1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng triết học của lê hữu trác

78 533 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiến trình hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam, giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII là một giai đoạn đặc biệt, bởi đây là thời kỳ bất ổn về tình hình chính trị xã hộ

Trang 1



LÊ THỊ HOÀNG YẾN

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA LÊ HỮU TRÁC

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2



LÊ THỊ HOÀNG YẾN

Chuyên ngành : Triết học

Mã số : 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà, có kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố Các tài liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Tác giả

Lê Thị Hoàng Yến

Trang 4

phòng ban khác của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho

em được học tập, nghiên cứu tại trường Em xin chân thành cảm ơn các thầy

cô giáo khoa Triết học và khoa Giáo dục chính trị đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Triết học của mình

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ

và động viên tác giả luận văn trong quá trình học tập, nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Tác giả

Lê Thị Hoàng Yến

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

8 Phương pháp nghiên cứu 4

9 Cấu trúc luận văn 4

10 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 4

Chương 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA LÊ HỮU TRÁC 6

1.1 Điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII 6

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 6

1.1.2 Tiền đề văn hóa - tư tưởng 13

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Hữu Trác 22

1.2.1 Cuộc đời của Lê Hữu Trác 22

1.2.2 Sự nghiệp của Lê Hữu Trác 26

Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA LÊ HỮU TRÁC 30

2.1 Tư tưởng về bản thể của Lê Hữu Trác 30

2.1.1 Tư tưởng về vũ trụ 30

2.1.2 Tư tưởng về tự nhiên 37

Trang 6

2.2.2 Tư tưởng về chính trị - xã hội 53

2.3 Giá trị và hạn chế về tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác 59

KẾT LUẬN 66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

PHỤ LỤC 72

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tiến trình dựng nước, giữ nước hàng ngàn năm, dân tộc Việt Nam đã sáng tạo nên một nền văn hóa vô cùng phong phú và đặc sắc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế

là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội” [9, tr.213]

Tư tưởng triết học Việt Nam là một bộ phận của văn hóa dân tộc Trong tiến trình hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam, giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII là một giai đoạn đặc biệt, bởi đây là thời kỳ bất ổn

về tình hình chính trị xã hội (cuộc khủng hoảng Nam - Bắc triều đến Trịnh - Nguyễn phân tranh), sự bất ổn đó đã đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết Tùy theo những chí hướng khác nhau nhưng những nhà cầm quyền, sĩ phu yêu nước, các nhà tư tưởng đều đồng lòng góp sức tìm những phương thức khác nhau để giúp dân, giúp nước Đầu tiên là việc xác định con đường thống nhất đất nước, thứ hai là phát triển học thuật, văn hóa, tư tưởng Nếu Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Hoàng Công Chất, Quang Trung là những nhân vật mà sự nghiệp đã tạo điều kiện cho dân tộc sống còn và phát triển, thì Hương Hải thiền sư, Chân Nguyên thiền sư, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn và cả Lê Hữu Trác chọn con đường học thuật để xây dựng đất nước, góp phần phát triển con người cả hai mặt thể chất và tinh thần

Lê Hữu Trác được biết đến không chỉ là một danh y với những tác phẩm

đồ sộ, mà còn là một trong số những nhà tư tưởng tiêu biểu đã để lại dấu ấn đặc biệt trong việc phát triển tư tưởng triết học và y học dân tộc thế kỷ XVIII

Trang 8

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII, Lê Hữu Trác

có ảnh hưởng đến văn hóa của dân tộc đương thời và cả trong xã hội hiện nay

Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác là một trong vốn tri thức quý báu trong kho tàng tri thức của nước nhà cần được nghiên cứu, lưu giữ và phát huy

Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Tư tưởng triết học của Lê

Hữu Trác” làm luận văn thạc sỹ triết học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Lê Hữu Trác không chỉ là một đại danh y mà còn là một nhà tư tưởng lớn ở thế kỷ XVII - XVIII Tư tưởng của ông đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở những góc độ khác nhau (chủ yếu khai thác trên lĩnh vực y học)

Về lĩnh vực tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác, số lượng các công trình nghiên cứu còn ít Có thể khái quát các công trình nghiên cứu liên quan đến

đề tài bao gồm các tác phẩm tiêu biểu như sau:

Tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam do nhà nghiên cứu Nguyễn Tài

Thư làm chủ biên Công trình đã dành một chương với tiêu đề “Lê Hữu Trác - Nhà tư tưởng lớn trưởng thành từ nghiệp y” để phân tích, đánh giá những tư tưởng của Lê Hữu Trác Trong đó các tác giả viết: “Lê Hữu Trác là một hiện tượng đặc biệt ở thế kỷ XVIII Tự mình đi con đường riêng, tự mình ý thức được đầy đủ việc làm của mình Không sợ người khác, không sợ khó khăn vất

vả, nói lên tiếng nói từ tận đáy lòng Chính vì vậy mà cả thế giới quan và nhân sinh quan đều đạt đến đỉnh cao của tư tưởng” [33, tr.459]

Ở công trình Đại cương lịch sử tư tưởng Việt Nam, tác giả Nguyễn

Hùng Hậu cũng trình bày một cách khái quát tư tưởng của Lê Hữu Trác Theo ông, tư tưởng của Lê Hữu Trác có những yếu tố duy vật và biện chứng nhưng vẫn còn đơn giản

Trong tác phẩm Lê Hữu Trác - nhà tư tưởng thời Hậu Lê trên Tạp chí Triết

học, tác giả Nguyễn Thị Hồng Mai đã đề cập đến những tư tưởng y đức, văn học

Trang 9

và triết học của Lê Hữu Trác Về tư tưởng triết học, tác giả đi sâu vào phân tích bản thể luận, nhận thức luận và triết lý nhân sinh trong tư tưởng của ông

Công trình Quan điểm duy vật về tự nhiên của Lê Hữu Trác trong

bộ “Hải thượng y tông tâm lĩnh” của tác giả Trần Văn Thụy cho thấy rõ

hơn quan điểm duy vật của Lê Hữu Trác trong cách nhìn nhận về thế giới Theo đánh giá của tác giả, Lê Hữu Trác Mặc dù vẫn còn những hạn chế lịch sử nhưng có những đóng góp vô cùng quan trọng và còn nhiều công trình khác

Các công trình nghiên cứu kể trên đã góp phần giúp chúng ta hiểu rõ thêm về con người - sự nghiệp và tư tưởng của Lê Hữu Trác Tuy nhiên chưa

có một công trình nào nghiên cứu tư tưởng triết học của ông thật đầy đủ Trên

cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận văn này sẽ

hệ thống lại những tư tưởng của Lê Hữu Trác qua các tác phẩm của ông

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở trình bày một cách có hệ thống nội dung tư tưởng triết học của

Lê Hữu Trác, đồng thời làm rõ thêm những giá trị và hạn chế tư tưởng triết học của ông

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: các tác phẩm của Lê Hữu Trác

- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác

5 Giả thuyết khoa học

- Câu hỏi nghiên cứu: Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác là gì?

- Giả thuyết khoa học: Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác là những tư

tưởng về bản thể và nhân sinh, về chính trị - xã hội

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát điều kiện và tiền đề hình thành tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác

Trang 10

- Làm rõ tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác về bản thể và nhân sinh,

về chính trị - xã hội

- Phân tích một số giá trị và hạn chế trong tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác trong các tác

phẩm thuộc tập 1 của bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, bao gồm: Nội kinh

yếu chỉ, Y gia quan niệm, Y hải cầu nguyện, Huyền tẫn phát vi, Khôn hóa thái chân, Đạo lưu dư vận và tác phẩm Thượng Kinh ký sự

8 Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý

cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người

- Phương pháp nghiên cứu: Cùng với các nguyên tắc có ý nghĩa

phương pháp luận trong nghiên cứu lịch sử triết học, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp: logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa… nhằm làm rõ tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác về bản thể và nhân sinh, về chính trị - xã hội; từ đó phân tích một số giá trị và hạn chế trong tư tưởng triết học của ông

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn gồm 2 chương và 5 tiết

10 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

- Các luận điểm cơ bản: Lê Hữu Trác là nhà tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XVIII, tư tưởng của ông có ảnh hưởng lớn đến tiến trình lịch sử

Trang 11

tư tưởng dân tộc Tư tưởng triết học Lê Hữu Trác có cả giá trị và hạn chế đối với sự phát triển lịch sử tư tưởng Việt Nam

- Đóng góp mới: luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn nội dung tư tưởng triết học Lê Hữu Trác, vai trò của ông đối với tiến trình hình thành lịch sử tư tưởng Việt Nam

Trang 12

Chương 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA LÊ HỮU TRÁC

1.1 Điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII

C.Mác đã nói: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [18, tr.156],

“chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [19, tr.37-38] Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác trong các tác phẩm của ông thì cần tìm hiểu điều kiện

lịch sử xã hội và những tiền đề lý luận hình thành nên tư tưởng triết học đó

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Ở Việt Nam thế kỷ XVI - XVIII, thời kỳ nhà Hậu Lê (1533-1802), chế

độ phong kiến rơi vào tình trạng suy tàn và chia cắt đất nước Đầu thế kỷ XVI, sau khi vua Lê Hiến Tông mất, cuộc khủng hoảng chính trị xảy ra, kinh

tế sa sút Đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị, các thế lực phong kiến tranh giành quyền lực Sự suy nhược của nhà Lê, cùng với các cuộc nổi dậy của nông dân liên tiếp xảy ra đã làm cho khủng hoảng xã hội thêm trầm trọng, làm lung lay nền thống trị của chế độ phong kiến nhà Lê Các vị vua nhà Lê lúc này xao nhãng việc triều chính, lo say mê tửu sắc, giết công thần Điều này dẫn đến chỗ, triều đình sa vào sự suy thoái, quốc khố cạn kiệt, quân dân đói nghèo, bệnh tật Lợi dụng tình cảnh đó, bọn quan lại địa phương mặc sức tung hoành và tranh chấp Giữa thế kỷ XVI, nhà Lê thực sự suy tàn, nhân

cơ hội đó, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê Nhà Lê rút vào Thanh Hóa, sử gọi là

Trang 13

Nam triều để phân biệt với Bắc triều của nhà Mạc Đất nước bị chia cắt, cuộc

“chiến tranh Nam - Bắc triều” làm cho đất nước bị kiệt quệ, gây ra bao đau thương, chết chóc Cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều chấm dứt chưa được bao lâu thì một cuộc chiến tranh mới lại bùng nổ giữa chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng ngoài và chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng trong Đàng ngoài có chế

độ “vua Lê - chúa Trịnh”, quyền lực trên danh nghĩa nằm trong tay vua nhưng trên thực tế nằm trong tay chúa

Ở Đàng ngoài vào năm 1592, nhà Lê - Trịnh chiếm được Thăng Long, tình hình tạm yên Chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng ngoài với và bộ máy nhà nước dần ổn định, giải quyết được nhiều vấn đề đối nội và đối ngoại Về kinh

tế, do hậu quả của quá trình phát triển tư hữu ruộng đất từ thế kỷ XVI - XVII

là nạn kiêm tính ruộng đất ngày càng gia tăng Trên danh nghĩa chế độ quân điền vẫn tồn tại Nhà nước cấm biến ruộng đất công thành ruộng đất tư Mặt khác những người có ruộng đất khẩu phần không bao giờ nghĩ đấy là ruộng đất riêng của họ, nên thường không đánh giá đúng giá trị ruộng đất Trong những ngày giáp hạt, thiếu đói vì thiên tai hay những khi gặp khó khăn trong cuộc sống, họ buộc phải cầm cố hoặc gán nợ ruộng đất với giá rẻ mạt Đó chính là điều kiện thuận lợi để những kẻ hào cường ức hiếp, chiếm đoạt ruộng đất của họ Vào những năm đầu thế kỷ XVIII, ở đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện hàng loạt địa chủ có hàng trăm mẫu ruộng Bên cạnh đó, bộ máy làng xã ngày càng biến chất, trở thành công cụ trong tay bọn hào cường, tạo thêm một tầng áp bức bóc lột nặng nề lên người nông dân Chính quyền Lê - Trịnh phần nào đã nhận ra tính nguy cấp của tình hình, đã có những biện pháp nhằm hạn chế sự lộng hành của bộ máy lý dịch và nạn hào cường ở nông thôn Dưới thời Trịnh Cương (1709 - 1729), một số chính sách đã được ban hành nhưng

ít có hiệu quả vì chính bộ máy quan lại cấp trên và triều đình cũng đã mục nát Đến thời Trịnh Quang (1729 - 1740), hoạn quan được trọng dụng, nhưng

Trang 14

quan lại có tài, thẳng thắn thì bị sát hại, việc mua quan bán tước được mở rộng, chốn quan trường trở thành nơi đầu cơ trục lợi, chức tước trở thành món hàng hóa, tham nhũng hoành hành, tệ quan liêu, ức hiếp dân chúng tràn lan Điều đó làm cho nhà nước trung ương càng suy yếu, nền sản xuất nông nghiệp vẫn kém phát triển, các mâu thuẫn xã hội xảy ra ngày càng gay gắt

Một hình thức phản kháng tiêu cực ngày càng trở nên phổ biến thời bấy giờ của người nông dân là bỏ làng đi Ruộng đất vốn đã ít ỏi lại bị bỏ hoang Thêm vào đó, thiên tai ập đến liên tiếp, điều này dẫn đến nạn đói hoành hành… Từ giữa thế kỷ XVIII, Đàng Ngoài lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Mâu thuẫn tích chứa lâu ngày bùng phát thành những cuộc khởi nghĩa nông dân mà những người dân nghèo đói là một lực lượng quan trọng Mặc dù các cuộc khởi nghĩa của nông dân hầu như bị dập tắt nhưng với sự phát triển rầm rộ của phong trào đã làm rung chuyển cả Đàng Ngoài Cơ đồ thống trị của Lê - Trịnh bị lung lay đến tận gốc Lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa thuộc nhiều thành phần khác nhau, có người là nông dân thuần túy, có người

là Nho sĩ bất mãn, lại có người là tôn thất nhà Lê Điều đó chứng tỏ xã hội đã bước vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng

Trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh và sau đó là giai đoạn đất nước bị chia cắt, kinh tế Đàng Trong phát triển có phần mạnh mẽ hơn Đàng Ngoài Với ưu thế đó, những dấu hiệu suy thoái kinh tế ở vùng đất phía Nam cũng đến chậm hơn Do ruộng đất Đàng trong mầu mỡ, nhân dân giỏi trồng trọt (lúa nước, ngô, kê, đậu,…) cho nên nông nghiệp phát triển Khi phong trào nông dân Đàng Ngoài bị thất bại thì nông dân Đàng Trong bắt đầu nổi lên mạnh mẽ Từ năm 1770, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và nhiều người khác tập hợp nông dân, những người buôn bán nhỏ… nổi lên, lật

đổ chính quyền chúa Nguyễn Thừa thắng xông lên, sau khi lật đổ chính quyền họ Nguyễn, phong trào Tây Sơn lại tiến quân ra Bắc, lật đổ chính

Trang 15

quyền chúa Trịnh, thống nhất đất nước Lập lên vương triều Tây Sơn Tuy nhiên, thế lực nhà Lê đã cầu viện nhà Thanh Tháng 11 năm 1788, quân Thanh do sự cầu viện của vua tôi Lê Chiêu Thống đã ồ ạt tiến vào nước ta Năm 1789, Quang Trung đại thắng Tuy nhiên, sự bất hoà của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ đã ảnh hưởng đến cục diện đất nước Vào cuối thế kỷ XVIII, vua Quang Trung (1788 - 1792) xây dựng một triều đại mới Tháng 9 năm 1792, Quang Trung đột ngột mất, điều đó kéo theo sự suy tàn của vương triều Tây Sơn Cuối năm 1802, Nguyễn Ánh vào Thăng Long, chính thức xưng vương, lập ra nhà Nguyễn, đổi quốc hiệu là Việt Nam

Có thể thấy, thế kỷ XVIII là thế kỷ có nhiều sự kiện lớn trong lịch sử Việt Nam, là thế kỷ vươn lên của nông dân và dân tộc

Những biến diễn và phát triển của nông nghiệp trong các thế kỷ XVII đã có tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá bấy giờ ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong

XVI-Về công thương nghiệp, giai đoạn này đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới bao gồm những lĩnh vực mới như thủ công nghiệp, hoạt động hầm mỏ cả ở Đàng Trong và Đàng Ngoài Sự phát triển thương nghiệp đã giúp cho việc buôn bán trong nước và ngoại thương thêm nhộn nhịp Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế nên nền kinh tế Đại Việt đương thời đã không tạo

cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ và liên tục của công thương nghiệp, chưa tạo được một thế đứng chủ động trong giao thương với bên ngoài

Sự tăng cường buôn bán với các thương nhân nước ngoài và việc tiếp xúc với luồng thương mại tư bản chủ nghĩa phương Tây càng kích thích thêm

sự phát triển của kinh tế hàng hoá Thủ công nghiệp phát triển thêm một bước, buôn bán phồn vinh, những thành thị hưng khởi, những mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có điều kiện nảy sinh Trong nhân dân, các nghề thủ công truyền thống tiếp tục phát triển và trở nên phổ biến rộng khắp ở

Trang 16

nhiều làng xã Nghề làm gốm được cải tiến, nâng cao trình độ kỹ thuật và mỹ thuật, đã xuất hiện các lò gồm lớn nổi tiếng như Chu Đậu, Hợp Lễ (Hải Dương), Bát Tràng nay thuộc Gia Lâm - Hà Nội Nhiều làng, nghề thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời như làng Mỹ Thiện (Quảng Ngãi), Phú Trạch (Thừa Thiên) làm nồi đất nung, dệt chiếu, lụa hoa, làng Thổ Hà (Bắc Ninh), Hương Canh (Phú Thọ) chuyên sản xuất chum vại, vò, chĩnh, làng Yên Thái (Hà Nội) chuyên làm giấy Nổi tiếng nhất là nghề dệt vải, lụa Hầu như các làng xã Đàng Ngoài đều làm nghề trồng bông dệt vải, chăn tằm dệt lụa Người nước ngoài đến Đàng Ngoài vào các thế kỷ XVII - XVIII đều có nhận xét rất giống nhau về sự phát triển của nghề dệt vải, tơ lụa Tơ trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng bậc nhất Có nhiều làng, phường lụa nổi tiếng như La Cả, La Khê, Cương Thôn, An Thái, Nghi Tàm

Thủ công nghiệp khai mỏ rất phát triển và đạt được nhiều thành tựu Để kiểm soát việc khai mỏ, chúa Trịnh đặt các chức giám tương trông coi và thường xuyên cử quan lại đến kiểm tra Nhưng cuối cùng do chính sách lầm lẫn của các chúa Trịnh cho rằng việc khai mỏ chẳng có lợi gì, lại phải đào bới nhiều hại đến mạch đất nên nhà chúa đuổi hết thợ mỏ người Trung Quốc về nước, cấm tập trung nhiều thợ trong mỗi mỏ Do vậy, nghề này đã bị tàn lụi dần

Thương nghiệp cũng phát triển lên một bước đáng kể, cả nội thương và ngoại thương Ở các làng hình thành nhiều chợ mới họp theo phiên, xuất hiện một số chợ có quy mô cấp huyện hay phủ nên có tên gọi là chợ huyện, chợ phủ

Sự phát triển của công thương nghiệp đã làm xuất hiện một số thành thị mới và làm hưng thịnh, phồn vinh các trung tâm kinh tế hàng hoá cũ Kẻ Chợ

và Phố Hiến là hai đô thị nổi tiếng bấy giờ ở Đường ngoài Kẻ Chợ (hay Kinh Kỳ) là đất Thăng Long nổi tiếng với 36 phố phường Kẻ Chợ là một thành phố vừa buôn bán vừa sản xuất hàng thủ công nghiệp, là trung tâm trao đổi hàng hoá ở Đường ngoài và buôn bán hàng hoá với thương nhân

Trang 17

nước ngoài Phố Hiến cũng là một thành thị sầm uất của Đường ngoài thời bấy giờ Nhiều thương nhân các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Anh, Pháp đều có mặt và buôn bán ở Phố Hiến

Ở Đường trong có Hội An là thành phố cảng lớn nhất, từ thế kỷ XVI đã

có thương nhân nước ngoài đến buôn bán, ngoài ra còn có Thanh Hà ở tả ngạn Huế Về ngoại thương, ở Đàng trong cũng có bước phát triển mạnh từ thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII Nhiều lái buôn nước ngoài đến buôn bán

Nhìn chung, quan hệ ngoại thương giữa Đường trong với các nước phương Tây cũng giống như ở Đường ngoài, chỉ được phát triển khá mạnh mẽ

ở thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, sau đó thuyền buôn các nước thưa thớt dần và chấm dứt hẳn

Văn hoá Đại Việt thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII là sự chuyển biến về ý thức hệ Nho, Phật, Lão Ở thời kỳ này, cả Đàng ngoài cũng như Đàng trong đều xem Nho giáo là nền tảng tư tưởng của mọi thiết chế chính trị, xã hội và Nho giáo vẫn được nhà nước phong kiến bảo vệ, duy trì để làm nền tảng cho các tổ chức chính trị, kinh tế của chính quyền, làm kỷ cương của xã hội Tuy vậy, Nho giáo thời kỳ này bước vào thời kỳ suy đốn dần, không còn được độc tôn như trước Thực trạng này được biểu hiện ở lĩnh vực giáo dục, thi cử Các chính quyền phong kiến vẫn duy trì và mở rộng chế độ giáo dục, thi cử làm phương tiện đào tạo quan lại, đáp ứng nhu cầu tổ chức bộ máy ngày một đông đảo, nhưng không còn được nghiêm túc như trước Lối học từ chương, phù phiếm vẫn duy trì không còn thích hợp Những nguyên tắc đạo đức và lễ giáo phong kiến chỉ còn là những hình thức suông Nội dung học tập thi cử nông cạn, khuôn sáo, không còn tính sáng tạo Trong khi Nho giáo bước vào thời kỳ suy thoái dần thì Phật giáo lại được phục hưng Các vua, chúa, quý tộc, quan lại cả hai Đàng (ngoài và trong) đua nhau tôn thờ đạo Phật, bỏ nhiều tiền của để trùng tu chùa cũ, xây cất nhiều chùa, tháp mới

Trang 18

Đạo giáo cũng có bước phát triển, được vua, chúa tôn trọng Việc tu tiên đắc đạo, luyện đan khá thịnh hành ở Đàng ngoài

Từ thế kỷ XVI, đạo Thiên Chúa đã du nhập vào nước ta, các giáo sĩ theo thuyền buôn phương Tây bắt đầu đến truyền đạo ở nước ta và đạo Thiên chúa trở thành một tôn giáo mới ở Việt Nam

Về chế độ học tập và thi cử, thời kỳ này, ở Đàng ngoài cũng như Đàng trong thời Lê - Trịnh, Nguyễn vẫn thực hiện giống như thể lệ đã định từ thời Hồng Đức Ở Đàng ngoài, theo quy định cứ ba năm mở một kỳ thi, năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội Nội dung đề thi hỏi về Ngũ Kinh, Tứ thư Ở Đàng trong, chế độ học tập thi cử cũng được đẩy mạnh để phục vụ cho nhu cầu củng cố bộ máy thống trị Nhìn chung, thời bấy giờ việc thi cử ở Đường trong không phát triển bằng Đường ngoài và việc thi cử có phần đơn giản và dễ dãi hơn vì nhu cầu xây dựng chính quyền mới cần nhiều người có văn học Điều dễ thấy là dưới thời các chúa Nguyễn chưa tổ chức một cách chính quy các kỳ thi Hội, thi Đình nào như ở Đường ngoài

Sự suy thoái của chính quyền kéo theo sự suy sụp nhiều mặt Các nhà Nho yêu nước bất mãn với chính quyền đành từ bỏ con đường công danh đi vào con đường học thuật để góp công xây dựng đất nước Do đó, nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà y học xuất hiện để đấu tranh cho cuộc sống tự do và phát triển khoa học Những nhà Nho nổi tiếng như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Dữ, Ngô Thế Lân, Lê Quý Đôn Những tác phẩm danh tiếng phản ánh đời sống nhân dân và niềm

khao khát được tự do như Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều,

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị

Điểm, Truyện Kiều của Nguyễn Du Triết học, y học cũng có những bước

phát triển, đặc biệt y học đã phát triển lên một bước mới với sự xuất hiện của các danh y, tiêu biểu nhất là danh y Lê Hữu Trác Chính tinh thần yêu nước

Trang 19

thương dân, thân dân và tinh thần dung thông tam giáo, nhân tố của thời đại là

tiền đề cho sự ra đời của các tác phẩm của Lê Hữu Trác, đặc biệt là Hải

Thượng y tông tâm lĩnh

Qua phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII trên tất cả các mặt, phương diện, chúng ta nhận thấy rằng có nhiều vấn đề xã hội cấp bách buộc các nhà chính trị, các nhà tư tưởng phải giải đáp Và chính điều kiện ấy là cơ sở hình thành tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác

1.1.2 Tiền đề văn hóa - tư tưởng

Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác không chỉ phản ánh đặc điểm, nhu cầu của xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII như đã trình bày ở trên, mà còn là sự

kế thừa những tư tưởng trước đó Lê Hữu Trác đã tiếp thu, kế thừa sáng tạo những thành tựu y học cổ truyền của dân tộc, kế thừa và phát triển tư tưởng triết học trong học thuyết Âm dương - Ngũ hành, học thuyết Thiên nhân hợp nhất của Nho gia

Về y học, người Việt Nam từ khi dựng nước đã có một nền y học dân tộc, biết dùng dược liệu có sẵn trong nước, những phong tục dân gian để trị bệnh Tuy lúc này, trình độ nhận thức còn thấp, nhưng con người cũng biết đấu tranh với tự nhiên để sinh tồn Từ thời thượng cổ đến họ Hồng Bàng, y học Việt Nam đã tiến bộ, người dân đã biết nhuộm răng đen, ăn trầu, nấu bánh chưng Tuy nhiên y học thời kỳ nguyên thủy mang tính thần bí, mê tín, kinh nghiệm tự phát và truyền khẩu Người chữa bệnh là những ông thầy pháp, thầy bói, bùa chú, phù thủy, vì con người đặt niềm tin vào năng lực vô hình thần thánh Có con người là có bệnh tật, vì mắc bệnh nên con người tìm cách chữa trị, từ đó phát sinh nền y dược

Sang thời kỳ tiếp theo, nước ta chịu sự đô hộ hơn 1000 năm của giặc phương Bắc Các triều đại Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tề, Lương, Tùy, Đường, Tống kế tiếp nhau đô hộ và xâm chiếm Việt Nam, biến Âu Lạc thành

Trang 20

quận huyện, đồng hóa dân tộc Việt Nam trở thành thuộc địa của Trung Quốc Dân tộc Việt Nam thời kỳ này đã có một nền y học dân tộc phù hợp với khí hậu vùng đất của Việt Nam, mang sắc thái độc đáo Việt Nam Thuốc nam đã phổ biến, người Việt biết dùng cây cỏ để trị bệnh Người Việt cũng dùng phương pháp luận trị theo kinh nghiệm mang tính dân gian Đến khi Việt Nam có cơ hội tiếp xúc với nền y học của Trung Quốc, nền y học truyền thống Việt Nam đã tiếp thu nền y học Trung Quốc Những thành tựu về y học truyền thống Trung Quốc đều được người Việt Nam tiếp thu, đó là hệ thống luận trị, y học truyền thống Trung Quốc, đó là những học thuyết Âm dương - Ngũ hành, Thiên nhân hợp nhất, thuyết Tạng tượng, thuyết Kinh lạc và thuyết Vận khí Tuy nhiên, thành tựu về y học truyền thống Trung Quốc cũng được biến đổi để phù hợp với con người và vùng đất Việt Nam

Sau chiến thắng của Ngô Quyền, nước ta thoát khỏi ách đô hộ, bước vào con đường tự trị Các vị vua đầu tiên phải đối đầu với nhiều thách thức trong việc cải cách đất nước trên mọi phương diện Mặc dù lúc này các mặt như hành chính, văn học, tôn giáo, triết học, y học chưa phát triển bao nhiêu, nhưng đây là giai đoạn đánh dấu sự mở đầu cho thời kỳ tự chủ Dân Việt Nam

đã tạo được nền văn tự riêng biệt, đó là chữ nôm Nhiều tác phẩm nổi tiếng ra đời, những thành tựu về y học cũng được ghi chép đầy đủ hơn xưa Ở các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, các phương thức định bệnh (như lý luận, chẩn đoán, điều trị, dụng dược) đều dựa vào y học Trung Quốc mà thực hiện Các phương pháp chữa bệnh tầm thường, thô sơ, mê tín dị đoan vẫn tồn tại trong

xã hội Giai đoạn này, Việt Nam không ngừng tiếp thu văn học, triết học, văn hóa và y học Tại Việt Nam vào thời nhà Lý (1010-1224) năm 1136, đã có những danh y kiêm pháp sư như Nguyễn Minh Không, một trong những người phát triển y học truyền thống Việt Nam ở thời kỳ đầu

Đến thời nhà Trần (1225-1399), y thuật vào thời kỳ này tiến bộ về nội khoa cũng như ngoại khoa Các lương y tuy có những bài thuốc gia truyền,

Trang 21

nhưng lý luận và điều trị vẫn dựa trên cơ sở triết học Trung Quốc Trong đó, thời nhà Trần (1225- 1399) y học Việt Nam bước sang một giai đoạn phát

triển mới với sự xuất hiện của nhà y học Tuệ Tĩnh Tuệ Tĩnh sinh ở làng

Nghĩa Phú, Tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương Ông đậu đệ nhị giáp Tiến sĩ Hoàng Giáp Tuệ Tĩnh là một nhà sư thông minh lỗi lạc, nghiên cứu rộng bí quyết âm dương, tìm hiểu sâu rộng thuật Hiên Kỳ Tuệ Tĩnh xây dựng thêm nền móng hệ thống luận trị của y học truyền thống Việt Nam Tuệ Tĩnh đã khái quát hóa các tư tưởng về y lý, y thuật, phát huy nền y học nước nhà Về sau, Lê Hữu Trác đã kế thừa Tuệ Tĩnh

trong việc biên soạn quyển Lĩnh Nam bản thảo Các danh y đã vận dụng các

học thuyết triết học để luận giải y lý, y thuật của họ Các tác phẩm của họ đã phát triển nền y học truyền thống Việt Nam đến đỉnh cao của học thuật

Nhà Hồ (1400-1406) đẩy mạnh việc phát triển xã hội, xây dựng các sở chữa bệnh cho nhân dân, tại trung ương có thái y viện Từ đó sách thuốc ngày càng nhiều, sự học thuốc ngày càng sâu rộng Việt Nam thời lập quốc đã có cách chữa bệnh bằng nhiều phương pháp khác nhau như bùa chú, dưỡng sinh, châm cứu, thuốc thang,… Triều đình đã có thái y viện, nền y học Việt Nam

có những bước phát triển mới Tuy nhiên, nền móng y học Việt Nam chưa đắp bồi được bao nhiêu thì y dược Việt Nam bị tổn thất và bị đẩy lùi vì nhà Minh xâm lược

Thời nhà Hậu Lê 1428-1788), vua Lê Thánh Tông (1480-1497) xây dựng một bộ luật nổi tiếng, đó là bộ luật Hồng Đức Bộ luật này quy định về pháp y và các phương pháp phòng chống dịch bệnh

Từ trước cho đến thế kỷ XVIII, nền y học Việt Nam cơ bản vẫn mang tính cổ truyền, được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm dân gian Đến Lê Hữu Trác, nền y học cổ truyền Việt Nam được nâng lên một tầm cao mới Với học vấn uyên bác, óc sáng tạo, độc lập nghiên cứu, ông luôn coi trọng kinh

Trang 22

nghiệm chữa bệnh trong nhân gian, kết hợp với nghiên cứu về khí hậu, thời tiết… Ông có những quan điểm đúng đắn, phù hợp để chữa bệnh Lê Hữu Trác đã có công sưu tầm, thu thập những phương thuốc, kinh nghiệm trong dân gian, đã phát hiện, bổ sung thêm nhiều vị thuốc Nam mới Sau bao nhiêu năm tìm tòi, nghiên cứu, ông đã để lại cho nền y học Việt Nam một tác phẩm

y học vô cùng có giá trị, đó là bộ Hải Thượng Y tông tâm lĩnh

Học thuyết Âm dương - Ngũ hành cũng góp phần hình thành tư tưởng

triết học của Lê Hữu Trác Thuyết Âm dương - Ngũ hành là thuyết thể hiện quan niệm duy vật chất phác về tự nhiên, ở đó cũng thể hiện tư tưởng biện chứng sơ khai về tự nhiên, con người và xã hội của người Trung Quốc cổ đại

Lý luận Âm dương - Ngũ hành có ảnh hưởng rất sâu sắc đến các trường phái cũng như cá nhân các nhà tư tưởng Trung Quốc Học thuyết này không những

là khởi điểm của tư duy triết học Trung Quốc cổ đại, mà còn là tiền đề tư tưởng chỉ đạo của y học truyền thống Các nhà nghiên cứu xác định: “Thuyết

Âm dương - Ngũ hành có tác dụng nhất định với các môn học tự nhiên như thiên văn, lịch pháp, y học, hóa học” [24, tr.314]

Theo thuyết Âm dương - Ngũ hành thì trong thế giới sự vật - hiện tượng có hai yếu tố luôn luôn đối chọi với nhau nhưng lại thống nhất với nhau

và là khởi nguyên của mọi quá trình hình thành và biến hóa, hai yếu tố đó là

âm và dương

Ở đây âm, dương không phải là hủy thể của nhau mà là điều kiện tồn tại của nhau, điều kiện tồn tại của sự vật, là động lực của vận động và phát triển Biểu hiện cụ thể của âm dương là các cặp đối lập Ví dụ: sáng - tối, cao

- thấp, dài - ngắn, nhanh - chậm, nóng - lạnh, lẻ - chẵn, nam - nữ, quân tử - tiểu nhân, cha - mẹ, chồng - vợ, thịnh - suy, đẹp - xấu… Trong đó, mặt thứ nhất thuộc dương, mặt thứ hai thuộc âm, không có cái gì thuần âm hoặc thuần dương mà trong mỗi sự vật bao giờ cũng có mặt đối lập (trong âm có dương,

Trang 23

trong dương có âm, luôn luôn tương tác, chuyển hóa cho nhau) Trong Thái dương (dương lớn) có Thiếu âm (âm nhỏ), “dương nhỏ” trong “âm lớn” phát triển đến cùng thì có sự chuyển hóa “âm lớn” thành “dương lớn” và ngược lại Quá trình diễn ra ở mặt kia (Thái dương) cũng như vậy Và cứ như thế sự vật vận động, phát triển không ngừng

Trong thuyết Ngũ hành, năm yếu tố là năm đại nguyên tố nguyên thủy của tự nhiên: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Chúng được xem là các dạng khác nhau của vận động, là các hình thức tồn tại khác nhau của hai khí âm - dương Thuyết Ngũ hành cho rằng: các yếu tố vật chất nguyên thủy nói trên luôn luôn vận động, có quan hệ mật thiết và chuyển hóa lẫn nhau tạo sự thay đổi Các nhà Âm dương đã chia sự tác động lẫn nhau của Ngũ hành là tương sinh và tương khắc, theo chu trình lặp đi lặp lại có tính chất tuần hoàn Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa tiếp tục sinh Kim Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ Quá trình tương sinh là quá trình bồi đắp, nuôi dưỡng; quá trình tương khắc là ước chế Đây là quá trình sinh - diệt của vạn vật và thực chất quá trình tồn tại của vật chất chính là dòng sinh - diệt liên tục, bất tận đó Như vậy, thuyết Âm dương - Ngũ hành thừa nhận tính vật chất của thế giới

Quan điểm ngũ hành tương sinh và ngũ hành tương khắc là một cống hiến quan trọng của triết học Trung Quốc cổ đại Tuy còn mang tính chất phác, tự phát, miêu tả sự biến đổi bề ngoài và quan niệm sự vận động là tuần hoàn khép kín song thuyết ngũ hành đã vẽ nên bức tranh sống động về hiện thực, trong đó vạn vật tương tác, thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau và biến đổi không ngừng

Theo thuyết này có các quy luật trong ngũ hành Trong ngũ hành có quy luật tương sinh, tương khắc, song đó là mối quan hệ thuận chiều Sự khắc chế chỉ được thực hiện khi chủ thể gây ra sự khắc chế đủ mạnh Ví dụ, tuy thổ

Trang 24

khắc thủy, nhưng đất vách tường thì sẽ bị nước lớn cuốn trôi (trong trường hợp này thì thủy khống chế thổ) Tuy kim khắc mộc nhưng khi mộc vượng thì kim suy; tuy mộc khắc thổ nhưng khi thổ vượng thì mộc suy; tuy hỏa khắc kim nhưng khi kim vượng thì hỏa suy Cứ như vậy, vòng phản ngược của ngũ hành cũng giống như quy luật tương sinh - tương khắc Như vậy, trong thịnh

đã tiềm ẩn mầm suy vong Ngũ hành tương sinh - tương khắc là kế tiếp lý thuyết âm dương, làm lý thuyết âm dương thêm sáng tỏ Lý thuyết âm dương được xem làm gốc để các quy tắc ngũ hành được vận dụng trong các lĩnh vực

có hiệu quả

Quan điểm về Âm dương cũng thể hiện qua tác phẩm Dịch truyện Đây

là công trình của nhiều tác giả qua nhiều thế hệ tham gia Dịch truyện là một

tác phẩm triết học trong đó có nhiều yếu tố duy vật, có tư tưởng biện chứng trong quan niệm về tự nhiên và xã hội, dù còn ở trình độ chất phác, thô sơ

Trong Chu dịch có hai bộ phận là Kinh (Dịch Kinh) và Truyện (Dịch truyện) Trong Dịch Kinh có tám quẻ (khái niệm) bao quát tất cả các hiện tượng tự

nhiên, xã hội và tư duy: Càn, Khôn, Chấn, Cấn, Tốn, Đoài, Khảm, Ly Tám quẻ này kết hợp với nhau thành 64 quẻ kép Mỗi quẻ kép có sáu hào (có hào

âm và hào dương, hào âm là chẵn biểu thị bằng hai nét đứt - -, hào dương là lẻ biểu thị bằng một nét liền - ), tất cả có 384 hào Trong mỗi quẻ kép, các hào tương tác “sinh” “khắc” với nhau, tạo nên muôn sự biến hóa của quẻ

Về bản thể luận, Dịch truyện cho rằng khởi nguyên của thế giới là do

hai khí âm dương, hai khí đó giao cảm với nhau mà thành vạn vật, mà có sự

hóa sinh của vạn vật Mở đầu của Dịch truyện (Hạ kinh) bằng quẻ Hàm Quẻ

Hàm có Cấn (Thiếu nam, Dương) ở dưới, quẻ Đoài (Thiếu nữ, Âm) ở trên Cấn - Đoài giao cảm với nhau mà thành vạn vật Biểu hiện tối cao của hai khí

âm dương (dưới dạng hình thể) là Đất - Trời Đất - Trời giao cảm là cội nguồn của mọi hiện tượng trong tự nhiên và xã hội

Trang 25

Các tác giả của Dịch truyện cho rằng, mọi vật luôn trong trạng thái

động, tương tác lẫn nhau, luôn luôn có sự mất đi của vật này và sự xuất hiện của vật kia, tất cả trong một dòng chảy bất tận, không có vật nào đứng yên Họ cũng cho rằng, mỗi vật trong bản thân nó bao giờ cũng có các mặt đối lập, mỗi

sự vật là sự thống nhất của các mặt đối lập đó Một âm một dương gọi là

“Đạo” Trong các cặp đối lập, ví dụ như Thiên dương - địa âm, Thiên cao - Địa thấp, mặt thứ nhất là chủ động, định hướng, mặt thứ hai là bị động, phụ thuộc

Tóm lại, vạn vật trong vũ trụ luôn tồn tại trong sự tương tác, tác động qua lại lẫn nhau Các quy luật tương sinh, tương khắc của ngũ hành tạo cho sự cân bằng vũ trụ Các quy luật của Ngũ hành được diễn giải rõ trong y lý cổ truyền phương Đông và đặc biệt trong các sáng tác của Lê Hữu Trác Ông khẳng định: “Nghề làm thuốc đâu có thể vượt ra ngoài nguyên lý âm dương ngũ hành mà cứu chữa được những bệnh tật nguy nan” [43, tr.217]

Tư tưởng của Nho giáo đã góp phần hình thành tư tưởng triết học của

Lê Hữu Trác Thời Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kỳ nở rộ xuất hiện các nhà

tư tưởng, các trào lưu triết học Lịch sử gọi đây là thời kỳ “Bách gia chư tử”,

“Bách gia tranh minh” Trong quá trình đó đã sinh ra Nho giáo Người sáng lập

ra Nho giáo chính là Khổng Tử, ông được người đời tôn vinh là Vạn thế sư biểu Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của người Trung Quốc, nó ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa - xã hội, tinh thần của người dân và đường lối trị quốc của các triều đại phong kiến Cùng với sự phát triển của xã hội, Nho giáo cũng có những thay đổi qua các thời kỳ: sau thời kỳ Nho giáo tiên tần (tư tưởng của Khổng - Mạnh) là đến Hán Nho, Tống Nho…

Nho giáo du nhập vào Việt Nam thời Bắc thuộc, do tầng lớp thống trị Trung Quốc áp đặt Nho giáo thời kỳ này không còn là Nho giáo tiên Tần nguyên thủy mà là Hán Nho

Đến thế kỷ XVIII Nho giáo vẫn là công cụ chính của các tập đoàn phong kiến để xây dựng chính quyền và củng cố trật tự xã hội Chính sự rối

Trang 26

ren, loạn lạc trong xã hội dẫn đến tư tưởng triết học và chính trị - xã hội thời kỳ này là những tư tưởng về vấn đề như nguồn gốc của trị loạn, nguyên nhân của

số phận, những chủ trương về đường lối trị nước, thế nào là đạo làm người…

Chiến tranh, loạn lạc, đau khổ, chết chóc là điều khiến các nhà tư tưởng

có lương tri phải suy nghĩ Họ phải tìm nguyên nhân của trị loạn Ở thế kỷ XVIII có hai quan điểm về vấn đề này, đó là quan điểm coi trọng lòng dân (quan điểm của Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm) và quan điểm cho ý trời thể hiện ở lòng dân (quan điểm của Ngô Thì Sĩ) Có thể thấy, quan điểm của những người như Ngô Thì Nhậm tuy chưa phải là duy vật và vô thần nhưng thể hiện ý thức coi lòng dân là động lực và được lòng dân thì vận tốt sẽ tới Con quan điểm của Ngô Thì Sĩ mang tính duy tâm tôn giáo, kiểu thiên nhân cảm ứng vốn có của phương Đông

Một cặp phạm trù khác ở thế kỷ XVIII thường được bàn tới với hai lập trường, hai loại quan điểm khác nhau, đó là “thời” và “mệnh” Loại thứ nhất cho rằng mỗi người có một mệnh và do trời phú cho Loại thứ hai thì khác, nó thừa nhận có mệnh trời ở khâu kết cục, ở chặng cuối cùng của một quá trình hành động, vì không phải việc làm nào của con người cũng đạt được kết quả tốt đẹp, phù hợp với ý muốn chủ quan Loại quan điểm sau là biện chứng và tích cực trong đương thời

“Lý - khí” là cặp phạm trù nói nên lập trường triết học của nhà tư tưởng, là cặp phạm trù cơ bản của Tống Nho, lần đầu tiên được bàn ở thế kỷ XVIII (do kiến thức được mở rộng, các nhà tư tưởng đã vươn tới lĩnh vực có

ý nghĩa này) Bàn về mối quan hệ giữa “lý” (tinh thần) và “khí” (vật chất), dùng khí để giải thích nguồn gốc của thế giới, các nhà tư tưởng thế kỷ XVIII

đã nâng trình độ tư duy của dân tộc lên một bước của lý tính hóa

Thời thế đảo điên của thế kỷ XVIII khiến các nhà tư tưởng lại tìm đến đạo làm người để xây dựng lẽ sống cho mình và cho người, nhằm góp phần

ổn định xã hội

Trang 27

Vấn đề đặt ra cho các nhà tư tưởng lúc bấy giờ là xuất thế (lánh dời) hay nhập thế (ra làm quan giúp đời) Người chủ trương xuất thế thì có nhưng không nhiều Người chủ trương nhập thế lúc này mới là lực lượng chủ yếu

Sự vận động của xã hội với nhịp điệu căng thẳng, với sự hưng phế dồn dập khiến họ không thể làm ngơ Họ phải lao vào cuộc sống để hành động và tìm hiểu, để bàn bạc và chứng minh cho quan điểm của mình

Đạo Nho là đạo nhập thế, những người chủ trương nhập thế đều lấy đạo Nho hướng dẫn cho suy nghĩ và hành động của mình Nhưng sự gắn bó với đạo Nho có những mức độ khác nhau Một số người ngập ngừng với lý tưởng, một

số người thì kiên trì đạo lý nhưng trên các lập trường khác nhau, đối lập nhau

Bên cạnh đạo làm người kiểu Nho gia, có đạo làm người của Lê Hữu Trác Ông hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, có nghĩa là ông già lười, không cần

ra làm quan, không màng danh lợi Tư tưởng của ông đã mở ra một hướng khác của thực hiện lý tưởng nhân nghĩa đương thời

Thế kỷ XVIII như là đỉnh cao của lịch sử tư tưởng Việt Nam từ trước cho đến bây giờ So với trước, tác phẩm của thế kỷ này nhiều hơn, đa dạng hơn, phạm vi của tư tưởng rộng hơn, đấu tranh trên lĩnh vực lý luận - tư tưởng cũng rõ hơn Ở thế kỷ XVIII, nhà tư tưởng có tâm nhìn cao Trong họ, yếu tố người lấn át yếu tố thần, yếu tố khai sáng nhiều hơn yếu tố bảo thủ Họ đã tiến tới ngưỡng cửa của ý thức sáng tạo Tư tưởng và việc làm của họ đã đặt ra vấn đề đổi mới tư duy lúc bấy giờ Trong một giai đoạn lịch sử với nhiều diễn biến phức tạp như thời kỳ này thì các nhà tư tưởng Việt Nam cũng phát triển quan điểm, lý luận của mình theo những khuynh hướng khác nhau Và Lê Hữu Trác đã chọn cho mình một hướng đi riêng, dùng nghề y để giúp người, giúp đời, không màng đến công danh Qua nghề y, ông đã thể hiện những quan điểm, tư tưởng của mình về thế giới, con người và xã hội

Đi sâu vào nghiên cứu nghề y, Lê Hữu Trác ít chú ý đến lý luận chính trị, đạo đức phong kiến trong Nho giáo mà lại chú ý nhiều đến quan niệm

“Thiên nhân hợp nhất” trong các tác phẩm của Mạnh Tử và Trang Tử

Trang 28

Quan điểm Thiên nhân hợp nhất cho rằng con người và tự nhiên thống nhất với nhau Trong đó, trời là vị thần tối cao chi phối từ tự nhiên đến xã hội Đây cũng là tư tưởng triết học quan trọng của Âm dương gia, Nho gia và Đạo gia Thuyết thiên nhân hợp nhất trở thành tư tưởng trọng yếu, hình thành một đặc điểm tư duy biện chứng chỉ đạo y học truyền thống Theo thuyết thiên nhân hợp nhất, trời người hòa hợp với nhau, trời và người cảm ứng với nhau, trời người cùng tâm, cùng lý và con người là một vũ trụ thu nhỏ, con người cùng trời đất tương ứng với nhau để sinh tồn, con người và trời đất tương ứng với nhau Lê Hữu Trác cũng giải thích rõ quan điểm cho rằng con người và tự nhiên tương ứng với nhau thành một chỉnh thể thống nhất Ông viết: “thân thể con người là một vũ trụ thu nhỏ, bẩm thụ được khí trọn vẹn của âm dương, có

đủ sự biến hóa, nuôi dưỡng của ngũ hành” [43, tr.539]

Con người chịu ảnh hưởng của vận khí bốn mùa Theo Lê Hữu Trác, bệnh tật của con người ít nhiều đều gắn liền với thời tiết, khí hậu Ông cũng viết: “sự sinh, trưởng, hóa, thu, tàng đều do những khí của tạo hóa thành lập” [43, tr.84]

Nhìn chung, thuyết thiên nhân hợp nhất và thuyết âm dương - ngũ hành đều là những học thuyết xây dựng nên toàn bộ hệ thống luận trị của y học truyền thống Từ đó, đã hình thành và phát triển nền y học truyền thống phương Đông, đặc biệt ứng dụng triệt để trong tư tưởng triết học cũng như trong y lý, y thuật của Lê Hữu Trác

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Hữu Trác

1.2.1 Cuộc đời của Lê Hữu Trác

Lê Hữu Trác (1720 - 1791) là danh y, nhà văn, nhà tư tưởng thời Hậu

Lê Ông nguyên quán ở thôn Văn Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương, biệt hiệu là Hải Thượng Lãn Ông Hải Thượng Lãn Ông được ghép từ chữ “Hải” (là tên tỉnh Hải Dương), “Thượng” (là tên phủ

Trang 29

Thượng Hồng), “Lãn” (có nghĩa là lười, người lười biếng với việc công danh, một phong thái nhuốm màu vô vi của Lão Tử) Cống hiến cả đời mình cho văn hóa, khoa học vì nhân dân, vì dân tộc

Lê Hữu Trác sống vào thời kỳ sóng gió nhất của lịch sử đất nước nhưng ông là một tấm gương điển hình của người tri thức, hết lòng vì nhân dân Ông

đã kế thừa những truyền thống cao quý của dân tộc: nhân, trí, dũng và phát huy nó trong lĩnh vực hoạt động của mình Suốt đời tận tụy phục vụ nhân dân, vừa là người cứu chữa, vừa là người thầy, vừa là người thầy của nhân dân

Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng Ông nội của ông là Lê Hữu Danh, đậu đệ nhị giáp tiến sĩ Cha của ông là Lê Hữu Mưu, đậu đệ tam giáp tiến sĩ Anh của ông là Lê Hữu Kiển, đậu đệ tam giáp tiến sĩ Cha của Lê Hữu Trác làm quan Thị lang bộ công ở triều Lê Dụ Tông, được gia phong chức ngự

sử, khi mất được truy tặng Thượng Thư Dòng họ của Lê Hữu Trác có truyền thống khoa bảng Ông nội, chú, bác, anh em đều đỗ tiến sĩ và làm quan to Lê Hữu Trác là người con thứ bảy của Lê Hữu Mưu và Bùi Thị Thưởng

Thời đó, xu thế chung của tầng lớp sĩ phu là chạy theo khoa cử Xu thế đó lôi cuốn mọi người đến mức Lê Quý Đôn đã phải nói: người ta đạp nhau chết ở trường thi Vậy mà Lê Hữu Trác, một người tài cao, học rộng, lại không màng công danh và trở thành một nhà y học lớn, một danh nhân của nước nhà

Lê Hữu Trác sống trong lúc chế độ phong kiến đang tan rã, xã hội rối ren cực độ, nhà Lê đang bước vào khủng hoảng trầm trọng Chúa Trịnh, chúa Nguyễn phân tranh đất nước, áp bức và bóc lột nhân dân thậm tệ, đời sống nhân dân cực khổ, phong trào nhân dân nổi dậy khắp nơi Ngọn lửa chiến tranh chống phong kiến ngày càng lan rộng Đứng trước tình hình ấy, ông đại diện cho người tri thức lương tri bị cắn rứt, khát vọng đi tìm chân lý

Năm 1740, sau khi cha mất, ông học binh thư, tham gia vào quân đội của Chúa Trịnh và trở thành võ tướng với mong muốn đem ứng dụng cái sở

Trang 30

học của mình Nhờ biết trù tính kế hoạch quân sự thích hợp, ông cầm quân thường thắng trận Tuy nhiên, qua mấy năm sống trong hàng ngũ quân đội Trịnh, ông nhìn rõ sự thối nát của chính quyền nhà Trịnh không có lợi cho dân, nhất là cảnh đau thương chết chóc, tàn sát nhân dân do bọn phong kiến gây nên, ông càng không muốn phục vụ tập đoàn phong kiến nhà Trịnh nữa

Vì vậy, mấy lần thống tướng của chúa Trịnh muốn đề bạt nhưng ông đều từ chối Ông đã nói một câu nổi tiếng: “Há dễ mong cầu, đáng hận là trời làm cho mình nhọc nhằn làm gì?” (Khởi kham cầu thụ, khả hận thiên chi lão ngã thành hà dụng) [43, tr.21] Tư tưởng này có một ý nghĩa triết học tích cực: hoài nghi những giá trị tinh thần, những “thần tượng” của giai cấp phong kiến thống trị đang bước nhanh đến chỗ diệt vong

Lúc đó, tuy còn ở trong hàng ngũ quân đội Trịnh, nhưng ông chán ghét chiến tranh và nuôi sẵn ý chí ra khỏi quân đội Lấy cớ anh mất, mẹ già, cháu dại không người nuôi dưỡng, năm 1746 ông về quê mẹ và ở đó tự hun đúc chí hướng cho mình Theo Lê Hữu Trác, dù theo Trịnh hay phò Lê, vẫn là theo đuổi những cuộc chiến tranh tàn bạo, cho nên quá trình chiến đấu là phưu lưu, điều này lại không phải chí hướng của ông

Lúc bấy giờ, thái độ phổ biến của hầu hết những tri thức chán ghét chế độ phong kiến là hoặc tìm vào triết học Lão Trang, hoặc tìm vào tôn giáo Riêng Lê Hữu Trác, sau thời gian chữa bệnh và đọc sách thuốc tại nhà lương y Trần Độc (ở Rú Thành, Nghệ An), sống gần gũi với nông dân nghèo khổ luôn luôn bị đói rét và bệnh tật dày vò, ông đã thấy được rằng làm nghề thuốc, chữa bệnh cứu người là chí hướng thích hợp hơn hết với lòng nhân đạo của ông Từ đó, nhiều lần ông đã khước từ quân lệnh ra làm võ tướng hay dụ dỗ ra làm quan, ông dốc sức vào việc nghiên cứu y học để giúp ích cho đời Khác với nhiều thầy thuốc coi nghề làm thuốc là nghề kiếm ăn, cầu danh, mưu lợi, ông muốn lấy nghề thuốc để làm việc nhân nghĩa và góp phần xây dựng y học nước nhà

Trang 31

Tóm lại, từ con người hoài nghi, Lê Hữu Trác đã tích cực chuyển sang con người hành động Đó là con đường đi tích cực của ông, con đường đó đã chi phối tư tưởng, tình cảm và hoạt động của ông suốt hơn 40 năm sau

Ở Hương Sơn, ông đọc sách Trung Y, vừa tự học, vừa trao đổi với đồng nghiệp, vừa chữa bệnh cho nhân dân địa phương Mùa thu năm 1754, ông ra kinh đô, mua sách về Hương Sơn tiếp tục học tập và chữa bệnh Do tài năng và đức độ hiếm có, sau 10 năm ông đã nổi tiếng một vùng

Từ năm 1760, ông càng đi sâu hơn vào y học Ngoài việc nghiên cứu các sách Trung y, ông còn thu thập kinh nghiệm trong dân gian, sưu tầm dược liệu, tìm ra những vị thuốc mới Ông trung thực ghi chép bệnh án để tích lũy kinh nghiệm Trong quá trình vừa nghiên cứu, vừa trị bệnh cứu người, ông rất thiết tha với việc viết sách, in sách và mở lớp truyền bá y học

Sau 30 năm lao tâm khổ tứ, ông đã soạn xong một công trình đồ sộ: Hải

Thượng Y tông tâm lĩnh

Từ chối công danh, phú quý, rút về vùng quê hẻo lánh, cơm rau áo vải, làm nghề thuốc giúp ích cho đời, nhưng ông cũng không được yên thân.Mùa xuân năm 1782, ông bị triệu ra kinh đô chữa bệnh cho con của chúa Trịnh Sâm Hơn nửa năm lưu lại kinh đô, ông đã xem bệnh và kê đơn cho cha con chúa Trịnh Cũng thời gian này, nhiều người được ông chữa khỏi bệnh, tiếng tăm ông lừng lẫy Cuối năm 1782, ông trở về Hương Sơn, tiếp tục sự nghiệp y học Mặc dù tuổi đã già nhưng ông vẫn nhiệt tâm làm việc, làm việc nhiều

hơn: chữa bệnh, dạy học, nghiên cứu, bổ sung bộ sách Hải Thượng Y tông

tâm lĩnh, viết cuốn Thượng kinh ký sự, một tác phẩm có giá trị lớn về văn học

và sử học, phục vụ cho đời cho đến khi mất

Cuộc đời của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác thực là cao thượng, ông là tấm gương sáng về đạo đức cũng như trí tuệ mà các thế hệ đi sau cần noi theo và kính trọng

Trang 32

1.2.2 Sự nghiệp của Lê Hữu Trác

Trải qua hơn hai thế kỷ, người ta không ngớt lưu truyền tên tuổi của danh y Lê Hữu Trác Những tư tưởng triết học và đạo đức của Lê Hữu Trác

đã khẳng định vị trí của ông trong hàng ngũ những nhà tư tưởng trưởng thành

từ nghiệp y, cũng như trong lịch sử tư tưởng dân tộc

Nghề nghiệp chính của Lê Hữu Trác là thăm bệnh bốc thuốc, chữa bệnh cho con người Nhưng nghề này không đơn thuần chỉ là công việc kê cứu bệnh tật và thuốc thang, mà đằng sau nó còn là cả một hệ thống y lý có liên quan tới thế giới quan chung của con người

Hải Thượng Lãn Ông xứng đáng là danh y Việt Nam vì ông đã hết lòng

vì sự nghiệp y học nước nhà Ông đã biết thừa kế học thuật của những bậc danh y đời trước và nêu cao tinh thần độc lập sáng tạo, tiếp thu học thuật nước ngoài có phê phán, có phát triển Ông luôn luôn độc lập suy nghĩ, vận dụng linh hoạt vào thực tế lâm sàng, đúc rút kinh nghiệm làm sáng tỏ nhiều điều ngờ vực, bổ sung những chỗ người xưa chưa nói tới Ông đã coi nghề y là một nghề cao quý, coi việc bảo vệ sinh mệnh con người là nhiệm vụ hàng đầu Ông rất thận trọng trong khi khám bệnh, chữa bệnh

Ông có những nét nổi bật trong sự nghiệp y học Đầu tiên là việc ông

nhận rõ trách nhiệm với tương lai y học nước nhà, đối với việc bảo vệ sức khỏe nhân dân Từ năm 1760, ông mở lớp huấn luyện y học Ông trao đổi kinh nghiệm phòng bệnh, chữa bệnh với bạn đồng nghiệp, tập hợp kinh nghiệm phân ra Ông tìm hiểu quan hệ giữa khí hậu, thời tiết với bệnh tật ở nước ta Ông ghi chép bệnh án để rút kinh nghiệm những bệnh chữa khỏi và những bệnh chữa không khỏi Qua gần 30 năm, ông tổng kết tinh hoa của

Trung y và y học dân tộc cổ truyền, biên soạn bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển Bộ Y tông tâm lĩnh của ông được đánh giá cao trong và

ngoài nước Bộ sách này đánh dấu một bước tiến mới trong sự nghiệp y học

Trang 33

cổ truyền Việt Nam, góp phần xây dựng, phát triển nền y học đất nước ta Lần đầu tiên, trong y học nước nhà, nhờ sự cố gắng phi thường của Hải thượng Lãn Ông, đã có một công trình trước tác y học lớn, có hệ thống, phong phú, sâu rộng,

có giá trị cao cả về lý thuyết và thực hành Đây là bộ sách ông đã biên soạn gần

suốt đời mình Bộ sách Hải Thượng Y tông tâm lĩnh đã vạch ra những vấn đề rất

sâu sắc về tư tưởng, quan điểm, nội dung và phương pháp đáng nghiên cứu, học tập cho các nhà y học và khoa học của nước ta hiện nay và sau này Bộ sách có tính “toàn thư” cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp y học cổ truyền

Công trình khoa học lớn đó không những được các nhà y học và các nhà tri thức mà cả nhân dân đương thời đánh giá rất cao Nhiều người đã truyền tay nhau, sao chép lại để học tập và ứng dụng Quan điểm và học thuật của ông rất được tôn sùng Lúc đó, nhiều gia đình lập bàn thờ, thờ ông như một vị thánh sống Sau này nhiều thầy thuốc coi ông như tổ sư Có nhiều nơi

vẽ ảnh hoặc tạc tượng Lãn Ông

Thứ hai, về mặt quan điểm và tư tưởng y học, Hải Thượng Lãn Ông đã

có ý thức về đối tượng phục vụ của mình: vì người nghèo mà làm thuốc, làm khoa học Ông là người thấy thuốc của nhân dân lao động và điều đó là một tư tưởng vững chắc, một sự “tự ý thức” của bản thân ông Ông nhấn mạnh:

“Nghề thuốc là một nghề thanh cao, là một nghề có lòng nhân” và “ đạo làm thuốc là một nhân thuật có nhiệm vụ giữ gìn tính mạng người ta, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, làm phận sự của mình mà không cầu lợi kể công” [43, tr.7] Ông đề ra những nguyên tắc đạo đức của người thầy thuốc: đối với mọi người đều luôn khiêm tốn, đối với người bệnh thì “cứu bệnh như cứu hỏa” [43, tr.9] Ông không phân biệt sang, hèn mà quan tâm nhiều đến người nghèo, đối với phụ nữ thì “phải có người nhà mới được vào xem bệnh” [43, tr.9] Ông hết sức đề cao sức mạnh của con người và khả năng nhận thức của con người trong cuộc đấu tranh phòng chống bệnh tật và gạt ra ngoài lề mọi sự mê tín về số mệnh và các lực lượng siêu nhiên và tỏ rõ thái độ không

Trang 34

chịu bó tay trước mọi trường hợp hiểm nghèo và đòi hỏi người thầy thuốc phải “vắt hết ruột gan, moi tận đáy lòng” để tìm phương cứu chữa Theo ông, phương châm của người thầy thuốc là “Quên mình cứu chữa người ta, ngoài

ra tất cả chỉ là mây trôi” [43, tr.10]

Thứ ba, về lý luận y học và dược học, Lê Hữu Trác đã giới thiệu một

cách có hệ thống, có chọn lọc, làm sáng rõ lý luận Trung y Bên cạnh đó, ông còn đóng góp độc đáo, sáng tạo nhằm xây dựng một nền y học phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện nước ta Đặc biệt, ông rất trân trọng đối với việc nghiên cứu và phát huy truyền thống thuốc cổ truyền và sử dụng dược liệu trong nước Qua đây, ông tỏ rõ tinh thần tự lực cánh sinh, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta từ xưa nay không ngừng phát huy mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và kiên quyết bảo vệ quyền làm chủ của mình đối với đất nước

Còn về mặt thực hành, Hải Thượng Lãn Ông đã để lại rất nhiều kinh nghiệm của bản thân ông và các bài học hay của các bậc danh y, những kinh nghiệm sưu tầm trong dân gian mà ông đã ghi chép, đúc kết lại

Sự nghiệp y học của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác không thể tách rời sự nghiệp văn học của ông Bởi trong cuộc đời thanh cao của ông, gắn liền với làm thuốc say mê, tận tụy, là thú vui ngâm vịnh và sáng tác Và tập

Thượng kinh ký sự nổi tiếng cũng nói lên những tư tưởng tiến bộ và chủ nghĩa

nhân đạo của ông Lê Hữu Trác đã có một cống hiến vào nền văn học Việt

Nam thế kỷ XVIII, đó là cuốn Thượng kinh ký sự được viết sau chuyến đi

kinh đô năm 1782 theo lệnh gọi của chúa Trịnh Đây là tác phẩm vừa có giá trị văn học lớn, vừa có giá trị sử liệu cao

Như vậy, Lê Hữu Trác hiện lên một con người đáng để ngưỡng mộ Ông không chọn phục vụ cho chế độ phong kiến, không bị cám dỗ bởi công danh phú quý mà đi vào con đường hành động đầy nhân nghĩa và bằng những việc làm của mình đã cống hiến rất lớn lao cho đời

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác hình thành trong những điều kiện nhất định Ở Việt Nam, thế kỷ XVI - XVIII là thời kỳ mà chế độ phong kiến khủng hoảng, xã hội rối ren, sự phân chia đất nước thành Đàng ngoài thuộc chính quyền Lê - Trịnh, chính quyền chúa Nguyễn Đàng trong Về kinh tế, giai đoạn này đã có sự chuyển biến về công thương nghiệp Còn về văn hóa tư tưởng cũng được phát triển mạnh mẽ Trong văn học, khoa học xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, văn học và y học cùng với những tác phẩm danh tiếng của

họ Các học thuyết triết học Âm dương - Ngũ hành, tư tưởng Nho giáo (đặc biệt thuyết thiên nhân hợp nhất), những thành tựu truyền thống của dân tộc là những tiền đề mà Lê Hữu Trác kế thừa, phát triển Tuy nhiên, ông không dừng lại ở những nguyên lý chung đó, mà vận dụng sáng tạo, phát triển trong lĩnh vực y học theo cách của riêng mình

Lê Hữu Trác vừa là nhà tư tưởng, vừa là nhà y học tiêu biểu thế kỷ XVIII Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Hữu Trác gắn liền với sự nghiệp y học nước nhà

Trang 36

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC

CỦA LÊ HỮU TRÁC

2.1 Tư tưởng về bản thể của Lê Hữu Trác

2.1.1 Tư tưởng về vũ trụ

Quan điểm của Lê Hữu Trác về bản thể của vũ trụ thể hiện ở các phạm trù cơ bản: vô cực, thái cực, âm dương - ngũ hành, khí, quan điểm về sự vận động của vũ trụ…

Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác được đặt nền móng trên quan niệm toàn diện, khái quát từ vũ trụ, tự nhiên đến con người Trong quan niệm về sự hình thành vũ trụ Lê Hữu Trác cho rằng, trước khi có vũ trụ, có một cõi vô cực hỗn độn, mờ mịt, đến khi vũ trụ bắt đầu hình thành thì cõi vô cực ấy chuyển hóa thành thái cực Thái cực lại hóa sinh ra vô vàn hiện tượng đối lập thiết yếu cho sự sinh tồn, phát triển của vạn vật trong tự nhiên, đó là lưỡng nghi (gồm hai yếu tố âm và dương), rồi từ lưỡng nghi sinh ra tứ tượng, cuối cùng tạo ra ngũ hành gồm: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ Trong trời đất cũng như trong thân thể đều có sự vận động của âm dương - ngũ hành Chính sự thay đổi, chuyển hóa của âm dương - ngũ hành đưa đến sự sống, cái chết, khỏe mạnh hay bệnh tật của con người Những quy luật của âm dương - ngũ hành chính là nguồn gốc của mọi quá trình diễn ra trong tự nhiên và con người Lê Hữu Trác cũng viết: “vì thiên nhiên tức là một khối thái cực, bao gồm những chất khí hỗn hợp, hình thành ra lưỡng nghi (âm dương) rồi sau mới hình thành

ra khí tượng, biến hóa khôn lường Bẩm sinh của con người cũng từ một điểm mệnh môn hỏa hình thành ra hai quả thận, rồi sau đó năm tạng khác và chân tay mình mẩy mới hình thành Đến như muôn vật, từ sâu bọ đến cây cỏ, hoặc

do hình hóa, khí hóa không một điểm nào không do một điểm thái cực ngưng

Trang 37

kết lại ngay từ lúc đầu, tạo thành phôi thai trứng nước, rồi sau mới thành hình thể” [43, tr.156] Học thuyết âm dương - ngũ hành, thiên nhân hợp nhất là những học thuyết căn bản cho nền triết học phương Đông, cũng là nền móng của toàn bộ hệ thống khoa học, văn hóa, y học phương Đông

Từ nhận thức về bản thể vũ trụ, Lê Hữu Trác cho rằng bản thể vũ trụ có hai bản chất, đó là bất dịch và biến dịch Ông viết: “sự tinh vi của tạo hóa không có dấu vết gì có thể truy tìm được, mà người hiểu biết thu lấy sự biến đổi của mây gió để xem xét, tuy có muôn hình trạng thái khác nhau, song chân lý căn bản vẫn là một” [43, tr.161-162] Như vậy, theo Lê Hữu Trác vạn vật biến thiên nhưng vẫn là một, một là cái bất dịch

Để mô tả bản thể biến dịch, Lê Hữu Trác viết: “Tuy bản thể của âm dương, tác dụng của tạo hóa biến chuyển không ngừng mà chân lý của nó thì chỉ có một” [43, tr.161] Điều đó có nghĩa là, vạn vật hữu hình đa dạng, tất cả đều từ khí biến hóa Trong triết lý của Phật giáo cũng nói “vạn pháp vô thường”, vạn pháp là chỉ những hiện tượng của vũ trụ có sinh, có diệt, có thủy, có chung Như vậy, sự biến thiên diễn ra do sự tương tác giữa các sự vật hiện tượng làm cho chúng tồn tại, biến đổi, do sự tương tác này mà vạn vật luôn xảy ra những quá trình như mâu thuẫn, cân bằng, chuyển hóa

Trong quan niệm bản thể luận, Lê Hữu Trác chấp nhận sự hiện hữu của đấng tạo hóa Ông quan niệm trời vốn vô tình, vì mọi sự vật hiện tượng diễn

ra trong quy luật tự nhiên như thuyết duyên khởi của nhà Phật Bên cạnh đó, ông cũng cho rằng tạo hóa vốn hữu tình vì mọi vật đều có tính riêng của nó, như do một bàn tay sắp đặt an bài, nuôi dưỡng Do cái tình này mà bốn mùa luân chuyển, do cái tình này mà muôn vật kết hợp lại với nhau Cho nên, muôn vật đều có tình, có ý, có tình ý mới hóa sinh Đấng tạo hóa từ vô tình dẫn đến hữu tình Ông viết: “Hãy ngẫm xem khi Bá Nha gảy đàn mà cá lắng nghe Sách nước Lỗ viết xong mà thấy được con Kỳ lân hiện ra Khi thời tiết

Trang 38

tới đúng kỳ thì con chim mùa xuân, côn trùng mùa thu cũng ngâm nga âm điệu vui hay góp phần điểm tô trời đất Muôn vật cũng có tình ý chăng hay ngẫu cảm vậy thôi” [43, tr.20] Như vậy, theo ông tạo hóa từ vô tình mà dẫn đến hữu tình

Theo Lê Hữu Trác, bản thể vũ trụ là vô cực Ông viết: “khi vũ trụ chưa hình thành thì trời đất đều là một khối mịt mờ, gọi là vô cực” [43, tr.158] Bản thể vũ trụ là một khối hỗn độn đó là vô cực, là điều đầu tiên trên thế giới Vô cực này tuyệt đối, viên mãn, trạng thái tịnh là nguồn gốc ban đầu của vạn vật Bản thể vô cực là không, nên nó có thể siêu xuất mọi hình tướng Ông cũng xác định: “từ vô cực thành ra thái cực Vô cực là bầu thái cực chưa chia Bầu thái cực là bầu khí âm khí dương đã phân hóa ra rồi” [43, tr.417] Ông nói:

“Từ một mà vẽ thành hình tròn tức là hình tượng của vô cực” [43, tr.417],

“chính giữa đốt xương sống thứ bảy có một điểm tiểu tâm thận, bên trái là một quả thận thuộc âm thủy, bên phải là một quả thận thuộc dương thủy, đều cách ngang ra một thốn năm phân, khoảng giữa là cung của mệnh môn, tức là cái vòng tròn trắng ở giữa hình vẽ thái cực” [43, tr.418], “khoảng giữa hai quả thận có một điểm sáng đóng kín lại làm khối đan mẫu, thuận tiết ra thành hình người” [43, tr.421] Như vậy theo Lê Hữu Trác, vô cực là bản thể vũ trụ có trước trời đất gọi là tiên thiên Ông viết: “Đã gọi là tiên thiên, thời lúc đó trời chưa có” [43, tr.481]

Bản thể vũ trụ theo Lê Hữu Trác còn là thái cực Lê Hữu Trác viết: “Từ khi mờ mịt không có gì gọi là vô cực, mà đến khi đã thành hình gọi là thái cực, thái cực động sinh dương, tĩnh mà sinh âm” [43, tr.297] Lê Hữu Trác cũng như y học truyền thống cho rằng bản thể vũ trụ là khí thái hư ở giai đoạn thái cực: “Vì tiên thiên tức là một khối thái cực, bao gồm những chất khí hỗn hợp, hình thành ra lưỡng nghi âm dương, rồi sau mới hình thành ra tứ tượng

và biến hóa không ngừng” [43, tr.156] Ta thấy, Lê Hữu Trác xác nhận từ vô

Trang 39

cực đến thái cực, cũng đồng quan điểm của Lão Tử, vũ trụ xuất phát từ vô và quá trình phát triển của nó Lê Hữu Trác cho rằng thái cực là khí, là bản thể vũ trụ Điều này cũng là quan điểm của y học truyền thống Bản thể vũ trụ là khí thái hư ở giai đoạn thái cực Thái cực là khí hỗn độn nguyên thủy sinh ra vạn vật,

là khí nhất nguyên hay khí ở trong lý vô cực, là gốc của muôn vật Ông còn nói:

“Nói thái cực tức là đã có sự phân chia ra âm và dương” [43, tr.417] Như vậy,

khi chưa có vũ trụ, chỉ có bản thể vô cực - thái cực hoàn hảo, tĩnh tại, chưa hiển dương, gọi là giai đoạn tiên thiên Đến khi thái cực động, sinh ra âm dương, âm dương giao cảm thành thiên địa, đây là giai đoạn phân hóa của thái cực hiển dương gọi là giai đoạn hậu thiên: “Hậu thiên là chỉ những vật hữu hình” [43, tr.481] Vậy thái cực trong cơ thể là gì? Và tác dụng của nó ra sao?

Lê Hữu Trác viết: “Bẩm thụ của con người cũng từ một điểm mệnh môn hỏa, hình thành hai quả thận, rồi sau đó các tạng khác, chân tay, mình mẩy mới hình thành” [43, tr.156], “chân âm và chân dương trong thận là thái cực của thân thể nền gốc của sinh mạng” [43, tr.304] Lê Hữu Trác còn gọi thái cực là mệnh môn, long hỏa, nguyên dương hay chân dương ở trong thân người, tại chính giữa hai quả thận Ông viết: “Từ khi sắc huyền, sắc hoàng chưa tách rõ,

mà thủy của số thiên nhất đã sinh ra trước, bào thai chưa hình thành mà điểm đầu tiên tức mệnh môn của hai quả thận đã có trước” [43, tr.421], “Hai quả thận trong cơ thể hợp lại thành một hình thái cực, hai quả thận đều thuộc hành thủy, bên trái là âm thủy, bên phải là dương thủy, mệnh môn nằm giữa hai quả thận” [43, tr.418] Ông còn xác định ngôi vị thái cực trong thân thể con người, cụ thể ông cho rằng: “xét theo hình tượng người bằng đồng xưa thì sự huyền diệu của thái cực trong cơ thể cũng giống như thế” [43, tr.417] Ông cũng cho rằng thái cực cũng là Đế, là Thần Ông viết: “Còn về tiên thiên vô

hình không sao thấy được tức là chữ Đế, trong Kinh Dịch nói “Đế xuất hiện ở

phương chấn”, còn chữ “Thần” là một danh từ hình dung cái năng lực sinh ra

Ngày đăng: 09/06/2017, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (1971), Kỷ niệm lần thứ 250 ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 1720 - 1970, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ niệm lần thứ 250 ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 1720 - 1970
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1971
2. Nguyễn Đổng Chi (1970), “Tinh thần khoa học và tinh thần phục vụ quần chúng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (135), tr.65-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần khoa học và tinh thần phục vụ quần chúng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Năm: 1970
3. Nguyễn Đình Chiểu (1982), Ngư tiều y học vấn đáp, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngư tiều y học vấn đáp
Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1982
4. Doãn Chính (2009), Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
5. Doãn Chính (2009), Từ điển triết học Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
6. Trần Hữu Chính (2008), Tìm hiểu quan điểm nguồn gốc của y học phương Đông, Nxb Thanh Hóa, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quan điểm nguồn gốc của y học phương Đông
Tác giả: Trần Hữu Chính
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2008
7. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh - trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (2009), Những vấn đề Khoa học xã hội và nhân văn, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề Khoa học xã hội và nhân văn
Tác giả: Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh - trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
11. Lê Trần Đức (1970), Thân thế và sự nghiệp y học của Hải Thượng Lãn Ông, Nxb Y học và Thể dục thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thân thế và sự nghiệp y học của Hải Thượng Lãn Ông
Tác giả: Lê Trần Đức
Nhà XB: Nxb Y học và Thể dục thể thao
Năm: 1970
12. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb TP.Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb TP.Hồ Chí Minh
Năm: 1993
13. Nguyễn Hùng Hậu (Chủ biên), Doãn Chính và Vũ Văn Gầu (2002), Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam (tập 1), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu (Chủ biên), Doãn Chính và Vũ Văn Gầu
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
14. Nguyễn Trung Hòa (2000), Đông y toàn tập, Nxb Thuận Hóa, Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông y toàn tập
Tác giả: Nguyễn Trung Hòa
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2000
15. Phùng Hữu Lan (2007), Lịch sử triết học Trung Quốc, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Trung Quốc
Tác giả: Phùng Hữu Lan
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
16. Phùng Hữu Lan (2007), Lịch sử triết học Trung Quốc, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Trung Quốc
Tác giả: Phùng Hữu Lan
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
17. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
18. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
19. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
20. Nguyễn Thị Hồng Mai (2010), “Lê Hữu Trác - nhà tư tưởng thời Hậu Lê”, Tạp chí Triết học, (11), tr.76 - 82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Hữu Trác - nhà tư tưởng thời Hậu Lê”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Mai
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w