1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CHỦ ĐỀ “VẤN ĐỀ DÂN SỐ LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

18 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 114,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HS được GV giảng giải kĩ lưỡng từng vấn đề cùng với một số câu hỏi phát vấn cũng phần nào phát huy được tính tích cực của các em trong hoạt động học tập.. Giải pháp mới cải tiến - Mô tả

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng sáng kiến cấp Sở

Tôi ghi tên dưới đây:

TT Họ và tên Ngày tháng

năm sinh

Nơi công tác

Chức vụ

Trình độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến 1

1 Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng

Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến :

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC TÍCH HỢP, LIÊN MÔN

THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “VẤN ĐỀ DÂN SỐ - LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM”

(Dành cho học sinh lớp 11)

Lĩnh vực áp dụng: Địa lý – Giáo dục công dân khối THPT

2 Nội dung

Trang 2

a Giải pháp cũ thường làm

Trong thực tế, các môn học được GV lên lớp giảng dạy theo đúng phân phối chương trình, đúng nội dung mà sách giáo khoa trình bày và thường bỏ qua

sự liên quan về nội dung giữa các môn học Do vậy, tình trạng giữa các môn học xảy ra sự trùng lặp về nội dung, học sinh phải học đi học lại ở môn này, môn kia cùng một nội dung là điều không thể tránh khỏi

Trong chương trình Giáo dục công dân lớp 10 có nội dung về dân số, ở bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại Chương trình Giáo dục công dân lớp 11 có nội dung về dân số và việc làm, ở bài 11: Chính sách dân số và giải quyết việc làm Chương trình Giáo dục công dân lớp 12 có nội dung của pháp luật liên quan đến dân số và việc làm, ở bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước Trong chương trình Địa lí lớp 12 có nội dung liên quan đến dân số, lao động và việc làm, ở bài 16: Đặc điểm dân số và phân

bố dân cư nước ta, bài 17: Lao động và việc làm Thông thường, các nội dung này được các GV ở các bộ môn Giáo dục công dân, Địa lý dạy độc lập với nhau, theo đúng phân phối chương trình

Nội dung của giáo án các môn được GV trích dẫn hay giảng giải từ nội dung của SGK, khi lên lớp GV cứ việc tuân theo giáo án mà thực hiện từ đầu đến kết thúc

Thông thường giáo án soạn theo phương pháp cũ được GV xây dựng theo cấu trúc của một giờ học gồm các bước như sau:

- Kiểm tra bài cũ

- Giới thiệu bài mới

- Dạy bài mới

- Luyện tập, củng cố kiến thức hình thành ở HS

Trang 3

- Hướng dẫn HS làm việc ở nhà.

Cấu trúc một bài soạn theo phương pháp truyền thống ở trên cho thấy sự sắp xếp một cách công thức, cứng nhắc, chi tiết, đầy đủ những việc làm của GV

và HS theo một trình tự nhất định

* Các phương pháp GV thường sử dụng trong bài dạy là:

1.1 Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề

- Là phương pháp để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách chi tiết, dễ hiểu cho HS tiếp thu Đối với HS qua nghe giảng giải nhanh chóng hiểu được vấn đề và học được PP trình bày vấn đề học tập một cách có hệ thống GV thường sử dụng PP này khi tiến hành nội dung các kiến thức cần nhớ trong bài học, thể hiện mối liên hệ kiến thức trong một phần hoặc toàn bộ chương trình

- Tuy nhiên, đây là phương pháp độc thoại, HS rơi vào tình trạng thụ động, phải cố gắng nghe để hiểu, ghi nhớ và không có cơ hội trình bày ý kiến riêng của mình dẫn đến thói quen thụ động chờ đợi ý kiến giải thích của GV

1.2 Làm việc với sách giáo khoa

- Ưu điểm: HS làm việc một cách độc lập, tích cực, tạo không khí sôi nổi trong học tập và phát huy năng lực tư duy của HS

- Nhược điểm: Kiến thức trong sách giáo khoa chỉ hạn chế trong lượng kiến thức của môn học, chưa đề cập được hết tất cả các kiến thức, tình huống

mà HS sẽ gặp trong cuộc sống

1.3 Phương pháp đàm thoại (vấn đáp)

- Phương pháp đàm thoại (vấn đáp) là phương pháp GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời nhằm gợi mở cho HS sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộc sống, nhằm giúp HS củng cố, mở rộng, đào

Trang 4

sâu, tổng kết, hệ thống hóa những tri thức đã tiếp thu được và nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp HS tự kiểm tra việc lĩnh hội tri thức

- Ưu điểm: Nếu vận dụng khéo léo phương pháp vấn đáp sẽ có tác dụng: + Điều khiển có hiệu quả hoạt động tư duy của HS, kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của họ

+ Bồi dưỡng cho HS năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học một cách chính xác, đầy đủ, xúc tích

+ Giúp GV thu được tín hiệu ngược từ HS một cách nhanh, gọn, để kịp điều chỉnh hoạt động của mình và của HS Đồng thời qua đó HS cũng thu được tín hiệu ngược để kịp thời điều chỉnh hoạt động nhận thức - học tập của mình Đồng thời, thông qua đó, GV có khả năng chỉ đạo hoạt động nhận thức của cả lớp và của từng HS

- Nhược điểm: Nếu vận dụng không khéo sẽ dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp, biến vấn đáp thành cuộc đối thoại giữa GV và một vài HS, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung Nếu câu hỏi đặt

ra chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức một cách máy móc thì sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy lôgic, tư duy sáng tạo của HS

Mục đích của bài soạn này là làm sao truyền thụ được nội dung thông tin định sẵn theo ý muốn chủ quan của GV Để đạt được mục đích đó, GV sắp xếp một cách lôgic kết cấu bài soạn sao cho thích hợp với nội dung cần truyền đạt Nội dung cần truyền đạt này chỉ căn cứ vào nội dung bài học trong SGK Như vậy, lôgic của bài soạn chỉ dựa vào SGK và lập luận của người trình bày mà không tính đến khả năng tiếp nhận kiến thức của HS vốn là nhân vật trung tâm của hoạt động dạy - học

Hiện nay, việc thực hiện chương trình và SGK mới đã góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa HS SGK đã

Trang 5

được thiết kế cho GV dễ dàng tổ chức các hoạt động học tập Các tình huống có vấn đề, các câu hỏi tìm tòi cũng được đặt ra, mặc dù chưa nhiều nhưng đã mang tính gợi ý giúp cho GV định hướng phương pháp Khi dự giờ một số GV, tôi thấy phương pháp chủ đạo của đa số GV khi giảng dạy là nêu vấn đề, thuyết trình kết hợp với đàm thoại để làm rõ từng vấn đề, cuối cùng là làm bài tập củng

cố Phương pháp dạy học trên về ưu điểm đã tạo được sự hứng thú cho HS khi bắt đầu bài học bằng cách nêu vấn đề HS được GV giảng giải kĩ lưỡng từng vấn đề cùng với một số câu hỏi phát vấn cũng phần nào phát huy được tính tích cực của các em trong hoạt động học tập HS nắm được một số kiến thức cơ bản của bài Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng những phương pháp như đã nêu trên thì cũng có những hạn chế nhất định như đối với PP thuyết trình, HS sẽ dễ rơi vào tình trạng thụ động, phải cố gắng nghe để hiểu, ghi nhớ và không có cơ hội trình bày ý kiến riêng của mình dẫn đến thói quen thụ động chờ đợi ý kiến giải thích của GV Hay PP làm việc với SGK thì kiến thức trong SGK chỉ hạn chế trong lượng kiến thức của môn học, chưa đề cập được hết tất cả các kiến thức, tình huống mà HS sẽ gặp trong cuộc sống Đối với PP đàm thoại, nếu vận dụng không khéo sẽ dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp, biến vấn đáp thành cuộc đối thoại giữa GV và một vài HS, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung Nếu câu hỏi đặt ra chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức một cách máy móc thì sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy lôgic, tư duy sáng tạo của HS

Bên cạnh đó, việc dạy độc lập các môn học có nội dung liên quan đến nhau sẽ làm cho HS chưa thấy được sự liên hệ về nội dung giữa các môn học Việc các em tiếp cận nội dung độc lập giữa các môn mà không có sự liên hệ sẽ làm cho các em không có cái nhìn tổng quát, sâu sắc về vấn đề mà tiếp thu một cách rời rạc, thiếu liên hệ

Vậy để HS có cái nhìn sâu sắc về vấn đề, thấy được mối liên hệ giữa nội dung các môn học với nhau, chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng thêm các

Trang 6

phương pháp dạy học khác Trong đó, vận dụng quan điểm dạy học tích hợp là một trong những đột phá về đổi mới phương pháp dạy học để phát huy tính chủ động, tích cực cũng như sự hứng thú đối với các môn học, giảm bớt sự căng thẳng cho HS theo định hướng phát triển năng lực HS

b Giải pháp mới cải tiến

- Mô tả bản chất của giải pháp mới:

Qua thực tế dạy học, tôi thấy rằng việc kết nối kiến thức giữa các môn học để giải quyết một vấn đề nào đó là việc làm hết sức cần thiết Điều đó không chỉ đòi hỏi GV giảng dạy bộ môn nắm bắt nhuần nhuyễn kiến thức bộ môn mình giảng dạy mà cần phải trau dồi kiến thức của những môn học khác để giúp các em giải quyết các tình huống, các vấn đề đặt ra trong môn học một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất Tôi đã trình bày và thực hiện thử nghiệm một

dự án dạy học về chủ đề “Hợp tác – liên kết cùng phát triển” Chủ đề này yêu

cầu GV không chỉ nắm được kiến thức môn GDCD mình giảng dạy mà phải có kiến thức của các môn Lịch sử, Địa lí để giúp HS giải quyết vấn đề một cách tỉ

mỉ, chính xác Đồng thời, tôi thấy rằng vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề sẽ giúp HS hiểu rộng hơn, sâu hơn về vấn đề đó, phát huy được tư duy, sự sáng tạo trong học tập và ứng dụng vào thực tiễn Đối với dự án này, khi thực hiện sẽ giúp các em HS hiểu được thế nào là hợp tác, thấy rõ được lợi ích của hợp tác thông qua những minh chứng cụ thể Từ nội dung kiến thức sẽ giúp các em vận dụng vào giải quyết các tình huống trong thực tế cuộc sống để hợp tác với mọi người xung quanh,…đạt kết quả tốt Tôi thấy khi dự án có kết hợp với kiến thức của các môn học khác sẽ giúp GV tiếp cận tốt hơn, hiểu rõ hơn, sâu hơn những vấn đề đặt ra Từ đó bài dạy sẽ trở nên sâu sắc, sinh động hơn

HS có hứng thú học bài, được tìm tòi, khám phá nhiều kiến thức và được suy nghĩ sáng tạo nhiều hơn, từ đó vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn

Trang 7

Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng việc hiểu và làm đúng quá trình tích hợp sẽ giúp nâng cao năng lực của người học, đào tạo những người có đầy

đủ phẩm chất, năng lực vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lý trong giải quyết các tình huống khác nhau trong cuộc sống hiện đại và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với HS so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ Đồng thời dạy học tích hợp, liên môn giúp hình thành và phát triển ở

HS các năng lực cần thiết của một người lao động trong tương lai như: NL tự học; NL giải quyết vấn đề; NL sáng tạo; NL hợp tác; NL giao tiếp; NL sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông…

Giúp cho giờ học trở nên sinh động hơn, vì không chỉ có GV là người trình bày mà HS cũng tham gia vào quá trình tiếp nhận kiến thức, từ đó phát huy tính tích cực của HS

Góp phần phát triển tư duy liên hệ, liên tưởng ở HS, tạo cho HS một thói quen trong tư duy, lập luận tức là khi xem xét một vấn đề phải đặt chúng trong một hệ quy chiếu, từ đó mới có thể nhận thức vấn đề một cách thấu đáo

Giúp HS hứng thú học tập, từ đó khắc sâu được kiến thức đã học do việc dạy học tích hợp liên môn có tính thực tiễn

Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa: bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này, hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống

Dạy cho HS sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể: thay vì tham nhồi nhét cho HS nhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, dạy học tích hợp chú trọng tập dượt cho HS vận dụng các kiến thức kĩ năng học được vào các tình huống thực

tế, có ích cho cuộc sống sau này làm công dân, làm người lao động, có năng lực sống tự lập

Trang 8

Xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học: trong quá trình học tập,

HS có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng phải biết đặt các khái niệm đã học trong những mối quan

hệ hệ thống, trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp

Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn: cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho HS vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo

Sau đây, tôi xin đề xuất một phương án như sau:

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC TÍCH HỢP, LIÊN MÔN

THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “HỢP TÁC – LIÊN KẾT CÙNG PHÁT TRIỂN”

(Dành cho học sinh lớp 11)

- Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp:

Vấn đề dân số, lao động và việc làm luôn là bài toán lớn đối với các cấp lãnh đạo và đối với bản thân mỗi cá nhân Bởi đây là những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của một quốc gia Vấn đề dân số có mối liên hệ mật thiết với vấn đề lao động và việc làm Giải quyết tốt bài toán này sẽ

là bàn đạp để nước ta có thể phát triển bền vững, sánh vai với các cường quốc trong khu vực và trên thế giới Học sinh THPT – thế hệ tương lai sẽ phải làm cha, làm mẹ, phải lao động, tìm kiếm việc làm cần có cái nhìn như thế nào và sẽ làm gì để có thể giải quyết được những vấn đề này cho chính bản thân

Trang 9

- Trong chương trình Địa lí lớp 12 và Giáo dục công dân lớp 10, 11, 12 đều có nội dung liên quan đến vấn đề dân số, lao động, việc làm ở nước ta Việc cấu trúc lại thành một chủ đề liên môn “Vấn đề dân số - lao động – việc làm ở Việt Nam” là cần thiết, tránh tình trạng trùng lặp nhau về nội dung, tránh việc

cả 2 môn học đều tổ chức dạy học, giảm được thời gian và học tập cho HS Như vậy, việc tích hợp để HS có nền tảng kiến thức một cách hệ thống, tổng quan, không rời rạc về vấn đề dân số, lao động, việc làm; thực trạng cũng như giải pháp giải quyết vấn đề Qua đó, khắc phục được tình trạng thiếu sự liên hệ, tác động giữa kiến thức của môn Địa lí và GDCD

Việc xây dựng chủ đề liên môn tạo điều kiện để đổi mới phương pháp dạy học, đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, học sinh được hoạt động, được tự học và tự nghiên cứu Thông qua đó góp phần hướng tới hình thành các năng lực, phẩm chất cho HS

Nội dung học tập của bài được sử dụng xây dựng thành chủ đề với các hoạt động học được xây dựng nối tiếp nhau thành một chuỗi các hoạt động liên tục có gắn kết với nhau, HS được nghiên cứu trên lớp, ở nhà, từ đó góp phần làm tăng thời gian học tập của HS

Để có cái nhìn rõ hơn về vấn đề dân số, đồng thời góp phần vào việc nâng cao chất lượng nguồn lao động và giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động, chủ đề “Vấn đề dân số - lao động - việc làm ở Việt Nam” được xây dựng từ các môn học:

- Môn Địa lí lớp 12

Bài 16: ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ NƯỚC TA

Bài 17: LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM

- Môn GDCD lớp 10

Bài 15: CÔNG DÂN VỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP THIẾT CỦA NHÂN LOẠI

Trang 10

Mục 2 Sự bùng nổ về dân số và trách nhiệm của công dân trong việc hạn chế sự bùng nổ về dân số

- Môn GDCD lớp 11

Bài 11: CHÍNH SÁCH DÂN SỐ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

- Môn GDCD lớp 12

Bài 9: PHÁP LUẬT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA ĐẤT NƯỚC Mục 1 Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển bền vững của đất nước

* Trong lĩnh vực xã hội (Đọc thêm)

Mục 2 Nội dung cơ bản của pháp luật về sự phát triển bền vững của đất nước c) Nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển các lĩnh vực xã hội

Như vậy, các bài học và các mục trong bài học nêu trên sẽ được dạy ở chủ

đề: “Vấn đề dân số - lao động – việc làm ở Việt Nam”

Đối với môn GDCD lớp 10: Không dạy phần kiến thức liên quan đến dân

số trong bài 15 “Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại” mà tách ra xây dựng thành chủ đề tích hợp liên môn Phần nội dung còn lại của bài 15

“Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại” vẫn dạy với thời lượng như cũ

Đối với môn GDCD lớp 11: Không dạy phần kiến thức bài 11 “Chính sách dân số và giải quyết việc làm” mà tách ra xây dựng thành chủ đề tích hợp liên môn

Đối với môn GDCD lớp 12: Không dạy phần kiến thức vai trò của pháp luật trong lĩnh vực xã hội (mục 1) và nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển các lĩnh vực xã hội (mục 2) Phần nội dung còn lại của bài 9 vẫn dạy với thời lượng như cũ

Ngày đăng: 08/01/2019, 12:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w