Bµi kiÓm tra m«n triÕt häc Bµi kiÓm tra m«n triÕt häc Hä vµ tªn Ph¹m §øc Kh¸nh Líp CH 17 I §iÓm Lêi phª cña gi¸o viªn §Ò bµi Ph©n tÝch tÝnh t biÖn vµ m©u thuÉn trong triÕt häc cæ ®iÓn §øc thÓ hiÖn th«[.]
Trang 1Bài kiểm tra môn triết học
Họ và tên: Phạm Đức Khánh
Lớp: CH 17 I
Đề bài: Phân tích tính t biện và mâu thuẫn trong triết học cổ điển Đức thể hiện thông qua triết học của Cantơ, Hêghen và Phoiơbắc.
Bài làm
Thế kỷ XVII - XVIII là thời kỳ sụp đổ của chế độ phong kiến Châu Âu, thời kỳ cách mạng t sản và xác lập phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa ở Tây Âu Thời kỳ này hình thành các quốc gia dân tộc t sản, trừ Đức và một phần nớc ý Phong trào t sản làm nảy sinh nhiều t tởng tiến bộ, nhất là trong triết học Thời kỳ này chủ nghĩa vô thần phát triển mạnh, nên sự phát triển của khoa học-kỹ thuật gặp trở ngại lớn nhất là chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, còn triết học duy vật trở thành thế giới quan, mang tính chiến đấu và vô thần Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII dựa vào các thành tựu khoa học đã phân ngành Nó là chủ nghĩa duy vật siêu hình Triết học thời kỳ này có tiến bộ với những quan điểm duy vật về tự nhiên, nhng nhìn chung nó vẫn là duy tâm trong quan niệm về xã hội
Trang 2Trong khi ở Tây Âu chủ nghĩa t bản đã hình thành ở nhiều nớc, nhng nớc Đức cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX vẫn là quốc gia phong kiến cát cứ Tuy nhiên, khác với chính trị, kinh
tế – xã hội, văn hóa, khoa học của Đức thời kỳ này khá phát triển Giai cấp t sản Đức muốn làm cách mạng nh ở Tây Âu, muốn xây dựng triết học theo yêu cầu mới, song do còn yếu kém về số lợng, kinh tế, chính trị, nên họ giữ lập trờng cải
l-ơng Điều đó quy định nét đặc thù của triết học cổ điển
Đức: Nội dung cách mạng dới một hình thức duy tâm bảo thủ;
đề cao vai trò tích cực của t duy, coi con ngời là điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học
Triết học cổ điển Đức thời kỳ này có tính t biện và mâu thuẫn thể hiện thông qua triết học của Cantơ, Hêghen và Phoiơbắc Đây là vấn đề cần phân tích
Chúng ta biết rằng, tính t biện là sự biện luận thuần túy của t duy, làm cho lý luận xa rời thực tiễn Triết học của Cantơ, Hêghen và Phoiơbắc đã nói lên điều đó
1 Triết học của Cantơ:
Cantơ (1724 - 1804) là ngời sáng lập triết học cổ điển
Đức Triết học của ông là triết học nhị nguyên Một mặt ông thừa nhận thế giới các “vật tự nó” tồn tại khách quan có thể tác
động lên các giác quan của con ngời Điều này nói lên Cantơ có quan điểm duy vật Mặt khác, Cantơ cho rằng các vật thể mà
ta nhận thấy không liên quan đến thế giới các “vật tự nó”, chúng chỉ là hiện tợng phù hợp với cảm giác, tri giác do lý tính con ngời tạo ra Điều đó nói lên con ngời chỉ biết đợc hiện tợng
bề ngoài mà không hiểu đợc bản chất sự vật
Trang 3Công lao của Cantơ là ngời sáng lập phép biện chứng cổ
điển Đức Tuy nhiên, khi tiếp cận nguyên tắc mâu thuẫn thuộc
về bản chất các tính quy định của t duy, Cantơ chỉ rút ra từ
đó kết luận rằng mâu thuẫn tất yếu do hoạt động của lý tính sinh ra, nên lý tính không thể đạt tới “vật tự nó”, buộc phải thoả mãn “vẻ bề ngoài”, còn bản thân phép biện chứng không phải là cái gì khác ngoài “lôgic của vẻ bề ngoài”
Quan điểm đạo đức học của Cantơ cũng còn hạn chế, mang tính chất duy tâm, duy lý, cha đánh giá đúng mức sự tác động và hạn chế của kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá đối với hoạt động đạo đức Đồng thời còn thể hiện tính không t-ởng, phi lịch sử, phi giai cấp khi ông khuyên mọi ngời không kể giai cấp, quốc gia, dân tộc… hãy làm theo mệnh lệnh tuyệt
đối Cantơ cũng đã thần thánh hoá năng lực của con ngời, dẫn
đến quan niệm duy tâm
2 Triết học của Hêghen:
Hêghen (1770 - 1831) là nhà triết học biện chứng lỗi lạc
cổ điển Đức Xét về toàn bộ hệ thống triết học của Hêghen là chủ nghĩa duy tâm khách quan mang nặng tính chất t biện thần bí phục vụ đắc lực cho tôn giáo T tởng chính trị trong
hệ thống này là bảo thủ và phản động Tuy nhiên, qua nghiên cứu, ngời ta có thể tìm thấy những t tởng về phép biện chứng
Trong hệ thống triết học Hêghen chứa đựng mâu thuẫn giữa phép biện chứng cách mạng với chủ nghĩa duy tâm bảo thủ nh là mẫu thuẫn giữa phơng pháp và hệ thống
Phép biện chứng của Hêghen khẳng định sự phát triển không ngừng của “ý niệm tuyệt đối”, nhng lại coi triết học của
Trang 4mình là điểm tận cùng trong sự phát triển của “ý niệm tuyệt
đối”
Hêghen khẳng định nhận thức là một quá trình phát triển chứa đầy mẫu thuẫn, nhng lại coi triết học của mình là chân lý tuyệt đối không thể phát triển đợc nữa
Hêghen thừa nhận tính phổ biến và khách quan của mâu thuẫn, nhng lại coi triết học của mình nh một hệ thống hài hòa, không còn mâu thuẫn Khi mâu thuẫn xuất hiện, cần đợc giải quyết thì ông lại không sử dụng phơng pháp đấu tranh giữa các mặt đối lập Trái lại, ông chủ trơng dung hòa các mặt
đối lập đó
Hạn chế về đạo đức học của Hêghen ở chỗ ông coi nhà nớc
lý tởng là nhà nớc quân chủ Phổ, nhà nớc Phổ là sự thể hiện hoàn thiện “ý niệm đạo đức” Đạo đức của Hêghen là bảo vệ nhà nớc này, ông coi “ý niệm đạo đức” ở đây là sự thần bí hoá các quan hệ xã hội Các quan hệ xã hội thực tế nh quá trình xã hội, công dân, nhà nớc chỉ đợc coi là sự thể hiện của ý niệm đạo đức
Cũng nh Cantơ, Hêghen đã đề cao sức mạnh trí tuệ của con ngời, song do ảnh hởng của phơng pháp siêu hình, sự đề cao ấy tới mức cực đoan Ông đã thần thánh hoá năng lực con ngời, dẫn đến quan niệm duy tâm, khẳng định mọi sự vật, hiện tợng trong tự nhiên, xã hội là kết quả hoạt động của con ngời
Chính vì mâu thuẫn phức tạp giữa các yếu tố cách mạng, khoa học và yếu tố duy tâm trong hệ thống triết học của Hêghen, cho nên việc nghiên cứu triết học của Hêghen phải quán triệt quan điểm biện chứng, quan điểm lịch sử, kế thừa
Trang 5ụôt cách có phê phán, lọc bỏ và cải tạo trên nguyên tắc khách quan và khoa học của triết học mác-xít
3 Triết học của Phoiơbắc:
Phoiơbắc (1804 - 1872) đã đa ra quan điểm duy vật trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, khôi phục lại vị trí của triết học duy vật thế kỳ XVII - XVIII và
bổ sung cho những yếu tố mới gắn với nhiều thành tựu khoa học tự nhiên, vạch rõ mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Tuy nhiên, về căn bản, chủ nghĩa duy vật mang tính
“trực quan”, triết học Phoiơbắc là triết học “nhân bản”
Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là chủ nghĩa duy vật
“trực quan” vì ông quan niệm thế giới là vật chất, tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con ngời, không phụ thuộc vào lực lợng siêu tự nhiên nào, nhng ông không nhận thấy thế giới vật chất tự nhiên cũng là đối tợng hoạt động thực tiễn xã hội của con ngời, không hiểu vai trò của thực tiễn sản xuất trong quá trình nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, coi thực tiễn là hoạt
động tầm thờng, có tính chất trao đổi, con buôn nên Phoiơbắc không lý giải đợc một cách rõ ràng và chính xác nguồn gốc và bản chất của ý thức Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc cha thoát khỏi tính máy móc, siêu hình của chủ nghĩa duy vật cũ Triết học của Phoiơbắc chỉ mới là triết học giải thích thế giới chứ cha là triết học cải tạo thế giới
Ngời ta gọi chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là chủ nghĩa duy vật “nhân bản”, tức là không có sự tách rời giữa tinh thần
và thể xác, giữa vật chất và ý thức
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất trong quan niệm “nhân bản” của Phoiơbắc là hiểu không đúng về con ngời, coi con ngời
Trang 6chỉ nh một thực thể tự nhiên thuần túy mang bản chất tộc loại Phoiơbắc không đề cao năng lực của con ngời nh Cantơ hay Hêghen, nhng ông hiểu con ngời theo nghĩa trần tục bằng
x-ơng, bằng thịt nên gặp hạn chế trong triết học của mình là duy vật máy móc Phoiơbắc không nhận thức đợc bản chất xã hội của con ngời, không thấy vai trò của mối quan hệ giữa con ngời với con ngời quy định bản chất của họ, vì vậy quan niệm của Phoiơbắc về bản chất con ngời mang tính trừu tợng không hiện thực Từ sai lầm này, Phoiơbắc đã từ chủ nghĩa duy vật trong quan niệm về tự nhiên sang chủ nghĩa duy tâm trong quan niệm về xã hội
Qua nghiên cứu ba đại diện của triết học cổ điển Đức, ta thấy tuy còn hạn chế ở tính t biện và mâu thuẫn trong triết học của mình, nhng đã có những đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu lịch sử nhân loại, nghiên cứu quan hệ giữa con ngời với tự nhiên theo quan niệm biện chứng./