Bởi nó có ảnh hưởng lớn đối với tăng trưởng kinh tế và các chương trình an sinh xã hội cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm dân số cao tuổi, đang được coi là nhóm thiệt thòi và dễ bị
Trang 1CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
-*** -
BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN DÂN SỐ, LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM
Nhóm 5- Lớp K52G Giảng viên hướng dẫn: Huỳnh Hiền Hải
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 08 năm 2015
Trang 2MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ VIỆT NAM VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ 2
1.1 Đặc điểm dân số 2
1.1.1 Quy mô dân số nước ta rất lớn và vẫn đang phát triển mạnh 2
1.1.2 Dân số trẻ nhưng phải đối mặt với xã hội già hóa trong tương lai gần 3
1.1.3 Ở trẻ em và trẻ sơ sinh có dấu hiệu nghiêm trọng về mất cân đối giới tính 3
1.1.4 Dân số phân bố không đều, di dân ngày càng sôi động 4
1.2 Những ưu, nhược điểm của dân số Việt Nam đến nền kinh tế 4
1.2.1.Ưu điểm 4
1.2.2 Nhược điểm 5
1.3 Thực trạng dân số Việt Nam hiện nay 9
1.3.1 Thời kỳ đặc biệt “dân số vàng” 9
1.3.2 Ồ ạt ra thành thị 9
1.3.3 Già hóa dân số ngày càng tăng 10
1.4 Giải pháp dân số Việt Nam 12
CHƯƠNG 2: LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ 13
2.1 Đặc điểm nguồn lao động ở Việt Nam 13
2.1.1 Số lượng 13
2.1.2 Chất lượng 13
2.2 Xu hướng năng suất lao động và cơ cấu lao động 13
2.3 Ưu, nhược điểm của lao động Việt Nam tác động đến kinh tế Việt Nam 19
2.3.1 Ưu điểm 19
2.3.2 Nhược điểm 19
2.4 Thực trạng lao động ở Việt Nam 19
2.4.1 Phân loại lao động Việt Nam 19
Trang 32.5 Các giải pháp về lao động Việt Nam hiện nay 21
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VIỆC LÀM VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ 23
3.1 Tổng quan và Cơ cấu việc làm hiện nay 23
3.1.1 Thanh niên là lực lượng lao động lớn của xã hội 23
3.1.2 Tham gia lao động trong các thành phần kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể 24
3.1.3 Trình độ chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ, kỹ năng lao động ngày càng tăng cao 24 3.2 Tình trạng việc làm của Việt Nam diễn biến phức tạp 24
3.2.1 Thực trạng 24
3.2.2 Tình trạng thất nghiệp 25
3.2.3 Trợ cấp thất nghiệp 25
3.2.4 Môi trường việc làm 25
3.2.5 Ở khía cạnh cung - cầu lao động 26
3.3 Nguyên nhân 27
3.4 Về xu hướng lựa chọn nghề nghiệp việc làm 29
3.5 Phương hướng giải quyết vấn đề việc làm 30
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 4MỞ ĐẦU
Ngày nay, kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhắc đến nền kinh tế Việt Nam không thể không nhắc đến vấn đề tiên quyết ảnh hưởng đến, đó là vấn đề “ Dân số, lao động, việc làm ở Việt Nam”
Sau một quá trình tìm hiểu và nghiên cứu kiến thức, nhóm đã hoàn thành bài
báo cáo tiểu luận với đề tài “Dân số, lao động , việc làm ở Việt Nam” nhằm hiểu rõ và
nắm chắc kiến thức một phần nền tảng tạo nên nền kinh tế Bên cạnh đó, nhóm còn muốn đào sâu nghiên cứu về đề tài trên để có cái nhìn toàn diện hơn về nghiệp vụ ngành nghề, đặc biệt phục vụ môn học Kinh tế phát triển
Ngoài lời mở đầu và kết thúc, bài báo cáo có kết cấu gồm 3 phần như sau:
Chương 1: Đặc điểm dân số Việt Nam và những ảnh hưởng kinh tế; Chương 2: Lao động ở Việt Nam và những tác động kinh tế;
Chương 3: Đặc điểm việc làm ở Việt Nam và tác động của nó
Tuy nhiên, do thời gian hoàn thành báo cáo ngắn cũng như thiếu kinh nghiệm của những người viết nên rất khó tránh khỏi những sai sót trong quá trình hoàn thành Chính vì vậy, nhóm rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của giảng viên và các bạn đọc để giúp nhóm hoàn thiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn
Trang 5CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ VIỆT NAM VÀ NHỮNG
ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ 1.1 Đặc điểm dân số
1.1.1 Quy mô dân số nước ta rất lớn và vẫn đang phát triển mạnh
Hình 1 Biểu đồ gia tăng dân số tự nhiên của Việt nam (2005-2014)
Hình 2 Dân số Việt Nam (2005-2014)
Trang 6Với diện tích chỉ khoảng 331.000 km2, đứng thứ 66 trên thế giới nhưng tính đến năm 2014 thì Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 14 trên thế giới và chiếm 1,32% dân
1.1.2 Dân số trẻ nhưng phải đối mặt với xã hội già hóa trong tương lai gần
Dân số nước ta trẻ Năm 2006, tỷ lệ trẻ em từ 14 tuổi trở xuống là 26,3%, ở Nhật Bản, tỷ lệ này chỉ có 15% Như vậy, nếu có khoảng 86 triệu dân như Việt Nam thì Nhật Bản chỉ có 12,9 triệu trẻ em, còn nước ta có hơn 21,2 triệu Ngay cả khi kinh tế Việt Nam và Nhật Bản như nhau thì bài toán nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em ở nước ta
cũng nặng hơn Nhật Bản gần 2 lần
Những người sinh ra sau ngày miền Nam giải phóng ước khoảng 63% tổng dân
số hiện nay, còn những người dưới 45 tuổi khoảng 78% Dân số trẻ chứa đựng tiềm năng to lớn về trí sáng tạo, sự nhanh nhạy và dễ nắm bắt những cái mới Tuy nhiên, thực tế hiện nay cũng đang cho thấy, tỷ lệ trẻ em giảm khá nhanh còn tỷ lệ người cao tuổi lại đang tăng lên Nếu năm 1979, so với tổng số dân, tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi ở nước ta là 41,7% và người cao tuổi chỉ có 7% thì đến năm 2006, các tỷ lệ tương ứng là 26,3% và 9,2% Theo dự báo, đến năm 2024, cả nước có 12.811,4 nghìn người cao tuổi, chiếm tỷ lệ 13% trong tổng dân số, vượt tiêu chuẩn xã hội già hóa và sẽ là thách thức lớn đối với hệ thống bảo hiểm xã hội
1.1.3 Ở trẻ em và trẻ sơ sinh có dấu hiệu nghiêm trọng về mất cân đối giới tính
Để đánh giá mức độ cân bằng giữa số nam và số nữ, người ta dùng chỉ tiêu “tỷ
số giới tính”, tức là “số nam tương ứng với 100 nữ” Theo cuộc điều tra biến động dân
số – KHHGĐ năm 2006, do Tổng cục Thống kê tiến hành, tỷ số giới tính của trẻ sơ sinh lên tới 110 Đây là mức cao vào hàng thứ 4 trên thế giới (Ac-mê-ni-a: 117; Gru-di-
a: 116, Trung Quốc: 112; Việt Nam, An-ba-ni-a: 110)
Từ những số liệu trên và kết quả của nhiều cuộc điều tra khác có thể nêu giả thiết đáng tin cậy rằng: đã có sự lựa chọn của cha mẹ, sự can thiệp của y tế để sinh được con trai Hậu quả của tình trạng “lựa chọn” này sẽ dẫn đến sự mất cân bằng giới
Trang 7tính nghiêm trọng trong thế hệ trẻ Đây là sự mất cân bằng vật chất rất dễ dẫn đến hậu quả xã hội rất nặng nề, như tình trạng buôn bán phụ nữ, mại dâm,…
1.1.4 Dân số phân bố không đều, di dân ngày càng sôi động
Trong 8 vùng kinh tế – sinh thái, 42,4% dân số tập trung ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Trong khi đó, diện tích đất đai của hai vùng này chỉ chiếm 16,6% Mật độ dân số ở các tỉnh rất khác nhau Năm 2006, trung bình trên mỗi km2 đất ở Hưng Yên có 1.237 người sinh sống, trong khi đó ở Kon Tum chỉ có 40 người/km2 Mặt khác, vốn pháp định đầu tư nước ngoài, giai đoạn 1988 – 2006 vào đồng bằng sông Hồng gấp 40 lần vào Tây Nguyên, vào Đông Nam Bộ gấp 81 lần
1.2 Những ưu, nhược điểm của dân số Việt Nam đến nền kinh tế
Theo tính toán, dựa vào kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở (1/4/1999), thì đến năm 2010, số dân Việt Nam là 100 triệu dân, nhưng trong thực tế, có khả năng quy
mô dân số này sẽ được khống chế chậm lại 15 năm (vào năm 2025) Sự khống chế thành công tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, bước đầu kiểm soát được việc gia tăng dân số sẽ là cơ sở cho sự ổn định quy mô dân số ở mức khoảng 115 - 120 triệu người vào giữa thế kỷ 21 Việc giảm sinh được vài chục triệu người thật sự là con số có ý nghĩa lớn cho sự phát triển bền vững trong tương lai của đất nước Kết quả giảm sinh trong thời gian qua đã góp phần tăng GDP bình quân đầu người 1% mỗi năm, tác động quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và thành tựu xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân Và theo dự báo của Liên Hợp Quốc, nếu Việt Nam thực hiện tốt Chương trình Dân số - kế hoạch hóa gia đình thì quy mô dân số sẽ ổn định ở mức 120 triệu người vào năm 2035 và GDP bình quân đầu người sẽ bằng 31,2 lần GDP bình quân đầu người năm 1990 Dân số là cửa ngõ xung yếu để chúng ta vượt qua những rào cản xã hội trên chặng đường phát triển bền vững của đất nước
Trang 8Ngoài ra, cơ cấu “dân số vàng” tạo ra nhiều thuận lợi, thế mạnh cho Việt Nam với lực lượng lao động trẻ, dồi dào Nếu biết tận dụng lợi thế này một cách triệt để thì Việt Nam sẽ có cơ hội phát triển mạnh như các nước Nhật Bản và Hàn Quốc trong quá khứ đã thực hiện
và trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS có xu hướng gia tăng Theo số liệu thống kê, mỗi năm Việt Nam có khoảng 300.000 phụ nữ dưới 20 tuổi sinh con, mang thai và nạo thai ở tuổi vị thành niên, đa số các em chưa được giáo dục, cung cấp kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản Tỉ lệ trẻ em chết dưới 1 tuổi của cả nước là 17,8% nhưng ở một số vùng còn rất cao, tới 25 - 34% như vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ; tỉ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ em dưới 5 tuổi ở một số vùng còn cao tới 30 - 35% như Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên
Trong khi đó, tỉ lệ trẻ em mắc dị tật bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ cao Nước ta có 5,3 triệu người tàn tật, chiếm 6,3% dân số, trong đó, tỉ lệ tàn tật do nguyên nhân chiến tranh thấp hơn so với tàn tật do các nguyên nhân mắc phải bởi tai nạn giao thông, tai nạn lao động và dị tật bẩm sinh Trong số 1 triệu trẻ
em tàn tật thì các nguyên nhân về dị tật bẩm sinh, tai nạn thương tích chiếm tỉ lệ cao; nhu cầu chăm sóc, phát hiện, điều trị sớm và phục hồi chức năng đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của Nhà nước và toàn xã hội Tỉ lệ dân số bị thiểu năng thể lực và trí tuệ chiếm tới 1,5% dân số và hàng năm vẫn tiếp tục tăng thêm do
số trẻ em sinh ra bị dị tật và các bệnh bẩm sinh, đòi hỏi phải triển khai mở rộng trên phạm vi cả nước các chương trình sàng lọc trước sinh, sơ sinh và các biện pháp can thiệp kịp thời
1.2.2.2 Xu hướng già hóa dân số đến sớm hơn dự báo:
Trang 9Số liệu từ cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy: số lượng người cao tuổi đang tăng nhanh hơn bất kỳ nhóm dân số nào khác nên chỉ
số già hóa cũng gia tăng nhanh chóng, trong khi đó tỉ số hỗ trợ tiềm năng lại giảm đáng kể Như vậy, dân số nước ta đang già hóa một cách nhanh chóng, tuổi thọ bình quân ngày càng tăng trong khi tỉ suất sinh và tỉ suất chết giảm Thực trạng này một mặt cho thấy, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc cải thiện đáng kể về y tế, dinh dưỡng và phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, mặt khác, theo báo cáo của Qũy Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), xu hướng già hóa dân số nhanh chóng ở nước ta cũng đang tạo ra những thách thức mới đối với sự nghiệp phát triển Công nghiệp Bởi nó có ảnh hưởng lớn đối với tăng trưởng kinh tế và các chương trình an sinh xã hội cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm dân số cao tuổi, đang được coi là nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thương nhất hiện nay
Thêm vào đó, ở Việt Nam, khi tuổi thọ trung bình đã tăng tới 72,2 tuổi đối với cả nam giới và nữ giới, con số này tương đương với các quốc gia khác trong khu vực có mức phát triển cao hơn, tuy nhiên, tuổi thọ khỏe mạnh của dân
số lại chưa cao, chỉ đạt trung bình 58,3 tuổi, trung bình mỗi người cao tuổi ở Việt Nam phải chịu ít nhất là 14 năm sống chung với bệnh tật trong những năm cuối của cuộc đời Những người cao tuổi Việt Nam phải chịu gánh nặng kép trong chăm sóc sức khỏe, trong đó, đã có sự thay đổi từ bệnh lây nhiễm sang các bệnh không lây nhiễm và các bệnh mãn tính, đồng thời, các bệnh mới đang xuất hiện cùng với sự thay đổi trong cách sống ngày càng trở nên phổ biến như ung thư, căng thẳng và trầm cảm về tâm thần, Những xu hướng thay đổi này đòi hỏi nhiều chi phí chăm sóc y tế hơn, đồng thời cũng có nghĩa là rủi ro dẫn tới khuyết tật cho người cao tuổi sẽ cao hơn Chi phí điều trị trung bình cho một người cao tuổi cao gấp 7-8 lần chi phí điều trị cho một em bé Và khi độ tuổi càng cao, rủi ro về khuyết tật càng lớn hoặc số ngày nằm trên giường bệnh cũng càng tăng
1.2.2.3 Tư tưởng trọng nam khinh nữ trong dân cư có thể phá vỡ sự cân bằng tỉ
lệ giới tính:
Theo các chuyên gia dân số, tình trạng mất cân bằng giới tính ở nước ta đang gia tăng và ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, đặt ra nhiều thách thức cho xã hội Nếu trong năm 2011, tỉ lệ giữa bé trai và bé gái sinh ra ở thành phố
Hồ Chí Minh là 117 bé trai/100 bé gái, thì hiện nay con số này đã tăng lên 122
bé trai/100 bé gái (số liệu được Chi cục Dân số thành phố Hồ Chí Minh đưa ra
Trang 10trong buổi họp giao ban giữa Sở Y tế với các lãnh đạo ngành y tế quận, huyện ngày 3/7/2014) Tình trạng mất cân bằng giới tính ngày càng nới rộng như vậy
sẽ dẫn đến những hệ lụy khó lường, ảnh hưởng tới an ninh trật tự xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước
Theo Tổng cục DS - KHHGĐ Việt Nam, dự báo đến năm 2050, nước ta
sẽ "thừa" khoảng từ 2,3 triệu đến 4 triệu nam giới, tức là có tới hàng triệu nam thanh niên sẽ không thể tìm được vợ ở trong nước, cho nên có thể Việt Nam sẽ lặp lại “vết xe dân số” của Trung Quốc thời gian qua
Nguyên nhân mất cân bằng giới tính được xác định là do các cặp vợ chồng đã thực hiện lựa chọn giới tính khi sinh; và để sinh con theo ý muốn, họ
đã không ngần ngại nạo phá thai và loại bỏ những thai nhi có giới tính ngoài mong đợi của họ Ngoài ra, tư tưởng "trọng nam khinh nữ", sinh con trai để nối dõi tông đường vẫn còn ăn sâu trong nếp sống, nếp nghĩ của người dân Việt Nam, đây cũng được coi là một nguyên nhân quan trọng Trong khi đó, việc áp dụng tràn lan, thiếu kiểm soát những tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong ngành y
tế, đặc biệt là công nghệ siêu âm giúp sớm biết giới tính của thai nhi càng làm cho tình trạng này trở nên trầm trọng hơn Đó cũng là một thách thức không nhỏ cho phát triển công nghiệp trong tương lai khi trật tự và các giá trị xã hội bị đảo lộn, khi trong xã hội xảy ra hiện tượng loạn luân, hay việc nam giới Việt phải đi tìm vợ ở đất nước khác
1.2.2.4 Mức sống dân cư còn nghèo ảnh hưởng đến chất lượng dân số và đang
có dấu hiệu cảnh báo tụt hậu về thu nhập đầu người của Việt Nam:
Khi tính thu nhập theo tỉ giá hối đoái, GDP đầu người của Việt Nam đã tăng từ mức 114 USD năm 1991 lên 1.061 USD năm 2010 và 1.831 USD năm
2012 Theo TS Phạm Hồng Chương và cộng sự ở Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, với khoảng thời gian trên, GDP đầu người của Trung Quốc tăng từ 353 USD lên 3.915 USD, thu nhập đầu người của Việt Nam tương đương 32% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống chỉ còn 27% năm 2010 Bên cạnh đó, so với các quốc gia ASEAN khác, dù thu nhập của người Việt Nam đã dần được thu hẹp trong 20 năm qua nhưng khoảng cách vẫn còn rất lớn ở vào thời điểm hiện tại
Trang 111.2.2.5 Cách thức tổ chức thực hiện các quy định trong pháp luật về dân số còn thiếu khoa học:
Dân số là vấn đề nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến con người, quyền con người, cũng như quyền công dân của họ, trong khi đó đối tượng thực hiện công tác dân số lại rất phức tạp, do mọi tổ chức, gia đình, cá nhân vừa là đối tượng thi hành, cũng chính là chủ thể tham gia tổ chức thực hiện chính sách dân số
Thêm vào đó, việc chỉ đạo thực hiện công tác dân số trong thời gian qua chủ yếu thông qua nghị quyết, chỉ thị của Đảng, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, thiếu sự hướng dẫn thực thi mang tính đồng bộ và tính thực tiễn cao Do đó, việc thực hiện các quy định pháp luật về dân số trong các cộng đồng dân cư còn tản mạn, cách hiểu và vận dụng ở nhiều nơi còn thiếu thống nhất
Ngay cả khi Pháp lệnh Dân số của Việt Nam được xây dựng với tư cách
là một văn bản pháp luật điều chỉnh một cách hệ thống, toàn diện các vấn đề dân
số ở nước ta, nhưng cũng còn những hạn chế nhất định, như: chỉ dừng lại ở “luật ống, luật khung”, chưa có những thông tư hướng dẫn phù hợp với thực tiễn; phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh còn quá rộng, bao gồm cả quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số, các biện pháp của công tác dân số và quản lý nhà nước về dân số nên việc điều chỉnh trở nên chồng chéo, khó khăn và thiếu triệt để,
Do tập trung vào mục tiêu giảm nhanh mức sinh nên phạm vi của chính sách dân số hiện hành mới chỉ giới hạn trong việc điều chỉnh quy mô dân số thông qua thực hiện kế hoạch hóa gia đình, trong khi đó các yếu tố cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư lại bị coi nhẹ Đây cũng là kẽ hở ở một số vùng miền, địa phương, nên một số vấn đề về dân số và nguồn lực lại nổi lên, như: việc gia tăng dân số cơ học, mất cân bằng giới tính khi sinh, thiếu hợp lý trong phân bổ nguồn nhân lực,
Trước sức ép của sự gia tăng dân số quá nhanh, làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, làm giảm năng suất lao động và hiệu suất công tác, một số bộ, ngành và địa phương lại ban hành cách thức triển khai chính sách DS
- KHHGĐ chưa thống nhất, không phù hợp với pháp luật hiện hành Điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện chủ trương, chính sách dân số của Đảng và Nhà nước
Trang 121.2.2.6 Mối quan hệ giữa dân số, nguồn lực và phát triển con người chưa được quan tâm phối hợp nghiên cứu ở mức cần thiết:
Mối quan hệ giữa dân số, nguồn lực và phát triển Công nghiệp không phải là vấn đề mới Tuy nhiên, trong nghiên cứu và thực thi công tác dân số chưa thể hiện rõ sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức nghiên cứu, cũng như chưa có sự hợp tác xây dựng chính sách pháp luật giữa các học giả khoa học xã hội và các nhà hoạch định chính sách của các bộ, ngành Điều này cũng là một nguyên nhân tạo nên những vấn đề trong công tác dân số
1.3 Thực trạng dân số Việt Nam hiện nay
1.3.1 Thời kỳ đặc biệt “dân số vàng”
Việt Nam là nước có 58 triệu người trong độ tuổi lao động thực tế (từ 15 đến 64 tuổi), đang ở thời kỳ “dân số vàng”: bình quân hai người lao động nuôi một người phụ thuộc Thời kỳ đặc biệt này chỉ xảy ra một lần trong lịch sử phát triển của bất kỳ một quốc gia nào”
Rõ ràng Việt Nam đang có một cơ hội “vàng” khi sử dụng một lực lượng lao động trẻ dồi dào trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế 2010-2020
Kế hoạch hóa gia đình là điều cấp thiết trong điều kiện nước nghèo, đất ít như Việt Nam Sau nhiều năm đẩy mạnh chiến lược Kế hoạch hoá gia đình “mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có 1-2 con”, tỷ lệ sinh ở Việt Nam đã giảm mạnh và hiện ở mức sinh thấp 2,11 con/ người mẹ trong độ tuổi sinh
Tuổi thọ bình quân của người Việt Nam cũng có bước tiến rõ rệt khi tăng lên đến 73,1 tuổi và dự kiến đạt 75 tuổi vào năm 2020
1.3.2 Ồ ạt ra thành thị
Mặc dù dân thành thị hiện chiếm 30% tổng dân số ở Việt Nam nhưng lại đang tăng nhanh với tốc độ trung bình 3,4%/năm Khu vực miền Đông Nam Bộ là nơi có mức đô thị hóa cao nhất Nguyên nhân chính là do thị trường lao động mở rộng
Mật độ dân số ở Việt Nam, theo Tổng cục Thống kê, có sự phân bố rất chênh lệch và mức gia tăng không đồng đều Cụ thể khu vực đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc đông nhất trên cả nước (25 triệu người) trong khi vùng Tây nguyên chỉ hơn 5 triệu người Một số tỉnh như Nam Định, Thanh Hóa tỉ lệ tăng dân số không đáng kể vì số
Trang 13người di cư vào các tỉnh thành phía Nam (chủ yếu là Thành phố Hồ Chí Minh) để làm
ăn sinh sống Ước tính trong năm năm 2004-2009 có tới 9,1 triệu người di cư
1.3.3 Già hóa dân số ngày càng tăng
Theo báo cáo Tình hình Dân số Thế giới Liên Hiệp Quốc, dân số Việt Nam hiện cán mốc 90 triệu người vào năm 2014 và sẽ tăng lên 111,7 triệu người vào năm
2050
Điều đó cho thấy mong muốn cũng như áp lực buộc phải sinh con trai cùng khả năng tiếp cận các dịch vụ chọn lọc giới tính hiện đại của phụ nữ nông thôn những năm gần đây tăng lên, khiến tình trạng mất cân bằng giới tính càng trở nên nghiêm trọng với những cảnh báo về tình trạng dư thừa nam giới trong tương lai.Hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam đã được Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) cảnh báo: nếu xu hướng này lặp lại ở Việt Nam và lan rộng diễn ra với tốc
độ nhanh sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng trong tương lai, ảnh hưởng đáng kể đến cơ cấu giới tính và nhân khẩu học
Cũng theo dự báo của tổ chức UNFPA nếu tiếp tục tăng sẽ tác động nặng nề đến thế hệ nam thanh niên được sinh ra sau năm 2005 vì khi bước vào độ tuổi lập gia đình vào những năm 2030 thì nhóm nam giới này sẽ dư thừa so với phụ nữ cùng lứa tuổi 10% Nếu không có can thiệp hiệu quả để giảm mất cân bằng giới tính khi sinh thì sau
20 năm nữa Việt Nam sẽ có 4,3 triệu thanh niên ít có cơ hội lấy được vợ trong nước Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ tạo sự khan hiếm phụ nữ trong tương lai gây thêm
áp lực về kết hôn độ tuổi trẻ hơn, tảo hôn, tăng nhu cầu mại dâm buôn bán phụ nữ, bạo hành giới là nguy cơ mà phụ nữ và các em gái phải đối mặt
Trang 14Hình 4: Lực lượng lao động: Nhóm trẻ giảm, nhóm già tăng
Hình 3: Tổng dân số- Tỷ lệ người già ngày càng tăng
Trang 151.4 Giải pháp dân số Việt Nam
Cơ cấu “dân số vàng” tạo ra nhiều thuận lợi, thế mạnh cho Việt Nam với lực lượng lao động trẻ, dồi dào nhưng lại là thách thức lớn vì hiện nay còn khoảng 70% lao động chưa được đào tạo nghề
Bên cạnh đó, khoảng 70% dân số ở nông thôn, trong khi nông dân hiện nay mới
sử dụng 40% thời gian cho sản xuất nông nghiệp, còn lại 60% thời gian là nông nhàn Thu nhập thấp, thiếu việc làm, chất lượng sống và chất lượng dân số chưa cao, tốc độ già hóa nhanh, chi phí an sinh xã hội lớn cũng là những thách thức đặt ra với Việt Nam
Theo giáo sư- tiến sỹ Nguyễn Đình Cử (Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, Ðại học Kinh tế quốc dân), thời kỳ "cơ cấu dân số vàng" đang mang lại cơ hội lớn để Việt Nam vượt qua các thách thức, nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực - yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước
Gia đình ít con, thu nhập tăng và áp lực dân số lên hệ thống giáo dục đã được tháo gỡ Dân số trong độ tuổi đi học (5-24 tuổi) giảm từ hơn 33,2 triệu người năm 1999 xuống còn khoảng 29,5 triệu người năm 2013 Bối cảnh này đã tạo thuận lợi lớn cho gia đình và xã hội chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Ðầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục đạt 20% tổng chi ngân sách nhà nước, vào loại cao trên thế giới Kết quả này tạo điều kiện để Việt Nam phát triển giáo dục từ chiều rộng sang chiều sâu
Giáo sư- tiến sỹ Nguyễn Đình Cử cũng nhấn mạnh mỏ vàng không khai thác thì còn, "cơ cấu dân số vàng" nếu không khai thác thì sẽ hết Vì vậy, để đưa đất nước đi lên, phát triển bền vững, tránh được "bẫy thu nhập trung bình" và đương đầu được với thách thức dân số "siêu già" của thời kỳ "hậu dân số vàng," cần tận dụng những vận hội
do "cơ cấu dân số vàng" mang lại, thông qua đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra và tìm kiếm nhiều việc làm có thu nhập cao, cả ở trong và ngoài nước, hạn chế tiêu dùng xa xỉ, nâng cao tiết kiệm, thúc đẩy đầu tư
Bên cạnh đó, thời kỳ dân số vàng và già hóa dân số ở nước ta diễn ra cùng một lúc nên Nhà nước cần có những chính sách nhằm tận dụng ở mức cao nhất đối với bộ phận dân số là người cao tuổi, khuyến khích họ tham gia vào phát triển kinh tế-xã hội, nhất là đối với những người với độ tuổi từ 55-75 còn sức khỏe, đặc biệt đối với các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân, nghệ nhân, bác sỹ, những người sau khi nghỉ hưu vẫn còn khả năng lao động tham gia đóng góp phát triển kinh tế, xã hội
Trang 16Theo dự báo của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), dân số Việt Nam đến năm 2040 sẽ đạt khoảng 104 triệu người Đây là cũng thời điểm Việt Nam kết thúc thời
kỳ "cơ cấu dân số vàng" và dân số bắt đầu già hóa nhanh
Chính vì vậy, ông Arthur Erken, Trưởng đại diện Quỹ dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam nhấn mạnh Việt Nam phải nắm bắt lấy cơ hội xây dựng kế hoạch chuẩn bị cho thời kỳ chuyển đổi dân số, trong đó, cần phải chú trọng đầu tư vào thế hệ trẻ ngay
từ bây giờ
Lực lượng dân số trẻ phải được chăm sóc về sức khỏe và được đào tạo kỹ năng tốt để có thể đóng góp vào sự phát triển của kinh tế xã hội khi bước vào thời kỳ già hóa dân số đang đến gần
CHƯƠNG 2: LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG TÁC
ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ 2.1 Đặc điểm nguồn lao động ở Việt Nam
Trình độ chuyên môn kĩ thuật ngày càng cao, nhưng đội ngũ có chuyên môn kỹ thuật còn mỏng so với yêu cầu
Phân bố: không đồng đều, cả về số lượng và chất lượng lao động Ở đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và nhất là một số thành phố lớn tập trung nhiều lao động, nhất là lao động có chuyên môn kỹ thuật Vùng núi và trung du thiếu lao động, nhất là lao động có chuyên môn kỹ thuật
2.2 Xu hướng năng suất lao động và cơ cấu lao động
Năm 2013, năng suất lao động của Việt Nam tính theo giá hiện hành đạt 68,7 triệu đồng, cao gấp gần 2,5 lần so với năm 2007 Tuy vậy, tính theo giá cố định 2010
Trang 17thì tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2007-2013 chỉ đạt 3,22%/năm Nguyên nhân rõ ràng nhất của tốc độ tăng năng suất lao động thấp là do nền kinh tế đã không thể duy trì tốc độ tăng trưởng như trong quá khứ khi chỉ đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 5,73%/năm trong khi tốc độ tăng trưởng việc làm vẫn ổn định ở mức 2,43%/năm
Bảng 11 GDP bình quân một lao động theo khu vực kinh tế 2007-2013
Đơn vị: triệu đồng/lao động
Nguồn:Tính toán từ GSO, Niên giám thống kê
Nông nghiệp là ngành có lao động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng việc làm với 46.8% (2013) tuy nhiênnăng suất lao động của ngành này ở mức rất thấp Năng suất lao động ngành nông nghiệp ước tính chỉ bằng 1/4,5 năng suất ngành công nghiệp
và khoảng 1/3,4 năng suất ngành dịch vụ Năng suất thấp cho thấy hiệu quả của việc sử
Trang 18dụng lao động còn thấp, chưa có nhiều áp dụng khoa học công nghệ Tuy có mức năng suất lao động thấp nhất, tốc độ tăng năng suất lao động của ngành nông lâm ngư nghiệp khá ổn định là 2,8%/năm, cao nhất trong 3 nhóm ngành
Công nghiệp là nhóm ngành có năng suất lao động cao nhất trong 3 nhóm ngành với tỷ trọng lao động chiếm 21% tổng việc làm năm 2013 Tốc độ tăng năng suất của nhóm ngành này không ổn định, giảm trong 3 năm 2007-2010, phục hồi mạnh trong 2010-2013 Trong cả giai đoạn 2007-2013, năng suất lao động nhóm ngành này có tốc
độ tăng chậm nhất, chỉ 1.44%/năm
Dịch vụ là nhóm ngành có tỷ trọng lao động tăng đều qua các năm và đến 2013 đạt 32% tổng việc làm Năng suất lao động nhóm ngành dịch vụ năm 2013 (theo giá hiện hành) đạt 92.9 triệu đồng/người bằng 1,35 lần mức chung Tuy nhiên, tốc độ tăng năng suất của nhóm khá ổn định ở mức 2%/năm
Bảng 22 GDP bình quân một lao động theo thành phần kinh tế 2007-2013
Đơn vị: triệu đồng/lao động
GDP bình quân cho một lao động,
Nhà nước 88.3 141.4 216.5 Ngoài nhà nước 15.4 25.0 38.4
Có vốn ĐTNN 135.4 221.1 392.4
GDP bình quân cho một lao động,
Nhà nước 127.4 141.4 156.8 Ngoài nhà nước 22.6 25.0 27.8