Cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam không đưa ra những chỉ tiêu tốt về thị trường lao động bởi mục đích chính của cuộc điều tra này không phải là để tính toán các chỉ tiêu về lao
Trang 1Điều tra lao động việc làm ở Việt Nam Đánh giá những cuộc điều tra đã thực hiện
và khuy ến nghị cho thiết kế cuộc điều tra mới
François Roubaud0
1
, IRD-DIAL Với sự cộng tác của Phan Ng ọc Trâm1
2
, ISS-T ổng cục Thống kê Đặng Kim Chung2
1 Giám đốc nghiên cứu, Viện Nghiên cứu và Phát triển Pháp (IRD), Đơn vị nghiên cứu DIAL
2 Nghiên c ứu viên, Viện Khoa học Thống kê (ISS), Tổng cục Thống kê
3 Phó Giám đốc, Viện Lao động Xã hội (ILSA), Bộ LĐTB&XH
Trang 2chất lượng số liệu và hài hòa hóa, hợp lý hóa việc thu thập số liệu; và (4) Cải tiến công tác lập báo cáo, thông tin liên lạc, sử dụng và lưu trữ số liệu Việc đánh giá hai cuộc điều tra hộ gia đình
hằng năm - Điều tra lao động việc làm của Tổng cục Thống kê (TCTK) và Điều tra thực trạng
việc làm và thất nghiệp của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) được xem là đầu vào quan trọng cho đầu ra thứ nhất và đầu ra thứ ba
Vì mục đích đó, báo cáo này nhằm cung cấp đầu vào cho việc thực hiện Chương trình Điều tra Quốc gia, hợp lý hoá hệ thống thông tin thị trường lao động, và nâng cao tính hợp nhất các số liệu này (xem Điều khoản Tham chiếu ở Phụ lục 1) Mục tiêu cụ thể bao gồm:
a) Đánh giá mục tiêu, phạm vi, mức độ, công cụ điều tra, dàn mẫu thiết kế, thu thập
và xử lý số liệu, quy trình ước tính của Cuộc điều tra việc làm và thất nghiệp và Cuộc Điều tra lao động việc làm về kỹ thuật cũng như sự thống nhất với chuẩn quốc tế, tính thích hợp, kịp thời, độ tin cậy và chất lượng số liệu chung
b) Phân tích số liệu điều tra từ Cuộc điều tra việc làm và thất nghiệp năm 2007 và
Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007 để (i) đánh giá mức độ thông tin về thị trường lao động mà các cuộc điều tra cung cấp và (ii) đánh giá tính nhất quán và khả năng so sánh kết quả từ hai cuộc điều tra này
c) Đánh giá những thuận lợi của việc tiếp tục hệ thố ng điều tra kép hiện nay so với
một cuộc điều tra hộ gia đình tổng hợp phục vụ cho thống kê lao động và nhằm cung cấp các chỉ tiêu trong lĩnh vực này
d) Đề xuất khuyến nghị để giải quyết những vấn đề chính về thực trạng các nguồn số
liệu về lực lượng lao động, việc làm và thất nghiệp so với yêu cầu của Hệ thống chỉ tiêu
thống kê quốc gia và khung giám sát đánh giá cho SEDP/VDG/MDG
Báo cáo này có bố cục như sau: Phần 2 trình bày các cuộc điều tra hiện có về thị trường lao động ở Việt Nam từ góc nhìn nguồn cung lao động (các cuộc điều tra hộ gia đình) Chúng tôi
chủ yếu tập trung vào các cuộc Điều tra lao động việc làm, nhưng chúng tôi cũng xem xét các nguồn số liệu khác như Điều tra về mức sống hộ gia đình Việt Nam Chúng tôi rà soát kỹ các vấn
đề có liên quan trước khi điều tra được thực hiện (mẫu và câu hỏi điều tra) và cả các vấn đề sau khi thực hiện điều tra (kết quả thống kê, các chỉ tiêu về thị trường lao động, phân tích, xuất bản
và phổ biến số liệu) Phần 3 tập trung so sánh hai cuộc điều tra về lực lượng lao động tiến hành vào hai thời điểm cách nhau 1 tháng trong năm 2007 (tháng 7 và tháng 8) do Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến hành Qua xử lý số liệu thô, chúng tôi đánh giá những điểm mạnh và những tồn tại
Trang 3của mỗi cuộc điều tra Phần 4 rút ra những bài học từ các cuộc điều tra đã được tiến hành ở Việt Nam và xác định nhu cầu của người sử dụng số liệu chủ yếu để đưa ra khuyến nghị về một cuộc Điều tra lao động việc làm được thiết kế phù hợp, toàn diện và dễ quản lý nhằm đáp ứng quan tâm về thị trường lao động Phần 5 là phần kết luận Phần này cũng nêu lên một số khó khăn mà chúng tôi gặp phải (thiếu thông tin liên lạc giữa hai cơ quan thực hiện các cuộc điều tra này - TCTK và Bộ LĐTB&XH , thiếu tài liệu chuyên môn, đặc biệt là tài liệu bằng tiếng Anh, v.v.) nhưng đã được khắc phục nhờ vào sự đóng góp tích cực của các đơn vị tham gia vào hoạt động này (cán bộ của TCTK và Bộ LĐTB&XH , đặc biệt là hai chuyên gia trong nước, Bà Phan Ngọc Trâm, Viện Khoa học Thống kê và ông Đặng Kim Chung, Viện Lao động Xã hội (ILSA), cùng
với sự đóng góp tích cực của Bà Hoàng Thị Thanh Hà và Margarita Guerrero từ Dự án Hỗ trợ giám sát phát triển kinh tế- xã hội)
Ba nguồn số liệu hộ gia đình chính liên quan đến thị trường lao động ở Việt Nam gồm: Các cuộc điều tra về lao động việc làm do Bộ LĐTB&XH tiến hành hằng năm (1996-2007), các
cuộc điều tra về lao động việc làm do TCTK tiến hành (2007 và 2008) và cuối cùng là cuộc điều tra về mức sống hộ gia đình Việt Nam do TCTK tiến hành (1992/1993, 1997/1998, 2002, 2004
và 2006) Dường như chưa có cuộc điều tra nào đạt được những ưu điểm của một cuộc điều tra
có chất lượng tầm cỡ quốc tế về lực lượng lao động Trong cuộc Điều tra lao động việc làm của
Bộ LĐTB&XH, phạm vi câu hỏi điều tra ngày càng thu hẹp và chất lượng số liệu ngày càng bộc
lộ nhiều vấn đề Cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam không đưa ra những chỉ tiêu tốt
về thị trường lao động bởi mục đích chính của cuộc điều tra này không phải là để tính toán các
chỉ tiêu về lao động việc làm Xét trên khía cạnh đó thì cuộc Điều tra lao động việc làm của TCTK năm 2007 có thể được xem là nguồn số liệu tốt nhất hiện có ở Việt Nam Tuy nhiên, cuộc điều tra năm 2008 lại bị xem như là một bước thụt lùi vì nội dung của bảng hỏi bị giảm đáng kể
và Việt Nam có nguy cơ không có được những chỉ tiêu về thị trường lao động toàn diện cho đến
sớm nhất là năm 2010, khi mẫu điều tra được lấy từ Cuộc tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm
2009 Vấn đề này nên được giải quyết càng sớm càng tốt
Ngoài ra, các cuộc điều tra về hộ gia đình cũng bị ản h hưởng bởi những vấn đề có liên quan đến chọn mẫu Vấn đề đáng quan tâm nhất chính là dàn mẫu, do hộ gia đình được chọn trong dàn mẫu hầu như là các hộ đăng ký hộ khẩu dưới dạng KT1 và KT2, trong khi đó chưa tính hết số người di cư và số người không đăng ký hợp pháp Đây không phải là vấn đề riêng của
cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam Thật ra, ta có thể thấy rằng tất cả các cuộc điều tra
hộ gia đình đều gặp phải hạn chế này, dù cuộc điều tra do TCTK hay Bộ LĐTB&XH tiến hành
Năm 2007, cả Bộ LĐTB&XH và TCTK đã tiến hành cuộc Điều tra lao động việc làm ở hai thời điểm cách nhau 1 tháng (tháng 7 và tháng 8) Theo yêu cầu của hai cuộc điều tra, mục đích, thiết kế mẫu, nội dung câu hỏi điều tra và các chỉ tiêu đều khá giống nhau Trong cả hai
cuộc điều tra này, yêu cầu của thiết kế mẫu là cung cấp ước tính thống kê đáng tin cậy ở các cấp
quốc gia, tỉnh, thành phố, thành thị và nông thôn thuộc tỉnh, thành phố Cuộc điều tra của Bộ LĐTB&XH chủ yếu tập trung vào thất nghiệp, trong khi cuộc điều tra của TCTK là để tính toán các chỉ tiêu về việc làm Từ quan điểm thống kê, tiến hành hai cuộc điều tra này rõ ràng là lãng phí nguồn lực, vì việc làm và thất nghiệp là hai mặt của cùng một hiện tượng Tuy nhiên, sự
Trang 4tương tự của hai cuộc điều tra (dàn mẫu, phạm vi bảng hỏi điều tra) được tiến hành độc lập ở cùng một thời điểm là cơ hội hiếm có để phân tích, đánh giá độ tin cậy của các chỉ tiêu về thị trường lao động ở Việt Nam
Rõ ràng cuộc Điều tra lao động việc làm của TCTK năm 2007 "hơn hẳn" cuộc Điều tra lao động việc làm của Bộ LĐTB&XH năm 2007: phạm vi mẫu lớn hơn 70% và số lượng câu hỏi nhiều hơn gấp đôi Cuộc điều tra của Bộ LĐTB&XH chỉ gói gọn được ở các chỉ tiêu cơ bản về lao động việc làm (thất nghiệp, tình trạng thiếu việc làm và việc làm với những đặc tính chủ yếu
của nó) Cuộc điều tra của TCTK không những có thể thu thập được tất cả những chỉ tiêu này mà còn thu thập được các thông tin về khu vực kinh tế không chính thức và lao động phi chính thức, thu nhập, việc làm thêm, v.v
Bức tranh tổng quát mà hai cuộc điều tra này đưa ra nói chung là thống nhất với nhau Tuy nhiên, chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh đến một số hạn chế và chênh lệch của hai cuộc điều tra này Thứ nhất, qui trình lấy mẫu của cả hai cuộc điều tra không cho phép tính được các chỉ tiêu thể hiện độ chính xác (khoảng tin cậy, hiệu quả thiết kế mẫu, v v) Điểm yếu lớn nhất chính
là bảng kê các hộ trong địa bàn điều tra được chọn) Thứ hai, mặc dù số liệu tổng hợp theo tỉnh, khu vực thành thị, nông thôn và giới tính của hai cuộc điều tra này nhất quán với nhau (không
phải do đầu ra của mẫu, mà do việc xây dựng các quyền số ngoại suy), nhưng dân số tham chiếu thì không giống nhau Cuộc điều tra của TCTK chỉ bao gồm những hộ bình thường Việc bao
gồm cả lực lượng vũ trang trong cuộc điều tra của Bộ LĐTB&XH có lẽ đã không được quán triệt đầy đủ ( đưa vào suy rộng nhưng lại chỉ điều tra 1 phần (lực lượng vũ trang –ND) )
Thứ ba, một số chỉ tiêu về lao động việc làm của hai cuộc điều tra rất giống nhau: tình
trạng thiếu việc làm, phân bố việc làm chính (cuộc điều tra của Bộ LĐTB&XH chỉ tập trung vào
việc làm chính chứ không điều tra việc làm thêm) theo nghề, ngành, và thành phần kinh tế Tuy nhiên, một số chỉ tiêu về lao động việc làm khác lại hoàn toàn khác nhau, tạo ra sự nghi ngờ về sai số do tính toán (chúng tôi không thể đánh giá được cái nào là đánh giá quá cao (hay quá thấp)
so với mức độ thực tế của các biến số), bởi vì chênh lệch là quá lớn so với sai số chọn mẫu cho phép Cụ thể hơn, tỉ lệ dân số ở độ tuổi lao động cao hơn 3 điểm phần trăm trong cuộc Điều tra lao động việc làm của Bộ LĐTB&XH ((78,4% so với 74,9%), nhưng tỉ lệ lao động tham gia vào các hoạt động kinh tế lại thấp hơn 3 điểm (69,8% so với 74,5%) Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị
của cuộc Điều tra lao động việc làm của Bộ LĐTB&XH cao hơn 1,3 điểm (4,9% so với 3,6%) Điều đáng quan tâm hơn là sự khác biệt về phân bố việc làm Tỉ lệ người làm công ăn lương thấp hơn 8 điểm phần trăm trong cuộc Điều tra lao động việc làm của Bộ LĐTB&XH năm 2007 (22%
so với 30%) Trong cuộc điều tra của Bộ LĐTB&XH , tỉ lệ lao động hộ gia đình không được trả lương là 42%, trong khi số liệu này từ cuộc điều tra của TCTK là 13% Sự chênh lệch này đã được bù đắp bởi số lượng người làm việc độc lập cao hơn (việc tự làm hoặc làm chủ) Chính khoảng cách quá lớn này dẫn đến các khái niệm sử dụng cũng khác nhau
Như đã đề cập trên, hiện nay chưa có cuộc điều tra nào (cuộc Điều tra lao động việc làm
của Bộ LĐTB&XH hay của TCTK; cuộc điều tra về mức sống hộ gia đình Việt Nam) hoàn toàn thoả mãn và giải quyết được những vấn đề quan tâm về thị trường lao động Hiện nay (2007-2010), Việt Nam đang đứng trước nguy cơ không thu thập được số liệu thống kê chi tiết về thị
Trang 5trường lao động, do toàn bộ nguồn nhân lực đều dốc hết vào cuộc Tổng điều tra Dân số sắp tới (2009) Những khuyến nghị và đề xuất sau đây nhằm làm rõ một mô hình phù hợp cho cuộc Điều tra lao động việc làm ở Việt Nam, từ năm 2010 trở đi, đồng thời đưa ra những giải pháp để
khắc phục những hạn chế tạm thời Đề xuất dựa trên những đánh giá được nêu ra trong báo cáo này; cuộc thăm dò trực tiếp người dùng tin do các tác giả thực hiện cũng như áp dụng thực tiễn ở các nước về lĩnh vực này Cuộc áp dụng này đã được điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh thực
tế ở Việt Nam Bản thảo đầu tiên của báo cáo này đã được thảo luận cụ thể trong một cuộc hội
thảo được tổ chức tại TCTK vào ngày 18 tháng 12 năm 2008 với sự tham gia của tát cả các Vụ trong Tổng cục, đại diện của Bộ LĐTB&XH và các nhà tài trợ quốc tế (Tổ chức Lao động thế
giới, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, v v) Tất cả những ý kiến đóng góp và những vấn đề nêu ra trong buổi hội thảo đã được đưa vào trong báo cáo cuối cùng này
Đề xuất này là một phần trong mục tiêu lớn hơn nhằm đưa cuộc Điều tra lao động việc
làm vào m ột trong hai cuộc điều tra kinh tế xã hội của Việt Nam trong năm tới, ngoài cuộc điều
tra v ề mức sống của hộ gia đình Việt Nam Mỗi cuộc điều tra cần giải quyết những chủ đề khác
nhau: nghèo đói và điều kiện sống đối với cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam; các chỉ tiêu về thị trường lao động và các vấn đề liên quan đến khu vực kinh tế phi chính thức đối với
cuộc Điều tra lao động việc làm Chiến lược cải tiến cuộc Điều tra lao động việc làm cần dựa
trên hai m ốc thời gian: mục tiêu dài hạn (2010-2020), là xây dựng nền tảng cho một cuộc Điều tra lao động việc làm hiện đại, còn mục tiêu trung hạn (2008-2010) là nhằm chuẩn bị cho việc
thực hiện lần đầu cuộc Điều tra lao động việc làm mới kể từ năm 2010 trở đi, đồng thời giảm thiểu khoảng cách giữa các chỉ tiêu về lao động việc làm
Kể từ năm 2010, mục tiêu chính của việc thiết kế cuộc Điều tra lao động việc làm mới là
phải đạt tiêu chuẩn quốc tế và phải được xây dựng dựa trên kinh nghiệm của Việt Nam và quốc
tế Nội dung hoạt động của cuộc Điều tra lao động việc làm trong bối cảnh khan hiếm nguồn lực tài chính và nhân lực là kết hợp những thuận lợi của cả hai mặt như sau:
a) chúng giúp xây d ựng số liệu theo chuỗi thời gian làm cơ sở để phân tích kinh tế Việc
tiếp tục các cuộc điều tra, với các khái niệm và kết quả được chuẩn hoá, tạo điều kiện cho việc
sử dụng các phương pháp (nhất là kinh tế lượng) để phân tích kinh tế vĩ mô và vi mô
b) chúng là công c ụ hữu ích cho đội ngũ cán bộ thống kê , nhất là ở những nước nghèo,
nơi mà hệ thống điều tra hộ gia đình vẫn còn trong thời kỳ đầu của quá trình phát triển Điều tra lao động việc làm được chuẩn hoá sẽ giúp cho việc tiến hành điều tra đơn giản và dễ quản lý mà không cần đến một lực lượng cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ cao Ngoài ra, một khi điều tra đã được chuẩn hoá rồi thì các đầu ra của cuộc điều tra cũng đã biết trước và vì thế sẽ không đòi hỏi ngân sách cao để có thể tiến hành được cuộc điều tra thuộc loại này
Ngoài những tính chất trên, cuộc Điều tra lao động việc làm đóng một vai trò rất quan
trọng trong việc đưa ra một mô hình rộng hơn cho cuộc điều tra hộ gia đình, đặc biệt trong việc tính toán các chỉ tiêu liên quan đến khu vực kinh tế phi chính thức và lao động phi chính thức
Trang 6Theo các khuyến nghị quốc tế, cuộc điều tra hỗn hợp (hộ gia đình/doanh ngh iệp) được xem là cách tốt nhất để điều tra khu vực kinh tế phi chính thức Đối với Việt Nam, cuộc thử nghiệm đầu tiên cuộc điều tra hỗn hợp dựa trên cuộc điều tra 1-2-3, trong đó cuộc Điều tra lao động việc làm
là giai đoạn đầu của cuộc điều tra này, đã được thực hiện thành công vào năm 2007 và 2008 tại
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Đề xuất của chúng tôi nhằm đúc kết kinh nghiệm thực tiễn đầu tiên này để bảo đảm chất lượng số liệu ước tính về thị trường lao động và khu vực kinh tế phi chính thức Cần chú ý ba đặc điểm sau:
a) Nên chuy ển Điều tra lao động việc làm một thời điểm trong năm thành cuộc điều tra liên tục (điều tra liên tục suốt năm) Cỡ mẫu tối thiểu phải đại diện cho cả nước, và thành
thị/nông thôn đối với các chỉ tiêu hàng quý Về việc phân bố số liệu kịp thời, số liệu thống kê lao động chính thức của Việt Nam sẽ nâng cấp từ Hệ thống phổ biến thông tin riêng (SDDS) thành
Hệ thống phổ biến thông tin chung (GDDS)
b) Điều tra lao động việc làm nên bảo đảm phỏng vấn lại các hộ đã được hỏi trong
những năm trước (panel component) Việc làm này sẽ đạt được mục tiêu một mũi tên trúng
hai đích: thứ nhất là nhằm nắm bắt sự vận động của thị trường lao động và dân số di cư, một yếu
tố không thể đạt được từ các cuộc điều tra chéo (cross section surveys); thứ hai là nhằm bảo đảm
sự thống nhất của các ước tính về thời gian, một điều rất khó đạt được nếu thay đổi hoàn toàn hộ gia đình trong các cuộc điều tra liên tiếp trong các cuộc điều tra chéo
c) Điều tra lao động việc làm nên lồng ghép thêm các mục hỏi nhỏ vào câu hỏi chính,
nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể liên quan đến chính sách thị trường lao động Hiển nhiên,
Bộ LĐTB&XH nên đóng vai trò chính với tư cách là người sử dụng số liệu chính của cuộc Điều tra lao động việc làm bằng cách đề xuất chủ đề của các mục phù hợp với xu hướng chính sách
của Bộ
Về mặt thể chế và kỹ thuật, chúng tôi đề xuất hai khuyến nghị :
- Thứ nhất, nên phân chia cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan, TCTK (với tư cách là nhà
sản xuất số liệu cuộc Điều tra lao động việc làm) và Bộ LĐTB&XH (với tư cách là người
sử dụng số liệu cuộc Điều tra lao động việc làm)
- Thứ hai, vấn đề ưu tiên hàng đầu là phải củng cố năng lực và bố trí nguồn lực cho Vụ Thống kê Dân số và Lao động của TCTK
Về trung hạn, để chuẩn bị cho việc thực hiện lần đầu cuộc Điều tra lao động việc làm mới
từ năm 2010 trở đi, và để kết nối thông tin giữa hai giai đoạn, cần tiến hành 3 hoạt động sau đây:
a) Thứ nhất, thiết kế mới của cuộc Điều tra lao động việc làm cần tập trung vào những
vấn đề kỹ thuật sau: chọn cỡ mẫu tối ưu, thiết kế tốt điều tra, sử dụng lại các hộ gia đình đã được điều tra, v.v Nên sử dụng Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2009 để hoạch định các thành
phần hỗ trợ kỹ thuật nhằm giúp đỡ Vụ Thống kê Dân số và Lao động của TCTK trong việc lựa
chọn phương án tối ưu và tổ chức các khoá tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về những
vấn đề kỹ thuật vừa đề cập ở trên
Trang 7b) Thứ hai, cần tiến hành cuộc Điều tra lao động việc làm trên phạm vi toàn quốc vào năm 2009 Cuộc điều tra như thế sẽ đạt được 3 mục tiêu: đưa ra được các chỉ tiêu về thị trường lao động có tính so sánh và toàn diện cho năm 2009; giám sát diễn biến của thị trường trong điều
kiện kinh tế toàn cầu bị suy thoái nhằm đưa ra chính sách thích hợp hơn; sử dụng như là một
cuộc thử nghiệm để kiểm tra một số yếu tố và qui trình cho việc thiết kế cuộc điều tra năm 2010 (nội dung và mẫu) Cỡ mẫu có thể giảm bớt đáng kể so với các cuộc Điều tra lao động việc làm trước đây, tuỳ vào ngân sách đang có Nội dung của câu hỏi điều tra có thể gồm hai phần: bảng câu hỏi chính thu thập các thông tin để tính các chỉ tiêu chính về thị trường lao động; bảng câu
hỏi bao gồm các mục tuỳ thuộc vào mức độ ưu tiên của Bộ LĐTB&XH Ngoài ra, có thể tiến hành điều tra trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2: điều tra hộ gia đình sản xuất kinh doanh
và khu v ực kinh tế phi chính thức
c) Thứ ba, tận dụng số liệu có sẵn, cần tiến hành phân tích sâu về các vấn đề liên quan đến thị trường lao động Ở đây, một lần nữa, các chủ đề phải được lựa chọn dựa trên khả năng
phân tích các cuộc điều tra và các vấn đề ưu tiên chính
Trang 81 Gi ới thiệu
UNDP với đồng tài trợ DFID đã khởi xướng dự án vào tháng 10/2005 nhằm hỗ trợ giám sát tiến triển trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế -xã hội (SEDP) cũng như MDG/VDG ở Việt Nam Dự án được Tổng cục Thống kê thực hiện với sự hợp tác của 6 Bộ và 3 tỉnh theo phương
thức điều hành quốc gia (NEX) của UNDP
Mục tiêu của dự án là nhằm tăng cường giám sát quốc gia qua 4 đầu ra: (1) Rà soát/cập
nhật các chỉ tiêu thống kê quốc gia phục vụ công tác giám sát SEDP/VDGs/MDGs; (2) Rà soát/cập nhật kế hoạch hành động thống kê quốc gia; (3) Nâng cao chất lượng số liệu và hài hòa hóa, hợp lý hóa việc thu thập số liệu; và (4) Cải tiến công tác lập báo cáo, thông tin liên lạc, sử
dụng và lưu trữ số liệu Việc đánh giá hai cuộc điều tra hộ gia đình hằng năm - Điều tra lao động
việc làm của TCTK và Điều tra thực trạng việc làm và thất nghiệp của Bộ LĐTB&XH - được xem là đầu vào quan trọng cho đầu ra thứ nhất và đầu ra thứ ba
Để đánh giá việc thực hiện Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê quốc gia và cập nhật đều đặn Chương trình Điều tra Quốc gia, Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội xác định cần đánh giá hệ thống số liệu thống kê và các chỉ tiêu thống kê về thị trường lao động
hiện nay bằng cách tập trung vào đánh giá các cuộc Điều tra lao động việc làm do hai cơ quan này tiến hành Dựa vào yêu cầu của cả hai cơ quan này, Dự án đã cung cấp hỗ trợ kỹ thuật để
tiến hành việc đánh giá bằng cách hỗ trợ các chuyên gia quốc tế và trong nước Báo cáo này là
kết quả cuối cùng của quá trình đánh giá
Trước năm 2006, Bộ lao động, thương binh và xã hội tiến hành cuộc điều tra Lao động và
việc làm hàng năm trên phạm vi toàn quốc Tổng cục Thống kê là cơ quan đồng thực hiện chịu trách nhiệm xử lý số liệu Năm 2007, thực hiện Quyết định 305/2005/QD-TTg do Thủ tướng ban hành năm 2005, TCTK tiến hành cuộc Điều tra lao động việc làm hằng năm trên phạm vi toàn
quốc vào tháng 8 năm 2007 Vì vậy, Bộ LĐTB&XH thực hiện cuộc điều tra thực trạng việc làm
và thất nghiệp hằng năm thay cho cuộc Điều tra lao động việc làm, cũng bắt đầu vào năm 2007 nhưng được tiến hành vào tháng 7 hằng năm
Sự tồn tại và việc sử dụng cùng lúc hai cuộc điều tra độc lập với thời điểm điều tra khác nhau như nguồn chỉ tiêu lao động có liên quan mật thiết với nhau về việc làm và thất nghiệp gây
ra những lo ngại về hiệu quả và việc sử dụng thông tin mà các cuộc điều tra cung cấp Những
vấn đề đáng quan tâm chủ yếu bao gồm: (a) Chất lượng và sự phù hợp của số liệu từ các cuộc
điều tra; (b) Sự trùng lặp có thể dẫn đến việc sử dụng các nguồn lực không hiệu quả; (c) Cần giải thích cho người sử dụng biết về sự thiếu thống nhất và không so sánh được của số liệu ước tính ; (d) Vi ệc sử dụng số liệu thống kê cho công tác hoạch định chính sách, kế hoạch, chương trình, giám sát m ục tiêu cũng như đánh giá thực hiện: nguồn số liệu độc lập cho các chỉ tiêu thị trường lao động và đặc biệt là tỉ lệ thất nghiệp như là tính toán chủ yếu
Trang 9Vì mục đích đó, báo báo này nhằm cung cấp đầu vào cho việc thực hiện Chương trình Điều tra Quốc gia, hợp lý hoá hệ thống thông tin thị trường lao động, và nâng cao việc sử dụng các số liệu này (xem Điều khoản Tham chiếu ở Phụ lục 1) Mục tiêu cụ thể bao gồm:
a) Đánh giá mục tiêu, phạm vi, mức độ, công cụ điều tra, dàn mẫu thiết kế, thu thập
và xử lý số liệu, thủ tục ước lượng số liệu của Cuộc điều tra việc làm và thất nghiệp và
Cuộc Điều tra lao động việc làm về kỹ thuật cũng như sự thống nhất với chuẩn quốc tế, tính thích hợp, kịp thời, độ tin cậy và chất lượng số liệu chung
b) Phân tích số liệu điều tra từ Cuộc điều tra việc làm và thất nghiệp năm 2007 của
Bộ LĐTB&XH và TCTK để (i) đánh giá mức độ cung cấp thông tin về thị trường lao động của các cuộc điều tra và (ii) đánh giá tính nhất quán và khả năng so sánh kết quả từ hai cuộc điều tra này
c) Đánh giá những thuận lợi của việc tiếp tục hệ thống điều tra kép hiện nay so với
một cuộc điều tra hộ gia đình tổng hợp nhằm cung cấp các chỉ tiêu và số liệu thống kê về lao động
d) Đề xuất khuyến nghị để giải quyết những quan ngại chính về thực trạng các nguồn
số liệu lực lượng lao động, việc làm và thất nghiệp so với yêu cầu của Hệ thống chỉ tiêu
thống kê quốc gia và khung giám sát đánh giá cho SEDP/VDG/MDG
Báo cáo này có bố cục như sau : Phần 2 trình bày các cuộc điều tra hiện có về thị trường lao động ở Việt Nam từ góc nhìn nguồn cung lao động (các cuộc điều tra hộ gia đình) Chúng tôi
chủ yếu tập trung vào các cuộc Điều tra lao động việc làm, nhưng chúng tôi cũng xem xét các nguồn số liệu khác như Điều tra về mức sống hộ gia đình Việt Nam Chúng tôi rà soát kỹ các bước có liên quan trước khi điều tra được thực hiện (mẫu và bảng hỏi điều tra) và cả bước sau khi thực hiện điều tra (kết quả thống kê, các chỉ tiêu về thị trường lao động, phân tích, xuất bản
và phổ biến số liệu) Phần 3 tập trung so sánh hai cuộc Điều tra lao động việc làm tiến hành vào hai thời điểm cách nhau 1 tháng trong năm 2007 (tháng 7 và tháng 8) do Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến hành Qua xử lý số liệu thô, chúng tôi đánh giá những điểm mạnh và những tồn tại
của mỗi cuộc điều tra Phần 4 rút ra những bài học từ các cuộc điều tra đã được tiến hành ở Việt Nam và xác định nhu cầu của người sử dụng số liệu chủ yếu để đưa ra khuyến nghị về một cuộc Điều tra lao động việc làm được thiết kế phù hợp, toàn diện và dễ quản lý nhằm đáp ứng quan tâm về thị trường lao động Phần 5 là phần kết luận
2 Đánh giá các cuộc điều tra hiện tại
Ở Việt Nam, các chỉ tiêu về nguồn cung lao động có thể đạt được thông qua hai cuộc điều tra chính:
- Cuộc Điều tra lao động việc làm do Bộ LĐTB&XH thực hiện (1996-2007);
- Cuộc Điều tra lao động việc làm do TCTK thực hiện (2007, 2008)
Ngoài hai cuộc điều tra này, cuộc điều tra về mức sống hộ gia đình Việt Nam do TCTK
tiến hành hai năm 1 lần cũng đã cung cấp một số thông tin về thị trường lao động, mặc dù cuộc điều tra này không phải là để thay thế cho cuộc Điều tra lao động việc làm trước đây Phần này
tập trung đánh giá 3 loại điều tra chính từ quan điểm đã nêu ra trong phần trước Cũng như các
Trang 10nước khác trên thế giới, ngoài các cuộc điều tra thuộc loại này còn có những nguồn số liệu thống
kê khác cũng có thể cung cấp thông tin về thị trường lao động: thí dụ như Tổng điều tra dân số (nguồn cung lao động); điều tra doanh nghiệp/cơ sở kinh tế hoặc đăng ký hành chính (nguồn cầu lao động) Tuy nhiên chúng tôi không xem xét đến những nguồn số liệu này trong báo cáo vì giới
thống kê luôn thống nhất khẳng định rằng Điều tra lao động việc làm là phương pháp duy nhất
để đo lường thị trường lao động Dĩ nhiên cần bảo đảm sự nhất quán giữa các chỉ tiêu chung của hai cuộc điều tra hộ và điều tra doanh nghiệp (việc làm phân theo ngành, v…v) và cần nghiên
cứu kỹ thêm vấn đề này
M ở rộng các chỉ tiêu về thị trường lao động hơn là chỉ hạn chế ở các chỉ tiêu thất nghiệp và thi ếu việc làm: những vấn đề có liên quan đến khu vực kinh tế phi chính thức
Đánh giá về các cuộc điều tra cũng bao gồm cả các thuộc tính thống kê của chúng (phạm
vi địa lý, độ tin cậy, tính kịp thời, v v) và phạm vi nội dung của các cuộc điều tra Đối với phạm
vi nội dung, ta cần nhấn mạnh một điều như sau Cho đến nay, phần lớn quan tâm về thị trường lao động hầu như đều tập trung vào tỷ lệ thất nghiệp Do đó, giám sát diễn biến thị trường lao động và các cuộc thảo luận về chính sách thường chủ yếu tập trung vào chỉ tiêu này Tuy nhiên,
hiện nay chỉ tiêu thất nghiệp mở không còn là chỉ tiêu tốt nhất về thị trường lao động ở các nước kém phát triển Đối với những nước lao động được trả lương chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ của lực lượng lao động và nguy cơ thất nghiệp không được các cơ quan xã hội quan tâm, tình trạng thiếu
việc làm được thể hiện qua các cơ chế khác chứ không phải là thất nghiệp
Trường hợp này hết sức đúng với Việt Nam Như trình bày ở Hình 2.1, tỷ lệ thất nghiệp
hầu như không co dãn so với sự thay đổi của tăng trưởng GDP Đường cong thất nghiệp khá
phẳng và thấp Cao nhất thì tỷ lệ thất nghiệp cũng chỉ đạt đến 2,9% (1997) và tỷ lệ thất nghiệp
giảm xuống thấp nhất ở mức 1,9% năm 1996 trong suốt thập kỷ qua Đối với những năm còn lại ((1998-2007), tỷ lệ thất nghiệp thay đổi rất ít, trong khoảng 2,76% (2001) và 2,14% (2003 và 2004) Xét về ý nghĩa thống kê, đây là mức thay đổi không đáng kể
Nhận thức được vấn đề này, Bộ LĐTB&XH đã đưa ra khái niệm về thiếu việc làm, được định nghĩa là toàn bộ dân số ở độ tuổi lao động làm việc ít hơn 40 giờ một tuần (35 giờ kể từ năm 2004) và muốn làm thêm giờ Số liệu được công bố cho đến năm 2005 bao gồm số liệu của
cả nước, của thành thị và nông thôn, nhưng đến năm 2006 và 2007, chỉ công bố số liệu của khu
vực nông thôn Trong khi đó tỷ lệ thất nghiệp chỉ được tính cho khu vực thành thị vì lý do thị trường lao động điều chỉnh khác nhau ở hai khu vực này: thất nghiệp ở khu vực thành thị và thiếu việc làm ở khu vực nông thôn Đối với cả hai chỉ tiêu này, cả mức độ và độ thay đổi đều cao hơn tỷ lệ thất nghiệp chung Tuy nhiên, cả hai lại ít tương quan với hoạt động kinh tế và chu
kỳ kinh doanh Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị vẫn thấp so với tiêu chuẩn của thế giới: từ năm 1996 đến năm 2007, tỷ lệ cao nhất đạt 6,6% vào năm 1998 trong khi tỷ lệ thấp nhất đạt 4,9% năm
2007, chỉ cách nhau 1,7 điểm phần trăm Tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn có biến động nhiều hơn Năm 1998 khi cuộc khủng hoảng kinh tế Châu á tác động đến Việt Nam, tỷ lệ thiếu
việc làm tăng lên đến 19,5%, sau đó giảm xuống và lại tăng lên ở mức cao thứ hai vào năm
2001 Kể từ năm 2001, tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn liên tục giảm đến mức 5,8% vào
Trang 11năm 2006 và 2007 Tuy nhiên, cần thận trọng khi sử dụng các số liệu này bởi đã có những thay đổi về định nghĩa và vì chúng ta không có cách nào để kiểm tra được kết quả do không có số liệu thô
Hình 2.1 T ỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm và GDP ở Việt Nam, 1996-2007
U
Ngu ồn: UBộ LĐTB&XH, TCTK, 1996-2007; theo tính toán của tác giả
Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm mặc dù phù hợp nhưng vẫn bộc lộc những hạn chế trong việc đánh giá chức năng và các chính sách liên quan đến thị trường lao động Những chỉ tiêu này vẫn còn thiếu nếu không nói là gây hiểu sai Rõ ràng ta cần nhiều chỉ tiêu hơn 2 chỉ tiêu này Đó là lý do tại sao các nhà thống kê và kinh tế trên thế giới thường nhấn mạnh các khái
niệm khác chẳng hạn như khái niệm an sinh xã hội và mức độ bị ảnh hưởng của việc làm, chất lượng công việc, công việc tốt (decent work), khu vực kinh tế phi chính thức, và các vấn đề có liên quan đến việc làm không chính thức với quan niệm rằng thị trường lao động được thể hiện
rõ thông qua các điều chỉnh mang tính định tính hơn là định lượng Quan điểm này đã được các chuyên gia về thị trường lao động Việt Nam thừa nhận Trong Báo cáo về tình trạng và xu hướng
l ực lượng lao động Việt Nam giai đoạn 1996-2004, Ban chỉ đạo điều tra trung ương và Tổ chức
Lao động thế giới ILO đã khuyến nghị: “Cuộc điều tra nên cung cấp các thông tin hỗ trợ cho
vi ệc rà soát lại các chính sách và chương trình cũng như các dự án về việc làm đang thực hiện
tin đưa ra là một vấn đề Rà soát lại các khái niệm, định nghĩa đang dược dùng hiện nay và các quyết định để chỉnh sửa chủ đề nhằm đáp ứng các điều kiện ở địa phương và các vấn đề mới phát sinh c ũng như việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế là một vấn đề khác cũng cần phải xem xét c ẩn thận UN ền kinh tế phi chính thức vẫn chiếm một tỷ lệ lớn và do đó đòi hỏi phải có thêm thông tin v ề khu vực kinh tế phi chính thức cũng như lao động phi chính thức UCó bao nhiêu thông tin có th ể thu thập được từ một cuộc điều tra hộ gia đình hàng năm với qui mô lớn cũng là
m ột vấn đề cần xem xét Lao động di cư từ nông thôn ra thành thị là một chủ đề quan trọng khác
Trang 12Vì vậy cần rà soát và sửa đổi bảng hỏi hiện nay đang dùng, một bảng hỏi đã được sử dụng rất
(Phần gạch dưới là của tác giả)
2.2 Đánh giá về các cuộc điều tra được thực hiện trước đây: mục đích, phạm vi
Phần tìm hiểu các cuộc điều tra của chúng tôi vì vậy sẽ tập trung không chỉ đến các chỉ tiêu về thị trường lao động truyền thống mà còn đến các chỉ tiêu mang tính toàn diện hơn chẳng
hạn như khu vực kinh tế phi chính thức và lao động phi chính thức Phần đánh giá sẽ bao gồm các thông tin được cập nhật hơn từ một nghiên cứu do Ông Nguyễn Hữu Chí và Roubaud tiến hành vào năm 2007
2.2.1 Các cu ộc Điều tra lao động việc làm do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện (1996-2007)
Cuộc Điều tra lao động việc làm là một cuộc điều tra về lực lượng lao động truyền thống Sau khi tiến hành điều tra thử nghiệm vào năm 1994 cho khu vực thành thị (cỡ mẫu là 70.000
hộ), cuộc điều tra này đã được mở rộng trên phạm vi toàn quốc vào năm 1996 và kể từ đó được
tiến hành hàng năm (Bộ LĐTB&XH, 2006) Cuộc Điều tra lao động việc làm áp dụng cho các
hộ gia đình được thiết kế nhằm đo lường các xu hướng có liên quan đến dân số trong và ngoài
lực lượng lao động, dân số có việc làm, dân số thất nghiệp và dân số thiếu việc làm Cuộc điều tra này cũng giám sát sự phát triển của thị trường lao động Cuộc Điều tra lao động việc làm dựa trên các khái niệm quốc tế về thị trường lao động và đã nhận được hỗ trợ kỹ thuật của ILO (Mạng lưới thư viện các chỉ tiêu về thị trường lao động) và Ngân hàng thế giới (Quỹ tăng cường năng lực thống kê) Cuộc điều tra này do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện và cùng phối hợp với Tổng cục Thống kê về các vấn đề thống kê Cuộc điều tra được tiến hành vào
giữa đầu tháng 7 Về mặt lý thuyết, kết quả của cuộc điều tra và báo cáo cuối cùng cần được xuất
bản vào quý I của năm sau năm điều tra (Q1, N+1; một số kết quả sơ bộ cần được công bố vào đầu tháng 11 của năm tiến hành điều tra) Do nảy sinh một số vấn đề có liên quan đến thẩm quyền thực hiện cuộc điều tra này (giữa Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động, Thương binh và Xã
hội), Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã không thể thực hiện chương trình đề ra cũng như công bố kết quả cuộc điều tra theo kế hoạch
Về thiết kế mẫu, cuộc Điều tra lao động việc làm dựa trên mẫu ngẫu nhiên phân tổ kết
hợp với phân hai tầng “kinh điển” (các đơn vị mẫu sơ cấp: địa bàn điều tra của cuộc tổng điều tra hoặc làng xã; các đơn vị mẫu thứ cấp: hộ; Biểu 2.1) Cuộc Điều tra lao động việc làm xem xét hơn 100 tổ được xác định dựa trên 2 tiêu chí: thành thị/nông tôn và tỉnh Cỡ mẫu khoảng 100.000
hộ (cỡ mẫu tăng từ 105.000 hộ cho cuộc điều tra năm 2000 lên 110.000 hộ cho giai đoạn 2006) Thông tin được thu thập từ mỗi thành viên của hộ (những người trên 15 tuổi cho các câu
2001-hỏi liên quan đến thị trường lao động)
Về nội dung của của điều tra, bảng hỏi thu thập các thông tin về:
- Các đặc điểm nhân khẩu học và xã hội của hộ;
Trang 13- Tình trạng lao động (cho những người từ 15 tuổi trở lên): cho công việc hiện tại (trong 1
tuần) và/hoặc công việc thường làm (1 năm);
- Nghề nghiệp, ngành kinh tế, tình trạng việc làm và số giờ làm việc;
- Lương (nhưng không theo hệ thống);
- Các đặc điểm thất nghiệp (thời gian và công việc làm lần cuối);
- Tình trạng thiếu việc làm
Cuộc Điều tra lao động việc làm có nội dung không lớn (chỉ từ 7 đến 20 trang phiếu hỏi
tuỳ từng năm) Số lượng câu hỏi giảm dần theo các năm: từ khoảng 60 câu hỏi trong giai đoạn
1996 đến 2000 giảm xuống còn 30 câu hỏi trong năm 2004 và sau đó vẫn tiếp tục giảm ( năm
2006 chỉ còn 24 câu hỏi và đến năm 2007 còn 22 câu) Năm 2005, bảng hỏi có 7 câu hỏi liên quan đến các đặc điểm nhân khẩu học và xã hội cho mỗi thành viên của hộ và 26 câu hỏi liên quan đến thị trường lao động Mặc dù số lượng và loại câu hỏi thay đổi qua các năm nhưng số lượng câu hỏi giống nhau qua các năm cũng đủ để bảo đảm các cuộc điều tra đều có chung một lượng câu hỏi chủ yếu giống nhau
Trong năm 2007, theo yêu cầu của nhiệm vụ mới được giao, Bộ LĐTB&XH chịu trách nhiệm thu thập số liệu về số người thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp còn TCTK chịu trách nhiệm thu thập thông tin và biên soạn các chỉ tiêu về lực lượng lao động và số người có việc làm (xem
phần 3) Bộ LĐTB&XH tiến hành cuộc điều tra hàng năm về Thực trạng việc làm và thất nghiệp (SEU) để thay thế cho cuộc Điều tra lao động việc làm Tuy nhiên, về mặt thực chất thì vòng đầu (và cuối) của cuộc điều tra mới tiến hành vào tháng 7 năm 2007 cũng rất giống cuộc Điều tra lao động việc làm trước đây về tất cả các đặc điểm thống kê cơ bản Mặc dù ban đầu cuộc điều tra hàng năm về Thực trạng việc làm và thất nghiệp được thiết kế để thay thế cuộc Điều tra lao động
việc làm nhưng đến năm 2008 cuộc điều tra này đã không còn được tiến hành nữa do trùng với
cuộc Điều tra lao động việc làm do TCTK tiến hành
Trang 14Bi ểu 2.1: Các đặc điểm chính của cuộc Điều tra lao động việc làm do Bộ LĐTB&XH tiến
N ội dung/Bảng hỏi
Số lượng câu hỏi 60 49 49 67 59 62 59 53 34 33 24 22
K ết quả/Xuất bản
ph ẩm
Báo cáo kết quả Có Có Có Có Có Có Có Có Có Có Có 1P
U
Ngu ồnU: Điều tra lao động việc làm, 1996-2007, Bộ LĐTB&XH; tính toán của tác giả Bộ
LĐTB&XH ;
Ký hi ệu: Hộ/CN: Hộ/Cá nhân; K: Không; KB: không biết; 1P: 1 phần
Về mặt nội dung của cuộc điều tra, cuộc điều tra có các thông tin về thất nghiệp, thiếu việc làm
và việc làm phân theo nghề, ngành và tình trạng việc làm Từ 1996 đến năm 2004, thông tin về
việc làm trong 12 tháng trước thời điểm điều tra và thông tin về việc làm 7 ngày trước thời điểm điều tra đều được tính nhưng chủ yếu tập trung vào thông tin về việc làm trong 12 tháng trước
Trang 15thời điểm điều tra Nhưng từ sau năm 2004, điều tra chỉ tập trung vào thông tin về việc làm 7 ngày trước thời điểm điều tra Cuộc Điều tra lao động việc làm cũng không bổ sung thêm thông tin gì khác ngoài những thông tin cơ bản này Việc đánh giá vì vậy không đáp ứng được nhu cầu thông tin về thu nhập của n gười lao động, công việc làm thêm và thông tin về khu vực kinh tế phi chính thức cũng như những vấn đề liên quan đến lao động phi chính thức Nói chung, các thành phần kinh tế đều được đưa vào trong bảng hỏi Tuy nhiên nếu phân tổ số liệu của khu vực nhà nước và khu vực tư nhân (nhất là 2 năm 2004 và 2005) thì không có cách nào để có thể phân
biệt được các đơn vị sản xuất phi chính thức với đơn vị sản xuất chính thức của khu vực hộ gia đình sản xuất kinh doanh vì không có câu nào hỏi về đăng ký, tài khoản hay qui mô cơ sở kinh doanh Từ năm 1997 đến 2001, trong bảng hỏi có hỏi về qui mô doanh nghiệp Đối với từng chủ doanh nghiệp (theo tình trạng việc làm của công việc thường xuyên), câu hỏi đưa ra là « Doanh nghiệp của ông/bà có bao nhiêu lao động thường xuyên được trả lương ? » Tuy nhiên câu hỏi này cũng không thể giúp ước tính được tổng qui mô của kinh doanh hộ Thông tin về thu nhập được đưa vào bảng hỏi của các năm từ 1999 đến 2005 Nhưng câu hỏi lại chỉ dành cho những người làm công ăn lương và cho công việc chính Không có câu hỏi nào dành cho công việc làm thêm và các đặc điểm của công việc Thông tin duy nhất về công việc làm thêm là hỏi về số giờ làm việc thông qua câu hỏi « Trong 12 tháng qua, ngoài công việc chính ra ông bà còn làm thêm
thấp hơn thực tế vì nhiều người có công việc làm thêm Ngoài ra, cuộc Điều tra lao động việc làm không thu thập bất kỳ thông tin nào về hợp đồng lao động hay trợ cấp Vì vậy ng oài việc không thể xác định được lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, cũng không thể ước tính được số lượng lao động không chính thức theo các khuyến nghị mà quốc tế đưa ra
Về mặt kết quả, các tài liệu mô tả phương pháp, các vấn đề gặp phải trong quá trình tiến hành điều tra và các giải pháp đưa ra nhằm khắc phục các vấn đề này đều không có Đối với từng vòng điều tra, tài liệu mô tả kết quả chính được xuất bản một năm sau khi điều tra (ngoại trừ năm
2007 là không xuất bản mà chỉ phát hành trê n đĩa CD; Bộ LĐTB&XH 1996-2006) Có hai xuất
bản phẩm trình bày các chỉ tiêu về thất nghiệp, thiếu việc làm và việc làm phân theo nghề, ngành
và tình trạng việc làm, một cuốn là cho giai đoạn 1996-2004 (Bộ LĐTB&XH và ILO, 2005;
bằng tiếng Anh và tiếng Việt), và một cuốn xuất bản kết quả của cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2005 (Bộ LĐTB&XH, 2006; chỉ bằng tiếng Việt) Theo chúng tôi được biết, Bộ LĐTB&XH không hề xuất bản tài liệu phân tích nào sử dụng số liệu vi mô của cuộc Điều tra lao động việc làm Theo kết quả điều tra nhu cầu người dùng tin của chúng tôi, nội bộ Bộ LĐTB&XH có làm một số biểu để sử dụng cho mục đích lập chính sách mà thôi
2.2.2 Các cu ộc Điều tra lao động việc làm do TCTK thực hiện (2007, 2008)
Năm 2007, TCTK bắt đầu thu thập thông tin về thị trường lao động để phục vụ mục đích
của mình (để biết thêm chi tiết, xin xem phần 3) Trong khi TCTK chỉ hỗ trợ Bộ LĐTB&XH (dàn mẫu, nhập tin và xử lý kết quả), Vụ Dân số và Lao động của TCTK tiến hành cuộc Điều tra lao động việc làm vào tháng 8 năm 2007 Mặc dù không có thay đổi gì đáng kể trong dàn mẫu ngoại trừ tăng cỡ mẫu từ khoảng 100.000 hộ lên hơn 170.000 hộ cho cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007 do TCTK tiến hành (so với các cuộc Điều tra lao động việc làm trước của Bộ
Trang 16LĐTB&XH), bảng hỏi đã có cải tiến đáng kể với sự hỗ trợ kỹ thuật của Dự án Tổng cục Thống kê-IRD (Lê Văn Duỵ và các cộng sự, 2008) Mục đích chính là để mở rộng hơn phạm vi của các
chỉ tiêu về thị trường lao động, nhất là để nắm bắt được thông tin về khu vực kinh tế phi chính
thức và lao động phi chính thức Trước đây bảng hỏi chỉ giới hạn vào một số chủ đề (tình trạng
việc làm, thất nghiệp và thu nhập), số lượng câu hỏi giảm dần theo thời gian (chưa đến 25 câu
hỏi trong bảng hỏi năm 2006), và các khái niệm không tương thích với tiêu chuẩn quốc tế Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007 cần giải quyết được một số vấn đề có liên quan đến chính sách hơn là chỉ tập trung vào các chỉ tiêu chủ yếu như việc làm, thất nghiệp và thiếu việc làm
Bảng hỏi có hơn 50 câu hỏi Ta có thể thấy được bảng hỏi đã có cải tiến trên 3 mặt:
- Bảng hỏi đã tương thích nhiều hơn với tiêu các khái niệm và định nghĩa quốc tế về thị trường lao động (hoạt động, thất nghiệp, v v.; Husmanns, Mehran và Verma, 1990);
- Thứ tự của các câu hỏi cũng được cải tiến hơn;
- Phạm vi đối tượng được mở rộng nhằm đưa ra được một bộ chỉ tiêu lớn hơn về thị trường lao động, đặc biệt là các chỉ tiêu về khu vực kinh tế phi chính thức và lao động phi chính
1993 và 2002) và các đặc tính của nó;
- Xác định sản xuất kinh doanh của hộ và các đơn vị sản xuất phi chính thức để phỏng vấn ở giai đoạn 2
Trang 17Bi ểu 2.2: Các đặc điểm chính của cuộc Điều tra lao động việc làm do TCTK tiến hành năm
2007 và điều tra biến động dân số, nguồn lao động và kế hoạch hoá gia đình
2008
Năm
N ội dung/Bảng hỏi
U
Ngu ồnU: Điều tra lao động việc làm năm 2007, Điều tra biến động dân số, nguồn lao động và kế
hoạch hoá gia đình, 2008, Tổng cục Thống kê ; Tính toán của tác giả
Để có được các chỉ tiêu về khu vực kinh tế phi chính thức, một bộ câu hỏi về tình trạng
việc làm và các đặc điểm của doanh nghiệp (thành phần kinh tế, qui mô, ngành, đăng ký doanh nghiệp, loại tài khoản) đã được đưa vào bảng hỏi Những câu hỏi này được hỏi đối với từng lao động về cả công việc chính và công việc làm thêm Bộ câu hỏi này sẽ giúp lấy được số liệu cho hai loại chỉ tiêu về khu vực kinh tế phi chính thức : số lượng doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân và số lượng đơn vị sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế phi chính thức ở Việt Nam (sử dụng tình trạng việc làm- mục chủ doanh nghiệp và lao động có tài khoản riêng- để lọc
ra các đơn vị sản xuất kinh doanh) và các đặc điểm chính của nó cũng như số lượng việc làm trong khu vực kinh tế phi chính thức và các đặc điểm của chúng (bao gồm số giờ làm việc, thu
nhập và an sinh xã hội)
Hình 2.2: Trích t ừ bảng hỏi cuộc Điều tra lao động việc làm 2007
Trang 18B ộ câu hỏi để xác định khu vực kinh tế phi chính thức và lao động phi chính thức
TÊN & THỨ TỰ TRONG PHẦN 1
28 Với công việc trên, [TÊN] làm công ăn
lương, tự làm, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh,
lao động gia đình, hay người học việc?
LÀM CÔNG ĂN LƯƠNG….1
TỰ LÀM
• ĐƯỢC THUÊ .2
• KHÔNG ĐƯỢC THUÊ .3
CHỦ CƠ SỞ SX KINH DOANH…4 LAO ĐỘNG GIA ĐÌNH 5
NGƯỜI HỌC VIỆC 6
29 Với công việc trên, [TÊN] ký hợp đồng không thời hạn, có thời hạn, thoả thuận miệng hay không ký hợp đồng? HỢP ĐỒNG KHÔNG THỜI HẠN…1 HỢP ĐỒNG KHÔNG THỜI HẠN…2 THOẢ THUẬN MIỆNG 3 KHÔNG KÝ HỢP ĐỒNG 4 30 Cơ sở nơi [TÊN] làm việc có: a Đăng ký kinh doanh không? b Đăng ký mã số thuế không? c Mua bảo hiểm xã hội không? Có K ĐK KINH DOANH 1 2 ĐK MÃ SỐ THUẾ 1 2 MUA BẢO HIỂM XH 1 2 31 Địa điểm nơi [TÊN] làm thuộc trụ sở/văn phòng cố định, tại nhà/nhà khách hàng, một nơi cố định ngoài trời hay lưu động? VĂN PHÒNG CỐ ĐỊNH 1 TẠI NHÀ/NHÀ K-HÀNG 2 CỐ ĐỊNH NGOÀI TRỜI 3
LƯU ĐỘNG 4
32 Cơ sở nơi [TÊN] làm công việc chính có tổng số bao nhiêu lao động? TỔNG SỐ LAO ĐỘNG 33 Không tính giờ nghỉ, nhưng tính cả giờ làm thêm, thực tế 7 ngày qua/ 7 ngày trước khi tạm nghỉ, [TÊN] đã làm bao nhiêu giờ cho tất cả các công việc để kiếm thu nhập? 35 GIỜ HOẶC HƠN 1 C37 1-34 GIỜ 2
ÍT HƠN 1 GIỜ 3 C48 34 Vì sao [TÊN] đã làm dưới 35 giờ trong 7 ngày qua/ 7 ngày trước khi tạm nghỉ? ỐM ĐAU/THƯƠNG TẬT 1 NGHỈ PHÉP/LỄ/VIỆC RIÊNG 2 MỚI NHẬN VIỆC 3
BỎ VIỆC/MẤT VIỆC 4
THỜI TIẾT XẤU 5
THIẾU VIỆC LÀM 6
ĐÌNH CÔNG/ĐÓNG CỬA XN 7 THEO CA 8
KHÁC 9
_ (GHI CỤ THỂ) 35 [TÊN] có muốn làm thêm giờ cho công việc chính không? CÓ 1 KHÔNG 2 C37 Đối với lao động phi chính thức (cần xác định rõ rằng khái niệm lao động phi chính thức
về cơ bản là tổng của lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức và lao động phi chính thức-
Trang 19đó là lao động không đăng ký hay không kiểm soát được- trong khu vực kinh tế chính thức), một
bộ các câu hỏi được lồng ghép vào bảng hỏi để xác định thành tố thứ hai: loại hợp đồng, an sinh
xã hội và lao động đã nghỉ việc nhưng được trả lương)
Do bộ câu hỏi này khá lớn, việc thiết kế câu hỏi khá linh động nhằm giúp cho các cơ quan và nhà nghiên cứu có cơ hội để đưa ra các định nghĩa khác nhau về khu vực kinh tế phi chính thức theo các khuyến nghị quốc tế (Hình 2.2) Thí dụ như khu vực kinh tế phi chính thức
có thể ước tính được dựa trên tiêu chí qui mô doanh nghiệp (chưa đến 5 người) hoặc dựa trên tiêu chí đăng ký kinh doanh (không đăng ký kinh doanh) bởi hai tiếu chí này được áp dụng theo định nghĩa quốc tế
Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007 có thể cung cấp ước tính về các đơn vị sản
xuất trong khu vực kinh tế phi chính thức và lao động phi chính thức Tuy nhiên cuộc điều tra này không thể đưa ra thông tin về đóng góp của khu vực này vào sản xuất và tài khoản quốc gia
Đó là lý do vì sao Dự án Tổng cục Thống kê -IRD đã tiến hành cuộc điều tra về hộ gia đình sản
xuất kinh doanh và khu vực kinh tế phi chính thức (HS&ISS2007) dựa trên phương pháp luận
dành cho cả hộ gia đình và doanh nghiệp và cụ thể hơn là dựa trên thiết kế điều tra 1-2-3 do
DIAL xây dựng và đã sửa đổi c ho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam (thiết kế mẫu, phạm vi và
bảng hỏi) Cuộc điều tra 1-2-3 được xem như là cuộc điều tra toàn diện nhất dành cho khu vực kinh tế phi chính thức dựa trên các khuyến nghị quốc tế về chủ đề này (Xem phần 4) Những hạn
chế về tài chính, chuyên môn và thời gian khiến cho cuộc điều tra HS&ISS2007 chỉ được thí
điểm ở hai tỉnh : Hà Nội vào tháng 11 năm 2007 và Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 1 năm
2008 (Dự án Tổng cục Thống kê-IRD, 2008a và 2008b).3
4
Năm 2008, cuộc Điều tra lao động việc làm được thay thế bằng một cuộc điều tra được
mở rộng hơn có tên gọi là Điều tra biến động Dân số, nguồn lao động và kế hoạch hoá gia đình
(MPEFPS) Cuộc điều tra này bao gồm cả các chỉ tiêu về thị trường lao động Năm nay, Vụ Dân
số Lao động TCTK về lý thuyết sẽ tiến hành hai cuộc điều tra: Điều tra biến động Dân số, nguồn lao động và kế hoạch hoá gia đình dự định sẽ tiến hành 2 năm một lần (lần cuối tổ chức vào năm 2006) và Điều tra lao động việc làm (nhiệm vụ mới được giao) Tuy nhiên, do thiếu nguồ n lực (cả về nhân lực và vật lực), Vụ Dân số lao động quyết định sẽ kết hợp hai cuộc điều tra này thành một cuộc điều tra đa mục tiêu và đã tiến hành vào tháng 4 năm 2008 Cỡ mẫu của cuộc
điều tra này tăng lên thành 380,000 hộ với cấu phần rộng (tất cả các hộ gia đình thành thị đã điều tra trong cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007 và tất cả các hộ nông thôn đã điều tra trong
cuộc điều tra biến động dân số, nguồn lao động và kế hoạch hoá gia đình năm 2007 đều được
phỏng vấn lại ; xem biểu 2.2) Tuy nhiên, để giúp quản lý được cuộc điều tra, phần thị trường lao động trong bảng hỏi mới đã giảm đi đáng kể xuống còn 15 câu (so với 50 câu năm 2007) Vì
vậy, việc phân tích kết quả của cuộc điều tra này có khả năng chỉ tập trung vào phân tích tình
trạng hoạt động kinh tế, thất nghiệp, việc làm (nhưng chỉ công việc chính), số giờ làm việc, và tỷ
Trang 202.2.3 Cu ộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS)
Cuộc điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) là một cuộc điều tra hộ gia đình trên phạm
vi toàn quốc Cuộc điều tra này được thiết kế để tính toán và giám sát điều kiện sống của hộ
Cuộc điều tra này được tiến hành thường xuyên (VLSSs 1992/1993 and 1997/1998; MPHS- Điều
tra hộ gia đình đa mục tiêu 1994, 1995, 1996, 1997 và 1999; và VHLSS 2002, 2004, 2006)
VHLSS dựa trên cuộc điều tra mức sống dân cư do Ngân hàng thế giới tiến hành thử nghiệm tại Côte d’Ivoire và Peru năm 1985 và mở rộng ra nhiều nước Sau khi áp dụng lần đầu tiên vào năm 1992/1993, vòng thứ hai diễn ra vào năm 1997/1998 Kể từ năm 2002, cuộc điều tra này được tiến hành hai năm một lần cho đến năm 2010 Ngoài bảng hỏi chính, một số mục mới cũng luân phiên được đưa vào cuộc điều tra này từ năm 2004 (“Đất đai” và “Hoạt động phi nông nghiệp”: năm 2004; “Quản lý rủi ro” và “Quản lý điều hành”: 2008; “Y tế” và “Giáo dục”: năm
2006 và dự báo cho năm 2010) Cuộc điều tra VHLSS do TCTK tiến hành với trợ giúp kỹ thuật
và tài chính từ một số nhà tài trợ (UNDP, Ngân hàng Thế giới, v v) VHLSS là nguồn thông tin
chính về mức sống hộ gia đình ở Việt Nam phục vụ công tác giám sát nghèo đói Mặc dù bảng
hỏi và cỡ mẫu thay đổi, tất cả các cuộc điều tra VHLSS đều có một mẫu số chung nhằm cho phép
so sánh qua thời gian
Cuộc điều tra VHLSS là một cuộc điều tra mẫu phân tầng ba giai đoạn “truyền thống”
(đơn vị mẫu sơ cấp: phường/xã; đơn vị mẫu thứ cấp: địa bàn lấy từ tổng điều tra hoặc thôn/bản; đơn vị mẫu cấp ba: hộ; Phùng Đức Tùng và Nguyễn Phong, 2006) Cỡ mẫu tăng lên dần từ 4.800
hộ trong cuộc điều tra năm 1992/1993 lên đến 6,000 trong năm 1997/1998 và 75,000 hộ năm
2002 Các cuộc điều tra năm 2004 và 2006 đều có số hộ là 45.000 hộ (Biểu 2.3) Từ năm 2002 đến năm 2008, mẫu được chọn từ các địa bàn nằm trong cuộc tổng điều tra dân số 1999 Mẫu đại
diện cho cả nước, thành thị/nông thôn và tỉnh
Giờ ta hãy thảo luận tiếp về các chỉ tiêu lao động việc làm có thể tính toán từ các bảng
hỏi của cuộc điều tra VHLSS Nhìn chung, các chỉ tiêu này có phạm vi rộng hơn so với các chỉ tiêu thu được từ cuộc Điều tra lao động việc làm do Bộ LĐTB&XH tiến hành Tuy nhiên, do thị trường lao động không phải là mối quan tâm hàng đầu của cuộc điều tra, các chỉ tiêu lấy từ cuộc điều tra này không đáp ứng được yêu cầu Thứ nhất, cho dù từ cuộc điều tra này ta có thể tính toán được các chỉ tiêu chính về việc làm, thất nghiệp và thiếu việc làm, chúng cũng chỉ được xem như những biến thay thế vì định nghĩa của các chỉ tiêu này không chuẩn so với các khuyến nghị của ILO Thí dụ như, thông tin về thất nghiệp chỉ dựa vào một câu hỏi về lý do tại sao không làm việc trong năm qua Cách tiếp cận rất giống với cách tiếp cận của cuộc tổng điều tra dân số như vậy không tuân thủ theo đúng ba điều kiện để được xem là thất nghiệp: (1) không làm việc trong thời gian tham chiếu, (2) có tìm việc làm, và (3) sẵn sàng làm việc Do đó, cũng
giống như cách tiếp cận của cuộc tổng điều tra, tỷ lệ thất nghiệp được tính từ kết quả của cuộc điều tra VHLSS là thấp hơn so với số liệu từ cuộc Điều tra lao động việc làm Tình trạng thiếu
việc làm (số giờ làm việc ít hơn số giờ qui định và muốn làm việc nhiều hơn) không thể tính được vì không có câu hỏi nào hỏi về việc một người có tìm việc làm hay không Kể từ năm
2002, không thể tính được chỉ tiêu nào về lao động việc làm (trong thời gian tham chiếu là 1
tuần) Nếu thời gian tham chiếu là một năm thì chỉ có thể tính được các chỉ tiêu về lao động việc
Trang 21làm cơ bản Việc tính tỷ lệ dân số tham gia vào các hoạt động khác nhau là không thích hợp vì không có cách nào để phân biệt giữa những người có hai việc làm cùng một lúc (định nghĩa đúng) với những người đã thay đổi việc làm trong cùng một năm Hơn nữa, cuộc điều tra VHLSS khá nặng, bảng hỏi rất phức tạp và việc tính toán các chỉ tiêu đơn giản (chẳng hạn như
chỉ tiêu thu nhập của người lao động) liên quan đến rất nhiều tệp dữ liệu làm cho khả năng sai sót rất cao Thời gian xuất bản kết quả khá dài (khoảng hai năm sau khi điều tra thực địa) Điều này làm hạn chế tính hiệu quả của việc sử dụng kết quả của cuộc điều tra vào quá trình lập chính sách
Trang 22Biểu 2.3 Các đặc điểm chính của cuộc điều tra VHLSS 1992-2006
Năm 1992/93 1997/98 2002 2004 2006
Thời gian điều tra 10/92-09/93 12/97-11/98
01/02-10/02
10/04
01/04-10/06 Đối tượng điều tra Hộ/Cá nhân Hộ/Cá nhân Hộ/Cá nhân Hộ/Cá nhân Hộ/Cá nhân
N ội dung/Bảng hỏi
Số lượng câu hỏi Khoảng
1,000
Khoảng 1,000
Ít hơn Ít hơn Ít hơn
U
Ngu ồnU: VHLSS, 1992-2006, TCTK; Tính toán của tác giả *: Năm 2002, Phiếu cho cỡ
mẫu 45.000 hộ có phần bảng hỏi dài hơn trong đó có mục chi tiêu **: Năm 2004 và 2006, Phiếu cho cỡ mẫu 9.000 hộ có phần bảng hỏi dài hơn trong đó có mục chi tiêu và các mục bổ sung như trình bày ở trên
Thứ hai là, cuộc điều tra VHLSS là nguồn thông tin tốt nhất về khu vực kinh tế phi chính
thức, lao động phi chính thức và các vấn đề có liên quan (ngoài cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007 do TCTK thực hiện) Cuộc điều tra này cung cấp các chỉ tiêu về khu vực kinh tế phi chính thức (chủ yếu kết hợp phần « Việc làm » với phần «Hộ sản xuất kinh doanh phi nông
Trang 23nghiệp ») Vì vậy, có t hể dùng cuộc điều tra VHLSS để tìm hiểu thêm các chủ đề khác và phân
tích một số vấn đề có liên quan đến khu vực kinh tế phi chính thức
Tuy nhiên, cuộc điều tra VHLSS không được thiết kế để thu thập các thông tin về khu
vực kinh tế phi chính thức Do đó, nó không thể giải quyết vấn đề này một cách thấu đáo Hai điểm yếu của cuộc điều tra này là: a) Uđộ tin cậy của thông tin về khu vực kinh tế phi chính thức:Ucác câu hỏi dành cho phần sản xuất và thu nhập của khu vực kinh tế phi chính thức không chi tiết như cần phải có để tổng hợp số liệu về khu vực phi chính thức; b) UPhạm viU: một số chỉ tiêu quan
trọng không được đưa vào trong bảng hỏi (nguồn gốc đầu vào, đầu ra của sản xuất kinh doanh, đầu tư, vốn, giá cả, khó khăn và nhu cầu, v v.)
Do cuộc điều tra VHLSS được thiết kế nhằm thu thập thông tin về chi tiêu và thu nhập
nên có rất ít các chỉ tiêu về thị trường lao động Đặc biệt là không thể chỉ ra một cách chính xác lao động nào là của khu vực kinh tế chính thức và lao động nào là của khu vực phi chính thức Hơn nữa, không thể biết được người làm công ăn lương có thuộc diện được hưởng an sinh xã
hội hay không (đây là một câu hỏi chính để xác định lao động phi chính thức) mà chỉ biết số lượng trợ cấp họ được hưởng Ngoài ra, cuộc điều tra này cũng không cung cấp thông tin về các đặc điểm nguồn vốn con người của lực lượng lao động làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh hộ gia đình (dù có đăng ký hay không)
Về phổ biến thông tin, cuộc điều tra VHLSS được đánh giá cao hơn nhiều so với cuộc Điều tra lao động việc làm của Bộ LĐTB&XH Ngoài việc biên soạn các báo cáo tổng hợp chung tóm tắt kết quả điều tra và các bảng biểu chính (thường có thông tin về độ chính xác của các số liệu ước tính), cơ sở dữ liệu vi mô cũng được các nhà nghiên cứu quốc tế và trong nước sử
dụng rộng rãi cho việc nghiên cứu và hoạch định chính sách Lĩnh vực nghiên cứu cũng rất rộng (nghèo đói, giáo dục, y tế, hoạt động sản xuất nông nghiệp, các hoạt động phi nông nghiệp của
hộ gia đình kinh doanh, v v) Nhưng cũng cần nói rằng có rất ít thông tin chuyên sâu về thị trường lao động
2.2.4 Nh ững yếu kém của các cuộc điều tra hộ gia đình để thu thập các thông tin về lao động
vi ệc làm ở Việt Nam
Không có một cuộc điều tra nào đạt được các thuộc tính chính theo tiêu chuẩn chất lượng
quốc tế cho Điều tra lao động việc làm Phạm vi bảng hỏi của cuộc Điều tra lao động việc làm
của Bộ LĐTB&XH ngày càng giảm và cho thấy có vấn đề đáng kể về chất lượng số liệu Các
cuộc điều tra VHLSS không đưa ra được các chỉ tiêu tốt về thị trường lao động bởi vì các cuộc điều tra này không được thiết kế cho mục đích này Như vậy thì cuộc Điều tra lao động việc làm
do TCTK tiến hành năm 2007 là nguồn số liệu tốt nhất đang có ở Việt Nam Tuy nhiên, cuộc điều tra này năm 2008 được xem là một bước đi thụt lùi và Việt Nam có thể sẽ không có được các chỉ tiêu toàn diện về thị trường lao động cho đến năm 2010 vì đến lúc đó mẫu mới sẽ được
lấy từ cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 Thiếu sót này nên được khắc phục càng sớm càng tốt
Trang 24Ngoài ra, các cuộc điều tra hộ gia đình cũng bị ảnh hưởng bởi những vấn đề có liên quan đến chọn mẫu Trong một nghiên cứu gần đây về đánh giá nghèo đói thông qua cuộc điều tra
VHLSS, Pincus và Sender (2007) “cho r ằng phần thiết kế và thực hiện cuộc điều tra VLSS và VHLSS có v ấn đề nghiêm trọng Vấn đề này làm cho số liệu về tổng số người nghèo và các nhóm người nghèo đưa ra thấp hơn thực tế Một số nhóm người, nhất là những người di cư để tìm công vi ệc làm công ăn lương đều không có trong các cuộc điều tra này” Lo ngại lớn nhất là về
dàn mẫu do dàn mẫu này chủ yếu là các hộ đăng ký dưới dạng KT1 và KT2 trong khi đó những người di cư các đối tượng khác không có đăng ký hộ khẩu hợp pháp lại có rất ít Theo các tác giả này, thiếu sót lớn nhất trong phương pháp chọn m ẫu của các cuộc điều tra VLSS và VHLSS chính là việc loại trừ những người di chuyển và những người sống ở các đơn vị như ký túc xá,
bệnh viện, nhà tù, và doanh trại quân đội Những người di cư cũng không được đưa vào bởi vì dàn mẫu chỉ bao gồm danh sách của các hộ có đăng ký ở xã, phường và sống ở địa bàn điều tra
được ít nhất là 6 tháng Việc bỏ qua các đối tượng di cư không đăng ký cho thấy rằng ngay cả
những đối tượng sống lâu dài ở một nơi cũng bị loại trừ Một vấn đề nữa có liên quan đến phương pháp chọn mẫu chính là việc phân biệt giữa khu vực thành thị và nông thôn
Cuộc điều tra “Điều tra về hộ gia đình và lao động bị bỏ sót” (MHES) do UNDP tiến hành năm 2006, mặc dù không lớn nhưng giúp khẳng định những nghi ngờ về độ tin cậy của
mẫu hộ gia đình cuộc điều tra VHLSS Mặc dù ban đầu Ngân hàng thế giới (vốn vẫn rất hỗ trợ cho cuộc điều tra VHLSS, dường như muốn giảm nhẹ vấn đề nhưng cuối cùng cũng đã thừa
nhận bản chất của vấn đề (Ngân hàng thế giới, 2007) Đây là vấn đề mang tính kỹ thuật vì những
hạn chế như vậy không những có ảnh hưởng đến việc tính toán các chỉ tiêu về nghèo đói mà còn
cả các chỉ tiêu về thị trường lao động: làm cho tầm quan trọng của lao động làm công ăn lương
giảm đi và vì vậy tầm quan trọng của lao động tự làm tăng lên một cách có hệ thống Không có
lý do nào để tin rằng vấn đề này lại là vấn đề của cuộc điều tra VHLSS Quả thực người ta có thể nghĩ rằng tất cả các cuộc điều tra hộ gia đình đều bị ảnh hưởng bởi vì qui trình chọn mẫu ở TCTK không có gì khác nhau Tình trạng này cũ ng diễn ra đối với các cuộc điều tra do Bộ LĐTB&XH tiến hành vì Bộ này cũng sử dụng qui trình chọn mẫu tương tự (Xem phần 3 dưới đây) Tuy nhiên, mức độ nghiêm trọng như thế nào cần được tìm hiểu kỹ thêm dựa trên phân tích định tính Một số yếu tố sẽ được xem xét trong một cuộc điều tra dự định được thực hiện vào năm 2009 tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề này (UNDP, 2008) Hiện
thời chúng tôi cũng đưa ra kết luận tương tự như hai tác giả nói trên “cần ưu tiên cho việc thực
hi ện một cuộc Điều tra lao động việc làm toàn diện có tính đến yếu tố mùa vụ và thu thập thông tin v ề lương, điều kiện làm việc, an toàn, thành phần ngành nghề, trình độ chuyên môn, dân số di
cư và vị thế của phụ nữ trên thị trường lao động ” (Pincus và Sender, 2007) Đây chính là nội
dung của phần 4 của báo cáo này
Cuối cùng cũng phải thừa nhận rằng phổ biến thông tin được xem là một hạn chế lớn của các cuộc điều tra mà chúng tôi rà soát Mặc dù có các quan ngại khác nhau về các cuộc điều tra khác nhau nhưng các cuộc điều tra này có cùng một điểm chung là thiếu cơ sở siêu dữ liệu (metadata); bộ số liệu vi mô chưa được cung cấp để phân tích chuyên sâu, v v
Trang 253 So sánh hai cu ộc Điều tra lao động việc làm do TCTK và Bộ LĐTB&XH tiến hành năm
2007
Năm 2007, cả Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến hành cuộc Điều tra lao động việc làm Hai
cuộc điều tra này cách nhau một tháng (tháng 7 và tháng 8) Theo yêu cầu chính thức của hai
cuộc điều tra này, mục đích, thiết kế chọn mẫu, nội dung bảng hỏi và chỉ tiêu của hai cuộc điều tra này khá giống nhau Cả hai cuộc điều tra này đều yêu cầu thiết kế mẫu phải cung cấp ước tính chính xác cho cả nước, cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương, thành thị, nông thôn Cuộc điều tra do Bộ LĐTB&XH tiến hành đòi hỏi phải tập trung vào phần thất nghiệp còn cuộc điều tra của TCTK thì yêu cầu phải tính được tỷ lệ lao động có việc làm Xét về khía cạnh thống kê, cùng lúc tiến hành hai cuộc điều tra như vậy gây ra lãng phí về nguồn lực bởi việc làm và thất nghiệp là hai mặt của cùng một hiện tượng Để tính toán được một chỉ tiêu đơn giản như tỷ lệ
thất nghiệp, ta cần chia tổng số người thất nghiệp cho tổng số người thất nghiệp và người có việc làm Tương tự thế, để tính được tỷ lệ dân số hoạt động kinh tế, ta cần chia tổng số người tham gia vào hoạt động động kinh tế (bao gồm những người có việc làm và những người thất nghiệp) cho tổng dân số
Tuy nhiên việc cùng lúc tiến hành hai cuộc điều tra tương tự nhau cũng là một cơ hội giúp ta phân tích sâu hơn cũng như đánh giá lại mức độ tin cậy của các ch ỉ tiêu về thị trường lao động ở Việt Nam
3.1.Thi ết kế chọn mẫu
Nhìn chung cả hai cuộc điều tra đều có cùng một thiết kế mẫu (Xem biểu 3.1) Cần nhấn
mạnh ngay từ đầu rằng rất khó để đánh giá chất lượng của các dàn mẫu vì không có bất cứ tài
liệu kỹ thuật nào giúp ta làm được điều đó Một khi phát biểu điều này, về mặt dàn mẫu, cả hai
cuộc điều tra của Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến hành năm 2007 đều là các cuộc điều tra hộ phân
tầng hai giai đoạn Ở giai đoạn đầu các địa bàn điều tra được chọn ngẫu nhiên Sang giai đoạn hai, một số lượng cố định các hộ được chọn một cách hệ thống dựa vào các địa bàn điều tra được
chọn ở giai đoạn một Tiêu chuẩn phân tầng đều giống nhau cho hai cuộc điều tra: theo khu vực thành thị nông thôn của tỉnh Việc chọn địa bàn của hai cơ quan khác nhau: Bộ LĐTB&XH chọn địa bàn điều tra bằng cách áp dụng tỷ lệ theo qui mô trong khi TCTK chọn theo dạng ngẫu nhiên đơn giản Quả thực cách áp dụng trên thực tế lại không rõ ràng lắm Cả hai cơ quan không chọn địa bàn điều tra theo đúng qui trình ngẫu nhiên Thí dụ như, trong cuộc Điều tra lao động việc làm do TCTK tiến hành năm 2007, ban đầu chọn 5.660 địa bàn điều tra nhưng đến lúc tiến hành điều tra thì lại có đến 5.768 địa bàn được điều tra do trong quá trình điều tra phát hiện ra thị trường lao động phức tạp nên số lượng địa bàn điều tra được tăng lên (4 thành phố lớn: Hà Nội/ T.P Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng), các tỉnh có khu công nghiệp (Đồng Nai, Bình Dương,
Bà Rịa Vũng Tàu, Quảng Ninh, Cần Thơ và Thừa Thiên - Huế), hoặc các tỉnh có tỷ lệ thất nghiệp rất thấp (Đắk Nông, Gia Lai và Hưng Yên) Những địa bàn điều tra được bổ sung thêm được điều tra trên cơ sở đánh giá chuyên gia chứ không tuân theo qui trình ngẫu nhiên được
kiểm soát Trong trường hợp Bộ LĐTB&XH, mỗi mẫu địa bàn điều tra được rút ra từ cuộc điều tra của năm trước (chẳng hạn như địa bàn điều tra năm 2007 giống địa bàn điều tra năm 2006)
Trang 26nhưng lại có điều chỉnh và điều chỉnh này không tuân theo các qui trình ngẫu nhiên chung Ngoài ra trong cả hai cuộc điều tra này, mỗi địa bàn điều tra chọn ra 30 hộ theo qui trình chọn
mẫu có hệ thống dựa vào bảng danh sách hộ Ở đây ta vẫn thấy có sự khác nhau giữa lý thuyết
và thực hành Công tác lập bảng kê không được thực hiện tốt (xem phần 2) Vì vậy việc chọn hộ
ngẫu nhiên dựa trên danh sách các hộ có thể khác với số hộ thực tế sinh sống trên địa bàn vào
thời điểm điều tra
Ngoài ra, thiết kế chọn mẫu của các cuộc điều tra này không tuân theo quy luật và thể
hiện một số thiếu sót sau :
- Qui trình để chọn địa bàn điều tra mỗi tầng không được nêu rõ;
- Việc lựa chọn địa bàn điều tra không ngẫu nhiên hoàn toàn;
- Công việc lập bảng kê các hộ của địa bàn điều tra được chọn không được thực hiện tốt
Thiếu sót đề cập đến cuối cùng ở trên là một vấn đề lớn Thứ nhất, nó gây khó khăn cho
việc tính toán xác xuất được lựa chọn của hộ và ngoại suy số liệu từ thiết kế mẫu Thứ hai, không thể tính được bất cứ chỉ tiêu nào để xác định mức độ chính xác (khoảng tin cậy) của các
cuộc Điều tra lao động việc làm Thứ ba là thiếu sót này có thể là nguyên nhân chính gây ra sai
số của số liệu vì không biết rõ được tổng số hộ trong các địa bàn điều tra Rất có thể là các điều tra viên chọn hộ dễ điều tra để phỏng vấn (thí dụ điều tra viên sẽ chọn hộ nằm ở tầng 1 của toà nhà, v…v) và như thế thì hộ được chọn s ẽ không bảo đảm được tính đại diện Cũng cần lưu ý
rằng cỡ mẫu lớn cuộc Điều tra lao động việc làm (100.000 hộ của cuộc điều tra của Bộ LĐTB&XH và 173.000 hộ của cuộc điều tra của TCTK) không thể nào khắc phục được thiếu sót nêu trên (Muốn biết thêm thông tin về phân bố hộ gia đình được chọn trong mẫu, xin xem biểu A1 trong phần phụ lục)
Trang 27
Bi ểu 3.1 Các đặc điểm chính của hai cuộc Điều tra lao động việc làm do Bộ LĐTB&XH và
TCTK ti ến hành năm 2007
Thi ết kế mẫu
Qui trình chọn đơn vị mẫu sơ cấp Tỷ lệ theo qui mô Ngẫu nhiên
N ội dung/Bảng hỏi
K ết quả/Xuất bản phẩm
U
Ngu ồnU: Điều tra lao động việc làm, Bộ LĐTB&XH, TCTK 2007; Tính toán của tác giả
Vì vậy, không thể tính được quyền số ngoại suy trong dàn mẫu Để suy rộng số liệu, cả hai cơ quan sử dụng “qui luật nhân ba”, nghĩa là nhân ma trận của dân số được chọn trong mẫu
với các tỉnh, khu vực thành thị nông thôn và giới tính (256 ô) để phù hợp với số liệu chính thức
của cùng một loại (tổng dân số) Do cuộc tổng điều tra dân số lần cuối cùng được tiến hành cách đây khá lâu (từ năm 1999), những số liệu chính thức này được tính bằng cách cập nhật số liệu
của cuộc tổng điều tra dân số dựa trên kết quả của cuộc điều tra biến động dân số hàng năm của TCTK
Biểu 3.2 trình bày các số liệu thống kê cơ bản của hai cuộc điều tra nói trên Như dự đoán, quyền số bình quân (và quyền số trung vị) của cuộc điều tra của TCTK cao hơn Quyền số
của khu vực nông thôn cao hơn quyền số của khu vực thành thị, cho thấy đại diện của khu vực thành thị trong mẫu cao hơn, một đặc điểm được thể hiện trong cuộc điều tra của TCTK Trong
cuộc điều tra này, sai số chuẩn quyền số thấp hơn, nhưng cả hai lại có quyền số rất không cân
Trang 28đối (nhất là cho khu vực thành thị) Đây là một thuộc tính thống kê rất không tốt cần khắc phục trong các cuộc điều tra sau này
Bi ểu 3.2 Các quyền số ngoại suy trong hai cuộc Điều tra lao động việc làm do Bộ
LĐTB&XH và TCTK tiến hành năm 2007
Thành
th ị
Nông thôn
Từ những hạn chế như đề cập đến ở phần trên, chúng tôi tiếp tục so sánh kết quả của hai
cuộc điều tra này Mục đích trước hết là để xử lý các bảng biểu cụ thể dựa trên các thông tin chung của hai bảng hỏi để so sánh kết quả và để đánh giá sự khác nhau ở hai giai đoạn: sai số
chọn mẫu (sự khác biệt có đáng kể về mặt thống kê hay không) và sai số trong tính toán Với
những hạn chế nêu trên, mục đích thứ nhất không thể đạt được: không thể tính được chính xác các khoảng tin cậy Do đó chúng tôi chỉ giới hạn ở việc lượng hoá sự giống nhau của hai cuộc điều tra và giải thích về sự khác nhau Mẫu số chung của hai cuộc điều tra có liên quan đến các
chỉ tiêu sau: dân số, giáo dục, lao động tham gia vào các hoạt động kinh tế, thất nghiệp, thiếu
việc làm và một số các đặc điểm cơ bản của công việc chính (nghề nghiệp, ngành, tình trạng việc làm, số giờ làm việc)
Số liệu dân số cả nước có được từ hai cuộc điều tra này là 85,4 triệu (Bộ LĐTB&XH) và 84,5 triệu (TCTK), nghĩa là khác nhau 0,9 triệu người (xem biểu 3.3) Vì trong cả hai trường hợp
số liệu ngoại suy phải giống với cùng một nguồn (dự báo dân số của TCTK), nên sự khác nhau này chỉ có thể là do sự khác nhau trong dân số tham vấn Cuộc điều tra của Bộ LĐTB&XH có cả
lực lượng quân đội trong các doanh trại quân đội trong khi điều tra của TCTK chỉ có “các hộ gia đình bình thường” và không có những người sống trong các đơn vị thể chế như nhà tù, bệnh
viện, v v (trong số đó là doanh trại quân đội) Phân bố dân số theo giới tính và khu vực nông thôn thành thị (và tỉnh) cũng dựa vào nguồn dự báo dân số chính thức Vì vậy, sự khác biệt duy
nhất có thể có chính là phạm vi khác nhau của hai cuộc điều tra này Nếu chiến lược của TCTK
là thống nhất (dân số được điều tra là mẫu đại diện của dân số ngoại suy), thì trường hợp của Bộ LĐTB&XH lại không phải là như vậy (chỉ có những hộ gia đình bình thường được phỏng vấn
Trang 29trong khi số liệu lại được ngoại suy cho cả hộ gia dình bình thường và hộ sống ở đơn vị thể chế) Tuy nhiên, tỷ số giới tính và phân bố thành thị/nông thôn ở hai cuộc điều tra đều giống nhau
Theo cuộc Điều tra lao động việc làm của Bộ LĐTB&XH năm 2007, dân số trong độ tuổi lao động (những người từ 15 tuổi trở lên) là 66,968 triệu người trong khi con số này từ cuộc điều tra của TCTK là 63,307 triệu người (Biểu 3.4) Con số khác nhau 3,661 triệu này cao hơn mức khác nhau của tổng dân số (0.908 triệu), cho thấy có sự khác biệt đáng kể về cơ cấu dân số trong hai cuộc điều tra Ở cả thành thị và nông thôn, số liệu của cuộc điều tra của Bộ LĐTB&XH cho
thấy dân số 15 tuổi trở đi cao hơn ba điểm phần trăm so với số liệu của điều tra của TCTK nhưng chúng tôi không thể biết nguyên là do số liệu của Bộ LĐTB&XH đưa ra cao hơn thực tế hay số
liệu của TCTK đưa ra thấp hơn thực tế hay là do cả hai
Bi ểu 3.3: Dân số theo giới tính và thành thị, nông thôn trong hai cuộc Điều tra lao động
vi ệc làm do Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến hành năm 2007
Thành thị
Nông thôn
Ngu ồnU: Điều tra lao động việc làm, Bộ LĐTB&XH, TCTK 2007; Tính toán của tác giả
Bi ểu 3.4: Dân số theo nhóm tuổi và thành thị, nông thôn trong hai cuộc Điều tra lao động
vi ệc làm do Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến hành năm 2007
Thành
th ị
Nông thôn
T ổng số Thành
th ị
Nông thôn
Trang 30Về tình trạng học vấn, việc đánh giá còn khó khăn hơn vì cả hai cuộc điều tra không có cùng cách phân loại Đặc biệt là không thể định lượng được số lượng người không đi học trong cuộc điều tra của Bộ LĐTB&XH Cơ cấu giáo dục từ hai cuộc điều tra này theo cấp học khá giống nhau (Biểu 3.5 và 3.5’) Theo cuộc điều tra của Bộ LĐTB&XH năm 2007 thì số người đi học
cấp PTTH chiếm 24% nhưng số liệu của TCTK chỉ là 22% Hai điểm phần trăm khác biệt này được bù đắp ở chỗ tỷ lệ đi học cấp một và sau PTTH của cuộc điều tra do TCTK tiến hành cao hơn Bộ LĐTB&XH (24% so với 23% cho cấp 1 và 10,7% so với 9,3% cho sau PTTH)
Bi ểu 3.5: Giáo dục phân theo thành thị, nông thôn trong hai cuộc Điều tra lao động việc
làm do B ộ LĐTB&XH và TCTK tiến hành năm 2007
Bi ểu 3.5’: Giáo dục phân theo thành thị, nông thôn trong hai cuộc Điều tra lao động việc
làm do Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến hành năm 2007 (%)
Thành
th ị
Nông thôn
Tổng số Thành
th ị
Nông thôn
Trang 31Chỉ tiêu thị trường lao động đầu tiên là tỷ lệ dân số tham gia vào hoạt động kinh tế Để tính chỉ tiêu này, ta cần phân biệt giữa dân số hoạt động (dân số có việc làm hoặc thất nghiệp) và dân số không hoạt động (dân số không làm việc và không tìm việc làm) Biểu 3.6 trình bày phân
bố dân số hoạt động và không hoạt động phân theo giới tính và khu vực thành thị, nông thôn
Mặc dù số liệu dân số trong độ tuổi lao động của Bộ LĐTB&XH cao hơn của TCTK 3,6 triệu người, nhưng số liệu dân số hoạt động của TCTK lại cao hơn số liệu của Bộ LĐTB&XH 0,4 triệu người Do đó tỷ lệ dân số tham gia vào hoạt động kinh tế của TCTK cao hơn 5 điểm (74.5%
so với 69.8%) Sự khác biệt này cũng có thể thấy ở khu vực thành thị và nông thôn Sự khác biệt này có thể là do (ít nhất là một phần) khác biệt của thời gian điều tra (Bộ LĐTB&XH tiến hành vào tháng 7 trong khi TCTK tiến hành vào tháng 8) : tiến hành vào tháng 7 thường là vào tháng các gia đình ở thành thị đi nghỉ mát trong khi nếu tiến hành điều tra vào tháng 8 thì hộ thường
bận rộn với mùa vụ Không thể đánh giá được sự khác biệt năm điểm phần trăm này (tương ứng
với hơn 2,3 triệu người) do thiếu thông tin
Bi ểu 3.6: Tình trạng lao động và tỷ lệ dân số tham gia vào hoạt động kinh tế phân theo
thành th ị, nông thôn trong hai cuộc Điều tra lao động việc làm do Bộ
LĐTB&XH và TCTK tiến hành năm 2007
Thành th ị Nông thôn Tổng số Thành
th ị
Nông thôn
nhận được” phù hợp với số liệu của Bộ LĐTB&XH đưa ra trước đây hơn là đơn thuần chỉ mang tính thống kê Một mặt 95.000 người đã chịu ảnh hưởng của thất nghiệp nếu ta xem họ là có
Trang 32việc làm Mặt khác, giới hạn tuổi đã được đưa ra để tính tỷ lệ thất nghiệp (dưới 60 tuổi đối với nam và dưới 54 tuổi đối với nữ) Điều này làm tăng tỷ lệ thất nghiệp Cuối cùng thì tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị mà TCTK đưa ra là 4,6%, khá giống với tỷ lệ do Bộ LĐTB&XH công
bố 4,9% Mặc dù những điều chỉnh này là hợp pháp vì định nghĩa quốc tế phần nào cho phép
việc chỉnh sửa các khái niệm lý thuyết cho phù hợp với hoàn cảnh của từng quốc gia nhưng chúng tôi vẫn muốn áp dụng một cách khắt khe hơn các khuyến nghị quốc tế của tổ chức ILO Chúng tôi vẫn xem dân số có việc làm là những người đã làm việc, có thu nhập từ công việc đó
mặc dù 7 ngày trước thời điểm điều tra họ không làm việc, hoặc sẽ quay lại làm việc trong vòng
30 ngày Dân số không có việc làm không thuộc vào nhóm vừa đề cập nhưng vẫn đang tìm kiếm
việc làm hoặc đang xin việc làm trong 30 ngày trước thời điểm điều tra Trong khi đó, dân số không hoạt động là phần còn lại của dân số Sự chênh lệch giữa ước tính của chúng tôi và số liệu chính thức của TCTK không thể thấy rõ đối với dân số có việc làm và các đặc điểm công việc
của họ Chúng phần nào nghiêng về phía thất nghiệp
Trên cơ sở đó, tính toán của chúng tôi cho thấy có 0,935 triệu người thất nghiệp và 46,211 triệu người có việc làm, tương ứng với mức khác biệt 10,2% và 0,2% Điều này có nghĩa
là tỷ lệ thất nghiệp năm 2007 do TCTK tính thấp hơn một ít so với số liệu do Bộ LĐTB&XH tính (2.0% so với 2.4% cho cả nước) Ngay cả khi mở rộng định nghĩa về thất nghiệp (xem
những người trước đây là dân số không hoạt động là dân số có việc làm, nghĩa là những người
mặc dù hiện không đang làm việc và không tìm việc nhưng sẽ làm việc nếu có việc), con số tăng lên đến 2,2%, vẫn thấp hơn số liệu của Bộ LĐTB&XH Quả thực dù số liệu thất nghiệp nông thôn của hai cơ quan khá giống nhau (khoảng 1,5%), nhưng số liệu thất nghiệp thành thị của TCTK và Bộ LĐTB&XH khác xa nhau (của Bộ LĐTB&XH là 4,9% trong khi của TCTK là 3,6%; Nếu dùng định nghĩa rộng hơn thì con số này là 4,0%)
Bi ểu 3.7: Tình trạng việc làm và tỷ lệ thất nghiệp phân theo thành thị, nông thôn của hai
cu ộc Điều tra lao động việc làm do Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến hành năm
Tổng số Thành
th ị
Nông thôn Tổng
s ố Dân s ố có việc làm 11.305.38
NguồnU: Điều tra lao động việc làm, Bộ LĐTB&XH, TCTK 2007; Tính toán của tác giả Tổng
số: Dân số tham gia vào hoạt động kinh tế
Trang 33Xét về số giờ làm việc và tình trạng thiếu việc làm thì số liệu tổng hợp của cả nước rất
giống nhau (Biểu 3.8) Số giờ làm việc trung bình một tuần của cả hai cuộc điều tra là như nhau (43,9 giờ một tuần), số liệu cho khu vực thành thị của TCTK cao hơn (48,2 so với 46,4) và thấp hơn một ít ở nông thôn (42,4 so với 43,1) Tỷ lệ thiếu việc làm, được xem như là 1 phần của lao động có việc làm có thời gian làm việc ít hơn 35 giờ một tuần và muốn làm việc nhiều hơn, không khác nhau về ý nghĩa thống kê Con số này của TCTK năm 2007 là 4,9% còn của Bộ
LĐTB&XH là 4,7%
B ảng 3.8: Số giờ làm việc và tỉ lệ thiếu việc làm theo khu vực trong Cuộc Điều tra lao động
vi ệc làm năm 2007 do Bộ LĐTB&XH và Tổng cục Thống kê tiến hành
B ộ Lao động, thương binh và
xã h ội
T ổng cục Thống kê
Thành thị
Nông thôn
T ổng Thành
thị
Nông thôn
NguồnU: Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007, do Bộ lao động, thương binh và xã hội và
Tổng cục Thống kê tiến hành; tính toán của người viết Tổng cộng: dân số được điều tra
Phân bố lực lượng lao động theo tình trạng việc làm trong cuộc điều tra của 2 cơ quan đã
bộc lộ những điểm khác nhau rất lớn (biểu 3.9 và 3.9’) Theo Tổng cục Thống kê, ở Việt Nam
có 13,860 triệu lao động làm công ăn lương vào năm 2007 Nhưng theo Bộ lao động, thương binh và xã hội thì chỉ có 10,290 tr iệu Như vậy con số chênh lệch giữa 2 cơ quan là 3,570 triệu lao động Theo ước tính của Tổng cục Thống kê tỉ lệ lao động làm công ăn lương chiếm 30% trong khi theo Bộ lao động, thương binh và xã hội, tỉ lệ nàychỉ chiếm 22,5% Ở tất cả các loại hình dân số , dân số ở thành thị hay nông thôn, đều có sự chênh lệch này Thật ra nguyên nhân chính dẫn đến sự không thống nhất về số liệu giữa 2 cơ quan xuất phát từ số lao động gia đình không được trả lương Con số đó là 19,200 triệu người (theo số liệu của Bộ lao động, thương binh và xã hội), nhưng theo Tổng cục Thống kê thì chỉ có 5,947 triệu người Ngược lại, theo số
liệu của Tổng cục Thống kê có 24,736 triệu lao động tự làm và 1,497 triệu chủ cơ sở sản xuất kinh doanh trong khi theo Bộ lao động, thương binh và xã hội thì chỉ có 15,632 triệu lao động tự làm và 0,356 triệu chủ cơ sở sản xuất kinh doanh Rõ ràng, tuy cùng sử dụng cách phân loại nhưng Tổng cục Thống kê và Bộ lao động, thương binh và xã hội đã không cùng sử dụng một định nghĩa4
Trang 34B ảng 3.9: Việc làm phân theo hình thức lao động và khu vực thành thị, nông thôn trong
Cuộc Điều tra lao động việc làm 2007 của Bộ LĐTB&XH và Tổng cục Thống kê
B ộ Lao động, thương binh và xã
T ổng Chủ cơ sở sản xuất
Ngu ồnU: Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007, do Bộ lao động, thương binh và xã hội và
Tổng cục Thống kê tiến hành ; tính toán của tác giả Tổng số: dân số có việc làm Khác: người
học nghề
B ảng 3.9’: Tỉ lệ việc làm phân theo hình thức lao động và khu vực thành thị nông thôn
trong Cu ộc Điều tra lao động việc làm 2007 do Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến
th ị
Nông thôn
Ngu ồnU: Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007, do Bộ lao động, thương binh và xã hội và
Tổng cục Thống kê tiến hành; tính toán của tác giả Tổng số: dân số có việc làm Khác: người
học nghề
Trang 35Lao động có việc làm cũng có thể được phân theo loại hình doanh nghiệp họ đang làm (biểu 3.10 và 3.10’) Trong khi tổng số lao động làm việc cho các hộ sản xuất kinh doanh nói chung là tương đối thống nhất giữa 2 cơ quan (theo Tổng cục Thống kê là 37,196 triệu người và theo Bộ lao động, thương binh và xã hội là 36,492 triệu), chiếm 80,5% (theo Tổng cục Thống kê) và 80% (theo Bộ lao động, thương binh và xã hội) lực lượng lao động, thì số lao động làm
việc trong các thành phần kinh tế khác lại chênh lệch rất lớn Theo Tổng cục Thống kê, có 0,920 triệu lao động làm việc cho các doanh nghiệp nước ngoài, 2,702 triệu lao động làm việc cho các doanh nghiệp trong nước và 4,977 triệu lao động làm việc cho khu vực nhà nước nhưng theo Bộ lao động, thương binh và xã hội, con số ước tính là 0,836 triệu lao động làm việc cho các doanh nghiệp nước ngoài, 3,601 triệu lao động làm việc cho các doanh nghiệp trong nước và 4,215 triệu lao động làm việc cho khu vực nhà nước Như vậy số liệu lao động làm việc cho các doanh nghiệp trong nước của Bộ lao động, thương binh và xã hội cao hơn , nhưng số liệu lao động làm việc cho các doanh nghiệp nước ngoài và khu vực nhà nước lại thấp hơn số liệu của
Tổng cục Thống kê
B ảng 3.10: Việc làm phân theo thành phần kinh tế và khu vực thành thị, nông thôn trong
Cu ộc Điều tra lao động việc làm năm 2007 do Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến
T ổng Thành
th ị
Nông thôn
Ngu ồnU: Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007, do Bộ lao động, thương binh và xã hội và
Tổng cục Thống kê tiến hành ; tính toán của tác giả Tổng số: dân số có việc làm
Trang 36B ảng 3.10’: Tỉ lệ việc làm phân theo thành phần kinh tế và khu vực thành thị, nông thôn
trong Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007 do Bộ LĐTB&XH và TCTK
th ị
Nông thôn
Tổng
Cơ quan nhà nước 22,0% 5,0% 9,2% 23,9% 6,4% 10,8%
Doanh nghi ệp nước
Ngu ồnU: Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007, do Bộ lao động, thương binh và xã hội và
Tổng cục Thống kê tiến hành ; tính toán của tác giả Tổng số: dân số có việc làm
Cơ cấu việc làm phân theo các ngành kinh tế cũng tương tự như vậy dù xét ở cấp độ tổng
hợp (4 ngành kinh tế – Nông nghiệp, công nghiệp chế biến, Thương mại và Dịch vụ, biểu 3.11
và 3.11’- hoặc ở cấp độ chi tiết hơn, xem biểu A1 ở phần Phụ lục) Trong khi số liệu ước tính cho ngành Dị ch vụ tương đối thống nhất (17,7% của Bộ lao động, thương binh và xã hội và 17,8% của Tổng cục Thống kê), thì số liệu cho 3 ngành còn lại lại khác nhau Theo Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007 của Bộ lao động, thương binh và xã hội, có khoảng 23,797 triệu
việc làm trong ngành nông nghiệp chiếm 52,2% lực lượng lao động, trong khi theo Tổng cục
Thống kê thì con số này là 23,118 triệu việc làm chiếm 50% Như vậy số chênh lệch là 2,2% Ngược lại, theo số liệu của Bộ lao động, thương binh và xã hội, số việc làm trong ngành công nghiệp chế biến và thương mại lại ít hơn so với Tổng cục Thống kê (chiếm 19,2% đối với ngành công nghiệp chế biến và 10,6% đối với ngành Thương mại, trong khi con số này của Tổng cục
Thống kê là 20,1% và 12%)
Trang 37Bi ểu 3.11: Việc làm phân theo ngành kinh tế (tổng hợp) và khu vực thành thị trong Cuộc
Điều tra lao động việc làm, năm 2007 do Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến hành
B ộ Lao động, thương binh và
xã h ội
T ổng cục Thống kê
Thành thị
Nông thôn
T ổng Thành
thị
Nông thôn
T ổng Nông nghi ệp
D ịch vụ 4.512.509 3.561.436 8.073.945 4.463.115 3.787.576 8.250.691 Không xác định 47.215 105.118 152.333 4.724 7.323 12.043
Ngu ồnU: Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007, do Bộ lao động, thương binh và xã hội và
Tổng cục Thống kê tiến hành ; tính toán của tác giả Tổng số: dân số có việc làm
Bi ểu 3.11’: Tỉ lệ việc làm phân theo ngành kinh tế (tổng hợp) và khu vực thành thị trong
Cu ộc Điều tra lao động việc làm, năm 2007 do Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến
T ổng Thành
th ị
Nông thôn
Ngu ồnU: Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007, do Bộ lao động, thương binh và xã hội và
Tổng cục Thống kê tiến hành ; tính toán của tác giả Tổng số: dân số có việc làm
Phân bố việc làm theo nghề nghiệp ở cả 2 cuộc điều tra nói chung là tương đối thống nhất
cả ở cấp độ tổng hợp (1chữ số, xem biểu 3.12 và 3.12’) và chi tiết (2 chữ số, xem biểu A2 ở phần
Phụ lục) theo mã ngành Trong cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007 của Bộ lao động, thương binh và xã hội, số lao động có tay nghề làm việc ở khu vực nông lâm nghiệp thuỷ sản được ước tính cao hơn (0,912 triệu lao động, chiếm tỉ lệ 2,2%) (so với số liệu của Tổng cục
Thống kê) Ngược lại, số người làm công tác quản lý (0,4 điểm), công nhân kỹ thuật (1 điểm),
thợ thủ công và buôn bán (0,9 điểm) và lao động phổ thông (0,7 điểm) lại được ước tính thấp
Trang 38hơn Trong khi theo Tổng cục Thống kê chỉ có 6.326 người phục vụ trong quân đội (khi điều tra đang ở nhà) thì theo Bộ lao động, thương binh và xã hội có đến 151.087 người Điều này đã phản ánh sự khác nhau về phạm vi của 2 cuộc điều tra (xem phần trên) Tuy nhiên, trong cuộc điều tra
của Bộ lao động, thương binh và xã hội số người phục vụ trong quân đội rõ ràng được ước tính
thấp hơn, chỉ khoảng 400.000 người
Nhìn chung cả 2 cuộc điều tra đều đưa ra số liệu tương đối thống nhất Tuy nhiên vẫn còn
một số hạn chế và không thống nhất Nguyên nhân trước hết là do quy trình tiến hành điều tra
mẫu của 2 cuộc điều tra đều không cho phép tính toán các chỉ tiêu thể hiện sự chính xác (khoảng tin cậy, và hiệu quả của thiết kế mẫu …) Yếu kém chính xuất phát từ lập bảng kê hộ gia đình cho các địa bàn điều tra được chọn Nguyên nhân thứ 2 là mặc dù số liệu tổng hợp theo tỉnh, khu
vực thành thị nông thôn và giới tính của cả 2 cuộc điều tra đều thống nhất (không phải là kết quả
của số liệu đầu ra của điều tra mẫu, mà là kết quả của xây dựng quyền số ngoại suy), nhưng dân
số tham chiếu lại không giống nhau, cuộc điều tra của Tổng cục Thống kê chỉ xem xét các hộ gia đình bình thường Việc Bộ lao động, thương binh và xã hội đã tính luôn số người phục vụ trong quân đội có thể chưa được kiểm soát tốt (ngoại suy nhưng lại điều tra một phần) Nguyên nhân
thứ 3 là một số chỉ tiêu về lao động việc làm trong cả 2 cuộc điều tra là giống nhau như: thiếu
việc làm, phân bố công việc chính (cuộc Điều tra lao động việc làm của Bộ lao động, thương binh và xã hội chỉ hỏi về công việc chính) th eo nghề, ngành và thành phần kinh tế Tuy nhiên
vẫn còn một số chỉ tiêu về lao động việc làm khác nhau, gây ra nghi ngờ về sai số trong tính toán (chúng ta không thể đánh giá được chỉ tiêu nào được tính cao hơn hay thấp hơn về mức độ chính xác của biến số) vì sự chênh lệch giữa 2 cuộc điều tra vượt quá mức độ cho phép của sai số
chọn mẫu Cụ thể là tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động của cuộc Điều tra lao động việc làm của
Bộ lao động, thương binh và xã hội cao hơn 3 điểm so với số liệu của TCTK (78,4% so với 74,9%) nhưng tỉ lệ dân số tham gia vào các hoạt động kinh tế lại thấp hơn 3 điểm (69,8% so với 74,5%) Tương tự như vậy, tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị cao hơn 1,3 điểm (4,9% so với 3,6%) Điều đáng quan tâm hơn cả là sự khác nhau về phân bố tình trạng việc làm Theo cuộc Điều tra lao động việc làm của Bộ lao động, thương binh và xã hội, tỉ lệ lao động làm công ăn lương thấp hơn 8% so với tỉ lệ của Tổng cục Thống kê đưa ra (22% so với 30%) Ngược lại theo
Bộ lao động, thương binh và xã hội, tỉ lệ lao động gia đình không được trả lương chiếm 42% trong khi theo Tổng cục Thống kê thì chỉ chiếm 13% Như vậy, sự khác nhau này là do tỉ lệ lao động độc lập cao (cho dù là lao động tự làm hay chủ co sở sản xuất kinh doanh) Sự chênh lệch
là quá lớn vì vậy mà khái niệm được sử dụng cũng khác nhau
Trang 39Bi ểu 3.12: Việc làm phân theo nghề nghiệp và khu vực thành thị, nông thôn trong Cuộc
Điều tra lao động việc làm, năm 2007 do Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến hành
B ộ Lao động, thương binh và xã
T ổng Thành
th ị
Nông thôn
T ổng
Qu ản lý/lãnh đạo 156.728 108.232 264.960 231.075 249.479 480.553 Lao động có tay
ngh ề kỹ thuật cao 1.469.175 584.905 2.054.080 1.442.852 465.117 1.907.969 Lao động có tay
ngh ề kỹ thuật bậc
trung 688.139 655.166 1.343.305 865.251 943.352 1.808.603 Thư ký 303.425 223.493 526.918 348.149 267.900 616.049 Nhân viên bán hàng
và d ịch vụ 2.004.347 1.311.714 3.316.061 1.538.657 1.548.591 3.087.248 Lao động phổ thông
Ngu ồnU: Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007, do Bộ lao động, thương binh và xã hội và
Tổng cục Thống kê tiến hành; tính toán của tác giả Tổng số: dân số có việc làm
Khi xem xét tổng thể toàn bộ những điều đã đề cập đến ở trên và thừa nhận những hạn
chế cuả cả hai cuộc điều tra, rõ ràng nên sử dụng số liệu của cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007 của TCTK hơn là của Bộ LĐTB&XH để phân tích về thị trường lao động
Trang 40Bi ểu 3.12’: Tỉ lệ việc làm phân theo nghề nghiệp và khu vực thành thị, nông thôn trong
Cu ộc Điều tra lao động việc làm, năm 2007 do Bộ Bộ LĐTB&XH và TCTK tiến
T ổng Thành
th ị
Nông thôn
Lao động không có tay nghề 31,4% 71,6% 61,6% 35,2% 71,3% 62,3%
L ực lượng quân đội 0,4% 0,3% 0,3% 0,01% 0,02% 0,01%
U
Ngu ồnU: Cuộc Điều tra lao động việc làm năm 2007, do Bộ lao động, thương binh và xã hội và
Tổng cục Thống kê tiến hành; tính toán của tác giả Tổng số: dân số có việc làm
4 Khuyến nghị về thiết kế mới cho cuộc Điều tra lao động việc làm trong tương lai
Như đã đề cập ở những phần trước, các cuộc điều tra hiện tại (Cuộc Điều tra lao động
việc làm của Bộ Lao động, thương binh và xã hội và Tổng cục Thống kê; VHLSS) đều không
giải quyết được các quan tâm về thị trường lao động Mặc dù các cuộc điều tra đều cung cấp các
chỉ tiêu cơ bản về thị trường lao động (như chỉ tiêu: hoạt động, thất nghiệp và thiếu việc làm, đào
tạo chuyên môn nghiệp vụ, việc làm phân theo ngành, tình trạng việc làm và nghề nghiệp) nhưng
vẫn còn hạn chế về thời gian, chất lượng số liệu và phổ biến số liệu Cuộc Điều tra lao động việc làm do Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2007 đã có nhiều tiến bộ hơn so với các cuộc điều tra trước đây vì đây là lần đầu tiên ở Việt Nam, cuộc điều tra đã cho phép đo lường lao động ở khu
vực kinh tế phi chính thức và lao động phi chính thức Tuy nhiên cuộc điều tra kết hợp năm 2008
là một bước thụt lùi (xét về góc độ thị trường lao động) và sẽ không cung cấp được nhiều chỉ tiêu
về thị trường lao động Trong giai đoạn hiện nay (2007-2010) Việt Nam sẽ khó có được số liệu
thống kê chi tiết về thị trường lao động do mọi nguồn lực đều được dành cho Cuộc Tổng điều tra dân số (2009)