Lúa gạo là loại lương thực thiết yếu và quan trọng nhất đối với tất cả mọi người và sản xuất lúa gạo là việc sản xuất quan trọng nhất trong ngành nông nghiệp của Việt Nam. Với 80% dân số tập trung ở đồng bằng và nông thôn, đây là những nơi cung cấp nguồn lương thực cho nhu cầu của gần 92 triệu người dân Việt Nam, với diện tích canh tác lúa gạo chiếm đại bộ phận toàn bộ diện tích trồng cây lương thực của cả nước đã đưa Việt Nam trở thành một nước nông nghiệp đứng thứ 2 trên thế giới về việc xuất khẩu lúa gạo. Ngày nay với xu thế toàn cầu hoá thì hoạt động xuất khẩu trở nên vô cùng quan trọng trong hoạt động thương mại của Việt Nam nói riêng và của tất cả các nước trên thế giới nói chung. Nhờ đây giúp tạo nên 1 nguồn thu ngoại tệ to lớn cho Việt Nam, phân công lao động hợp lý và tạo nên công ăn việc làm cho mọi người dân trong nước, giúp đẩy mạnh phát triển nền kinh tế xã hội và ổn định đời sống nhân dân, từ đó đưa vị thế nền kinh tế Việt Nam đứng vững trên trường quốc tế Trong những năm qua, việc sản xuất và xuất khẩu gạo đã đạt được những thành tựu rực rỡ, sản lượng lương thực ngày càng tăng, lượng gạo xuất khẩu ngày càng nhiều, chất lượng và giá cả gạo xuất khẩu ngày càng được cải thiện. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với môi trường cạnh tranh gay gắt và ngày càng khó khăn đòi hỏi các doanh nghiệp phái có chiến lược kinh doanh thích hợp trên cơ sở phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, tận dụng thời cơ và hạn chế những mối đe doạ về các rủi ro thường gặp. Việc sản xuất và xuất khẩu gạo đóng vị trí then chốt trong việc phát triển nền kinh tế xã hội của nước nhà. Tuy nhiên, trong thời gian qua vẫn còn có nhiều rủi ro cao xảy ra, chúng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước. Với mong muốn góp phần vào sự phát triển Công ty Lương Thực Tiền Giang của tỉnh nhà nói riêng cũng như việc phát triển ngành xuất khẩu gạo nói chung. Việc phân tích, đánh giá, phân loại và giải quyết cũng như là hạn chế những rủi ro trong quá trình kinh doanh xuất khẩu gạo trong điều kiện hiện nay là một việc cấp bách và thiết yếu. Vì vậy, nhóm chúng tôi xin chọn đề tài “ PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG KINH DOANH XUẤT KHẨU GẠO TẠI CÔNG TY LƯƠNG THỰC TIỀN GIANG” làm bài tiểu luận kết thúc học phần Quản trị rủi ro, với mong muốn tìm ra những giải pháp hiệu quả nhất có thể, để đưa nền kinh tế tỉnh nhà nói riêng và của cả nước nói chung phát triển vững mạnh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG
KHOA KINH TẾ-LUẬT
HỌC PHẦN QUẢN TRỊ RỦI RO
Mã lớp học phần: 6724301
GVHD: Nguyễn Xuân Kim Nhật
Đề tài:
PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG KINH DOANH XUẤT KHẨU GẠO
TẠI CÔNG TY LƯƠNG THỰC TIỀN GIANG
Nhóm
Võ Lập Đức 014115009
Nguyễn Thị Kiều Anh 014115056
Nguyễn Phước Thịnh 015115117
Trần Thị Kim Thoa 015115119
Lương Quốc Thái 015115152
Tiền Giang, ngày 12 tháng 5 năm 2017
Trang 2NHẬN XÉT GVHD
DANH SÁCH VÀ NHIỆM VỤ THÀNH VIÊN
MỤC LỤC
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lúa gạo là loại lương thực thiết yếu và quan trọng nhất đối với tất cả mọi người và sảnxuất lúa gạo là việc sản xuất quan trọng nhất trong ngành nông nghiệp của Việt Nam Với 80%dân số tập trung ở đồng bằng và nông thôn, đây là những nơi cung cấp nguồn lương thực chonhu cầu của gần 92 triệu người dân Việt Nam, với diện tích canh tác lúa gạo chiếm đại bộ phậntoàn bộ diện tích trồng cây lương thực của cả nước đã đưa Việt Nam trở thành một nước nôngnghiệp đứng thứ 2 trên thế giới về việc xuất khẩu lúa gạo
Ngày nay với xu thế toàn cầu hoá thì hoạt động xuất khẩu trở nên vô cùng quan trọngtrong hoạt động thương mại của Việt Nam nói riêng và của tất cả các nước trên thế giới nóichung Nhờ đây giúp tạo nên 1 nguồn thu ngoại tệ to lớn cho Việt Nam, phân công lao độnghợp lý và tạo nên công ăn việc làm cho mọi người dân trong nước, giúp đẩy mạnh phát triểnnền kinh tế - xã hội và ổn định đời sống nhân dân, từ đó đưa vị thế nền kinh tế Việt Nam đứngvững trên trường quốc tế
Trong những năm qua, việc sản xuất và xuất khẩu gạo đã đạt được những thành tựu rực
rỡ, sản lượng lương thực ngày càng tăng, lượng gạo xuất khẩu ngày càng nhiều, chất lượng vàgiá cả gạo xuất khẩu ngày càng được cải thiện
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với môi trường cạnh tranh gay gắt và ngàycàng khó khăn đòi hỏi các doanh nghiệp phái có chiến lược kinh doanh thích hợp trên cơ sởphát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, tận dụng thời cơ và hạn chế những mối đe doạ vềcác rủi ro thường gặp
Việc sản xuất và xuất khẩu gạo đóng vị trí then chốt trong việc phát triển nền kinh tế
-xã hội của nước nhà Tuy nhiên, trong thời gian qua vẫn còn có nhiều rủi ro cao xảy ra, chúngảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước
Với mong muốn góp phần vào sự phát triển Công ty Lương Thực Tiền Giang của tỉnhnhà nói riêng cũng như việc phát triển ngành xuất khẩu gạo nói chung Việc phân tích, đánhgiá, phân loại và giải quyết cũng như là hạn chế những rủi ro trong quá trình kinh doanh xuấtkhẩu gạo trong điều kiện hiện nay là một việc cấp bách và thiết yếu Vì vậy, nhóm chúng tôi
xin chọn đề tài “ PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG KINH DOANH XUẤT KHẨU GẠO TẠI CÔNG TY LƯƠNG THỰC TIỀN GIANG” làm bài tiểu luận kết thúc học phần Quản trị rủi
ro, với mong muốn tìm ra những giải pháp hiệu quả nhất có thể, để đưa nền kinh tế tỉnh nhànói riêng và của cả nước nói chung phát triển vững mạnh
Trang 52 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng quản trị rủi ro của công ty, từ
đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro để hạn chế những tổn thất trongkinh doanh xuất khẩu gạo của Công ty Lương thực Tiền Giang
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu : Đề tài nghiên cứu những rủi ro mà Công ty Lương thực Tiền Gianggặp phải trong giai đoạn từ năm 2015 cho đến năm 2016
+Không gian: Công ty Lương thực Tiền Giang
+Thời gian: 2 tuần
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các rủi ro, cách giải và hạn chế những rủi ro trong xuất khẩu gạocủa Công ty Lương thực Tiền Giang
4 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu:
+ Số liệu sơ cấp: thu thập thông tin thông qua việc thăm dò tình hình xuất khẩu gạo của công
ty từ một số nhân viên trong công ty
+ Số liệu thứ cấp: Thu thập các số liệu từ các bài báo, tivi, internet,… để phục vụ cho việcnghiên cứu đề tài
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích các lý thuyết đã thu thập rồitổng hợp các lý thuyết đó lại để có thể hiểu sâu hơn về đề tài nghiên cứu
- Phương pháp thống kê - đo lường: Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lí
số liệu làm cơ sở để kiểm định mức độ rủi ro
- Phương pháp phân loại và hệ thống: để phân loại và thống kê các rủi ro, cách giải quyếtrủi ro và cách hạn chế rủi ro trong việc xuất khẩu gạo
5 Kết cấu của đề tài
Gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động xuất khẩu gạo
Chương 2: Phân tích rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu gạo tại Công ty Lương thực Tiền giang
Chương 3: Đề xuất giải pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu gạo Công ty Lương thực Tiền Giang
Trang 6a) Khái niệm rủi ro
Theo từ điển Oxford “ rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị thiệt hại đau đớn, thiệthại ”
Đây là cách hiểu thông thường nhất, những gì được coi là rủi ro luôn mang lại những điều
mà con người không mong muốn Khi rủi ro xảy ra đồng nghĩa với việc chủ thể luôn chấpnhận nó chịu một thiệt hại nào đó
Trong lĩnh vực kinh doanh “Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay sự giảm sút lợi nhuận thực
tế so với lợi nhuận dự kiến”
Tóm lại theo cách nghĩ truyền thống thì “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặccác yếu tố liên quan điến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra chocon người” [1]
b) Phân loại rủi ro
- Rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán:
+ Rủi ro thuần túy: là những rủi ro dẫn đến tình huống tổn thất hay không tổn thất,trường hợp tốt nhất là tổn thất không xảy ra
+ Rủi ro suy đoán: là những rủi ro dẫn đến tình huống tổn thất hoặc sinh lợi Phần sinhlợi còn gọi là phần thưởng cho rủi ro
- Rủi ro đặc trưng và rủi ro thị trường:
+ Rủi ro đặc trưng (rủi ro có thể đa dạng được hay còn gọi là rủi ro không có tính hệ thống):đây là rủi ro thường xảy ra trong phạm vi hẹp, mang tính riêng có, cá thể và có thể phân chia,giảm thiểu được bằng cách đa dạng hóa, bằng các nguồn quỹ góp chung Các dạng của rủi rođặc trưng:
• Rủi ro quản lý: là những rủi ro nảy sinh do trình độ yếu kém của người quản lý vì vậyquyết định của họ đưa ra có thể sai lầm gây tổn hại thậm chí phá sản doanh nghiệp
• Rủi ro tài sản: là những rủi ro nảy sinh do tài sản và cơ cấu tài sản doanh nghiệp nắmgiữ
• Rủi ro tài trợ: là những rủi ro và trách nhiệm pháp lý nảy sinh từ cơ cấu nguồn vốn củadoanh nghiệp
Trang 7+ Rủi ro thị trường (rủi ro không thể đa dạng hóa hay cò gọi là rủi ro hệ thống): đây là rủi ronảy sinh từ tác động to lớn của thị trường nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp và khôngthể giảm thiểu được bằng cách đa dạng hóa Rủi ro thị trường xuất phát từ các yếu tố như sau:
Những thay đổi trong cơ chế quản lý
Những thay đổi trong thị hiếu của khách hàng
Tiến bộ khoa học công nghệ
Chuyển dịch trong dòng vốn đầu tư
Thay đổi và dịch chuyển lực lượng lao động, dân số
c) Những rủi ro thường gặp ớ các doanh nghiệp
- Rủi ro nguồn nguyên nhiên liệu: Là những rủi ro trong quá trình tìm nguồn nguyên
liệu phục vụ sản xuất hay quá trình bảo quản nguyên liệu Một nguồn nguyên liệu dồi dào, chất lượng cũng là một vấn đề khiến doanh nghiệp đau đầu.
- Rủi ro tài chính: Là những rủi ro trong lĩnh vực quản lý tài chính như rủi ro tín dụng, tỷ giá,
lãi suất, thanh khoản, đầu tư, tài sản, công nợ, dòng tiền Ví dụ như các doanh nghiệp ViệtNam gặp rủi ro lãi suất và đầu tư (lãi suất vay vọt lên quá cao, đầu tư kém hiệu quả); còn ngânhàng thì lại lao đao vì rủi ro tín dụng (nợ xấu) Các doanh nghiệp nhập khẩu khi ký hợp đồngmua hàng bằng ngoại tệ xong thì tỷ giá tăng cao bất ngờ
- Rủi ro chính sách: Là những rủi ro liên quan đến chính sách nhà nước Khi nước ta thực
hiện một chính sách nào đó sẽ đem lại cơ hội cho nhóm doanh nghiệp này, nhưng lại gây thiệthại nặng nề cho nhóm doanh nghiệp khác Ví dụ, thay đổi từ chính sách bảo hộ sang khôngbảo hộ có thể gây khó khăn cho những doanh nghiệp có sức cạnh tranh yếu, đang cần sự bảo
hộ của nhà nước Một chính sách thuế thay đổi có thể làm nhiều chủ doanh nghiệp “rụng rờitay chân”
- Rủi ro chiến lược: Là những rủi ro liên quan đến việc hoạch định và thực thi chiến lược.
Nếu như chiến lược được lựa chọn theo cảm tính, thiếu phân tích kỹ có thể tiềm ẩn nhiều rủi rodẫn đến thất bại
- Rủi ro thương hiệu: Là những rủi ro liên quan đến hình ảnh, uy tín thương hiệu Khi một
công ty có những hoạt động bất chính, lừa dối người tiêu dùng, gây tác hại về sức khỏe, môitrường chắc chắn sẽ làm xấu hình ảnh thương hiệu, dẫn đến bị khách hàng tẩy chay, có thể trởthành thua lỗ, thậm chí phá sản Hoặc công ty khác, bỏ công xây dựng thương hiệu nhưngkhông bảo hộ, bị đối thủ bắt chước, làm hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng cũng sẽ điđến phá sản thương hiệu
- Rủi ro công nghệ: Là những rủi ro liên quan đến công nghệ, kỹ thuật Nếu không theo kịp
thời buổi công nghệ thì doanh nghiệp sẽ lâm vào trình trạng khủng hoảng Ví dụ, công ty sảnxuất cab đồng nếu không thay đổi công nghệ thời nay thì sẽ không tồn tại khi mà mạnginternet được sử dụng chủ yếu cab quang
- Rủi ro pháp lý: Là những rủi ro liên quan đến pháp luật Luật pháp cũng có thể thay đổi theo
chiều hướng bất lợi cho doanh nghiệp, nếu không cập nhật thông tin pháp luật và sớm nhậndiện những rủi ro liên quan đến pháp lý, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng vi phạm pháp luậthoặc mất sức cạnh tranh khi buộc phải tuân thủ pháp luật
Trang 8- Rủi ro nhân lực: Là những rủi ro liên quan đến nguồn nhân lực doanh nghiệp Nhân tài và
những cán bộ chủ chốt có thể bỏ doanh nghiệp ra đi vì một lý do nào đó Chất xám của doanhnghiệp (thường kèm theo bí quyết công nghệ, bí mật kinh doanh) có thể về tay đối thủ cạnhtranh Ngược lại, doanh nghiệp có thể vô tình thu nhận những kẻ phá hoại vào làm việc tạidoanh nghiệp Một tổng giám đốc hay quản lý cấp cao thiếu năng lực, kém đạo đức có khảnăng đưa một doanh nghiệp từ chỗ làm ăn hiệu quả trở thành lụn bại, phá sản Đó là chưa kểnhững rủi ro khác liên quan đến đình công, bãi công, thiếu hụt hay dư thừa nguồn nhân lực Rủi ro về nhân lực có thể xếp ngang hàng với những rủi ro về tài chính, kinh doanh, vì có táchại không hề thua kém
- Rủi ro hợp đồng: Là những rủi ro liên quan đến việc ký kết các hợp đồng hợp tác, hợp đồng
kinh tế, hợp đồng mua bán Những điều khoản thiếu rõ ràng, không chặt chẽ, hoặc bị “càibẫy” có thể gây bất lợi, dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp khi có tranh chấp
1.1.2 Tổng quan quản trị rủi ro
a) Khái niệm quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có hệthống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu tổn thất, mất mát, những ảnhhưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công [1]
* Các yếu tố cơ bản của quản trị rủi ro:
-Xác định mục tiêu, sứ mạng của quản trị rủi ro
+ Giúp nhận dạng, phân tích, đo lường và phân loại rủi ro đã và sẽ xảy ra với tổ chức + Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình kiểm soát rủi ro, với những điều kiệnphù hợp với tổ chức đó
+ Xây dựng và thực hiện tốt các chương trình tài trợ rủi ro:
Thu xếp và thực hiện nhanh các hợp đồng bảo hiểm
Xây dựng và quản lý hiệu quả các quỹ dự phòng
Vận động sự ủng hộ của các chủ thể có liên quan
Phân tích và lựa chọn các hình thức tài trợ thích hợp khác
- Đánh giá rủi ro: đó là các hoạt động cần thiết của nhà quản trị rủi ro nhằm nhận dạng, ướclượng và đo lường rủi ro, sự bất định và những ảnh hưởng của chúng đối với tổ chức
b) Các phương thức quản trị rủi ro
- Né tránh rủi ro
+ Chủ động né tránh từ trước khi rủi ro xảy ra
+ Né tránh bằng cách loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro
- Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất
+ Tập trung tác động vào chính mối nguy để ngăn ngừa tổn thất
+ Đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình độ cho cán bộ đàm phán, đặc biệt là kiến
thức về văn hóa và cách ứng xử
+ Lựa chọn kĩ ngân hàng mở L/C – phải là ngân hàng có uy tín
Trang 9+ Khi vận chuyển hàng hóa qua vùng có chiến sự hoặc có nguy cơ bùng nổ chiến
tranh thì cần mua bảo hiểm rủi ro chiến tranh
- Biện pháp giảm thiểu tổn thất
+ Cứu vớt những tài sản vẫn còn sử dụng được
+ Chuyển nợ
+ Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro
- Chuyển giao rủi ro
+ Chuyển tài sản hoặc hoạt động có rủi ro đến tổ chức khác
+ Chuyển rủi ro thông qua con đường kí hợp đồng với người chó mèo tổ chức khác, trong đó quy định chỉ chuyển giao rủi ro, không chuyển giao tài sản cho người nhận rủi ro [1]
c) Vai trò quản trị rủi ro
- Xây dựng khuôn khổ nhằm giúp doanh nghiệp thực hiện kế hoạch tương lai có tính nhất quán
và có thể kiểm soát
- Tăng cường năng lực trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và sắp xếp thứ tự ưu tiên côngviệc trên cơ sở hiểu biết thấu đáo và chặt chẽ về hoạt động kinh doanh, môi trường kinh doanh,
cơ hội và thách thức của doanh nghiệp
- Góp phần phân bổ và sử dụng hiệu quả những nguồn lực trong doanh nghiệp
- Giảm thiểu những sai sót trong mọi khía cạnh của doanh nghiệp
- Bảo vệ và tăng cường tài sản cũng như hình ảnh của doanh nghiệp
- Phát triển và hỗ trợ nguồn nhân lực và nền tảng tri thức của doanh nghiệp
- Tối ưu hóa hiệu quả hoạt động
d) Sự bất định
Bất định là không yên ổn, luôn thay đổi Sự bất định xuất hiện khi một cá nhân nhận thứcđược rủi ro Bất định là không sự chắc chắn Mà chắc chắn là một trạng thái không có nghingờ
Như vậy, thuật ngữ “sự bất định” mô tả trạng thái tư tưởng Sự bất định xuất hiện khimột cá nhân bắt đầu ý thức là không thể biết chắc chắn kết quả là gì Bất định là một khái niệmchủ quan
* Các mức độ về bất định
- Không có (tức là chắc chắn):
+ Những kết quả có thể được tiên đoán chính xác
+ Những quy luật vật lý, các môn khoa học tự nhiên
- Mức 1 (sự bất định khách quan):
+ Những kết quả được nhận ra và xác suất được biết
Trang 10+ Những trò chơi may rủi: bài, xúc sắc
- Mức 2 (sự bất định chủ quan):
+ Những kết quả được nhận ra và xác suất không được biết
+ Hỏa hoạn, tai nạn xe cộ, sự suy đoán kinh doanh
- Mức 3 (bất định cao nhất):
+ Những kết quả không được nhận ra đầy đủ và xác suất không biết
+ Thám hiểm không gian, nghiên cứu di truyền
* Chi phí của rủi ro và bất định
- Chi phí rủi ro: là toàn bộ thiệt hại, mất mát về người và của trong việc phòng ngừa, hạn chếrủi ro, bồi thường tổn thất được qui thành tiền
- Chi phí tổn thất: nghĩa là hậu quả của rủi ro và sự bất định có thể là một tổn thất như: tài sản
bị phá hủy, người bị thương, tử vong, những luật lệ tòa án chống lại một tổ chức
Một chi phí khác của rủi ro là chính chi phí bất định Ngay cả khi không có tổn thất, sự hiệndiện của rủi ro và bất định vẫn tạo ra chi phí Ở mức độ cơ bản, chi phí bất định có thể minhhọa bởi “sự lo lắng” Chi phí cho sự bất định có thể xuất hiện dưới hình thức lo lắng và sợ sệt,nhưng chi phí này được thấy rõ nhất qua bố trí không hợp lý nguồn nhân lực của tổ chức Cóthể phân loại chi phí của rủi ro theo các tiêu thức sau đây:
+ Chi phí rủi ro tồn tại ở hai dạng hữu hình và vô hình
• Chi phí hữu hình: là toàn bộ những chi phí phải chi ra cho việc phòng ngừa, khoanhlại, bồi thường rủi ro, tổn thất và phục hồi sản xuất, thị trường
• Chi phí vô hình: là toàn bộ những lợi nhuận mất hưởng, những thiệt hại, mất thời cơ,mất uy tín, mất bạn hàng và thị trường v.v… Đây được coi như là khoản chi phí cơ hội mànhiều khi chúng ta không thể nhận biết được sự tiềm ẩn của chi phí loại này đã đánh lừa cảmgiác của nhiều người, mặc dù chi phí của nó có thể lớn hơn gấp nhiều lần chi phí hữu hình [1]
1.1.3 Hoạt động kinh doanh xuất khẩu
a) Khái quát hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền
tệ làm phương tiện thanh toán
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động bán và trao đổi hàng hóa ( bao gồm cả hànghóa hữu hình và hàng hóa vô hình) trong nước Khi sản xuất phát triển và việc trao đổi hànghóa giữa các quốc gia phát triển Sự phân công lao động quốc tế hình thành rõ nét, hoạt độngnày mở rộng phạm đi ra ngoài biên giới của các quốc gia
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động tất yếu của các quốc gia trong quá trình phát triển Sựkhác nhau về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực, các nguồn tài nguyên Dẫn đến
Trang 11sự khác nhau về lợi thế trong các lĩnh vực khác nhau của các quốc gia Xuất khẩu là cơ sở để
mở rộng và thúc đẩy phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại [2]
b) Vai trò
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trường, mở rộng quan
hệ kinh doanh với bạn hàng trong và ngoài nước trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng doanh số
và lợi nhuận, đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăngcường uy tín kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường
Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộccạnh tranh trên thị trường quốc tế Qua đó có điều kiện giữ gìn, nâng cấp và phát triển tình độ
kỹ thuật công nghệ, phát triển hệ thống các kênh phân phối sản phẩm
Xuất khẩu đảm bảo cho doanh nghiệp luôn nâng cao việc sử dụng các kỹ năng quản lýchuyên môn, chẳng hạn như kỹ năng quản lý hoạt động xuất khẩu, bán hàng trên thị trườngquốc tế, quản lý và dự đoán những xu hướng biến động của tỷ giá hối đoái
Giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động làm việc, tạo ra thu nhập ổn định cho cán bộcông nhân viên, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật liệu tiêu dùng, đáp ứng được nhu cầu tiêudùng ngày càng phong phú của nhân dân, tăng khả năng quay vòng vốn nhanh, tạo điều kiệnthu hút được lợi nhuận cao
c) Các hình thức xuất khẩu
- Xuất khẩu trực tiếp: Các doanh nghiệp xuất khẩu các loại hàng hóa dịch vụ do chính doanh
nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nước ngoàithông qua các tổ chức của mình Một số ưu điểm: giảm bớt chi phí trung gian, do đó tăng lợinhuận cho doanh nghiệp, có thể liên hệ trực tiếp và đều đặn với khách hàng và với thị tườngnước ngoài, biết được nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng, do đó ta có thể thay đổisản phẩm và những điều kiện bán hàng trong trường hợp cần thiết
- Xuất khẩu ủy thác: Là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị ngoài thường đóng vai trò là
người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký hợp đồng mua bán ngoại thương tiếnhành các thủ tục cần thiết để xuất khẩu và qua đó thu được một số tiền nhất định Ưu điểm củahình thức xuất khẩu này là mức độ rủi ro hấp, đặc biệt là không cần bỏ vốn vào kinh doanh,tạo được việc làm cho người lao động, đồng thời cũng thu được một khoản lợi nhuận đáng kể
Trang 121.2 Quy trình quản trị rủi ro
1.2.1 Nhận dạng rủi ro
Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục có hệ thống các rủi ro trong hoạt động kinhdoanh của tổ chức Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi
ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất
Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạtđộng và toàn bộ mội hoạt của tổ chức nhằm thống kê được tất cả các rủi ro không chỉ nhữngloại rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đốivới tổ chức, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp [1]
Phương pháp nhận dạng rủi ro:
- Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra
- Phân tích các báo cáo tài chính
- Phương pháp lưu đồ
- Thanh tra hiện trường/nghiên cứu tại chỗ
- Phân tích các hợp đồng
1.2.2 Phân tích rủi ro
Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi ro, phải xác định được những nguyên nhân gây
ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra các biện pháp phòng ngừa Đây là công việc phức tạp,bởi không phải mỗi rủi ro chỉ là do một nguyên nhân đơn nhất gây ra, mà thường do nhiềunguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, nguyên nhân gần vànguyên nhân xa
Để tìm ra biện pháp phòng ngừa rủi ro một cách hữu hiệu thì phải phân tích rủi ro, tìm racác nguyên nhân, rồi tác động đến các nguyên nhân, thay đổi chúng, từ đó sẽ phòng ngừa đượcrủi ro
Phân tích nguyên nhân rủi ro dựa trên 3 qua điểm:
- Rủi ro thường có nguyên nhân bắt nguồn từ con người (do các quyết định sai lầm của người raquyết định, do người quản lý hay do người lao động)
- Rủi ro bắt nguồn từ những hoạt động mà con người không thể kiểm soát được (ví dụ như biếnđộng của thị trường, sự thay đổi đột ngột từ chính sách pháp luật,…)
- Nguyên nhân của rủi ro là sự kết hợp của cả 2 quan điểm trên, một phần là do con người tạo
ra, một phần là các hoạt động mà con ngưởi không thể kiểm soát được
1.2.3 Đo lường rủi ro
Để đo lường rủi ro cần thu thập số liệu và phân tích đánh giá theo hai khía cạnh: Tần suấtxuất hiện rủi ro và mức độ quan trọng rủi ro Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập ma trận đolường rủi ro
- Phương pháp đo lường rủi ro:
Trang 13Phương pháp thang đo: sử dụng thang đo định lượng để đo lường rủi ro với sự kết
hợp của thang đo mức độ và thang đo tần suất để xếp vào bảng thứ tự ưu tiên Hậu quả của rủi
ro được chia thành 3 bậc thấp, trung bình và cao Đối với các rủi ro có mức ảnh hưởng đối vớidoanh nghiệp ở mức nghiêm trọng, nhiều và trung bình nằm ở 3 nấc thang đầu thì doanhnghiệp phải ưu tiên quan tâm trước [1]
Bảng 1.1: BẢNG SẮP XẾP THỨ TỰ ƯU TIÊN
Ảnh hưởngXác suất
Khôngđáng kể Ít
Trungbình Nhiều
Nghiê
m trọngChắc chắn xảy ra Trungbình Trungbình Cao Cao
Dễ xảy ra Trungbình Ít Trungbình Cao
Có thể xảy ra Trungbình Trungbình Trungbình Cao CaoKhó xảy ra Thấp Trungbình Trungbình CaoHiếm khi xảy ra Thấp Thấp Trung
bình Cao
Bảng 1.2: Phương pháp ma trận đo lường rủi ro
Tần suất xuất hiệnBiên độ xuất hiện
Trang 14+ IV gồm nhưng rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp và tần suất xuất hiện cũng thấp
1.2.4 Kiểm soát – phòng ngừa rủi ro
Kiểm soát rủi ro là sử dụng các công cụ, kỹ thuật, chiến lược, chương trình nhằm biến đổinhững rủi ro của tổ chức thông qua việc né tránh, ngằn ngừa hay giảm thiểu những tổn thất cóthể có của tổ chức khi có rủi ro xảy ra
Nội dung phương pháp kiểm soát rủi ro:
- Né tránh rủi ro: là né tránh các hoạt động làm phát sinh tổn thất hay loại bỏ các nguyên nhândẫn đến tổn thất cho doanh nghiệp
- Ngăn ngửa rủi ro: là sử dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu mức độ thiệt hại của rủi ro khi nóxảy ra
- Giảm thiểu rủi ro: Là các biện pháp nhằm giảm thiểu tổn thất tấn công vào các rủi ro bằngcách giảm bớt sự hư hại khi rủi ro xảy ra
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu
1.3.1 Các nhân tố từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp
a) Các công cụ của Nhà nước trong quản lí kinh tế
- Thuế quan: là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất khẩu Việc đánh thuế xuấtkhẩu được chính phủ ban hành nhằm quản lí hoạt động xuất khẩu theo chiều hướng có lợi nhấtcho quốc gia mình Thuế quan thường được áp dụng với một số ít mặt hàng xuất khẩu nhằm bổsung cho ngân sách Nhà nước
- Hạn ngạch: được hiểu như là qui định của Nhà nước về số lượng cao nhất một mặthàng hay nhóm hàng mà doanh nghiệp được phép xuất khẩu hay nhập khẩu Quốc gia xuấtkhẩu sẽ qui định hạn ngạch xuất khẩu nhằm điều chỉnh lượng hàng xuất khẩu, nâng cao hiệuquả xuất khẩu Quốc gia nhập khẩu sẽ qui định hạn ngạch nhập khẩu nhằm hạn chế lượng hàngnhập khẩu vào trong nước, bảo hộ nền kinh tế trong nước, bảo vệ tài nguyên và cải thiện cáncân thanh toán Hạn ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều có thể gây tác động trực tiếp đến hoạtđộng xuất khẩu của doanh nghiệp
- Tiêu chuẩn kĩ thuật: là một công cụ tinh vi hơn ngày càng được nhiều quốc gia sửdụng Đó là việc đề ra các tiêu chuẩn chất lượng kĩ thuật cho sản phẩm xuất khẩu Đây là biệnpháp phi thuế quan nhằm hạn chế lượng hàng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
b) Các quan hệ kinh tế quốc tế
Các mối quan hệ quốc tế sẽ có tác động cực kì mạnh mẽ tới hoạt động thương mại quốc
tế của quốc gia và doanh nghiệp Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp là một trong nhữngnội dung quan trọng của hoạt động thương mại quốc tế, chính vì vậy nó cũng chịu sự tác độngmạnh mẽ của các mối quan hệ này
Có được những mối quan hệ mở rộng, bền vững và tốt đẹp sẽ tạo tiền đề cho việc thúcđẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
c) Ảnh hưởng của nền sản xuất, thương mại trong nước và quốc tế
Trang 15- Sản xuất trong nước là nhân tố chủ yếu quyết định đến lượng cung hàng xuất khẩu sẽtăng lên giá cả thu mua hàng xuất khẩu sẽ giảm, doanh nghiệp sẽ gặp thuận lợi trog khâu đầuvào Ngược lại, khi nền sản xuất trong nước bị giảm sút dẫn tới giá cả hàng xuất khẩu sẽ tănglên, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn để chọn được hàng hóa có chất lượng.
- Nền sản xuất nước ngoài khi nền sản xuất phát triển, nhu cầu nhập khẩu sẽ ít đi khảnăng xuất khẩu của các doanh nghiệp vào thị trường của họ sẽ bị hạn chế Ngược lại khi nềnsản xuất của họ bị giảm sút, nhu cầu nhập khẩu của họ cao Đây sẽ là thời cơ để doanh nghiệpthúc đẩy hoạt động nhập khẩu của mình
1.3.2 Các nhân tố từ môi trường bên trong doanh nghiệp
a) Nguồn nhân lực
Con người là nhân tố chủ thể của mọi hoạt động xuất khẩu và kinh doanh của doanhnghiệp Một đội ngũ lao động vững vàng trong chuyên môn có kinh nghiệm trong buôn bánquốc tế, có khả năng ứng phó linh hoạt trước biến động của thị trường và đặc biệt có lòng say
mê trong công việc luôn là đội ngũ quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.Nếu nguồn nhân lực yếu kém về chất lượng và hạn chế về số lượng thì DN sẽ luôn trong tìnhtrạng bị động và kinh doanh kém hiệu quả
b) Tài chính
Khả năng tài chính là một trong những nhân tố quyết định sức mạnh của doanh nghiệp
Có tiềm lực tài chính mạnh doanh nghiệp sẽ đầu tư đổi mới công nghệ thu hút lao động có chấtlượng cao, có thể thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của mình qua việc cấp tín dụng cho kháchhàng qua hình thức mua trả chậm
c) Vị trí địa lý
Nếu doanh nghiệp ở gần nơi cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động SXKD hoặcvùng gần nhà ga cảng biển, doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí vận chuyển, là cơ sở để doanhnghiệp giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Để HĐXK đạt hiệuquả doanh nghiệp cần phải lựa chọn vị thế tối ưu phù hợp với khả năng và điều kiện của mình
Trang 16CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG KINH DOANH XUẤT KHẨU GẠO TẠI CÔNG TY LƯƠNG THỰC TIỀN GIANG
2.1 Tổng quan về Công ty Lương thực Tiền Giang
2.1.1 Giới thiệu Công ty
Công ty Lương thực Tiền Giang (TIEN GIANG FOOD COMPANY- TIGIFOOD) làdoanh nghiệp nhà nước được thành lập từ năm 1984 và chính thức được thành lập theo Quyếtđịnh số 785/QĐ.UB ngày 02/10/1992 của Uỷ ban Nhân dân Tỉnh Tiền Giang Hiện nay công
ty là thành viên của Tổng công ty lương thực miền Nam và là hội viên của Hiệp hội lương thựcViệt Nam
Và với chức năng của công ty là đầu mối kinh doanh, chế biến lương thực xuất khẩu vànội tiêu; nhập khẩu phân bón, thuốc trừ sâu, hàng tiêu dùng phục vụ cho nhu cầu sản xuấtnông nghiệp và phát triển nông thôn; sản xuất và kinh doanh nước uống đóng chai thì từ năm
1992 đến nay, nhiệm vụ của công ty lương thực Tiền Giang đối với tỉnh nhà vẫn không thayđổi Đáp ứng nhu cầu đổi mới nền kinh tế và thị trường ngày càng cạnh tranh, Công ty trởthành thành viên của Tổng công ty Lương thực miền Nam theo Quyết định tiếp nhận số043/TCT/TCLĐ-QĐ ngày 25/11/1995 Và ngày 16/01/2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn ra Quyết định số 139/QĐ/BNN/ĐMDN về việc chuyển Công ty thành đơn vị hạchtoán phụ thuộc Tổng Công Ty Lương thực Miền Nam Ngày 23/05/2012, Hội đồng thành viênTổng Công ty Lương Thực Miền Nam có Quyết định số 105/QĐ- HĐTV về việc ban hànhQuy chế tổ chức và hoạt động của Công ty Lương thực Tiền Giang
- Tên doanh nghiệp: Công ty Lương thực Tiền Giang
- Tên giao dịch: TIGIFOOD (TIEN GIANG FOOD COMPANY)
- Trụ sở chính: 256 khu phố 2, phường 10, TP MỸ THO, TIỀN GIANG
- Tổng giám đốc: Nguyễn Quốc Trực
- Loại hình doanh nghiệp: Công ty TNHH một thành viên, vốn 100% nhà nước
Trang 172.1.2 Cơ cấu tổ chức
Ban lãnh đạo do Hội đồng quản trị của Tổng công ty Lương thực Miền Nam bổ nhiệm.Ban giám đốc gồm 1 tổng giám đốc và 2 phó giám đốc là những người có quyền lực cao nhấttrong tổ chức của công ty, điều hành và quản lý công ty
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tố chức tại công ty Lương thực Tiền Giang
(Nguồn Cty Tigifood)
2.1.3 Lĩnh vực kinh doanh
- Chế biến, kinh doanh lương thực tiêu dùng nội địa và xuất khẩu
- sản xuất và kinh doanh nước khoáng thiên nhiên, nước tinh khiết đóng chai, nước đá viêntinh khiết
- Sản xuất và kinh doanh bánh tráng xuất khẩu và tiêu dùng nội địa
- Sản phẩm và dịch vụ khác: nhập khẩu phân bón, thuốc trừ sâu, nông sản, thực phẩm, nguyênnhiên liệu phục vụ cho nông nghiệp
- Với sản phẩm chính là gạo
XN NƯỚC GK SUỐI XANH
XN CB GẠO VIỆT NGUYÊN