện bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớncủa nền kinh tế; giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng và sự hoạtđộng an toàn, hiệu quả của các định chế tài chính, đây là một vấn đề rất quantrọng và chúng ta cần thức hiện cho có hiệu quả để tránh những ảnh hưởng từcác nhân tố kinh tế từ bên ngoài như gần đây là cuộc khủng hoảng tài chính vàsuy thoái kinh tế toàn cầu xẩy ra trong các năm 2007 - 2009 và cuộc khủnghoảng nợ công ở một số nước Những cuộc khủng hoảng này là hậu quả của sựphát triển không bền vững, gây mất ổn định toàn cầu và tác động đến tăngtrưởng của hầu hết các quốc gia, kinh tế thế giới suy giảm, thất nghiệp gia tăng,xung đột xã hội lan rộng Kinh nghiệm quốc tế cũng như của nước ta nhữngnăm qua cho thấy giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tàichính, kiểm soát được lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớnvừa là tiền đề để tăng trưởng nhanh vừa là nội dung của tăng trưởng bền vững

Ba là, nhà nước đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả và lành mạnh

Bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và không ngừng nâng cao chấtlượng tăng trưởng là yếu tố quyết định nhất để phát triển nhanh và bền vững Cóđạt được tốc độ tăng trưởng cao, đất nước mới phát triển nhanh, rút ngắn khoảngcách với các nước, mới tạo được nguồn lực để phát triển các lĩnh vực khác của

sự phát triển kinh tế bền vững Mặt khác, có nâng cao chất lượng tăng trưởngmới tăng được hiệu suất sử dụng vốn và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mới mởrộng được thị trường tiêu thụ trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt Trên

cơ sở đó, tạo ra giá trị gia tăng lớn cho đất nước, tăng khả năng tích luỹ từ nội bộnền kinh tế, bảo đảm nguồn lực cho tăng trưởng cao và ổn định trong dài hạn

Trang 12

Nâng cao hiệu quả đầu tư công là một yếu tố quan trọng bảo đảm chất lượngtăng trưởng Hoàn thiện cơ chế giám sát và tăng cường công tác giám sát đầu tư.Kiên quyết và có biện pháp mạnh mẽ chống tham nhũng, thất thoát, lãng phítrong đầu tư Thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế trên cả ba nội dung chính: Tái cơcấu đầu tư công; Tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng; Tái cơ cấu DNNN.Thực hiện tốt các nội dung trên đây, chẳng những nâng cao được chất lượngtăng trưởng, khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, hạn chế được các tác độngtiêu cực trước những biến động từ bên ngoài, bảo đảm cho đất nước phát triểnbền vững mà còn tham gia có hiệu quả của xu thế phát triển trong nền kinh tếtoàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

Bốn là, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo định hướng XHCN.

Đây là nội dung rất quan trọng của phát triển bền vững Sự bất bình đẳng

và phân hoá giàu nghèo ở mức cao tạo nên xung đột xã hội ở không ít các quốc

gia trên thế giới, làm suy giảm tăng trưởng Vì vậy, Đảng ta chủ trương phải

thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển Chúng ta sẽ tập trung hơn cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, đa

dạng hóa các nguồn lực và phương thức để thực hiện giảm nghèo bền vững.Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, đồng thời hạn chế phân hoá giàu nghèo,chủ yếu thông qua chính sách điều tiết thu nhập, phát triển hệ thống phúc lợi xãhội và an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Tiếp tục hoànthiện cơ chế phân phối trong các doanh nghiệp, chính sách tiền lương, bảo đảmcông bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

2.2 Các công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Một là, hệ thống pháp luật:

Nhà nước phải sử dụng hệ thống pháp luật làm công cụ điều tiết hoạt độngcủa các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế Việc xây dựng hệ thốngpháp luật hoàn chỉnh đối với quá trình phát triển lâu dài của KTTT Nhưng cóthể khái quát trên các lĩnh vực

Thứ nhất, xác định các chủ thể pháp lý, tạo cho họ các quyền (năng lực

pháp lý) và hành động (khả năng kinh doanh) mang tính thống nhất

Thứ hai, quy định các quyền về kinh tế: quyền sở hữu, quyền sử dụng,

quyền định đoạt, chuyển nhượng, thừa kế.v.v

Thứ ba, về hợp đồng kinh tế, các nguyên tắc cơ bản của luật hợp đồng.

Luật hợp đồng quy định quyền hoạt động của các chủ thể pháp lý, tức là cáchành vi pháp lý

Trang 13

Thứ tư, về sự đảm bảo của nhà nước đối với các điều kiện chung của nền kinh tế

có các luật: luật bảo hộ lao động, môi trường, doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội

Thứ năm, về luật kinh tế đối ngoại phải phù hợp với thông lệ quốc tế

Hai là, kế hoạch và thị trường

Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nướctheo định hướng XHCN đòi hỏi phải sử dụng hai công cụ quản lý cơ bản là kếhoạch và thị trường Việc sử dụng hai công cụ này không thể tách rời nhau mà là

sự vận dụng quy luật phát triển có kế hoạch để điều tiết tác động của quy luậtgiá trị và vận dụng quy luật giá trị nhằm quản lý kinh tế phát triển theo kế hoạch(thị trường là động cơ, kế hoạch là bánh lái của con thuyền)

Thứ nhất, từ chỗ đối lập kế hoạch với thị trường ngày nay chúng ta đã nhận

thức rõ cả kế hoạch lẫn thị trường đều là công cụ để quản lý nền kinh tế, trong

đó thị trường là căn cứ là đối tượng và là công cụ kế hoạch hoá

Thứ hai, nhà nước điều tiết thị trường thông qua kế hoạch hoá vĩ mô

Thứ ba, kế hoạch hoá gián tiếp bằng hệ thống chỉ tiêu cân đối, còn thị

trường dẫn dắt hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế căn cứ vàonhu cầu thị trường

Thứ tư, kế hoạch nhà nước bao gồm kế hoạch dài hạn và ngắn hạn.

Ba là, xây dưng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể hoạt động có hiệu quả

Kinh tế nà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể trở thành nềntảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân XHCN Vì vậy sự hoạt động có hiệuquả của hai thành phần kinh tế này có vai trò quyết định đối với các thành phầnkinh tế khác theo định hướng XHCN Các thành phần kinh tế này mở đường và

hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh

và bền vững của nền kinh tế Nhờ có hai thành phần kinh tế này mà nhà nước cósức mạnh vật chất để điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thực hiện những mụctiêu kinh tế- xã hội do kế hoạch đặt ra

Bốn là, công cụ tài chính và chính sách tài khoá

Nội dung chính của công cụ tài chính và chính sách tài khoá là hệ thốngthuế Mục đích để tăng thu cho ngân sách nhà nước Chính sách thuế đúng đắnkhông chỉ tăng thu cho ngân sách nhà nước mà còn khuyến khích sản xuất, xuấtkhẩu, điều tiết tiêu dùng, khắc phục có hiệu quả các hiện tượng tiêu cực trongnền kinh tế, thu hút được nhiều vốn đầu tư của nước ngoài, khuyến khích việcđầu tư có hiệu quả kinh tế- xã hội cao Cụ thể thuế được áp dụng đối với các chủthể tham gia sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng, góp phần ổn định cung – cầu

Trang 14

(AD-AS), cân bằng thị trường Do đó, trong thời gian tới phải thực hiện chính

sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm cụ thể là:

Thứ nhất, phối hợp đồng bộ chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ, tập

trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp về NSNN, bảo đảm thực hiệncác nhiệm vụ thu , chi theo dự toán đã được Quốc hội quyết định Phấn đấu tăngthu, triệt để tiết kiệm chi để tạo nguồn xử lý các nhiệm vụ chi cấp thiết phátsinh, giữ bội chi ngân sách bằng dự toán

Thứ hai, theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình thu NSNN, tăng cường chống

thất thu, xử lý nợ đọng thuế, chống chuyển giá, đẩy mạnh kiểm tra, thanh tra thuế,nhất là các lĩnh vực, khoản thu có khả năng thất thu cao; xây dựng, hoàn thiện cơ sở

dữ liệu thuế; tăng cường chế tài, thực thi pháp luật thuế

Thứ ba, rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi NSNN, bảo đảm trong

phạm vi dự toán NSNN; thực hiện nghiêm, có hiệu quả các biện pháp chống thấtthoát, lãng phí, tham nhũng; thực hành triệt để tiết kiệm chi thường xuyên Ưutiên cho nhiệm vụ chính trị quan trọng, bảo đảm nguồn lực thực hiện chính sách

an sinh xã hội

Thứ tư, xây dựng và triển khai thực hiện dự toán NSNN gắn với chiến lược

và định hướng phát triển trong từng thời kỳ, bảo đảm tính bền vững của ngânsách, phản ánh được thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn NSNN đối với từngngành, lĩnh vực

Thứ năm, xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách tài chính, chi tiêu

các chương trình mục tiêu quốc gia Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát,đôn đốc triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia Đảm bảo phân bổ

dự toán đúng mục tiêu, nhiệm vụ, sử dụng kinh phí đúng chính sách chế độ, sửdụng hiệu quả vốn NSNN

Thứ sáu, thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính, ngân sách, tăng cường kiểm

tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng NSNN Tăng cường kiểm tra,giám sát, thanh tra các khoản chi trong cân đối NSNN; vay về cho vay lại, bảolãnh vay của chính phủ; các khoản chi từ các quỹ tài chính nhà nước; tích cựcthu hồi các khoản vay, tạm ứng của các Bộ, Địa phương Thực hiện minh bạchhóa chi tiêu của NSNN và đầu tư công

Thứ bảy, quản lý chặt chẽ nợ công và nợ nước ngoài quốc gia, bảo đảm an

toàn về nợ và an ninh tài chính quốc gia Tăng cường công tác giám sát, quản lýrủi ro Quản lý chặt chẽ nợ dự phòng (nợ do chính phủ bảo lãnh, vay về cho vaylại thông qua các tổ chức tín dụng nhà nước…) Thực hiện quản lý, giám sátchặt chẽ và cơ cấu lại nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia Tăng

Ngày đăng: 25/06/2017, 15:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w