Do vậy, một trong những vấn đề xã hội bức xúc nhất hiện nay là giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn nhất là khi chúng ta đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Trang 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG 1
Trang 3
1
1
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất phân theo vùng (Tính đến 01/01/2009) 25
Bảng 2.2 Tỷ lệ tăng dân số đô thị và nông thôn, 2000-2010 26
Đơn vị: % 26
Bảng 2.3 Dân số nông thôn Việt Nam, năm 1950 dự báo đến năm 2050 26
Bảng 2.4: Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo nguồn thu 28
Bảng 2.5: Tỷ lệ hộ nghèo trong tổng số hộ cả nước 32
Bảng 2.6: Số lao động làm việc trong các ngành nông nghiệp 34
Bảng 2.7 Cơ cấu dân số nông thôn theo tuổi và giới tính 35
Bảng 2.8 Cơ cấu dân số nông thôn theo nghề nghiệp, 2002 và 2008 36
Đơn vị: % 36
Bảng 2.9 : Trường phổ thông ở nông thôn phân theo vùng, thời điểm 01/07/2011 39
Bảng 2.10 Tình trạng đi học của người dân nông thôn, 2009 40
Bảng 2.11 Lực lượng lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật và khu vực thành thị – nông thôn 41
Bảng 2.12 Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, đô thị và nông thôn, năm 2010 42
Đơn vị: % 42
Bảng 2.13 Dân số từ 15 tuổi trở lên làm công việc chiếm nhiều thời gian nhất trong nông, lâm nghiệp, thủy sản 43
Bảng 2.14 Tỷ Lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn 48
Đơn vị: % 48
Trang 5
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Việc làm và giải quyết việc làm là một vấn đề kinh tế xã hội có tính toàn cầu, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Với sự phát triển nhanh của các nền kinh tế, việc làm đã không ngừng được tạo ra nhưng cũng không ít việc làm
bị mất đi Sự mai một của một số việc làm thường xảy ra ở nông thôn, những vùng đất mà người dân sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, khai thác tài nguyên thiên nhiên là chính Trong giai đoạn hiện nay, sự thay đổi về cơ cấu kinh tế trong nông thôn cùng với công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp là một tất yếu để phát triển kinh tế Nhưng với diện tích đất đai có giới hạn, tỷ lệ tăng dân số ở nông thôn cao và trình độ dân trí còn thấp, người dân sống ở nông thôn ngày càng khó tìm được việc làm khi họ bị tách khỏi những lao động phổ thông trong nông nghiệp
Do vậy, một trong những vấn đề xã hội bức xúc nhất hiện nay là giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn nhất là khi chúng ta đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trước xu thế hội nhập, mở cửa
và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Phần lớn dân số Việt Nam hiện nay vẫn tập trung ở khu vực nông thôn (hơn
60 triệu dân, tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn của Việt Nam vẫn chiếm hơn 70%) Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vẫn đang tiếp tục được thực hiện Tuy vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động tương đối chậm
Tuy nước ta là một nước đi lên từ nông nghiệp hay nói cách khác nông nghiệp là một thế mạnh nhưng sản xuất ở ngành này mang tính thời vụ nên nhiều lao động ở ngành này vẫn có nhiều thời gian rảnh rỗi Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhận định: “Tỷ trọng nông nghiệp còn quá cao Lao động thiếu việc làm còn nhiều Tỷ lệ qua đào tạo rất thấp” Điều này cho ta thấy tình trạng thiếu việc làm của người lao động ở nông thôn đang rất lớn, có nguy cơ tiếp tục gia tăng và thời gian sử dụng của người lao động ở khu vực nông thôn chưa cao và chưa hợp lý, do đó chưa phát huy được khả năng sẵn có Thực trạng này đang là một trong những lực cản chính đối với sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, là nguyên nhân sâu xa phát sinh các vấn đề tiêu cực
Trang 6và tệ nạn xã hội Vì vậy, nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động và giải quyết việc làm ở nông thôn để tìm ra những phương hướng và giải pháp hữu hiệu tạo việc làm
và sử dụng hợp lý nguồn lao động nông thôn không chỉ là vấn đề mang tính cấp bách mà nó còn mang tính chiến lược lâu dài trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Đây chính là lý do em lựa chọn nghiên cứu
đề tài: “Việc làm cho lao động nông thôn ở Việt Nam giai đoạn 2001-2011: Thực
và tạo việc làm cho lao động nông thôn
- Đề xuất một số quan điểm, phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những giải pháp phát triển việc làm cho lao động nông thôn ở Việt Nam giai đoạn 2001-2011
Phạm vi nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm: Nội dung vấn đề liên quan đến thực trạng sử dụng lao động và tạo việc làm cho người lao động nông thôn ở Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2001-2011
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 02/1012 đến tháng 05/2012
4.Phương pháp nghiên cứu.
Trang 7Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp sau đây:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nhóm các phương pháp phụ trợ thống kê toán học
5.Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 phần chính:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về việc làm và lao động.
Chương 2: Thực trạng lao động và việc làm khu vực nông thôn giai đoạn
2001-2011.
Chương 3: Các giải pháp chính nhằm tạo việc làm cho nguồn lao động nông
thôn trong thời gian tới.
Em mong rằng khóa luận này sẽ là nghiên cứu đóng góp về một vấn đề đang được quan tâm hiện nay Tuy nhiên do trình độ có hạn, khóa luận này không tránh khỏi còn nhiều khiếm khuyết Rất mong thầy cô đóng góp ý kiến giúp em có thể
hoàn thiện nghiên cứu của mình Trong thời gian hoàn thành đề tài em đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn Ths Lê Thanh Thủy Cô đã chỉ bảo tận tình cho em về mặt nội dung, phương pháp luận và cách thức tiếp cận vấn đề một cách khoa học nhất Qua bài viết này, em xin chân thành cảm
ơn cô đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2012.
Trang 8CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC LÀM VÀ LAO
ĐỘNG
1.1 Lý luận chung về việc làm.
1.1.1 Khái niệm và phân loại.
1.1.1.1 Khái niệm.
Khái niệm việc làm:
Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải quyết việc làm là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm Với tầm quan trọng như vậy, việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như kinh tế, xã hội học, lịch sử… Khi nghiên cứu dưới góc độ lịch sử thì việc làm liên quan đến phương thức lao động kiếm sống của con người và xã hội loài người Các nhà kinh tế coi sức lao động thông qua quá trình thực hiện việc làm của người lao động là yếu tố quan trọng của đầu tư vào sản xuất và xem xét thu nhập của người lao động từ việc làm
Ở Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực nhà nước và kinh tế tập trung Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh
tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp…
Ngày nay các quan niệm về việc làm đã được hiểu rộng hơn, đúng đắn và khoa học hơn Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật Điều 13 chương II, Bộ luật lao động
Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn
thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện:
- Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và các thành viên trong gia đình
Trang 9- Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Hai điều kiện này có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm Quan niệm này đã góp phần mở rộng quan niệm về việc làm, khi đa số lao động đương thời chỉ muốn chen chân vào trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước Về mặt khoa học, quan điểm của Bộ luật lao động đã nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm
Thiếu việc làm
Khi nguồn lao động được huy động, sử dụng không hiệu quả thì tình trạng thiếu việc làm sẽ xảy ra, dẫn đến thu nhập người lao động thấp, giảm mức sống con người Đồng thời đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội, thậm chí tạo ra các xung đột rối loạn về mặt an ninh chính trị… Chính vì vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống, xóa đói giảm nghèo trở nên có ý nghĩa to lớn, được quan tâm trong các mô hình phát triển hiện nay ở mọi quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Thiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp
Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người lao động Họ phải làm việc nhưng không sử dụng hết thời gian theo quy định hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, không đủ sống khiến họ muốn tìm thêm việc làm bổ sung
Như vậy, thiếu việc làm được hiểu là trạng thái việc làm không tạo điều kiện cho người lao động sử dụng hết thời gian quy định và mang lại thu nhập thấp hơn mức tiền lương tối thiểu
Theo tổ chức lao động thế giới (ILO), thiếu việc làm được thể hiện dưới hai dạng: Thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình
- Thiếu việc làm vô hình là trạng thái những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian, thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp Có thể nói, nguyên nhân của tình trạng này do dân số không ngừng tăng trong khi diện tích đất canh tác có nguy cơ thu hẹp làm dư thừa lao động Số người lao động trên một đơn vị diện tích tăng có nghĩa là thời gian sử dụng để sản xuất ra một đơn vị
Trang 10sản phẩm giảm Trên thực tế, họ vẫn làm việc nhưng sử dụng rất ít thời gian trong sản xuất nên thời gian nhàn rỗi nhiều.
- Thiếu việc làm hữu hình chỉ hiện tượng lao động làm việc thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm, đang tìm kiếm thêm việc làm và sẵn sàng làm việc
Thất nghiệp
Gắn với khái niệm việc làm là khái niệm thất nghiệp Trong bất kỳ nền kinh tế nào dù có sử dụng lao động đến mức tốt nhất thì xã hội vẫn tồn tại thất nghiệp Thất nghiệp là hiện tượng mà người lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động muốn làm việc nhưng lại chưa có việc làm và đang tích cực tìm việc làm.Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau, thất nghiệp được chia thành các loại như sau:
- Xét về nguồn gốc thất nghiệp, có thể chia thành:
+ Thất nghiệp tạm thời: Xảy ra do thay đổi việc làm hoặc do cung cầu lao động không phù hợp
+ Thất nghiệp cơ cấu: Xuất hiện do không có sự đồng bộ giữa tay nghề và cơ hội có việc làm khi động thái của nhu cầu và sản xuất thay đổi
+ Thất nghiệp do thời vụ: Xuất hiện như là kết quả của những biến động thời
vụ trong các cơ hội lao động
+ Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng sản lượng của nền kinh tế Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh, tổng giá trị sản xuất giảm dần dẫn tới hầu hết các nhà sản xuất giảm lượng cầu đối với các yếu
tố đầu vào, trong đó có lao động Đối với loại thất nghiệp này, những chính sách nhằm khuyến khích để tăng tổng cầu thường mang lại kết quả tích cực
- Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp bao gồm:
+ Thất nghiệp tự nguyện là loại thất nghiệp xảy ra khi người lao động bỏ việc để tìm công việc khác tốt hơn hoặc chưa tìm được việc làm phù hợp với nguyện vọng.+ Thất nghiệp không tự nguyện là loại thất nghiệp xảy ra khi người lao động chấp nhận làm việc ở mức tiền lương, tiền công phổ biến nhưng vẫn không tìm được việc làm
- Ở các nước đang phát triển, người ta chia thất nghiệp thành thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp vô hình
Trang 11+ Thất nghiệp hữu hình xảy ra khi người có sức lao động muốn tìm kiếm việc làm nhưng không tìm được trên thị trường
+ Thất nghiệp vô hình hay còn gọi là thất nghiệp trá hình là biểu hiện chính của tình trạng chưa sử dụng hết lao động ở các nước đang phát triển Họ là những người có việc làm trong khu vực nông thôn hoặc thành thị không chính thức nhưng việc làm đó có năng suất thấp, những người này đóng góp rất ít hoặc không đáng kể vào phát triển sản xuất
Tạo việc làm
Có thể hiểu tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường
Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình người lao động làm việc Người lao động làm việc không chỉ tạo ra thu nhập cho riêng họ
mà còn tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội Vì vậy, tạo việc làm không chỉ
là nhu cầu chủ quan của người lao động mà còn là yếu tố khách quan của xã hội
Ta có thể biểu thị mối quan hệ giữa việc làm với một số nhân tố cơ bản qua hàm số sau:
Y= f(C, V, X… )Trong đó: Y: Số lương việc làm được tạo ra
C: Vốn đầu tư
V: Sức lao động
X: Nhu cầu của thị trường về sản phẩm…
Trong đó quan trọng nhất là các yếu tố đầu tư (C) và sức lao động (V) Hai yếu tố này hợp thành năng lực sản xuất Sức lao động là khả năng, trí lực và thể lực của con người Đó là tri thức, sức khỏe, kỹ năng, kinh nghiệm… Theo C.Mác: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất hay tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong mỗi con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” Nói đến sức lao động ta phải nói đến số lượng và chất lượng lao động Nếu một người lao động có sức khỏe tốt,
có đầu óc suy nghĩ thông minh , sáng tạo thì công việc mà họ được giao sẽ được hoàn thành tốt, sản phẩm mà họ sản xuất ra sẽ đủ yêu cầu chất lượng Để tạo việc
Trang 12làm cho người lao động thì sức lao động là yếu tố quan trọng nhất Một công việc được thực hiện khi có con người và con người đó chỉ làm việc được khi có đủ sức lao động Mối quan hệ giữa C và V phụ thuộc vào tình trạng công nghệ và tồn tại dưới dạng khả năng Để chuyển hóa khả năng đó thành hiện thực đòi hỏi những điều kiện nhất định Đó là những điều kiện kinh tế, xã hội, thông qua hệ thống các chính sách của Nhà nước như chính sách thu hút người lao động, qua việc phát triển các ngành nghề, chính sách vay vốn…
Mặt khác, nhu cầu của thị trường về sản phẩm sản xuất ra cũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tạo việc làm Nếu sản phẩm sản xuất ra được đưa ra thị trường đảm bảo về chất lượng và số lượng mà thị trường chấp nhận, sản phẩm tiêu thụ được sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, các doanh nghiệp sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đi đôi với mở rộng sản xuất là cầu về lao động tăng lên Ngược lại, khi cầu về sản phẩm hàng hóa giảm sẽ làm ngừng trệ sản xuất làm cho lao động không có việc làm và dẫn đến tình trạng thất nghiệp
Ngoài ra, tỷ lệ tăng dân số và nguồn nhân lực cũng ảnh hưởng đến vấn đề lao động và tạo việc làm cho người lao động Dân số và lao động là hai vấn đề có quan
hệ rất chặt chẽ với nhau, quy mô dân số càng lớn thì nguồn lao động càng nhiều và ngược lại Khi nguồn lao động càng lớn lại là sức ép đối với công tác tạo việc làm cho người lao động bởi vì: Khi cung về lao động lớn sẽ tạo ra một lượng lao động
dư thừa cần giải quyết việc làm Ngược lại khi cầu lao động lớn hơn cung lao động
sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động tham gia vào các ngành kinh tế
1.1.1.2.Phân loại việc làm.
Việc làm được phân loại theo các mức độ sau:
- Phân loại việc làm dựa theo mức độ đầu tư thời gian cho việc làm:
+ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác
+ Việc làm phụ là những việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất sau việc làm chính
- Phân loại việc làm dựa theo mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất
và thu nhập
Trang 13+ Việc làm đầy đủ là sự thỏa mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu là mức độ sử dụng thời gian lao động, mức năng suất và thu nhập Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động làm việc theo chế độ (độ dài thời gian lao động ở Việt Nam hiện nay là 8 giờ/ngày).
+ Việc làm có hiệu quả là việc làm với năng suất, chất lượng cao Đối với tầm
vĩ mô việc làm có hiệu quả còn là vấn đề sử dụng hợp lí nguồn lao động, tức là tiết kiệm được chi phí lao động, tăng năng suất lao động, bảo đảm chất lượng của các sản phẩm làm ra và tạo ra nhiều chỗ làm việc để sử dụng hết nguồn nhân lực
1.1.2 Đặc điểm của việc làm ở nông thôn.
1.1.2.1 Sản xuất nông nghiệp là cơ bản.
Từ bao đời, người nông dân Việt Nam quen với lối sống thuần nông gắn với những sản phẩm độc canh và kỹ thuật canh tác lạc hậu, nên đại bộ phận lao động nông thôn chỉ thạo duy nhất nghề nông, không có hoặc có rất ít sự hiểu biết về các lĩnh vực kinh doanh phi nông nghiệp Điều này đã làm hạn chế tính chủ động, dám nghĩ dám làm của người nông dân trong việc tìm nghề mới, nhất là các nghề phi nông nghiệp
Lực lượng lao động của xã hội phân bổ không đều giữa các ngành, tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, trong nông nghiệp thì trồng trọt lại chiếm phầm lớn, chăn nuôi với cơ cấu quá nhỏ
Nền kinh tế nông nghiệp truyền thống đã hình thành và phát triển từ xa xưa, cùng với lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước của dân tộc Nó gắn liền với quá trình khai hoang lấp ấp, phát triển sản xuất, mở mang văn hóa xã hội và đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên của các cộng đồng dân cư Sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực tạo việc làm truyền thống và thu hút nhiều lao động của nông dân tại các vùng nông thôn
1.1.2.2 Chủ yếu là các công việc giản đơn, thủ công.
Hiện nay những việc làm ở nông thôn chủ yếu là những công việc đơn giản, thủ công, ít đòi hỏi tay nghề cao với tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và công cụ cầm tay, dễ dàng sử dụng, học hỏi và chia sẻ Theo số liệu thống kê năm 2010 của Tổng cục thống kê, việc làm giản đơn, không cần kỹ năng chiếm gần 40% tổng việc làm của cả nước Ở khu vực thành thị tỷ lệ này là 18,1% nhưng khu vực nông thôn
Trang 14thì cao hơn rất nhiều, chiếm gần 50% tổng việc làm.Vì thế mà khả năng thu hút lao động cao, tuy nhiều sản phẩm được làm ra với chất lượng thấp, mẫu mã không thu hút người tiêu dùng, năng suất lao động thấp từ đó đã làm cho thu nhập bình quân của lao động tại các vùng nông thôn thấp, dẫn đến tỷ lệ nghèo đói cao so với khu vực thành thị
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm của lao động và lao động nông thôn.
1.1.3.1 Nhân tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái.
Như ta đã biết vị trí địa lí của nước ta trải dài 15 vĩ độ Diện tích phần lớn là đồi núi và cao nguyên (chiếm 3/4 diện tích cả nước), vị trí địa hình chia cắt phức tạp, điều kiện thời tiết khí hậu khác nhau Nếu như ở Miền Bắc nắng nóng mưa nhiều thì Miền Nam khí hậu lại ôn hòa còn Miền Trung thì nắng nóng khô hạn hơn Mặt khác trong những năm gần đây hạn hán lũ lụt thường xảy ra Do đó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn nói chung và vấn đề giải quyết việc làm nói riêng Thực tế cho thấy ở đâu có điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái thuận lợi, sẽ có nhiều dự án, nhiều chương trình kinh tế-xã hội được đầu tư
và như vậy nơi đó sẽ có điều kiện hơn trong giải quyết việc làm cho người lao động Ngược lại, không thể có sự thuận lợi trong giải quyết việc làm tại chỗ đối với người lao động sống ở những nơi điều kiện tự nhiên bất lợi (sa mạc, vùng băng giá, vùng núi cao, hải đảo…)
Giải quyết việc làm vừa là nhiệm vụ bức xúc, vừa là chiến lược lâu dài Vấn
đề đặt ra là phải đảm bảo cho môi trường nhân tạo hòa hợp với môi trường thiên nhiên, coi đây là một mục tiêu chính quan trọng trong giải quyết việc làm, đồng thời phải có giải pháp khác phục tác động với thiên tai, sự biến động khí hậu bất lợi và hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường sinh thái nước ta Vấn đề này cần được xuyên suốt trong toàn bộ chiến lược về việc làm thể hiện trong từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực, từng cộng đồng dân cư để con người thực sự làm chủ được môi trường sống của mình hoặc hạn chế được đến mức thấp nhất những tác động xấu của biến động môi trường Như vậy, bảo vệ và cải thiện môi trường không chỉ là mục tiêu trong giải quyết việc làm mà còn là điều kiện để phát triển bền vững
1.1.3.2.Nhân tố về dân số.
Trang 15Dân số, lao động, việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy mô hợp
lí là nguồn cung cấp nguồn nhân lực vô giá Tuy nhiên, nếu dân số phát triển quá nhanh, quy mô phát triển quá lớn, vượt quá khả năng đáp ứng và yêu cầu của xã hội thì tăng trưởng dân số không phải là yếu tố tích cực mà lại là gánh nặng cho nền kinh tế
Mức sinh, mức chết, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hướng đến quy mô của lực lượng lao động Nếu mức sinh cao dẫn đến gia tăng dân số nhanh chóng số lượng người trong độ tuổi lao động trong tương lai
Ngoài ra, vấn đề di dân và các áp lực kinh tế-xã hội và chính trị còn nguy hiểm hơn so với tỷ lệ gia tăng dân số nhanh chóng Quá trình đô thị hóa gây ra hậu quả trực tiếp đến vấn đề việc làm, để có thể thu hút hết số lao động này, cần phải nhanh chóng tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc Một vấn đề khác là chất lượng của số lao động này về học vấn, đào tạo, trình độ nghề nghiệp không đáp ứng được với yêu cầu công việc trong khu đô thị Do đó, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ tăng lên
Trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, việc khống chế mức tăng dân số được gắn với vấn đề sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm Nhìn chung, giảm tỷ lệ gia tăng dân số cũng có nghĩa là có sự đầu tư cao hơn vào các lĩnh vực giáo dục, sức khỏe và các dịch vụ xã hội
1.1.3.3 Nhân tố về chính sách vĩ mô.
Để giải quyết việc làm cho người lao động, vấn đề quan trọng nhất là nhà nước phải tạo ra các điều kiện và môi trường thuận lợi để người lao động tự tạo việc làm trong cơ chế thị trường thông qua những chính sách cụ thể Có thể có rất nhiều chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc làm, hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp nhau Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
- Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, hình thức và vùng có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường như: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách phát triển khu vực phi kết cấu,
Trang 16chính sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính sách khôi phục và phát triển làng nghề…
- Nhóm chính sách chung có quan hệ và tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lao động toàn xã hội: Chính sách về vốn, chính sách đất đai, chính sách thuế
- Cơ cấu kinh tế là quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau để phát triển trong điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội Cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ quyết định việc khai thác
và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, vốn, sức lao động và cả cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, quyết định tốc độ phát triển kinh tế hàng hóa nông thôn Khi kinh tế nông thôn phát triển sẽ dẫn tới nhu cầu về việc làm ở nông thôn cao hơn và tạo thêm việc làm cho người lao động nông thôn
- Nhóm chính sách việc làm cho các đối tượng là người có công và chính sách xã hội đặc biệt khác như: Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người tàn tật, đối tượng xã hội…
- Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, nhưng phương thức và biện pháp giải quyết việc làm mang nội dung kinh tế, đồng thời liên quan đến những vấn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như: Tạo môi trường pháp lý, vốn lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trong chính sách giải quyết việc làm, một nguyên tắc cơ bản cần phải được chú ý, đó là đảm bảo cho mọi người được tiếp cận với cơ hội việc làm, trên cơ sở đó đảm bảo cho mọi người được tiếp cận với cơ hội làm việc, trên cơ sở Nhà nước tạo những điều kiện thuận lợi cho mọi người có cơ hội chủ động tìm kiếm việc làm, chống tư tưởng ỷ lại vào nhà nước, tránh thực hiện chủ nghĩa bình quân, chia đều việc làm với thu nhập thấp Đồng thời cũng chống việc coi nhẹ trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, khiến cho tình trạng thất nghiệp trở thành vấn đề xã hội gay cấn Cần gắn tiêu chuẩn về mức thu hút lao động của doanh nghiệp trong chính sách khuyến khích hoặc hỗ trợ doanh nghiệp
Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, song phương thức và biện pháp tạo việc làm lại mang nội dung kinh tế, đồng thời liên quan đến những vấn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa
Trang 17chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ Vì thế bất cứ chính sách kinh tế xã hội nào của nhà nước đều có ảnh hưởng và tác động đến vấn
đề giải quyết việc làm cho người lao động
1.1.3.4 Nhân tố liên quan đến giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ.
- Về giáo dục đào tạo
Giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản để đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội Giáo dục và đào tạo nhằm định hướng phát triển, trước hết cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động mới đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để đảm bảo việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước Việc làm của lao động nông thôn gắn liền với đồng ruộng Tuy nhiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu kinh tế nước ta chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp Điều này dẫn đến việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo diện tích đất canh tác của người nông dân giảm đi Do đó cơ hội sống bằng nghề nông trên ruộng đất cũ của người nông dân càng ít đi, họ phải chuyển sang tìm việc trong các khu công nghiệp, nhà máy Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn hạn chế là những trở ngại làm giảm khả năng tiếp cận các cơ hội việc làm của lao động nông thôn Do đó, để tạo việc làm cho người lao động nông thôn cần chú trọng đầu
tư vào giáo dục-đào tạo Giáo dục-đào tạo sẽ giúp cho người lao động nông thôn có
đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc Người lao động nông thôn qua quá trình đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân công sắp xếp
- Về khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ đã làm biến đổi cơ cấu đội ngũ lao động Bên cạnh những ngành nghề truyền thống đã xuất hiện những ngành nghề mới và cùng với nó là xu hướng tri thức hóa công nhân, chuyên môn hóa lao động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc Vốn đầu tư cho khoa học công nghệ là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tạo việc làm Vốn đầu tư tăng thì tạo ra nhiều chỗ làm việc mới và ngược lại đầu tư ít thì quy mô bị thu nhỏ lại kéo theo sự giảm đi về số lượng việc làm được tạo ra Do đó đầu tư cho khoa học công nghệ là một vấn đề rất
Trang 18quan trọng để tạo việc làm Nhất là ở nông thôn, khu vực có tri thức và thông tin khoa học hiện đại không được chuyển giao một cách có hệ thống dẫn đến lao động thiếu kiến thức nên khó chuyển giao được khoa học công nghệ.
Trong nền kinh tế phát triển, người lao động muốn thích ứng với các công việc
mà xã hội yêu cầu, trước hết họ phải là những người được trang bị một kiến thức nhất định về khoa học công nghệ Tuy nhiên trong thực tế ở những nước sản xuất kém phát triển thường có mâu thuẫn: Nếu công nghệ sản xuất tiên tiến với các dây chuyền sản xuất tự động hóa, chuyên môn hóa cao thì trình độ người lao động chưa bắt kịp dễ dẫn đến tình trạng một bộ phận người lao động bị gạt ra khỏi qua trình sản xuất kinh doanh Vì thế vấn đề lựa chon áp dụng mức độ công nghệ nào trong dây truyền kinh doanh phải tính toán thận trọng, bởi vì chính sách khoa học công nghệ có tác động mạnh mẽ đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động
1.1.4 Vai trò của việc làm đối với lao động nông thôn.
1.1.4.1 Đối với bản thân người lao động.
Tạo việc làm cho người lao động là vấn đề cấp bách của toàn xã hội, nó thể hiện vai trò của xã hội đối với người lao động, sự quan tâm của xã hội về đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và hạn chế được những phát sinh tiêu cực cho xã hội do thiếu việc làm gây ra Việc làm đối với lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển, là yếu tố khách quan của người lao động Con người tồn tại phải được tiêu dùng một tư liệu sinh hoạt nhất định như: Thức ăn,
đồ mặc, nhà ở, học tập, phương tiện đi lại… Để có những thứ đó con người phải sản xuất và tái sản xuất với quy mô ngày càng mở rộng Như vậy, để tồn tại và phát triển, con người bằng sức lao động của mình là yếu tố của quá trình sản xuất, là lực lượng sản xuất cơ bản nhất tạo ra giá trị hàng hóa dịch vụ
Tạo việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với người lao động đặc biệt là đối tượng lao động nông thôn Việt Nam có hơn 70,4% người lao động xuất thân từ nông thôn, về trình độ chuyên môn kỹ thuật còn hạn chế Do đó, giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
Tại nhiều làng quê, vấn đề dư thừa lao động trở nên đáng báo động Tình trạng thanh niên ở các làng quê không có việc làm thường xuyên chơi bời lêu lổng
Trang 19dẫn đến sa ngã vào tệ nạn xã hội; Nhiều thanh niên phải rời bỏ làng quê lên thành phố vất vả tìm việc làm thuê; Nhiều làng nghề truyền thống mai một đẩy nhiều lao động nông thôn đến tình cảnh thất nghiệp… Không có việc làm hoặc việc làm bấp bênh, năng suất lao động thấp, hiệu quả sản xuất kém dẫn đến thu nhập không ổn định, khiến cho việc đầu tư tái sản xuất ở khu vực nông thôn gặp nhiều khó khăn Ruộng đất ít, lao động dư thừa, việc làm thiếu và thu nhập thấp, đời sống nông dân còn nghèo, khoảng cách chênh lệch nông thôn và thành thị có xu hướng tăng Vì vậy vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để tạo việc làm cho lao động nông thôn là mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
1.1.4.2 Đối với cộng đồng.
Lịch sử phát triển xã hội loài người cho thấy bất cứ một quốc gia nào đều có nhu cầu sử dụng hợp lý nguồn lao động của mình để khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế của đất nước Người lao động là một nguồn lực quan trọng,
là một trong những yếu tố cơ bản để phát triển Mọi chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn trong lĩnh vực kinh tế phải tập trung phát huy cao độ khả năng của nguồn lực quan trọng đó Nếu có những sai phạm về chủ trương, chính sách và biện pháp thì nguồn lao động rất có thể trở thành gánh nặng, thậm chí gây trở ngại, tổn thất cho nền kinh tế
Giải quyết việc làm là cơ sở để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, giải quyết việc làm không chỉ làm trách nhiệm của cơ quan trực tiếp liên quan đến lao động, việc làm mà còn là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và cả bản thân người lao động Điều 13, Chương II,
Bộ lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nêu rõ: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội”
1.2 Khái niệm về lao động và nguồn lao động nông thôn.
1.2.1 Khái niệm chung về lao động nông thôn.
1.2.1.1 Lao động.
Trang 20Khái niệm về lao động có nhiều cách tiếp cận nhưng suy đến cùng lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với con vật bởi vì: Khác với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống con người Theo C.Mác “lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất
tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa và
xã hội Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào Như vậy động lực của quá trình phát triển kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-
xã hội Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên Trước hết giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người Vai trò của người lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng là rất quan trọng
1.2.1.2 Lực lượng lao động.
Trên thế giới có rất nhiều quan niệm về lực lượng lao động Nhà kinh tế học David Begg cho rằng lực lượng lao động có đăng ký bao gồm số người có công ăn việc làm cộng với số người thất nghiệp có đăng ký
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không
có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm
Theo thuật ngữ về lĩnh vực lao động của Bộ lao động Thương binh và xã hội Việt Nam thì “lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế; lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn lao động”
Trang 21Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
Lực lượng lao động theo quan niệm của tổ chức lao động Quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp
1.2.1.3 Nguồn lao động.
Theo giáo trình kinh tế phát triển của trường Đại học Kinh tế quốc dân (2005, tr.167) đưa ra khái niệm: “nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân”
- Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân
Nguồn lao động về mặt số lượng bao gồm:
+ Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm
+ Và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước độ tuổi quy định)
Nguồn lao động xét về mặt chất lượng, cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động
- Khái niệm về nguồn lao động nông thôn
Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động
Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm Tuy nhiên, do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất
Trang 22nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm
ở nông thôn
1.2.2 Đặc điểm nguồn lao động nông thôn.
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với đặc điểm của các ngành khác Vì vậy, lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác với lao động ở các ngành kinh tế khác, cụ thể nó biểu hiện ở các mặt sau:
1.2.2.1 Lao động mang tính thời vụ.
Đây là đặc điểm đặc thù không thể bỏ qua được của lao động nông thôn Nguyên nhân của nét đặc thù trên là do: đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng vật nuôi, chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên
và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau
Cùng một loại cây trồng vật nuôi ở những vùng khác nhau có điều kiện tự nhiên khác nhau cũng có quá trình sinh trưởng và phát triển khác nhau Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xóa bỏ được Trong quá trình sản xuất chúng ta chỉ có thể tìm cách làm giảm tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp Từ đó đặt ra vấn đề cho việc sử dụng lao động nông thôn một cách hợp lí và có ý nghĩa rất quan trọng
1.2.2.2 Chất lượng nguồn lao động nông thôn chưa cao.
Chất lượng của người lao động được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe
- Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật: Nguồn lao động ở nước ta đông
về số lượng nhưng sự phát triển về nguồn nhân lực nước ta còn nhiều hạn chế, nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe trong bối cảnh đất nước đang hội nhập kinh tế quốc tế
Lao động nông thôn chiếm hơn ¾ lao động của cả nước Tuy vậy nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn chưa phát huy hết tiềm năng do trình độ chuyên môn của lao động thấp, kỹ thuật lạc hậu Do đó, để có một nguồn lao động với trình
Trang 23độ chuyên môn kĩ thuật cao thì nhà nước cần phải có chính sách đào tạo bồi dưỡng
để có nguồn nhân lực đủ để phát triển đất nước
- Về sức khỏe
Sức khỏe của người lao động liên quan đến lương calo tổi thiểu cung cấp cho
cơ thể mỗi ngày, môi trường sống, môi trường làm việc… Nhìn chung lao động nông thôn nước ta do thu nhập thấp dẫn đến các nhu cầu thiết yếu hằng ngày chưa đáp ứng được một cách đầy đủ Vì vậy, sức khỏe của nguồn lao động cả nước nói chung và của nguồn lao động nông thôn nói riêng là chưa tốt
1.2.2.3 Lao động mang tính kế thừa.
Hoạt động sản xuất của nông thôn chủ yếu dựa vào những phương thức truyền thống, vào tập quán kinh nghiệm và thói quen sản xuất của mỗi làng, mỗi cộng đồng hay hộ gia đình Không ít những tri thức, kinh nghiệm sản xuất tương thích với nền sản xuất nhỏ, dựa vào tự nhiên đã được đúc kết, lưu truyền và trở thành nghề kiếm sống của họ từ đời này sang đời khác Đặc biệt là những tri thức, kinh nghiệm về canh tác cây trồng, chọn giống gia súc, gia cầm, về thời vụ sản xuất
và các điều kiện tự nhiên của sản xuất Còn trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp thì kinh nghiệm sản xuất là một yếu tố không thể thiếu, và thường trở thành những bí quyết của mỗi làng, mỗi hộ gia đình và mỗi cá nhân Sự hình thành và tồn tại lâu dài của các làng nghề truyền thống chính là dựa vào những bí quyết kinh nghiệm của sản xuất được bảo lưu như vậy
1.2.3 Vai trò của nguồn lao động nông thôn.
Lao động là một trong ba nhân tố của bất cứ một quá trình sản xuất nào và trong thời đại ngày nay khi mà các nguồn lực trở nên khan hiếm thì lao động được xem xét là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất Vai trò của nguồn lao động nói chung và nguồn lao động nông thôn nói riêng là rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong đó công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn được đặc biệt quan tâm Lao động nông thôn có vai trò hết sức quan trọng
1.2.3.1 Tham gia vào quá trình phát triển các ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Trang 24Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, nguồn lực trong nông nghiệp có số lượng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động xã hội Song, cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa, nguồn nhân lực trong nông nghiệp vận động theo xu hướng giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối Quá trình biến đổi đó diễn ra theo hai giai đoạn sau:
- Giai đoạn đầu: Diễn ra khi đất nước bắt đầu công nghiệp hóa, nông nghiệp
chuyển sang sản xuất hàng hóa, năng suất lao động nông nghiệp được giải phóng trở nên dư thừa và được các ngành khác thu hút, sử dụng vào hoạt động sản xuất- dịch vụ Nhưng do tốc độ tăng tự nhiên của lao động trong khu vực công nghiệp còn lớn hơn tốc độ thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp, do đó ở thời kỳ này tỷ trọng lao động nông nghiệp nông thôn mới giảm tương đối, số lượng lao động tuyệt đối còn tăng lên Giai đoạn này dài hay ngắn là tùy thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế của đất nước quyết định
- Giai đoạn thứ hai: Nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao, năng suất lao
động nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động xã hội đạt trình độ cao Số lao động dôi ra do nông nghiệp giải phóng đã được ngành khác thu hút hết Vì thế giai đoạn này số lượng lao động ở nông thôn giảm cả tương đối và tuyệt đối
1.2.3.2 Tham gia vào sản xuất lương thực thực phẩm.
Đối với mỗi quốc gia vấn đề về lương thực, thực phẩm là một trong những vấn
đề thiết yếu về chính trị xã hội bởi đó là những sản phẩn thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người không thể thiếu Nếu một đất nước không đảm bảo được vấn đề an ninh lương thực nó sẽ làm xáo trộn mọi hoạt động xấu đến sự phát triển của đất nước Việt Nam là một nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời, dân số sống chủ yếu bằng nghề nông Vì vậy, nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất nông nghiệp là rất đông đảo Cùng với sự đi lên của nền kinh tế và sự gia tăng về dân số thì nhu cầu về lương thực thực phẩm ngày càng gia tăng
Việc sản xuất lương thực thực phẩm chỉ có thể đạt được trong ngành nông nghiệp và sức lao động để tạo ra lương thực, thực phẩm là do nguồn lao động nông thôn cung cấp
Nền kinh tế phát triển gắn với sự phát triển của quá trình đô thị hóa, thu nhập của người dân tăng lên đòi hỏi khối lượng lương thực, thực phẩm ngày càng
Trang 25lớn và yêu cầu về chất lượng cũng ngày càng cao Đẻ có thể đáp ứng đủ về số lượng
và đáp ứng yêu cầu về chất lượng thì nguồn lao động nông thôn phải được nâng cao
về trình độ tay nghề và kinh nghiệm sản xuất
Như chúng ta đã biết vào những năm 1980 của thế kỷ trước hàng năm chúng
ta phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực, và trong những năm đó bình quân lương thực đầu người của chúng ta chỉ đạt 268,2 kg/người/năm Nhưng do chất lượng nguồn lao động nông thôn ngày càng được nâng cao trong những năm sao đó, đặc biệt trong thời gian gần đây như: số lượng, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, học vấn của người lao động ngày càng được nâng lên nên năng suất và sản lượng lương thực tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Không những cung cấp lương thực, thực phẩm ổn định cho nhu cầu trong nước mà hằng năm nước ta đã xuất khẩu nông sản, thu được ngoại tệ đáng kể cho đất nước trong thời gian qua đã tạo điều kiện vật chất cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để việc cung cấp lương thực, thực phẩm ổn định và chất lượng không ngừng được nâng cao thì nguồn lao động nông thôn đóng vai trò hết sức quan trọng
1.2.3.3 Tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Nông-Lâm-Thủy sản.
Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với các yếu tố đầu vào là các sản phẩm mà người lao động nông thôn làm ra Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì phát triển công nghiệp chế biến là rất quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
Như vậy nguồn lao động nông thôn có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của đất nước, nó không chỉ ảnh hưởng tới khu vực nông thôn, lĩnh vực nông nghiệp mà còn tác động đến cả khu vực, lĩnh vực kinh tế khác Do đó mà vấn đề nguồn lao động là một trong những vấn đề cần được quan tâm đứng mức để đinh hướng tác động có hiệu quả
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn cung lao động nông thôn.
1.2.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng lao động.
Dân số
Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động Qui mô và cơ cấu của dân số có ý nghĩa quyết định đến qui mô và cơ cấu của nguồn lao động Các
Trang 26yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự biến động của dân số là: phong tục, tập quán của từng nước, trình độ phát triển kinh tế, mức độ chăm sóc y tế và chính sách của từng nước đối với vấn đề khuyến khích hoặc hạn chế sinh đẻ Từ đó nó ảnh hưởng đến qui
mô dân số, đến nguồn lao động Tình hình tăng dân số trên thế giới hiện nay có sự khác nhau giữa các nước Nhìn chung các nước phát triển có mức sống cao thì tỷ lệ tăng dân số thấp; ngược lại ở những nước kém phát triển thì tỷ lệ tăng dân số cao Hiện nay 3/4 dân số sống ở các nước đang phát triển, ở đó dân số tăng nhanh trong khi đó phát triển kinh tế tăng chậm, làm cho mức sống của dân cư không tăng lên được và tạo ra áp lực lớn trong việc giải quyết việc làm Do đó kế hoạch hóa dân số
đi đôi với phát triển kinh tế là vấn đề quan tâm của các nước đang phát triển trong đó
có Việt Nam Đặc biệt ở nông thôn hiện nay tỷ lệ tăng dân số vẫn cao hơn thành thị
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là phần trăm của dân số trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng lao động trong tổng số nguồn nhân lực Nhân tố cơ bản tác động đến tỷ lệ tham gia lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động Nhưng do đặc điểm của lao động nông thôn bao gồm cả những người trên và dưới độ tuổi lao động vẫn thích hợp với một số công việc và vẫn phát huy được khả năng của họ
Thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp
Thất nghiệp là hiện tượng những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động đang không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc tại thời điểm điều tra Số người không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến số người làm việc và ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của nền kinh tế Thất nghiệp là vấn đề trung tâm của mọi quốc gia vì nó không chỉ tác động về mặt kinh tế mà nó còn ảnh hưởng đến vấn đề
ở các nước đang phát triển biểu hiện tình trạng chưa sử dụng hết lao động người ta
Trang 27sử dụng khái niệm thất nghiệp hữu hình và thất hình trá hình Thất nghiệp trá hình bao gồm bán thất nghiệp và thất nghiệp vô hình Tình trạng này xảy ra phổ biến ở nông thôn của các nước đang phát triển cũng như ở nông thôn Việt Nam.
Dòng di chuyển nông thôn-thành thị
Trước năm 1986 dòng di chuyển nông thôn-đô thị đặc biệt là đô thị lớn được hạn chế tới mức tối đa và chủ yếu dưới dạng phân công công tác Tuy nhiên, cùng với sự thành công của chính sách khoán trong nông nghiệp, việc xóa bỏ chế độ bao cấp trong phân phối, các chính sách cải cách trong khu vực nông nghiệp nông thôn,
sự đô thị hóa và nới lỏng của chế độ hộ khẩu đã tạo nên những dòng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố, thị xã, thị trấn làm thuê dài ngày hoặc chỉ tìm việc làm trong những tháng nông nhàn… để có thu nhập cao hơn Điều đó dẫn đến số lượng lao động ở nông thôn bị giảm sút đồng thời lao động ở thành thị tăng nhanh Mặc khác, do không có trình độ chuyên môn kĩ thuật nên số lao động này cũng chỉ làm những công việc nặng nhọc, bán hàng rong ở thành phố nên thu nhập không cao nhưng cũng giải quyết được vấn đề việc làm trong lúc nông nhàn Tuy nhiên việc lao động nông thôn ra thành phố đông nên đó cũng chính là gánh nặng cho thành phố về các vấn đề như môi trường, an ninh trật tự Do đó vấn đề đặt ra là phải tạo việc làm cho người lao động nông thôn ngay trên chính quê hương của họ, giải quyết việc làm theo xu hướng “ly nông bất ly hương” tạo việc làm để tăng thu nhập ngay trên chính quê hương của họ bằng nhiều biện pháp như: Đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, cho người nghèo vay vốn với lãi xuất ưu đại…
Dòng di chuyển lao động ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
Đây là hiện tượng những người lao động ở nông thôn đi xuất khẩu lao động
Đó là một trong những hướng đi của một số ít người chứ không phải là đa số, bởi vì những người có khả năng đi xuất khẩu lao động ở nông thôn là rất ít và những yêu cầu của nước nhập khẩu lao động là khá cao nên dòng di chuyển này rất ít ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
1.2.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động.
Số lượng lao động mới phản ánh được một mặt sự đóng góp của lao động vào phát triển kinh tế Mặt khác, cần xem xét đến chất lượng nguồn lao động Đó là yếu tố làm cho lao động có năng suất cao hơn Chất lượng lao động có thể được
Trang 28nâng cao nhờ giáo dục, đào tạo, nhờ sức khỏe của người lao động, nhờ bố trí điều kiện lao động tốt hơn.
- Giáo dục được coi là một dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng của con người theo nhiều nghĩa khác nhau Yêu cầu chung đối với giáo dục là rất lớn, nhất là đối với giáo dục phổ thông, con người ở mọi nơi đều tin rằng giáo dục rất có ích cho bản thân mình và con cháu họ Bằng trực giác, mọi người có thể thấy mối quan hệ giữa giáo dục và mức thu nhập Mặc dù không phải là tất cả mọi người lao động, nhưng đa số người lao động đã tốt nghiệp hết cấp III có thu nhập cao hơn những người lao động mới tốt nghiệp cấp I Nhưng để đạt được trình độ giáo dục nhất định cần phải chi phí khá nhiều, kể cả chi phí gia đình và chi phí của quốc gia
Đó chính là khoản đầu tư cho con người Ở các nước đang phát triển, giáo dục được thực hiện dưới nhiều hình thức nhằm không ngừng nâng cao trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật cho mọi người Kết quả giáo dục làm tăng lực lượng lao động
có trình độ tạo khả năng thúc đẩy đổi mới công nghệ Công nghiệp thay đổi càng nhanh càng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vai trò của giáo dục còn được đánh giá qua tác động của nó đối với việc tăng năng suất lao động của mỗi cá nhân nhờ có nâng cao trình độ và tích lũy kiến thức
- Giống như giáo dục, sức khỏe làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cả hiện tại và tương lai, người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trong khi đang làm việc Việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe tốt cho trẻ em sẽ là yếu
tố làm tăng năng suất lao động trong tương lai, giúp trẻ em phát triển thành những người khỏe về thể chất, lành mạnh về tinh thần Hơn nữa điều đó còn giúp trẻ em nhanh chóng đạt được những kĩ năng, kỹ xảo cần thiết cho sản xuất thông qua giáo dục ở nhà trường Những khoản chi cho sức khỏe còm làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lượng bằng việc kéo dài tuổi lao động Ngoài yếu tố giáo dục và sức khỏe, nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động còn có động lực lao động Đây là một nhân tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động Những người lao động ở nông thôn được xem là cần cù, chịu thương chịu khó dó đó ý thức, trách nhiệm lao động của họ là rất tốt
Trang 29CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM KHU VỰC
NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2001-2011
2.1 Đặc điểm kinh tế-xã hội của nông thôn Việt Nam.
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên.
2.1.1.1 Đất đai.
Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất Ở Việt Nam, đất sản xuất nông nghiệp chiếm diện tích lớn Theo Tổng cục thống kê, năm 2009 diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 9598,8 nghìn ha (chiếm 29% diện tích đất sử dụng năm 2009 ) Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp được sử dụng phân bố giữa các vùng chưa đều Theo số liệu điều tra của Tổng Cục thống kê cho thấy hiện trạng sử dụng đất năm 2009 phân theo vùng như sau:
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất phân theo vùng (Tính đến 01/01/2009)
Đơn vị: nghìn ha.
Tổng diện tích
Đất sản xuất nông nghiệp
Tỷ lệ (%)
Bắc Trung Bộ và Duyên hải
Trang 30nghiệp ở Trung du và miền núi phía Bắc lại được sử dụng ít, chỉ có 15% so với diện tích đất sử dụng của vùng đó Trong khi đó, ở đồng bằng sông Hồng diện tích đất đai là 2106,3 (nghìn ha) nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp lại chiếm 37,7% diện tích đất sử dụng của vùng đó Từ đây có thể thấy dân số đông tập trung ở thành thị và đồng bằng rất lớn song đất dùng để sản xuất nông nghiệp ở đây lại ít mà chủ yếu dùng vào mục đích khác
2.1.1.2 Dân số.
So sánh sự biến đổi dân số nông thôn và đô thị trong thập kỉ đầu tiên của thế
kỷ 21, có thể thấy mức tăng dân số đô thị cao gấp 4-5 lần mức tăng dân số nông thôn trong các năm 2000-2002 và tỷ lệ này tăng nhanh gấp 20-25 lần vào năm 2003-2004, và gấp 10 lần trong các năm 2005-2007
Bảng 2.2 Tỷ lệ tăng dân số đô thị và nông thôn, 2000-2010.
Đơn vị: %
Tổng số (%) Tỷ lệ tăng dân số đô
thị (%)
Tỷ lệ tăng dân số nông thôn (%)
% tăng trưởng dân số nông thôn
Trang 31Nguồn: Liên Hợp Quốc, 2010.
Vào giữa thế kỷ trước, dân số nông thôn chiếm 88,4%, và giảm xuống còn 69,6%, vào năm 2010 (tương đương với kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009), và sẽ chỉ còn 41% vào năm 2050 Như vậy theo dự báo của Liên Hợp Quốc, sau một thế kỷ dân số nông thôn nước ta giảm hơn một nửa (từ 88,4% xuống còn 41%) Trong các năm 1960-1985, dân số nông thôn tăng nhanh nhất đạt trên 2% Đây là giai đoạn mà chính sách Dân số-Kế hoạch hóa gia đình chưa đạt mục tiêu như mong muốn Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa thời kì này diễn ra chậm, vì đất nước đang trong thời kì chiến tranh và sau đó là những năm khôi phục hậu quả chiến tranh Từ năm 2015 trở đi, dân số nông thôn sẽ tăng trưởng âm, và tỷ lệ âm đạt mức cao nhất vào năm 2050 (giảm 1,62%)
.Số liệu Tổng cục Thống kê cho thấy mức giảm dân số nông thôn Việt Nam nhanh hơn và sớm hơn so với số liệu của Liên Hợp Quốc Số hộ nông thôn cả nước tại thời điểm 01/07/2011 là 15,35 triệu hộ, tăng 1,58 triệu hộ so với năm 2006, trong
đó tăng nhanh nhất là vùng Đông Nam Bộ (tăng 26,74%) và Tây Nguyên (tăng
Trang 3217,5%) Tốc độ tăng hộ nông thôn thời kì 2006-2011 cao hơn hẳn thời kì 2001-2006 (tăng 0,7 triệu hộ tương ứng với 5,4%).
2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội.
2.1.2.1 Thu nhập.
Trước khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới kinh tế, kinh tế nông nghiệp nông thôn rất thấp trong khi là khu vực thu hút nhiều lao động nông thôn nhất Một
số nguyên nhân là: Nước ta vừa trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt đã làm cho kinh
tế Việt Nam nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng suy sụp Thứ hai, hình thức
sở hữu lúc đó là sở hữu nhà nước mang tính bao cấp nên không phát huy được năng lực của mỗi các nhân, mỗi hộ gia đình dẫn đến phát triển chậm chập Thứ ba, do trình độ kỹ thuật của lao động nông thôn còn kém nên trong nông nghiệp hình thức lao động chủ yếu là lao động giản đơn chưa áp dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, chi phí thời gian lao động nhiều nên việc phát triển công nghiệp và dịch vụ còn chậm chạp
Nhưng kể từ sau khi đổi mới kinh tế, xu hướng tự do hóa kinh tế trong nông nghiệp, sự thừa nhận chính thức các thành phần kinh tế tư nhân và ngoài quốc doanh
đã phát huy được những nguồn lực vốn có của người nông dân (trong đó có nguồn nhân lực) Sự phát triển kinh tế tư nhân và ngoài quốc doanh đã phát huy được những nguồn lực vốn có của người nông dân (trong đó có nguồn nhân lực) Sự phát triển của kinh tế hộ và hình thức phát triển tất yếu của kinh tế hộ-kinh tế trạng trại, sự phát triển của các hộ sản xuất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn trong các ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ là những yếu tố quyết định tạo nên sự tăng trưởng lâu dài và ổn định của nông nghiệp Sự tăng trưởng nông nghiệp, quá trình các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn đã tạo thêm việc làm mới, thu hút nhiều lao động Theo điều tra mức sống dân cư Việt Nam năm 2008 ta có bảng sau:
Bảng 2.4: Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo nguồn thu.
Đơn vị: 1000 VND
Chung
Thu nhập
từ tiền lương
Thu nhập
từ nông nghiệp
Thu nhập
từ lâm nghiệp
Thu nhập
từ Thủy sản
Thu nhập
từ công nghiệp
Thu nhập
từ xây dựng
Thu nhập
từ thương nghiệp
Thu nhập
từ dịch vụ
Nguồn khác.
Thành
thị. 1058,4 453,8 46,7 0,8 10,6 63,6 8.0 129,2 116,0 229,6
Trang 33vì sao đa số người nghèo sống ở nông thôn và làm nông nghiệp là nghề chính.
Theo báo cáo sơ bộ kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 của tổng cục thống kê thu nhập trong số hộ ở khu vực nông thôn, số hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp chiếm 62,1% nhưng số hộ có nguồn thu nhập lớn nhất từ hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp (diêm nghiệp là hoạt động sản xuất và khai thác muối) chỉ chiếm 57,8% Cũng trong tổng số hộ ở nông thôn, số hộ công nghiệp, xây dựng (không bao gồm hộ diêm nghiệp) chiếm 14,7% và số hộ có nguồn thu nhập lớn nhất từ các hoạt động công nghiệp và xây dựng lại chiếm 16,7% Hai tỷ lệ tương ứng của hộ dịch vụ là 18,4% và 19,3% Như vậy, thu nhập của người lao động nông thôn từ nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn là chủ yếu nhưng hoạt động mang lại nguồn thu lớn cho người lao động nông thôn lại từ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Kết quả này cho thấy hiệu quả sản xuất của ngành nghề công nghiệp và dịch vụ cao hơn so với các hoạt động nông, lâm nghiệp, thủy sản
2.1.2.2 Văn hóa.
Ngày nay, thực trạng đời sống văn hóa nông thôn thể hiện hết sức đa dạng và phong phú, rõ nhất ở nhu cầu văn hóa và hoạt động văn hóa của người nông thôn Nhu cầu văn hóa là một vấn đề quan trọng trong đời sống tinh thần của con người nói chung, của người dân nông thôn nói riêng Để đáp ứng được nhu cầu văn hóa cần phát triển hoạt động văn hóa Hoạt động văn hóa ở nông thôn có một số điều đáng chú ý
- Người nông thôn đánh giá rất cao hoạt động của truyền hình Kế đó là hoạt động thông thin báo chí Trong thời đại giao lưu, mở cửa và kinh tế thị trường, các
Trang 34phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò to lớn trong đời sống cũng như việc hưởng thụ văn hóa của người nông thôn Các hoạt động thư viện, bảo tàng, hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp chưa thực sự có chất lượng, chưa gắn bó được với đời sống người nông thôn nên chưa được ưa thích và ít phát huy tác dụng
- Có thể thấy, người dân nông thôn, muốn tăng cường hoạt động văn hóa và
do đó, gia tăng mức độ hưởng thụ văn hóa gắn liền với nhiều hình thức hoạt động, trong đó nổi bật là đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa, tổ chức văn nghệ quần chúng ở địa phương, phát triển phong trào xây dựng làng văn hóa, xây dựng khu vui chơi giải trí… Như vậy người nông dân đánh giá cao các hình thức tạo điều kiện cho dân tự làm văn hóa Các hoạt động tổ chức dịch vụ văn hóa, sưu tầm nghiên cứu văn hóa dân gian, thông tin lưu động được đánh giá vừa phải, mặc
dù đây là hoạt động vô cùng quan trọng để góp phần xây dựng văn hóa nông thôn
Có thể nói, những hình thức hoạt động mà người dân nông thôn có thể tham gia là những hoạt động được họ chú ý quan tâm, phù hợp với định hướng xã hội hóa văn hóa và xây dựng văn hóa cơ sở ở nông thôn
- Cưới xin là một sinh hoạt văn hóa gắn bó với đời sống mỗi con người, mỗi gia đình Đây là một hoạt động không thể thiếu trong cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng người dân nông thôn Đám cưới ở nông thôn hiện nay có rất nhiều yếu tố xuất hiện Những yếu tố được nhiều người chú ý làm theo là: lễ gia tiên, lễ ăn hỏi, lễ lại mặt, lễ chạm ngõ… còn các yếu tố khác ít được quan tâm Có thể nói hoạt động cưới xin ở nông thôn đã có được những bước chuyển biến đáng kể, đỡ tốn kém, gọn gàng, không gây ảnh hưởng phức tạp cho xã hội và theo đời sống mới Tuy nhiên, hiện nay ngoài sự kết hợp hài hòa cũ mới, hiện tượng cưới xin ở nông thôn đang tái xuất hiện một số yếu tố như ăn uống linh đình, rượu chè, bài bạc… là vấn đề nảy sinh cần chú ý Cưới theo nếp sống mới, dù đang trở thành một vấn đề phổ biến và đang thấm dần vào các tầng lớp nhân dân lao động, song vẫn còn là vấn đề cần được tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ và có giải pháp cũng như mô hình cụ thể, đặc biệt
là ở nông thôn
- Bên cạnh cưới xin, đối với người dân nông thôn, tang lễ cũng là một sinh hoạt được chú trọng Cho dù hiện nay tồn tại cùng lúc nhiều hình thức tang lễ khác nhau nhưng sự kế thừa những quy chế về tang ma truyền thống kết hợp với những
Trang 35yếu tố hiện đại có tính phù hợp đã trở thành xu thế trong tang lễ ở nông thôn ngày nay Tuy nhiên vẫn tồn tại việc tang theo lối cũ với nhũng hủ tục cần được xóa bỏ Chỉ xét riêng về những yếu tố được nhiều người theo trong tang lễ ở nông thôn cũng có thể hình dung được phần nào độ phức tạp trong quan niêm của người nông dân về tang lễ Đáng chú ý là các lễ cúng được nhiều người tuân thủ: 3 ngày, 49 ngày, và cúng 100 ngày Tiếp theo là các yếu tố như mời ban nhạc hiếu, che mặt người khuất, đốt vàng mã, đội mũ rơm, mặc áo xô… Tuy nhiên, ngoài việc chú trọng các ngày cúng thì tục che mặt người khuất, nhạc hiếu được phần lớn mọi người tuân thủ, các yếu tố còn lại thì còn tùy vào từng địa phương, từng làng, từng dòng họ, từng gia đình mà mỗi đám tang cụ thể có sự lựa chọn khác nhau.
- Lễ hội truyền thống được đánh giá là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian tổng thể, rất phù hợp với đời sống văn hóa tinh thần người dân nông thôn Có thể thấy ở nông thôn, việc mở hội làng hàng năm là khá phổ biến và lễ hội với yếu
tố chủ đạo là nhân vật được phụng thờ, đã ăn nhập khá sâu vào tâm thức người nông thôn Ngoài văn nghệ quần chúng thì lễ hội truyền thống và các yếu tố cấu thành của nó mang ý nghĩa rất quan trong đối với người dân nông thôn
Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự phát văn hóa nông thôn đang đứng trước những thuận lợi cơ bản cũng như những thách thức không nhỏ Sự biến động về quy luật phát triển và thực trạng biểu hiện của kinh tế, văn hóa, xã hội ở nông thôn vẫn đang diễn ra một cách nhanh chóng và chắc chắn sẽ có những thay đổi trong tất
cả những yếu tố đã nêu Nhưng dù thay đổi thế nào thì với những gì được thể hiện, văn hóa nông thôn cả nước nói chung vẫn giữ được cho mình những hằng số văn hóa Đó là sinh hoạt văn hóa mang đậm nét dấu ấn, phong vị văn hóa văn minh nông nghiệp trồng lúa nước vói cơ cấu tổ chức xã hội thôn làng tương đối khép kín, nay có điều kiện để trở thành một pháo đài xây dựng đời sống văn hóa cơ sở; là sự bền vững phong phú, đa dạng của các hoạt động văn hóa dân gian kết hợp với sự gia tăng ngày càng nhiều hình thức sinh hoạt và hưởng thụ văn hóa hiện đại, tạo điều kiênh cho người dân sáng tạo và hưởng thụ văn hóa nhiều hơn, cao hơn
2.1.2.3 Kinh tế-xã hội.
Trang 36Kinh tế nông thôn vẫn còn mang tình chất thuần nông thể hiện qua chỉ tiêu cơ cấu lao động, cơ cấu nhân khẩu, đầu tư, cơ cấu sản phẩm… Kết cấu hạ tầng trong nông thôn còn yếu chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đời sống, giao thông
ở miền núi còn gặp nhiều khó khăn Việc cung ứng điện cho nông thôn tuy có khá hơn nhưng chủ yếu mới chỉ phục vụ một phần cho đời sống và thủy lợi, còn các mặt sản xuất khác còn thấp Các cơ sở chế biến và bảo quản sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu cho chế biến nông sản cả về số lượng và chất lượng Trình độ học vấn thấp, trình độ lao động chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, đặc biệt là
ở các vùng sâu vùng xa tỷ lệ mù chữ vẫn còn cao Mạng lưới y tế ở nông thôn tuy
có phát triển nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu kham chữa bệnh của người dân, tỷ
lệ suy dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em vẫn còn nhiều Đặc biệt và ở vùng sâu vùng
xa Tình hình an ninh trật tự xã hội ở nông thôn có tiến bộ hơn Tuy nhiên tình hình dân chủ, công bằng xã hội, kỷ cương pháp luật vẫn chưa được đảm bảo
Bảng 2.5: Tỷ lệ hộ nghèo trong tổng số hộ cả nước
Đơn vị tính: %.
Nguồn: Tổng cục Thống kê, năm 2010.
Từ bảng trên ta có thể thấy khu vực nông thôn có số hộ nghèo nhiều hơn 2,5 lần khu vực thành thị Từ đây ta có thể thấy sự chênh lệch giàu nghèo rõ rệt giữa thành thị và nông thôn Điều này cho thấy Nhà nước nên tập trung hơn nữa để phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, giảm mức chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị
Quá trình đổi mới cơ chế quản lý, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn đã thúc đẩy nông thôn phát triển nhiều mặt Số hộ gia đình đi vào sản xuất ngày càng nhiều, ở nhiều địa phương đã và đang hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ Với sự phát triển cả về số lượng và chất lượng, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ đã góp phần quan trọng trong việc huy động nguồn vốn đầu tư trong dân cho phát triển kinh tế-xã hội Đóng góp quan trọng nhất của doanh nghiệp vừa và nhỏ là tạo công ăn việc làm góp phần giữ vững ổn định chính trị-xã hội của đất nước Theo
số liệu của Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ, năm 2011, doanh nghiệp vừa và
Trang 37nhỏ chiếm khoảng 96% tổng số các doanh nghiệp đăng kí ở Việt Nam và tạo đến 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển rất nhanh chỉ trong một thời gian ngắn, nhất là sau khi Luật Doanh nghiệp ra đời Doanh nghiệp vừa và nhỏ có đặc điểm nổi bật là có quy mô vốn và lao động nhỏ, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thấp, mặt bằng sản xuất nhỏ, trình độ tay nghề của người lao động thấp, quản trị nội bộ doanh nghiệp còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp cận thị trường kém Việc phát triển các doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn dẫn tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn Với điều kiện kinh tế-xã hội đặc thù của nước ta, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể len lỏi vào từng làng, xã, thị trấn nhỏ ở nông thôn,
kể cả những nơi hẻo lánh, xa xôi để dừng chân và phát triển Nó góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, cấu trúc và cơ cấu tổ chức làng, xã truyền thống Chính doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ làm thay đổi xã hội nông thôn cổ truyền hướng xã hội tới văn minh, hiện đại Trong những năm đổi mới vừa qua do sức ép của thị trường
và tác động tích cức của cơ chế quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn
đã có sự đổi mới công nghệ ở mức độ nhất định Đó là: Dùng điện vào sản xuất, gắn liền với nó là thực hiện nửa cơ khí, cơ khí hóa từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất Nhưng hiện nay công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn vẫn còn lạc hậu và ở trình độ thấp, hiệu quả chưa cao Vốn là khó khăn lớn nhất và cũng
là điểm yếu nhất của doanh nghiệp vừa và nhỏ Một trong những điểm yếu khác của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là mối liên kết rất hạn chế Ngoài ra, khả năng quản
lý, nhận biết về kinh doanh, văn hóa kinh doanh, trình độ xúc tiến và quảng bá thương mại… cũng rất hạn chế Nhận thức được tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính phủ đã có nhiều giải pháp về cơ chế và chính sách, tạo điều kiện
hỗ trợ để các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát huy tối đa tiềm năng của mình Trong
đó phải kể đến Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 là cơ sở pháp lý quan trong để hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP khối doanh nghiệp vừa
và nhỏ được hỗ trợ từ tài chính, thông tin, đào tạo nhân lực đến chính sách hỗ trợ để
sử dụng khoa học công nghệ… Tháng 5/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết
Trang 3822/NQ-CP triển khai thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP Những hỗ trợ này đã tạo động lực mới cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2.2 Thực trạng nguồn lao động nông thôn.
2.2.1 Số lượng lao động.
Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009, 70% dân số nước ta đang sống ở khu vực nông thôn, lao động nông thôn hiện chiếm 75% tổng lực lượng lao động cả nước Theo Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tính đến cuối năm 2010 lao động nông nghiệp chiếm đến 48,2% lao động cả nước, nhưng chỉ chiếm 20.6% GDP Theo Tổng cục thống kê, năm 2010, lực lượng lao động trong độ tuổi từ 15 trở lên là hơn 50,5 triệu người, tăng 2,68% so với năm 2009; Trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là hơn 46,2 triệu người, tăng 2,12% Tỷ lệ dân số cả nước 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% năm 2009 lên 77,3% năm 2010
Lao động trong khu vực nông nghiệp nông thôn hiện vẫn chiếm hơn lượng lớn trong lực lượng lao động cả nước
Bảng 2.6: Số lao động làm việc trong các ngành nông nghiệp.
Đơn vị: Nghìn người.
Năm Nông nghiệp và
lâm nghiệp Thủy sản.
Trang 39Nguồn: Tổng cục thống kê, 2009
Theo số liệu trong bảng trên, ngành chiếm nhiều lao động nhất Việt Nam là các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản với khoảng 23 triệu lao động năm
2009 Từ bảng trên ta thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động-nghề nghiệp diễn
ra chậm chạp, số lượng lao động trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp vẫn ở mức cao Theo báo cáo “xu hướng việc làm năm 2010”, Bộ lao động- thương binh và xã hội, việc làm trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có chiều hướng giảm và
sẽ ở mức 21,1 triệu lao động vào năm 2020, đồng nghĩa với việc cơ cấu của thị trường lao động Việt Nam sẽ có sự chuyển đổi từ những việc làm trong ngành nông nghiệp có năng suất lao động thấp, đòi hỏi nhiều lao động sang các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị tăng cao hơn, được đầu tư công nghệ và tài chính nhiều hơn
2.2.2 Cơ cấu lao động nông thôn.
Một trong những vấn đề cần quan tâm trong lao động nông thôn ngày nay, đó
là cơ cấu lực lượng lao động nông thôn, một quốc gia sẽ không thể phát triển nhanh nếu quốc gia đó có một cơ cấu lao động không hợp lí về cơ cấu tuổi hay cơ cấu trình độ học vấn Trong nông thôn nước ta hiện nay đang xảy ra tình trạng có quá nhiều lao động giản đơn trong khi lại có quá ít những người có trình độ chuyên môn cao Sự bất cân đối đó không chỉ xảy ra ở các vùng miền núi mà ngay cả khu vực đồng bằng
Cơ cấu dân số nông thôn theo tuổi và giới tính
Bảng 2.7 Cơ cấu dân số nông thôn theo tuổi và giới tính.
Tuổi Dân số nông thôn Tỷ lệ (%) Giới tính
Trang 40Nguồn: Tổng cục Thống kê, năm 2010.
Bảng 3 cho thấy, ở nông thôn nhóm thanh niên tuổi 15-29 chiếm 28,8% Nếu
kể cả nhóm thiếu niên (9,1%) thì cơ cấu tuổi trẻ chiếm đến 37,9% dân số nông thôn Đây là nhóm xã hội quan trọng ở nông thôn bởi họ là lực lượng trẻ, có học vấn, năng động và sáng tạo, là lực lượng nòng cốt trong lao động, sản xuất, học tập Vấn đề tạo công ăn việc làm cho tầng lớp trẻ này hết sức quan trọng Họ cũng là những người có tác động trực tiếp đến sự gia tăng dân số Gần 9% dân số nông thôn từ 60 tuổi trở lên Điều này dự báo về vấn đề chăm sóc người cao tuổi, đặc biệt là sức khỏe, bệnh tật trong khi phúc lợi xã hội, an sinh xã hội chưa thực sự phát triển ở các vùng nông thôn Năm 2009 ở nông thôn Việt Nam, dân số nông thôn là 60,4 triệu với tỷ trọng nữ cao hơn nam 60,1% trong số 18,5 triệu nữ ở độ tuổi lao động đang lao động Phụ nữ nông thôn có vai trò lớn trong sản xuất nông, ngư nghiệp và thủy sản
Cơ cấu dân số nông thôn theo nghề nghiệp
Theo số liệu điều tra của tổng cục Thống kê ta có bảng
Bảng 2.8 Cơ cấu dân số nông thôn theo nghề nghiệp, 2002 và 2008