Tư tưởng triết học chính trị - xã hội là một trong những nội dung cơ bản của các học thuyết triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại, mà không ít trong số tư tưởng đó vẫn giữ được tính thời sự tr
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ÐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
ƯƠ Ð ỀU KIỆN, TIỀ ĐỀ CHO SỰ ĐỜ Ư ƯỞNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ - XÃ H I CỦA M.T.CICERO TRONG TÁC PHẨ “B Ề CHÍNH QUYỀ ” 10
1.1 Ðiều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa 10
1.2 Tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng triết học chính trị - xã hội của M.T.Cicero 19
1.2.1 Tư tưởng chính trị - xã hội của Socrates 20
1.2.2 Tư tưởng chính trị - xã hội của Platon 22
1.2.3 Tư tưởng chính trị - xã hội của Aristotle 25
1.2.4 Tư tưởng chính trị - xã hội của trường phái Khắc kỷ 28
1.3 Khái quát về thân thế, sự nghiệp của M.T.Cicero và tác phẩm “Bàn về chính quyền” 31
1.3.1 Khái quát về thân thế và sự nghiệp của M.T.Cicero 31
1.3.2 Giới thiệu khái quát về tác phẩm “Bàn về chính quyền” 36
ƯƠ D Ơ BẢ Ư ƯỞNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ - XÃ H I CỦA M.T.CICERO TRONG TÁC PHẨM 42
“BÀN VỀ CHÍNH QUYỀN” 42
2.1 Quan niệm về công lý và các hình thức nhà nước cơ bản 42
2.1.1 Công lý – nền tảng tồn tại và vận hành của nhà nước 42
2.1.2 Quan niệm về các hình thức nhà nước cơ bản trong lịch sử 47
2.2 Quan niệm về mô hình nhà nước lý tưởng 52
2.2.1 Nền tảng của nhà nước lý tưởng 53
2.2.2 Cơ cấu quyền lực trong nhà nước lý tưởng 56
2.3 Lịch sử và vai trò của nghệ thuật hùng biện 65
Trang 42.3.1 Lịch sử của nghệ thuật hùng biện La Mã 65
2.3.2 Vai trò của nghệ thuật hùng biện 70
4 Đánh giá về tư tưởng triết học chính trị - xã hội của M.T.Cicero 72
2.4.1 Giá trị của tư tưởng triết học chính trị - xã hội của M.T.Cicero 73
2.4.2 Hạn chế trong tư tưởng triết học chính trị - xã hội của Cicero 77
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 5MỞ ÐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Triết học ra đời khoảng thế kỷ VIII - VI TCN ở cả phương Đông và phương Tây, trong đó triết học Hy Lạp cổ đại là một trong ba chiếc nôi lớn của triết học loài người Với nền văn minh rực rỡ của mình, thời kì Hy Lạp – La Mã luôn thu hút sự quan tâm tìm hiểu của không ít người nghiên cứu Mặc dù là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình phát triển của lịch sử tư tưởng phương Tây, nhưng những tư tưởng triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại lại có sức ảnh hưởng lớn đối với các trào lưu triết học sau này Tư tưởng triết học chính trị - xã hội là một trong những nội dung cơ bản của các học thuyết triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại,
mà không ít trong số tư tưởng đó vẫn giữ được tính thời sự trong thời đại hiện nay, vì vậy vẫn cần được quan tâm nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị - xã hội Hy Lạp – La Mã cổ đại không chỉ góp phần làm sáng tỏ thêm giá trị của các học thuyết triết học này trong lịch sử, mà còn giúp chúng ta tìm ra sợi dây liên kết giữa triết học cổ đại với triết học Mác, qua đó góp phần bảo vệ và phát triển triết học Mác trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ hiện nay
Trong triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại, Macus Tulius Cicero được nhắc đến như một nhà tư tưởng với những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của triết học, chính trị, luật học và nghệ thuật hùng biện Đặc biệt, tư tưởng của ông được đúc rút từ chính những hoạt động của bản thân ông trong chính quyền La Mã – thời kì chính quyền này gần như đang ở giai đoạn nguy kịch nhất Tuy nhiên, ở Việt Nam, tư tưởng của Macus Tulius Cicero chưa nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu, các sách chuyên khảo về lịch sử triết học phương Tây cổ đại rất ít đề cập đến tư tưởng của ông
Để góp phần làm phong phú thêm các nghiên cứu về giai đoạn triết học phương Tây cổ đại ở Việt Nam, việc đi sâu nghiên cứu về tư tưởng chính trị - xã hội của Cicero là cần thiết Mặt khác, con người dù ở thời đại nào cũng luôn quan tâm
Trang 6đến vấn đề, làm thế nào để xây dựng xã hội tốt đẹp cho chính mình? tiêu chí nào để đánh giá xã hội mà ta đang sống là tốt hay xấu? Việc đi sâu nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị - xã hội trong lịch sử, góp phần nào giải đáp cho chúng ta những câu hỏi đó và cũng hy vọng rút ra từ đó những giá trị vận dụng đối với sự nghiệp xây dựng đất nước ta hiện nay
Từ những lý do trên, tôi chọn: “Tư tưởng triết học chính trị - xã hội của M.T
Cicero trong tác phẩm Bàn về chính quyền” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
với hi vọng góp thêm một công trình nghiên cứu sâu sắc và hệ thống về tư tưởng triết của M.T.Cicero, bổ sung một phần tư liệu cho những người quan tâm đến lĩnh vực này
2 Tình hình nghiên cứu
Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, khi bàn và đánh giá về vị trí, vai trò, ý
nghĩa của nền văn minh Hi Lạp – La Mã, Ph.Ăngghen viết: “Không có cái cơ sở
của nền minh Hi Lạp và Đế chế La Mã thì không có Châu Âu hiện đại Chúng ta không bao giờ được quên rằng tiền đề của toàn bộ sự phát triển kinh tế, chính trị, và trí tuệ của chúng ta là một trạng thái trong đó chế độ nô lệ cũng hoàn toàn cần thiết giống như nó được tất cả mọi người thừa nhận Theo ý nghĩa đó chúng ta có quyền nói rằng: không có chế độ nô lệ cổ đại, thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại” [23; tr 254] Điều này khẳng định rằng thời kì Hy Lạp –
La Mã được đánh giá là mốc thời gian quan trọng trong lịch sử loài người Triết học Hy – La cổ đại là giai đoạn đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của toàn
bộ triết học phương Tây, từ lâu đã lôi cuốn sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều học giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, ở nước ta, do những nguyên nhân khác nhau, giai đoạn triết học La Mã nói chung và triết học Cicero nói riêng chưa thực
sự nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu
Nghiên cứu về triết học Hy Lạp hóa nói chung và tư tưởng Cicero nói riêng, được dịch thuật và xuất bản ở nước ta có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
Trang 7* Những công trình nghiên cứu đề cập đến quan niệm triết học thời kỳ Hy lạp hóa nói chung trong đó có tư tưởng triết học Cicero
Trước hết là cuốn“Lịch sử triết học” của Johannes Hirschberger đã trình
bày khá chi tiết từ ý nghĩa của việc nghiên cứu triết học Hi Lạp – La Mã cổ đại đến sự phân kì lịch sử tư tưởng của giai đoạn này và những tư tưởng triết học của các triết gia tiêu biểu Khi phân tích về triết học thời kỳ Hy Lạp hóa, Hirschberger đánh giá Cicero là một trong số những nhà Triết học Khắc kỷ tiêu biểu, theo ông “chúng ta còn lưu lại phần lớn các nguyên tác của một số triết gia như Platon, Aristotle, Plotin, Philon, Cicero…” [18; tr 15] Tuy nhiên, trong điều kiện phải khảo sát nhiều tư tưởng trong lịch sử, Hirschberger chưa thể trình bày cụ thể tư tưởng của Cicero
Trong cuốn “Lịch sử triết học Phương Tây từ triết học Hy Lạp cổ đại đến
triết học cổ điển Đức” do PGS.TS.Nguyễn Tấn Hùng viết đã trình bày khá cơ bản
về triết học Hi Lạp – La Mã cổ đại với hai thứ tiếng Anh và tiếng Việt Trong đó, tác giả trình bày hoàn cảnh ra đời và nội dung chủ yếu của các học thuyết triết học
cơ bản trong lịch sử Khi đề cập đến trường phái Khắc kỷ, Nguyễn Tấn Hùng nhắc đến Cicero là một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu của phái Khắc kỷ có đóng góp quan trọng cho quan điểm siêu hình học Tuy nhiên, ông vẫn chưa đề cập chi tiết về tư tưởng của nhà triết học này
Cuốn “Lịch sử Hi Lạp và Roma cổ đại” của tác giả Nguyễn Gia Phu cũng
có đề cập đến Cicero như một nhà triết học tiêu biểu của La Mã cổ đại Tuy nhiên, do đây là công trình nghiên cứu thiên về lịch sử nên tư tưởng Cicero vẫn chỉ được nhắc tên, chứ chưa được xem xét một cách chi tiết
Bài viết “Tư tưởng triết học chính trị Hy Lạp cổ đại”, đăng trên tạp chí
Khoa học Xã hội năm 2018 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền đã cho chúng ta cái nhìn khái quát về quan niệm chính trị - xã hội Hy – La cổ đại Trong đó, tác giả đi sâu phân tích quan niệm của các nhà tư tưởng như Socrates, Platon, Aristotle và trường phái triết học tiêu biểu thời kỳ Hy Lạp hóa, trong đó có trường
Trang 8phái Khắc kỷ Đây đều là những nhà triết học và trường phái triết học có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của Cicero sau này, tuy nhiên tác giả chỉ trình bày khái quát quan niệm của trường phái Khắc kỷ mà chưa đi sâu trình bày quan niệm của Cicero
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác như: “Lịch sử triết
học”, tập 1: triết học cổ đại, do Nguyễn Thế Nghĩa, Doãn Chính (chủ biên); “Đại cương lịch sử triết học phương Tây” của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn
Anh Tuấn; “Triết học cổ đại Hy Lạp La Mã” do Hà Thúc Minh (chủ biên) đã dành
một thời lượng nhất định trình bày về các trường phái triết học thời kỳ Hy Lạp hóa trong đó có trường phái Khắc kỷ, nhưng Cicero chưa được nhắc tới trực tiếp
* Những công trình nghiên cứu về tư tưởngchính trị - xã hội của Cicero
Trước hết là cuốn “Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới” (2001)
của các học giả của Liên Bang Nga biên soạn và được Lưu Kiếm Thanh và Phạm Hồng Thái dịch Đây là một cuốn sách có nhiều giá trị, giới thiệu khái quát lịch
sử và nội dung cơ bản nhất các học thuyết chính trị của nhân loại từ cổ đại tới hiện đại Ở chương III của cuốn sách có bàn về học thuyết chính trị La Mã cổ đại, trong đó có Cicero Các tác giả đã đánh giá tư tưởng chính trị của Cicero như một quan điểm ủng hộ và bảo vệ chế độ chủ nô, nhưng chưa xét đến yếu tố thời đại đã chi phối những tư tưởng này
Trong “Rome – đế quốc hùng mạnh nhất” của Nigel Rodgers (do Hàn Thị
Thu Vân biên dịch), đã tái hiện rất chi tiết về nhà nước La Mã cổ đại và trình bày
về các nhà quân sự, tư tưởng tiêu biểu thời kỳ này Trong khi đề cập đến Cicero, Nigel Rodgers gọi ông là “Người Rome hòa bình” và đánh giá Cicero là “một trong những tác giả, nhà chính trị tài ba nhất của Rome” [32; tr 58]
Đề cập trực tiếp đến tư tưởng Cicero trong tác phẩm “Bàn về chính
quyền” có thể kể đến bài viết “Tư tưởng chính trị của Marcus Tillius Cicero qua Bàn về chính quyền” in trong tạp chí Triết học số 8, năm 2017 của Vũ Mạnh
Toàn Tác giả đã khái quát một cách cơ bản các quan điểm chính trị của
Trang 9M.T.Cicero trong tác phẩm “Bàn về chính quyền” nhằm giới thiệu những tư tưởng
tiến bộ của ông đến độc giả Việt Nam Theo đó, Cicero đề xuất mô hình nhà nước kết hợp ba hình thức quân chủ, dân chủ và quý tộc Tuy nhiên với thời lượng của một bài viết, tác giả chưa có điều kiện để bàn luận sâu và hệ thống về vấn đề này
Huỳnh Trọng Khánh với bài viết “Đọc sách “Bàn về chính quyền” của Marcus Tullius Cicero” đăng trên Tạp chí Tia sáng, năm 2017 cũng giới thiệu
đến bạn đọc về M.T.Cicero cũng như những bài viết nổi tiếng của ông Tác giả cho rằng, Cicero đã căn cứ vào việc đề cao công lý và luật pháp để đánh giá một chính quyền là tốt hay xấu và đã để lại cho chúng ta những tư liệu quý giá khi muốn tìm hiểu về nguyên tắc vận hành của chính quyền La Mã cổ đại Tuy nhiên, do mục đích là khuyến khích độc giả tìm đọc các tác phẩm của Cicero, Huỳnh Trọng Khánh chưa đi sâu phân tích các quan điểm chính trị xã hội cụ thể
mà Cicero đã đề cập trong tác phẩm “Bàn về chính quyền”
Alphalbooks, một trong những nhà sách nổi tiếng tại Việt Nam cũng dành
những lời đánh giá tích cực cho M.T.Cicero với bài viết “Chính quyền lý tưởng
của Cicero vẫn là ước mơ của nhiều dân tộc” Alphalbooks nhận xét, Cicero đã
chỉ cho chúng ta rất nhiều nguyên tắc để vận hành một chính quyền như: nguyên tắc phân quyền, nguyên tắc kiểm soát cân bằng, việc giới hạn nhiệm kì… và khẳng định: “đây rõ ràng là những đặc điểm mà nhân dân ở nhiều nước vẫn thèm khát ở chính quyền của mình” [49]
Như vậy, có thể thấy, ở nước ta có rất ít các công trình nghiên cứu về tư tưởng của Cicero, và hầu hết các công trình trực tiếp bàn về Cicero vẫn dừng ở mức các bài viết giới thiệu khái quát về cuộc đời và tư tưởng của ông Các bài viết
ít ỏi đó là tài liệu tham khảo và gợi mở quý giá cho chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về tư tưởng của Cicero Chúng tôi hi vọng rằng,
với những cố gắng phân tích đánh giá của mình trong luận văn: Tư tưởng triết
học chính trị - xã hội của M.T Cicero trong tác phẩm “Bàn về chính quyền”, sẽ
Trang 10góp phần phác họa chân dung của M.T.Cicero với tư cách nhà triết học chính trị một cách tương đối hệ thống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm rõ tư tưởng triết học chính trị - xã hội của
M.T.Cicero trong tác phẩm “Bàn về chính quyền”, từ đó đưa ra đánh giá về giá
trị và hạn chế của tư tưởng đó
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, trình bày điều kiện, tiền đề ra đời tư tưởng triết học chính trị - xã
hội của M.T.Cicero và giới thiệu khái quát về tác phẩm “Bàn về chính quyền”
Thứ hai, phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học chính trị
- xã hội của Cicero như: Tư tưởng về công lý và các hình thức nhà nước cơ bản; về nhà nước lý tưởng; về vai trò của nghệ thuật hùng biện trong chính trị
Thứ ba, đưa ra đánh giá về giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học chính
trị - xã hội của M.T.Cicero trong tác phẩm “Bàn về chính quyền”
4 ơ ở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của triết học Mác – Lênin về
xã hội và nhà nước, đồng thời kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu về vấn đề này của các tác giả đi trước
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời, sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau: phương pháp nghiên cứu văn bản, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống nhất lịch sử và logic, phương pháp so sánh, đối chiếu…
5 Đ i tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng triết học chính trị - xã hội của
M.T.Cicero
Phạm vi nghiên cứu: Một số nội dung cơ bản trong tưởng triết học chính
trị - xã hội của M.T.Cicero trong tác phẩm “Bàn về chính quyền”
6 Đóng góp mới của luận văn
Trang 11Luận văn hệ thống hóa những quan điểm triết học chính trị - xã hội của M.T.Cicero, qua đó khẳng định giá trị tư tưởng triết học của ông đồng thời góp phần khẳng định thành tựu của triết học Hi Lạp - La Mã trong lịch sử triết học phương Tây
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp thêm một nghiên cứu chuyên sâu về triết học
chính trị - xã hội nói riêng và triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại nói chung
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn
tìm hiểu và nghiên cứu về triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại nói chung và tư tưởng triết học của M.T Cicero nói riêng
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 7 tiết
Trang 12ƢƠ Ð ỀU KIỆN, TIỀ ĐỀ CHO SỰ ĐỜ Ƣ ƢỞNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ - XÃ H I CỦA M.T.CICERO TRONG TÁC
PHẨM “B Ề CHÍNH QUYỀN”
1.1 Ðiều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa
Người Hi Lạp trong quá trình phát triển của mình, với việc di cư và mở rộng lãnh thổ đã có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hóa cổ đại của vùng Trung Đông Họ có công rất lớn trong việc phổ cập các đặc điểm của các nền văn hóa này sang Tây Âu Với trí tuệ sắc sảo, khả năng tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng phong phú, người Hi Lạp cổ đại đã xây dựng nên nền văn minh rực rỡ, tạo
cơ sở cho văn minh Châu Âu sau này
La Mã cổ đại hay Rome cổ đại là một nền văn minh phồn thịnh, hình thành từ thế kỉ VIII TCN trên bán đảo Italia Trong suốt 12 thế kỉ tồn tại của mình, qua các cuộc chinh chiến và đồng hóa, La Mã cổ đại đã thống trị các khu vực Nam Âu, Tây Âu, Tiểu Á, Bắc Phi và một phần của Đông Âu Nhưng với sức hấp dẫn của mình, nền văn minh Hi Lạp đã khiến cho người La Mã chịu ảnh hưởng rất lớn các quan điểm tôn giáo, chính trị, triết học và điêu khắc Chính vì vậy, khi xem xét các tư tưởng triết học La Mã các nhà nghiên cứu thường gọi là thời kì “Hi Lạp hóa” hoặc xét chung trong dòng chảy tư tưởng là thời kì “Hi Lạp – La Mã cổ đại”
La Mã cổ đại chia làm bốn thời kì lịch sử: thời kì quân chủ, thời kì cộng hòa, thời kì đế quốc và thời kì sụp đổ Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến đánh giá về thời kì cộng hòa, giai đoạn mà Cicero sinh sống và chịu ảnh hưởng nhiều nhất
Theo các nhà khảo cổ, La Mã được thành lập vào khoảng năm 753 TCN bởi những người Italic sống ở phía nam sông Tiber Thể chế nhà nước ban đầu của La Mã là thể chế quân chủ được xây dựng trên nền tảng xã hội bộ lạc Đến khoảng năm 551 TCN, với sự chuyên quyền và độc đoán của các ông vua ngày càng khiến nhân dân bất mãn, giới quý tộc đã đứng lên lãnh đạo khởi nghĩa,
Trang 13đánh dấu mốc cho sự sụp đổ của thời kì vương chính mở ra một giai đoạn mới của La Mã - thời đại của nền cộng hòa, thời đại chứng kiến sự lớn mạnh vĩ đại của quyền lực La Mã Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, tình hình Cộng hòa
La Mã có nhiều thay đổi thể hiện trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội…
Về kinh tế, La Mã nằm trên bán đảo Balkan ở phía Nam Châu Âu rất thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán, do vậy thương nghiệp của Cộng hòa La
Mã rất phát triển Kinh tế La Mã chủ yếu dựa trên nền tảng là nông nghiệp và thương mại Bắt đầu từ thế kỉ II TCN, nông nghiệp La Mã có sự chuyển biến lớn, đó chính là sự tập trung ngày càng nhiều ruộng đất vào tay giai cấp chủ nô, dẫn tới sự xuất hiện của các đại điền trang Mặc dù cuộc sống trong các đại điền trang này ít nhiều còn mang tính chất tự cung tự cấp nhưng sản phẩm làm ra vẫn chủ yếu là đem bán ra bên ngoài – nghĩa là gắn liền với kinh tế hàng hóa Do đó mỗi đại điền trang này chỉ bán ra bên ngoài một sản phẩm nhất định như: nho, ô liu…
Trong lĩnh vực công thương nghiệp, mặc dù La Mã chưa có máy móc nhưng các chủ nô có trong tay hàng ngàn nô lệ, việc giao lưu buôn bán ở La Mã rất phát triển Thời kì này La Mã cũng có những đóng góp quan trọng về kĩ thuật cho sự phát triển của nền văn minh thế giới như: chế tạo thủy tinh, sử dụng chì, khai thác than, chế tạo xi măng… Họ cũng là những người đầu tiên biết đặt các thiết bị như guồng nước nhằm lợi dụng thủy năng và chế tạo thuyền buồn
Kỹ nghệ chế tạo đồ dùng có hoạt động nhỏ nhưng khá nhộn nhịp với các công việc như: khai thác đá, khai thác mỏ…
Về xã hội, ngoại trừ tầng lớp nô lệ, xã hội của Cộng hòa La Mã chia thành hai đẳng cấp là giới bình dân và giới quý tộc Qúy tộc được coi là giai cấp lãnh đạo, ban đầu, chỉ có họ mới có thể được bầu vào các chức quan Việc lấy nhau giữa các tầng lớp bị cấm và danh hiệu quý tộc chỉ có thể thừa kế, nhưng càng dần đến cuối thời kì Cộng hòa, sự phân biệt quý tộc và bình dân dần lu mờ nhờ vào quá trình đấu tranh kiên trì và gan góc của giới bình dân
Trang 14Đầu thời kì Cộng hòa, những công dân bị chia thành các tầng lớp dựa vào
vũ khí mà họ có thể mua được cho nghĩa vụ quân sự, tầng lớp giàu nhất theo cách phân chia này là tầng lớp kỵ sĩ (bao gồm cả giới bình dân và giới quý tộc) Cuối thời Cộng hòa xuất hiện cách phân chia mới, tầng lớp cai trị gọi là quý nhân, thường là những gia đình, dòng tộc đã sản sinh ra một quan chấp chính tối cao Tuy nhiên, hai cách phân chia này đã chẳng còn ý nghĩa gì sau khi La Mã tiến vào thời kì Đế quốc
Về chính trị, nhà nước Cộng hòa La Mã tồn tại ổn định hằng trăm năm nhờ vào mô hình chính quyền hỗn hợp trụ vững bằng quyền lực của ba bộ phận là: quan chấp chính, viện nguyên lão và hội đồng bộ lạc Tuy nhiên càng về mốc đầu công nguyên thế cân bằng ấy càng bị phá vỡ Cộng hòa La Mã với hơn 450 năm tồn tại đã không thể trụ vững với một loạt các mâu thuẫn âm ỉ từ lâu và hệ quả là việc bị thay thế bởi thời kì đế quốc
Về văn hóa - giáo dục, mục tiêu của La Mã là tạo ra một thế hệ với những nhà hùng biện có ảnh hưởng lớn Trẻ em bắt đầu đi học rất sớm từ khoảng 6 tuổi
và kết thúc học tại trường vào năm 15 tuổi Họ được học nhiều rất nhiều thứ và những gia đình khá giả sẽ tiếp tục cho con theo học tại các trường hùng biện vào tuổi 16 Nhờ vào sự phát triển kinh tế thương nghiệp mà người La Mã có điều kiện đi nhiều nơi, tiếp xúc và tiếp thu nhiều nền văn hóa, họ trực tiếp kế thừa và tiếp thu văn hóa của Hi Lạp cổ đại Ảnh hưởng của văn hóa Hi Lạp thể hiện rất
rõ ở các lĩnh vực tôn giáo, văn học nghệ thuật, điêu khắc, triết học và khoa học
tự nhiên “Do đó văn hóa La Mã cùng chung một phong cách với văn hóa Hi Lạp” [28; tr 200]
Cộng hòa La Mã với đất đai rộng lớn và sự đa dạng văn hóa sau quá trình chinh phạt đã tác động không nhỏ trong sự hình thành và phát triển tư tưởng của Cicero Ông có thể thuận tiện đi nhiều nơi, học tập nhiều nhà tư tưởng và chính trị gia, đặc biệt là tiếp xúc với văn hóa Hi Lạp Vì vậy, Cicero yêu mến văn hóa
Hi Lạp và đã tìm cách truyền bá văn hóa Hi Lạp vào La Mã mà trước tiên là qua
Trang 15ngôn ngữ và tư tưởng Cũng nhờ vậy, ông nhận ra được nhiều khiếm khuyết trong các mô hình nhà nước trong lịch sử và hình thành cho riêng mình ý tưởng
về nhà nước lý tưởng Việc di chuyển tới nhiều vùng đất của Cicero dù theo nghĩa nào cũng khiến ông tiếp xúc được nhiều với các công dân của La Mã, ở gần bên họ và đồng cảm với họ về những khó khăn họ gặp phải do sự chèn ép của địa chủ và giới quan chức Không phải ngẫu nhiên mà công dân của Sicily nhờ ông tố cáo thống sứ tham ô và sách nhiễu họ, ngoài sự liêm khiết và công chính trong quá trình hoạt động chính trị, việc tự thăng tiến mà không hề có sự giúp đỡ từ một gia tộc quan chức lâu đời và sự thấu hiểu của ông với công dân cũng là một trong những yếu tố then chốt giúp ông nhận được sự tín nhiệm của người dân Ngoài ra, việc giao lưu buôn bán rộng rãi của La Mã cũng tác động lớn khiến Cicero có cái nhìn cởi mở hơn đối với người ngoại quốc, khi ông đề nghị cấp quyền công dân cho họ, điều đã được Cicero bàn luận trong “Biện hộ cho Balbus”1
Cicero nhận thấy rõ ràng về việc tầng lớp chủ nô chính là tầng lớp cai trị
xã hội, nhưng có lẽ “ý muốn của thần linh” đã khiến Ciceo chưa thể nhìn rõ được vai trò lớn của tầng lớp nô lệ đối với sự phát triển của nhà nước La Mã Mặc dù vậy, Cicero vẫn cho chúng ta thấy ông có cái nhìn nhạy cảm của một triết gia khi nhận thấy rõ ràng những tệ nạn và bất công xuất hiện trong tầng lớp trung lưu La
Mã cũng như mối nguy hiểm khi người dân dần mất niềm tin vào chính quyền Những điều này đã tạo động lực để Cicero đấu tranh bảo vệ cho những điều mà theo ông có thể bảo vệ chính quyền và mang lại hạnh phúc cho dân chúng
Mặc dù vậy, sự đấu tranh của Cicero cũng chẳng thể giúp Cộng hòa La
Mã tiếp tục tồn tại và phát triển Chúng ta có thể rút ra các đặc điểm chính của chế độ Cộng hòa La Mã cùng với những nguyên nhân sụp đổ của nó như sau:
* Thứ nhất, bất bình đẳng xã hội và những cải cách làm xói mòn nền cộng hòa
Trang 16
Khi nhà nước La Mã mới ra đời, số lượng nô lệ trong xã hội còn ít, nhưng chỉ đến thế kỉ II TCN thì số lượng nô lệ đã tăng vọt khiến cho chế độ nô lệ ở La
Mã phát triển mạnh và “dần chuyển từ chế độ nô lệ gia trưởng sang chế độ nô lệ điển hình” [28; tr 140] Việc tăng lên một cách nhanh chóng số lượng nô lệ dựa vào ba nguồn chính Thứ nhất, sau các cuộc chinh phạt mở rộng lãnh thổ La Mã
đã biến tù binh bại trận thành nô lệ “Mỗi lần chinh phục được nơi nào La Mã đã biến phần lớn cư dân ở đó thành nô lệ” [28; tr 140] Thứ hai, nhiều công dân La
Mã không trả được nợ cũng là một nguồn cung cấp nô lệ không nhỏ, “chế độ nô
lệ vì nợ đối với công dân thành bang Rome đã được bãi bỏ từ năm 326 TCN nhưng với cư dân các tỉnh thì chế độ đó vẫn tồn tại” [28; tr 140] Thứ ba, nhiều người bị trở thành nô lệ do bị cướp biển bắt đem bán kiếm tiền
Đối với cướp biển thì buôn bán nô lệ trở thành một món hời Nô lệ nữ mang thai và sinh ra con thì thế hệ tiếp sau cũng sẽ là nguồn nô lệ mới, những nô
lệ này thường dễ sai bảo nên được giới chủ nô yêu thích hơn cả Thậm chí có chủ nô còn thành lập trang trại nuôi “nô lệ nái” Ănggghen thậm chí còn khẳng định: “Khi La Mã đã trở thành một “thành phố thế giới” rồi, và khi mà ruộng đất
ở Ý thời xưa ngày càng chuyển vào tay một ít địa chủ hết sức giàu có, thì dân số
nô lệ lấn át dân số nông dân” [23; tr 271] Nô lệ chia làm hai loại là nô lệ tư nhân và nô lệ của nhà nước Vì lực lượng nô lệ rất đông đảo nên họ được sử dụng trong mọi công việc của đời sống xã hội: sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, buôn bán và hầu hạ trong gia đình chủ nô… Thân phận của nô lệ rất thấp kém, họ bị coi là đồ vật, súc vật, là công cụ biết nói của chủ nhân, chủ nô có quyền trừng phạt, đem bán hoặc thậm chí giết chết mà không bị luật pháp La Mã trừng trị Nô lệ cũng không có quyền lập gia đình, không có quyền sở hữu tài sản
và có đời sống cực kì khổ cực Sự đối xử tàn tệ của chủ nô đối với lớp người đông đảo trong xã hội này khiến sự bất mãn của tầng lớp này ngày càng tăng, sự phản kháng ngày càng quyết liệt Đồng nghĩa với đó là mâu thuẫn xã hội ngày càng lớn và nó dần đẩy La Mã gần tới bờ vực của sự sụp đổ
Trang 17Bên cạnh đó mâu thuẫn giữa bình dân và quý tộc cũng ngày một tăng cao Trong những năm đầu của nền cộng hòa, giới bình dân không được hưởng các quyền lợi công dân như những người quý tộc Họ không được tham gia vào Hội đồng bộ lạc, không được chia ruộng đất công, và cũng không được xét xử tại tòa Trong khi đó, giới này lại là nguồn nhân lực chính tham gia vào việc sản xuất cho nền kinh tế, và cũng chiếm phần đông trong lực lượng quân sự quốc gia Trải qua cuộc xung đột giai cấp kéo dài gần hai thế kỷ (từ năm 494 TCN đến năm 287 TCN), cuối cùng giới bình dân cũng giành lấy được những quyền lợi pháp lý tương tự như giới quý tộc Giờ đây, những người bình dân cùng với quý tộc đã có thể cùng tham gia vào chính trị thông qua Hội đồng Bộ lạc – cơ quan lập pháp chính của Cộng hòa La Mã
Khoảng cách bất bình đẳng lại càng bị khoét sâu thêm khi nền Cộng hòa này trở thành bá chủ trong khu vực Địa Trung Hải Chiến thắng đã mang về cho
La Mã một lượng lớn của cải và nô lệ Điều này khiến cho một bộ phận quý tộc trở nên ngày một giàu có Song song với đó, hàng hóa rẻ từ nước ngoài tràn vào
La Mã khiến cho các tiểu địa chủ bị phá sản Dòng người thất nghiệp ở nông thôn đổ ra thành phố lớn, tuy nhiên lượng công việc lại không đủ để đáp ứng Việc này sinh ra nhiều tệ nạn như trộm cắp, làm chứng gian lận trước tòa để kiếm ăn…Tầng lớp bị o ép tới mức mất hết tài sản và không nghề nghiệp này được gọi là tầng lớp “vô sản lưu manh”, tầng lớp này “dần dần mất tập quán lao động, thậm chí kinh miệt lao động và hoàn toàn ăn bám vào xã hội” [28; tr 148]
hóa thành một bộ phận của tầng lớp này “Có khi cứ đến chiều tối, các thực khách đến đứng chầu chực trước cổng quý tộc bảo hộ mình để mong được tiếp đãi hoặc được cho một ít tiền” [28; tr 148] Điều này ảnh hưởng rất xấu đến chế
độ Cộng hòa La Mã vì các thực khách này cứ đến bầu cử là bầu cho chủ của mình hoặc hành hung theo lệnh của chủ để kiếm thêm lá phiếu
Trang 18*Thứ hai, tệ tham nhũng lan tràn chính là con dao thứ hai giết chết Cộng hòa La Mã Trong khi chính quyền trung ương dần trở nên bạo lực, giới quý tộc
và bình dân chia rẽ sâu sắc, thì bộ phận quản lý ở cấp địa phương cũng ngày càng tệ hại
Tuy liên tục bành trướng và phát triển, song La Mã lại không chú tâm xây dựng một bộ máy quan lại chuyên nghiệp để đáp ứng quy mô quốc gia Nó vẫn sử dụng mô hình quản lý thành bang lỗi thời Theo đó, các quan chấp chính, các pháp quan khi hết nhiệm kỳ sẽ được bổ nhiệm làm tổng đốc để quản lý các địa phương trong thời hạn một năm Rõ ràng khoảng thời gian một năm là quá ít để các tổng đốc có thể nắm bắt văn hóa địa phương cũng như biết cách quản lý sao cho hiệu quả Bên cạnh đó, các tổng đốc không được đào tạo về quản trị, không được trả lương và thậm chí không bị giám sát khi quản lý Chính vì vậy, họ hoặc bị ép buộc hoặc tự tham nhũng để đảm bảo chi tiêu Đồng thời, cũng vì không bị ai giám sát nên họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, dẫn đến việc cai trị tùy tiện
Để khắc phục tình trạng tham nhũng tràn lan ở các địa phương, giới cai trị
đã thiết lập một cơ quan để xét xử các tổng đốc tham nhũng Tưởng chừng như hành động này có thể vớt vát được tình hình, nhưng hóa ra nó lại đẩy nạn tham nhũng tràn lên đến bộ máy cai trị trung ương
* Thứ ba, chính trị hóa quân đội trở thành nước đi sai lầm khiến Cộng hòa
La Mã phải nhường chỗ cho thời kì đế quốc
Từ khi Cộng hòa La Mã được thành lập cho đến trước khi Marius tiến hành cải cách quân sự vào năm 104 TCN, họ không hề sở hữu một lực lượng quân đội chuyên nghiệp Lúc bấy giờ, chỉ có các chủ đất mới tham gia vào quân đội và các binh lính coi việc tham gia bảo vệ quốc gia là bổn phận, trách nhiệm, cũng như là một đặc quyền Họ trung thành với nền cộng hòa chứ không phải với các vị tướng, bởi họ là các chủ đất nên không cần dựa vào tướng lãnh để được ban cho đất đai như một khoản trợ cấp sau khi giải ngũ Tuy nhiên, vấn đề trở nên phức tạp khi đất đai ngày càng mở rộng và phải đối đầu với nhiều đối thủ
Trang 19nguy hiểm Nhà nước cần một quân đội thường trực với quy mô lớn hơn, khi mà lực lượng binh lính gồm các chủ đất hiện không đáp ứng được điều đó
Để giải quyết vấn đề này, Marius đã bãi bỏ yêu cầu về sở hữu đất đai trong việc tuyển quân Hành động này mở đường cho giai cấp đông đảo nhất của
La Mã, tức giới bình dân, tham gia vào quân đội Tuy nhiên, giờ đây lại có thêm một vấn đề phát sinh, đó là việc trợ cấp cho đội quân không có ruộng đất này sau khi họ giải ngũ Viện Nguyên lão tất nhiên đã từ chối việc cấp đất hay bất kì một khoản viện trợ nào cho những binh lính xuất thân bình dân Hành động này đã
mở đường cho các binh lính chuyển lòng trung thành của mình sang giới tướng lãnh, mà cụ thể ở đây là Marius, khi ông lấy đất đai trao cho binh lính của mình Lúc bấy giờ, quân đội đã không còn là lực lượng đấu tranh cho nền cộng hòa, mà
họ trở thành đội quân trung thành dưới trướng vị tướng đứng đầu của họ Hệ quả
là các tưỡng lĩnh đã dẫn dắt quân đội tiến vào La Mã để thiết lập nên nền cai trị độc tài, phá vỡ kết cấu cộng hòa truyền thống
Trong hàng trăm năm, Cộng hòa La Mã luôn duy trì thực hành các giá trị truyền thống như danh dự, tự chủ, trung thực, và công chính Điều này là cơ sở giúp cho nội bộ La Mã ổn định, cũng như giúp nó chiến thắng các đối thủ bên ngoài và trở thành bá chủ khu vực Địa Trung Hải
Tuy nhiên, tới tầm thế kỷ II TCN, khi các mối đe dọa bên ngoài không còn nữa, cộng với việc La Mã trở nên giàu có nhờ của cải thu được từ các thuộc địa, các giá trị đạo đức truyền thống bắt đầu dần mai một
Trong giai đoạn đầu và giữa của nền cộng hòa, La Mã thường xuyên bị đe dọa, điều này khiến không cá nhân nào có thể theo đuổi danh vọng và quyền lực Người La Mã tin rằng việc kiểm soát các lãnh thổ chung quanh sẽ ngăn ngừa được bất cứ cuộc tấn công nào từ cư dân trên các lãnh thổ này đồng thời tạo ra một vùng đệm an toàn cho La Mã với những kẻ tấn công đến từ xa Chính sách xâm lược của La Mã bởi vậy tiếp tục được duy trì vì lý do an toàn của bản thân họ Có thể nói rằng đế chế La Mã là một sự ngẫu nhiên, nó được hình thành trong quá
Trang 20trình theo đuổi một chính sách có tên: sự an toàn Chúng ta có thể thấy rõ điều này trong tư tưởng chính trị - xã hội của Cicero khi ông cho rằng, chính giai đoạn đầu cộng hòa từ năm 509 TCN đến năm 265 TCN mới là thời kì phồn thịnh nhất của Cộng hòa La Mã Thời kì này, nhà nước giải quyết rất tốt các nhiệm vụ và có được lòng tin của dân chúng Cicero đã hi vọng rằng với những đề xuất cải cách của mình, ông có thể xây dựng nhà nước có đủ các yếu tố coi trọng công lý, đảm bảo quyền tự do cho dân chúng mà không cần thay đổi thể chế Nhưng những xung đột ngày càng mạnh mẽ và tần xuất ngày càng dày đặc của các cuộc chiến tranh đã khiến những hi vọng của Cicero dần rơi vào tuyệt vọng
Bằng chứng là sau khi chinh phục được Ý và Hy Lạp, La Mã đã loại bỏ được hai mối đe dọa chính Giới lãnh đạo La Mã giờ đây có thể theo đuổi danh vọng cá nhân mà không cần phải bận tâm nhiều tới an nguy của nền cộng hòa nữa, cũng vì vậy, họ dần vượt ra khỏi các chuẩn mực chính trị cộng hòa
Các ứng viên chức vụ công ngày càng biết cách sử dụng các thủ thuật xảo trá để đạt được mục đích Hối lộ và chính sách dân túy trở thành phương tiện quen thuộc để giành lấy quyền lực Giới cai trị mua chuộc dân chúng thông qua các bữa tiệc, các thú vui, và các buổi trình diễn để thắng cử cũng như duy trì địa
vị của mình Nhà sử học cổ đại Plutarch coi Caesar là nhà dân túy thành công nhất, khi có thể giành lấy tình cảm của dân chúng bằng việc tổ chức các buổi trình diễn cũng như hối lộ quy mô lớn cho người dân
Tuy vậy, gian lận và chính sách dân túy vẫn chưa phải là thứ tệ hại duy nhất, giới cai trị còn dùng tới bạo lực và chém giết để giành quyền lực Chính Cicero cũng trở thành nạn nhân của tệ nạn này khi mà những nhân vật hàng đầu
đã không hề do dự khi giết chết hoặc trục xuất các đối thủ chính trị
Những vấn đề âm ỉ từ lâu mà nhà nước không giải quyết được đã phá vỡ thế cân bằng vốn có giữa ba bộ phận quân chủ, quý tộc, và dân chủ trước đây; và cuối cùng, chế độ quân chủ chuyên chế cũng thay thế nền cộng hoà Cicero với tầm hiểu biết rộng cũng như kinh nghiệm chính trường dày dặn của mình đã
Trang 21lường trước được tương lại mịt mờ của chế độ, ông cật lực phản đối các “tam
hòa La Mã Trong suốt khoảng thời gian từ khi bắt đầu thành lập tam đầu chế thứ nhất đến khi bị giết chết bởi M.Antonius2, Cicero đã không ngừng viết bài công kích cũng như phản đối chế độ độc tài Mặc dù Cicero ý thức rất rõ ràng, vào thời điểm đó, dân chúng mất niềm tin vào các chính trị gia, họ dần đặt niềm tin nhiều hơn vào các thủ lĩnh quân sự, ông vẫn mong muốn tìm thấy một vị thủ lĩnh tài năng nhưng có đức độ để đưa chế độ Cộng hòa La Mã đang trên bước đường
đi đến diệt vong quay trở lại thế cân bằng Rõ ràng, ông đã ngày càng rơi vào thất bại bởi những sự phản bội từ những người ông đã từng tin tưởng và hi vọng
La Mã ngày càng rơi sâu vào tình trạng khủng hoảng, kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình với tư cách là một nền văn minh đã từng hùng mạnh nhất thế giới
của M.T.Cicero
Như đã nói ở trên, M.T.Cicero là một nhà tư tưởng có công rất lớn trong việc giới thiệu tới người La Mã những trường phái chính của triết học Hy Lạp Do vậy, ông nghiên cứu rất nhiều và khá chi tiết về các nhà tư tưởng trước và cùng thời với ông Trong quan niệm về chính trị - xã hội, Cicero được đánh giá là một nhà tư tưởng có chính sách ôn hòa – khi ông ủng hộ và mơ ước xây dựng mô hình nhà nước kết hợp cả 3 hình thức: nhà nước quân chủ, nhà nước quý tộc và nhà nước dân chủ, tạo nên mô hình nhà nước được cai trị bằng công lý và luật pháp Ngoài những điều kiện chính trị, xã hội thì tư tưởng triết học chính trị - xã hội của Cicero được xây dựng trên cơ sở kế thừa quan niệm của các nhà triết học Hy Lạp
đi trước về vấn đề này
2 M.Antonius (83 TCN – 30 TCN) là một chính trị gia và một thống chế La Mã.Ông là một người ủng hộ quan trọng và là một người bạn trung thành của Gaius Julius Caesar như là tướng lĩnh quân đội và là người thừa kế tài sản trở thành một người cháu thứ hai của Ceasar
Trang 221.2.1 Tư tưởng chính trị - xã hội của Socrates
Nhắc đến những nhà tư tưởng có ảnh hưởng tới Cicero không thể không nhắc tới Socrates – nhà triết học nổi tiếng của Hy Lạp Nhiều học giả nghiên cứu
về Cicero cho rằng, mặc dù Cicero được đánh giá là một trong những đại diện tiêu biểu của trường phái triết học Khắc Kỷ, nhưng quan niệm về chính trị - xã hội thì mang đậm dấu ấn của Socrate, đặc biệt là quan niệm đề cao pháp luật và quan niệm về vai trò nghệ thuật hùng biện
Socrates sinh ra tại thành phố Athens, được coi là người đặt nền móng cho nghệ thuật hùng biện Hy Lạp cổ đại Socrates lúc đầu theo quan niệm của các nhà triết học tự nhiên cổ đại, đặc biệt là Anaxagore (500 - 428 TCN) nhưng sau
đó, do vốn là người có tư duy độc lập, không muốn suy nghĩ theo lối mòn truyền thống, ông từ chối bàn về giới tự nhiên vì nó “không giúp ích gì cho tâm hồn con người cả”, và đã nhanh chóng nhận thấy hai sai lầm cơ bản mà các triết gia đương thời mắc phải, đó là:
Thứ nhất, họ luôn mâu thuẫn với nhau trong cách luận giải về tự nhiên mà không hề phê phán lẫn nhau cho nên không thể phân định đúng sai.Trong lúc đó, việc phân định này là vô cùng quan trọng, quyết định tính mục đích và xác định tính chân lý của mọi cuộc tranh luận
Thứ hai, họ chỉ chú trọng nghiên cứu những vấn đề vũ trụ luận, bản thể luận, nghĩa là đặt ra những vấn đề lý luận chung chung mà không để ý đến những vấn đề thực tiễn của cuộc sống đang đặt ra
Theo cách nghĩ của Socrates, trong một xã hội tràn đầy những bất công đương thời, thì điều cần quan tâm giải đáp là những vấn đề xoay quanh con người và hạnh phúc của con người như: Lẽ phải là gì? Điều thiện là gì? Thế nào
là công lý? Đây cũng là nguyên do mà nhiều người nhận định Socrates là người sáng lập, đặt nền móng cho triết học về đạo đức và là ông tổ của nhân học hiện đại Socrates đã dành cả cuộc đời để giúp con người nhận thức về chính mình, triết học theo ông là sự tự ý thức của con người về chính bản thân con người
Trang 23Với ông, con người chính là một tiểu vũ trụ, do vậy chúng ta cần quan tâm mài rũa tâm hồn, phải biết áp chế dục vọng bởi nếu tuân theo nó con người sẽ trở thành nô lệ Chỉ có nhận biết và tuân theo những quy định của con người thì mới
có thể đạt tới tự do Những quy định mà Socrates nhắc tới ở đây chính là luật pháp Đây cũng chính là điểm đáng lưu ý trong tư tưởng trính chị - xã hội của Cicero được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là mang ảnh hưởng đậm nét của Socrates – tinh thần thượng tôn pháp luật Socrates phê phán kịch liệt chế độ dân chủ vì theo ông quốc gia tốt hay xấu phụ thuộc phần lớn vào tài năng và đức hạnh của người cầm quyền mà chế độ dân chủ lại không thể tìm được cho mình một lãnh tụ tài năng Thậm chí ông còn chỉ trích nặng nề chế độ dân chủ là chế
độ tồi tệ nhất trong lịch sử
Đới với Socrates việc giáo dục con người sẽ thúc đẩy tạo nên một quốc gia tốt đẹp, vì với ông, con người tự nhiên là con người sinh ra, lớn lên và chết đi bên trong một cộng đồng Thế nên, một mặt, con người tự nhiên chỉ có thể là con người tập thể, thành viên của một tập hợp nào đấy, và do đó được gọi là công dân để đối lập, một mặt với thú vật, mặt khác với thần linh (bởi vì chỉ có hoặc thiên thần, hoặc súc vật mới không cần đến đời sống cộng đồng và do đó, có thể vừa sống bên trên hay bên ngoài xã hội, vừa không màng tìm hiểu hay luận bàn
về sự tồn tại của thành quốc); mặt khác, do “con người là một sinh vật mang tính chính trị” như thế, nên không có một khái niệm hay vấn đề nào mà lại không liên quan hay bắt rễ từ con người
Ông cũng cho rằng nền móng của đối thoại là sự trung thực và minh bạch,
là sự tin cậy lẫn nhau: “Quan toà phải có bốn đức tính: lắng nghe một cách lễ độ, trả lời một cách rõ ràng, cân nhắc một cách hợp lý, và quyết định một cách vô tư” [63] Socrates yêu quê hương, sẵn sàng chết chứ không nỡ bỏ đi, nhưng luôn giữ cái nhìn “toàn cầu”: “Tôi không phải là người Athens hay người Hy Lạp, tôi
là công dân thế giới!” [63]
Trang 24Có thể thấy theo Socrates, luật pháp một khi đã được đặt ra thì công dân phải tuân theo, và chỉ khi tuân theo pháp luật thì đó mới là một công dân có đức hạnh Luật pháp là thứ kết nối con người với xã hội, con người không được phá hủy luật pháp Theo Socrates, tri thức và đức hạnh là những điều cần thiết cho những kẻ làm chính trị Người làm chính trị phải đặt trách nhiệm xã hội lên lên vị trí hàng đầu chứ không trông cậy vào quyền lực và thời vận Theo Socrates, để có tri thức, con người cần phải học, học ở trường và học ngoài đời Hãy bắt đầu từ không biết, trải qua nhiều bước, tiến tới tri thức và cái thiện phổ quát Mệnh đề:
“Tôi biết rằng, tôi không biết gì cả” của ông nhằm chỉ ra sự khởi đầu của một phương pháp tiếp cận chân lý
Socrates được đánh giá là một trong những nhà triết học Hi Lạp cổ đại đầu tiên có các quan niệm sơ khai về “nhà nước” Cicero chịu ảnh hưởng từ Socrates
về quan niệm “công dân phải tuân theo pháp luật”, “người làm chính trị phải là người đặt trách nhiệm xã hội lên vị trí hàng đầu và phải là người có tri thức cao” Tuy nhiên, Cicero không hề ủng hộ quan điểm bảo vệ nhà nước quý tộc của Socrates, thậm chí còn chỉ trích thậm tệ vị tiền bối này, khi cho rằng mô hình nhà nước này là dạng chính quyền thuộc về tầng lớp quý tộc, và hẳn nhiên, nó cũng bỏ qua lợi ích của người bình dân Cicero đã kế thừa có chọn lọc những quan điểm chính trị của Socrates để góp phần xây dựng nên quan điểm chính trị - xã hội của riêng mình Quan niệm con người của Socrates cho rằng con người đúng nghĩa phải là người có đức hạnh và phải sinh ra, lớn lên và chết đi trong một cộng đồng – rất gần với khái niệm “công dân” mà Cicero quan tâm
1.2.2 Tư tưởng chính trị - xã hội của Platon
Platon (427 – 347 TCN) là học trò xuất sắc của Socrates Ông viết rất nhiều tác phẩm triết học có giá trị cho nhân loại Trong những tác phẩm của ông, nổi tiếng và đặc biệt nhất là tác phẩm Cộng hoà (Republic) Đó là một cuốn sách nổi tiếng mà triết gia người Mỹ Emerson đã viết: “người ta có thể đốt tất cả thư viện,
vì tinh hoa của các thư viện đều nằm trong cuốn sách này” [20; tr 29]
Trang 25Trong tác phẩm đó, Platon muốn lý giải về các mối quan hệ giữa con người
và xã hội mà ở đó con người có được hạnh phúc Đó là một quốc gia trong đó mọi người luôn được sống êm đềm hạnh phúc, đầy đủ và thoả mãn với những gì mà họ
đã tạo ra
Trong quan niệm chính trị - xã hội, Platon đặc biệt quan tâm đến vấn đề sự công bằng Ông hiểu “công bằng” là một loại đức hạnh, điều này không chỉ dừng ở mức độ cá nhân mà còn được hiểu ở mức độ rộng hơn là nhà nước Platon cho rằng việc con người có nhu cầu liên kết lại với nhau trên một phạm vi lãnh thổ nhất định
đã dẫn tới việc hình thành nhà nước Trong xã hội, mọi người đều phải có vai trò và nhiệm vụ riêng theo từng giai cấp đã được phân chia:
Tầng lớp lao động (nông dân, thợ dệt…) là bộ phận sản xuất để thỏa mãn nhu cầu trong nước và thỏa mãn nhu cầu trao đổi giữa các nước Cụ thể, thương nhân sẽ phụ trách trao đổi giữa các nước và chủ tiệm là những người phụ trách phân phối trong nước
Tầng lớp bảo vệ hòa bình (các chiến binh, vệ quân) là tầng lớp luôn cần
có trong một nhà nước vì chiến tranh xảy ra là điều không thể tránh khỏi
Tầng lớp cầm quyền (gồm các triết gia và vua chúa) có nhiệm vụ ban hành các chính sách đúng đắn để nhà nước tồn tại và phát triển
Các tầng lớp không được lấn quyền lẫn nhau, làm đúng theo nhiệm vụ của mình là bảo vệ và xây dựng đời sống hạnh phúc của quốc gia
Trong quan niệm về nhà nước, Platon cho rằng, lịch sử nhân loại từ khi bắt đầu đến thời đại của ông đã xuất hiện 4 mô hình nhà nước cơ bản bao gồm: nhà nước trung gian giữa chế độ quý tộc và chế độ đầu sỏ; nhà nước đầu sỏ (nhà nước quý tộc), nhà nước dân chủ và nhà nước bạo chúa (nhà nước quân chủ) Ông đặc biệt đề cao vai trò của sự đoàn kết dân tộc, vì nếu mất đoàn kết sẽ dẫn đến việc suy thoái của nhà nước Nhà nước quý tộc suy thoái sẽ dẫn tới nhà nước trung gian giữa chế độ quý tộc và chế độ đầu sỏ Nhà nước này nếu tiếp tục bị biến tướng sẽ hình thành nhà nước đầu sỏ, đây là kiểu nhà nước mâu thuẫn giàu
Trang 26nghèo rất lớn và khi mẫu thuẫn lên đến đỉnh điểm tầng lớp nghèo khó sẽ đấu tranh cùng với thủ lĩnh của mình để tạo ra nhà nước dân chủ Đến thời điểm nhà nước dân chủ bị suy thoái, vị thủ lĩnh của nhà nước sẽ tiếm quyền và nhà nước quân chủ hình thành
Platon đánh giá các mô hình nhà nước trên đều là các nhà nước xấu, vì chúng cho phép sự tồn tại của tư hữu cho một nhóm người hay một người do vậy đầy rẫy sự bất công Từ đó Platon đưa ra quan điểm về “nhà nước lý tưởng” và ủng hộ nhà nước cộng hòa vì cho rằng kiểu nhà nước này không có sở hữu tư nhân và ngoài tầng lớp lãnh đạo chỉ có hai tầng lớp là tầng lớp lao động và tầng lớp chiến binh Trong mô hình nhà nước của ông, các nhà cầm quyền sống chung và được trang bị những tư liệu sinh hoạt vừa đủ Mọi người đều phải được học hành, không có chiến tranh, kể cả ngoại chiến lẫn nội chiến; lãnh đạo trong nhà nước đó phải là những triết gia vì những người như họ mới đủ khả năng sáng suốt để lãnh đạo quốc gia, và tất nhiên họ không được tham nhũng vơ vét của cải của dân Những của cải của người dân làm ra phải được phân chia một cách đồng đều để không ai quá giàu hoặc quá nghèo
Theo Platon, tất cả mọi người có tài năng trong xã hội đều có cơ hội phát triển đồng đều, dù là con vua hay người lao động cũng bắt đầu ngang nhau, trừ
nô lệ vì theo Palton nô lệ không được coi là người mà chỉ là công cụ lao động biết nói Xã hội mà Platon mơ ước không có giai cấp, không có bất công, người lãnh đạo phải được toàn dân bầu ra và nếu không có năng lực thì phải bị đào thải Chính vì vậy, ông chủ trương giáo dục con người ngay khi vừa mới sinh và tất cả mọi người đều phải tuân theo luật pháp vì đó là sự thể hiện đức hạnh của một công dân
Platon được xem là triết gia có tầm ảnh hưởng lớn tới các nhà triết học cổ đại và cho đến tận ngày nay Do vậy, Cicero với tư cách là triết gia có nhiều cống hiến trong việc giới thiệu tới công dân La Mã các trường phái của triết học
Hi Lạp cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc quan niệm chính trị của Platon Ông bị ảnh
Trang 27hưởng rất lớn về cách phân chia các mô hình nhà nước trong lịch sử, thậm chí nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ Platon đã không ít lần chỉ trích Cicero “ăn cắp” ý tưởng của tác giả cuốn “Cộng hòa”
Tuy nhiên, khi đi sâu phân tích các mô hình nhà nước chúng ta có thể thấy, Cicero phê phán rất nhiều các mô hình nhà nước bằng nhãn quan riêng của mình Ông chỉ mượn cách phân chia này của Platon để làm rõ hơn quan điểm của ông thông qua đó cho chúng ta thấy ước mơ của ông về một nhà nước kết hợp cả 3 mô hình: quân chủ, dân chủ và quý tộc Cicero cũng có cái nhìn cởi mở hơn đối với giai cấp bình dân trong khi Platon một mực khẳng định chỉ có các triết gia mới xứng đáng là tầng lớp lãnh đạo Theo Cicero, suy cho cùng vấn đề trật tự xã hội cũng chỉ là phương tiện để con người đạt đến cái gọi là tự do, hạnh phúc, công bằng chứ không phải mục đích cuối cùng của một quốc gia Như vậy, Cicero có điểm tiến bộ hơn Platon ở chỗ ông đã đặt vấn đề rất quan trọng đối với con người là vấn đề tự do lên trên hết
Ngoài ra, việc Platon đề xuất trong xã hội lý tưởng không có gia đình, tất
cả của cải, trẻ em, phụ nữ đều là của chung cũng là điểm bị Cicero lên tiếng phản đối Cicero cho rằng việc bảo tồn quyền sở hữu là một trong những lý do cốt lõi khiến mọi người hình thành các quốc gia Platon đã không thấy được sự quý giá
và thiêng liêng trong tình cảm gia đình cũng như việc được sở hữu tư nhân về mặt tài sản Do vậy, Will Durant mới nhận xét: “Quốc gia của Platon là một quốc gia thủ cựu, thuật chính trị của Platon thiếu sự tế nhị mềm dẻo, nó đề cao trật tự mà không đề cao sự tự do, nó thích cái đẹp mà không biết nuôi dưỡng nghệ sĩ” [51; tr 68]
1.2.3 Tư tưởng chính trị - xã hội của Aristotle
Aristotle (384 – 322 TCN) là nhà triết học, nhà tư tưởng vĩ đại thời kỳ cổ đại Hy Lạp Ông được xem là “người sáng lập ra khoa học chính trị” và chính trị học – khoa học chuyên nghiên cứu về quyền lực, chính thể, tổ chức và hoạt động của nhà nước Ông đã dành gần hết cuộc đời mình để khảo cứu các thành bang
Trang 28và Hiến pháp Athens để rút ra những kết luận khoa học mà tầm vóc của nó không chỉ dừng lại ở thời đại của ông
Ông cho rằng, con người là một sinh vật chính trị, vì vậy, con người khác với con vật ở chỗ có thể ý thức được vai trò của mình trong cộng đồng, con vật tương tác với nhau do bản năng, còn con người tương tác với nhau không chỉ có bản năng mà còn có ý thức Tính ý thức ấy chính là tính chính trị
Theo Aristotle, việc phân chia người cai trị và kẻ bị trị trong xã hội là điều hết sức tự nhiên “Những phần tử có khả năng, nhờ sự khôn ngoan biết tính toan,
lo xa, dĩ nhiên trở thành phần tử cai trị, còn những phần tử mà khả năng chỉ do sức mạnh của thể chất mang lại, để làm những gì mà phần tử kia hoạch định, là phần tử bị trị, đương nhiên ở trong tình trạng nô lệ” [59] Mối quan hệ phụ thuộc này biểu hiện rõ ngay từ các phần tử nhỏ của xã hội là gia đình, rồi đến các làng mạc Đó là tiền đề cho việc một quốc gia cần có vua cai trị, và ngay cả thần thánh cũng cần tới một vị vua để cai trị Vậy nên, nhà nước là một tất yếu trong bước phát triển nhân loại Aristotle cho rằng bất cứ ai một cách tự nhiên, chứ không phải do hoàn cảnh khách quan xô đẩy, lại “chọn sống ở ngoài cộng đồng chính trị, thì kẻ đó hoặc là chẳng ra gì, hoặc là một siêu nhân hơn người” [59] Mặc dù vậy, cá nhân lệ thuộc nhiều vào nhà nước và ở trong nhà nước, nhưng không có nghĩa rằng nhà nước có quyền triệt tiêu mọi yếu tố cá nhân Bởi hơn ai hết, Aristotle cổ vũ cho các công dân tự do, biết tư duy, chứ không phải những
cá nhân nô lệ cho nhà nước, chỉ biết phục tùng và tuân theo Nghĩa là, con người không thể tách khỏi cộng đồng người, không có nghĩa rằng cộng đồng có quyền
áp đặt cho từng cá nhân
Hệ thống xã hội mà Aristotle nhắc đến là xã hội dựa trên luật pháp và công chính Đó chính là cột trụ quan trọng nhất của nhà nước Con người bị tách khỏi luật pháp và công chính thì hoàn toàn có thể trở thành “động vật xấu xa nhất Bất công trở nên tệ hại hơn đó là là sự bất công được vũ trang” [59] Một nhà nước khi đã mất đi luật pháp và sự công chính, tức là cột trụ sụp đổ, và tổng
Trang 29thể đó đã bị hủy hoại Ông khẳng định con người cá nhân để có một đời sống trọn vẹn cần sống trong một cộng đồng nhà nước “Đối với ông, chính trị học là
sự tiếp nối của đạo đức học và con người xã hội là khâu gắn kết sự thống nhất giữa hai lĩnh vực này, đạo đức có thể được sinh ra từ chính trị, hạnh phúc trọn vẹn của cá nhân được thực hiện trong các polis; con người được đảm bảo tự do
cá nhân trong khuôn khổ của luật pháp” [15; tr 101]
Aristotle đưa ra một quan điểm bao quát hơn so với các chính trị gia cùng thời với ông về nhà nước Nhà nước, theo định nghĩa của ông, “là một hỗn hợp
do nhiều bộ phận tạo thành; những bộ phận đó chính là công dân” [59] Nghĩa là nhà nước chính là biểu hiện của mối liên kết giữa công dân và cộng đồng, nó là tiền đề để công dân tự do trưởng thành về nhân cách Mỗi công dân muốn có đức hạnh thì cần phải được giáo dục và nhiệm vụ này đương nhiên phải do nhà nước đảm nhiệm Ông cho rằng sự tuân thủ luật pháp sẽ giúp con người hình thành những thói quen tốt và như vậy họ sẽ là những người có đức hạnh Ông khẳng định “Đức tính của công dân, do đó, phải liên quan đến cơ cấu chính trị mà họ là thành viên” [15; tr 101]
Những tư tưởng chính trị của Aristotle ảnh hưởng rất sâu rộng đến các nhà tư tưởng thời đó và cả sau này, trong đó có Cicero Cicero đồng tình với Aristotle rằng trụ cột quan trọng nhất quyết định sự tồn tại của một nhà nước là luật pháp và sự công chính Mất đi hai điều này dù sớm hay muộn nhà nước cũng mau chóng đi đến diệt vong Tuy nhiên, Cicero không đồng tình với Aristotle trong quan điểm về nguyên nhân hình thành nhà nước Nếu nhà nước của Aristotle hình thành dựa trên nguyện vọng muốn duy trì mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, để cá nhân có thể được bảo vệ bởi các nguy cơ mà nếu sống bên rìa xã hội anh ta không thể chống đỡ được thì nhà nước của Cicero hình thành trên nguyện vọng muốn bảo vệ quyền sở hữu của từng cá nhân Lý do cá nhân muốn tham dự vào nhà nước do muốn được cộng đồng công nhận và bảo
vệ những gì vốn thuộc về bản thân anh ta trước những mối lo ngại bị cướp đoạt
Trang 30Và lẽ tất nhiên, nhiệm vụ của nhà nước không phải là giáo dục con người để họ trở nên có đức hạnh mà thông qua đó trang bị cho chính công dân và bảo vệ công dân khi tranh chấp tư hữu xảy ra, tránh cho họ khỏi những nỗi sợ hãi Cicero đã nhìn ra rằng việc bảo tồn quyền sở hữu là một trong những lý do cốt lõi khiến mọi người hình thành các quốc gia và cũng là nguyên do quan trọng nhất khiến một nhà nước có thể tồn tại
Mặc dù Cicero luôn phải đối mặt với nhiều chỉ trích của các nhà tư tưởng theo quan điểm, coi nhà nước phải là biểu hiện cao nhất của việc lợi ích thuộc về
số đông, nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng ở Cicero đã có bước tiến lớn
so với các triết gia trước ông trong vấn đề nhìn nhận nguồn gốc cũng như nhiệm
vụ của một quốc gia Chính những quan điểm vượt thời đại này của Cicero đã gây ảnh hưởng lớn tới các nhà tư tưởng thời kì sau
1.2.4 Tư tưởng chính trị - xã hội của trường phái Khắc kỷ
Khắc kỷ là tên gọi của trường phái triết học lớn thời kì Hy Lạp hóa, do Denon sáng lập từ thế kỉ thứ III TCN Johannes Hirscherger chia sự phát triển của phái này thành 3 giai đoạn: Phái Khắc kỷ già (đại diện tiêu biểu là Denon, Arat, Chrysipp), phái Khắc kỷ trung (đại diện như: Panaitios, Poseidonios,
Cicero) và phái Khắc kỷ trẻ (gồm Seneca, Epiktet, Marc Aurel) Và M.T.Cicero
là nhà triết học tiêu biểu của phái Khắc kỷ trung kỳ [xem 18; tr 289 - 291]
Trong quan niệm về thế giới, trường phái Khắc kỷ cho rằng tự nhiên tuân theo các quy luật sắt đá, mọi cái trong tự nhiên đều tuân theo lý tính tất yếu và con người không thể thay đổi nó Do vậy, con người với tư cách là một bộ phận của tự nhiên, phải tuân theo những quy luật sắt đá này Con người theo cách hiểu của phái Khắc kỷ bao gồm hai phần là thể xác và linh hồn, nhưng phần quan trọng nhất chính là linh hồn còn thể xác chỉ là cái bình chứa đựng linh hồn mà thôi Linh hồn, mà quan trọng nhất là linh hồn lý trí chính là bộ phận thấu hiểu
sự vật và chính mình Mọi người về cơ bản đều như nhau và con người có thể rèn luyện lý trí bên trong để thấu hiểu những định luật vĩnh cửu của thế giới
Trang 31Trường phái Khắc kỷ với quan niệm tự nhiên luôn tuân theo những quy luật sắt đá do vậy xã hội – với tư cách là một phần của giới tự nhiên cũng tuân theo những quy tắc được gọi là định mệnh và con người không thể thay đổi nó Vậy làm thế nào để con người có thể đạt đến hạnh phúc trong thế giới sắt đá này? Phái Khắc kỷ cho rằng, điều con người cần làm để hạnh phúc không phải là quay lưng lại với xã hội đầy bất công mà là thay đổi thái độ, cái nhìn của mình
về thế giới Giống như bạn đi đường mà gặp phải đoạn đường đầy đá nhọn, điều cần làm không phải là san bằng con đường ấy và tạo con đường mới mà là trang
bị cho mình đôi giày đủ chắc chắn để vượt khó khăn Chỉ cần con người thay đổi thái độ sống thì cuộc sống của con người sẽ hạnh phúc, nếu con người không chịu thay đổi thì đau khổ là điều sẽ mãi đồng hành cùng con người “Điều chúng
ta nên làm là hòa hợp chính mình với thế giới, phục tùng trật tự của vũ trụ Con người đức hạnh và sáng suốt phải học để không quan tâm đến bão tố của cuộc sống công cộng, thoát vào bên trong bản thân mình, bỏ qua những thứ công cộng chẳng mấy quan trọng Chỉ có cuộc sống nội tâm mới là cuộc sống đích thực, những thứ ngoại tại là thứ mong manh phù du” [15; 103] Cũng như trường phái Khoái lạc, trường phái Khắc kỷ chỉ quan tâm đến điều tốt đẹp của cá nhân Con người là một phần của tự nhiên, sau khi chết sẽ trở về với tự nhiên, do vậy không
có một thế giới siêu nhiên hay địa ngục chờ đợi con người
Vậy nên, trước cái chết hay thảm kịch cá nhân, chúng ta phải có thái độ chấp nhận, điềm tĩnh Nếu trong trường hợp phải chịu đựng quá sức, họ có thể chấm dứt cuộc sống bằng tự sát “Trường phái Khắc kỷ quan niệm rằng, cuộc đời con người phải hài hòa với tự nhiên, nếu tuân theo quy luật và lý trí thì con người sẽ tìm được hạnh phúc; “người tuân theo sự cần thiết một cách đúng đắn
là kẻ khéo léo và khôn ngoan” Hạnh phúc duy nhất chỉ có thể tìm trong đức hạnh Đức hạnh lại chính là tuân theo quy luật, ý thức bổn phận, vượt qua và từ chối, luôn nghiêm khắc và kỷ cương với chính bản thân mình” [15 ; 103] Vì con người không thể thay đổi những thứ vốn là định mệnh nên con người phải nhẫn
Trang 32nhục chịu đựng số phận càng nhiều càng tốt Thông qua hành động như vậy, con người sẽ được hạnh phúc cao nhất, bao gồm sự thanh thản trong tâm hồn Điều thiện cao nhất gồm sự thanh thản trong tâm hồn Lý tưởng sống của nhà Khắc kỷ
là tách cảm xúc ra khỏi hiện thực để đạt được trạng thái vô cảm Con người có đức hạnh theo phái Khắc kỷ là những người chối bỏ tất cả những vật chất bên ngoài: sự giàu nghèo, danh tiếng, sức khỏe thậm chí cả cái chết của chính mình Cái cần làm là để trật tự tự nhiên dẫn đường đi cho con người
Thoạt nghe, chúng ta rất khó có thể nhận ra mối liên hệ giữa Cicero và trường phái Khắc kỷ, bởi Cicero ngoài là một triết gia ông còn là một chính trị gia
và luật sư tài ba Ông ủng hộ con người tham gia vào chính trị, mong muốn mọi người đều có được công bằng… Vậy mối liên hệ giữa ông và trường phái khuyên con người ta phấn đấu đạt đến trạng thái vô cảm xúc này là gì?
Cicero là một người hoài nghi về niềm tin tôn giáo trong thời đại của mình, tuy nhiên, vì là một chính trị gia ở một quốc gia mà các tổ chức tôn giáo đóng một vai trò nổi bật, Cicero tôn trọng tôn giáo La Mã, mặc dù chỉ dựa trên lý do truyền thống và tiện ích Tại một số điểm nhất định trong tác phẩm của mình, ông lên án mọi người vì quá coi trọng các huyền thoại tôn giáo truyền thống Nhưng điều này không có nghĩa là Cicero là người vô thần Trái lại, vì bị ảnh hưởng bởi trường phái Khắc kỷ, Cicero tin rằng có một lực lượng thiêng liêng thần thánh chi phối mọi khía cạnh của vũ trụ; vũ trụ và tất cả các bộ phận của nó luôn luôn được quản
lý bởi lực lượng này Linh hồn của con người là do những đám cháy vĩnh cửu của các ngôi sao và các hành tinh tạo thành dưới sự kiểm soát của Chúa
Đối với Cicero, lực lượng siêu phàm này đã thiết kế và ra lệnh cho vũ trụ Ông khẳng định rằng tất cả mọi thứ đều được ghép với một chức năng nhất định
và kết thúc theo hướng mà chúng được chỉ đạo bởi các mệnh lệnh của Chúa; mệnh lệnh này được gọi là luật Đối với Cicero, luật pháp theo đúng nghĩa là lý
do đúng đắn để hòa hợp với tự nhiên Những luật này không liên tục thay đổi hoặc tiến hóa Vì mọi thứ đều được thiết kế với mục đích riêng bởi định mệnh,
Trang 33Cicero tin rằng bằng cách kiểm tra hình thức và chức năng của một vật, người ta
có thể tìm ra cách thức thứ đó hoạt động Do đó, ông lập luận rằng bằng cách kiểm tra loài người, ông có thể hiểu nhân loại phải hành động như thế nào Để hiểu được bản chất của công lý, người ta phải tìm kiếm nó bằng cách hiểu bản chất của loài người, vì sự xuất sắc về đạo đức không gì khác hơn là sự hoàn thiện
xã hội và hoàn thiện của tự nhiên
Cicero tin tưởng chắc chắn rằng loài người đứng giữa Thiên Chúa và các loại động vật, vì trong khi thiên nhiên khiến những con vật khác cúi xuống để kiếm ăn, ngài đã khiến con người đứng lên một mình, khuyến khích con người nhìn lên thiên đàng để trò chuyện với mình Sự ưa thích của nhân loại dành cho Chúa được khẳng định bởi sự sở hữu của chúng ta đối với các môn khoa học liên quan đến lý trí và lời nói như: Triết học, văn học… “Trong triết học chính trị thời
kỳ Hy Lạp hóa, người ta không quan tâm đến cuộc sống công cộng, nếu có thì nhà nước cũng chỉ là phương tiện không phải là mục đích Vấn đề trọng tâm của triết học chính trị thời kỳ này là đạo đức cá nhân Giờ đây, con người cá nhân được đề cao, đạo đức là đạo đức cá nhân và có thể đạt được thông qua con đường tự nhận thức Cuộc sống công cộng không đem đến hạnh phúc cho cá nhân, vì vậy cá nhân tìm đến sự bình thản trong tâm hồn, tránh xa cuộc sống công cộng và rút lui vào đời sống nội tâm” [15 ; 104] Chúng ta sẽ thấy rõ điều này trong các tư tưởng chính trị - xã hội của Cicero
1.3 Khái quát về thân thế, sự nghiệp của M.T.Cicero và tác phẩm “Bàn về chính quyền”
1.3.1 Khái quát về thân thế và sự nghiệp của M.T.Cicero
Cicero là một trong những nhà hùng biện, nhà triết học, nhà văn xuôi xuất sắc của Rome thời Cộng hòa La Mã Cicero là người có công rất lớn khi giới thiệu tới người La Mã các trường phái chính của triết học Hi Lạp và tạo ra một
số từ vựng Latin Ảnh hưởng của ông trong lĩnh vực văn học rất lớn, đến nỗi trong suốt các thời kì văn học sau này (không chỉ bằng tiếng Latin mà cả các
Trang 34ngôn ngữ Châu Âu thế kỉ XIX) đã hình thành phong trào muốn khôi phục hoặc quay trở lại phong cách của ông Nhưng trên hết, ông là một dịch giả và là một triết gia có ảnh hưởng lớn đối với các triết gia sau này, đặc biệt là tư tưởng chính trị - xã hội
Cicero sinh năm 106 TCN tại thị trấn Arpium cách Rome khoảng 50 dặm trong một gia đình giàu có nhưng chưa từng có người giữ chức lớn trong chính quyền Ông nhận được sự giáo dục tốt tại Rome và Hi Lạp Ông được học các quan điểm của các nhà triết học, nhà thơ và nhà sử học Hi Lạp cổ đại Ông có được nhiều hiểu biết về lý thuyết và thực hành hùng biện từ nhà thơ Hi Lạp là Archias và từ nhà hùng biện Hi Lạp - Apollius Với những am hiểu về tiếng Hi Lạp của mình, Cicero đã dịch nhiều khái niệm và tác phẩm triết học Hi Lạp sang tiếng Latin Tuy nhiên, chính việc nhận được sự giáo dục từ nhiều mặt này đã trói buộc Cicero với giới thượng lưu La Mã truyền thống
Theo Plutarch3, Cicero là một người cực kỳ tài năng, việc này thu hút sự chú ý của mọi người từ khắp các ngõ ngách của Rome, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi để ông theo học luật pháp La Mã Năm 79 TCN, Cicero rời khỏi Rome lần lượt đến Hi Lạp, Tiểu Á và Rhodes Điều này có lẽ là để tránh cơn thịnh nộ tiềm tàng của Sulla, như Plutarch tuyên bố, mặc dù chính Cicero nói rằng đó là
để trau dồi kỹ năng và cải thiện thể lực Ở Athens, Cicero đã nghiên cứu triết học với Antiochus của Ascalon4 – người đầu tiên của trường phái Chiết trung tuyên
bố thoát ly khỏi sự hoài nghi học thuật của những người đi trước, và ông cũng là người đã nỗ lực đưa các học thuyết của trường phái Khắc Kỷ, của Platon vào giảng dạy trong học viện và tuyên bố độc lập với trường phái Chiết trung Do vậy, Cicero chịu ảnh hưởng rất lớn các tư tưởng của trường phải Khắc Kỷ và Platon thông qua người thầy của mình
Trang 35Cicero kết hôn với Terentia có lẽ ở tuổi 27, vào năm 79 TCN Theo các tầng lớp thượng lưu thời bấy giờ, đó là một cuộc hôn nhân dựa trên nền tảng lợi ích, nhưng hài hòa và kéo dài trong gần 30 năm Gia đình của Terentia rất giàu
có, do đó đáp ứng nhu cầu của tham vọng chính trị của Cicero về cả kinh tế và
xã hội Terentia là một người phụ nữ có ý chí mạnh mẽ và rất ủng hộ sự nghiệp chính trị của chồng Hôn nhân của ông bắt đầy rạn nứt vào những năm 50 TCN
và chấm dứt vào năm 51 TCN Nguyên nhân của cuộc chia tay này có lẽ chỉ đơn giản là họ không thể vượt qua căng thẳng của biến động chính trị ở Rome, sự liên quan của Cicero trong đó và nhiều tranh chấp khác giữa hai người Vào năm
46 hoặc 45 TCN, Cicero kết hôn một lần nữa với một cô gái trẻ tên là Publilia Người ta cho rằng Cicero cần tiền của cô, đặc biệt là sau khi phải trả lại của hồi môn của Terentia, người xuất thân từ một gia đình giàu có và cuộc hôn nhân này cũng không kéo dài lâu Mặc dù cuộc hôn nhân của Cicero không có tình yêu, nhưng ông lại dành tình yêu lớn cho Tullia - cô con gái của mình Khi cô đột nhiên bị bệnh vào năm 45 TCN và qua đời sau khi sinh con trai đầu lòng, Cicero
đã rất choáng váng Ông viết cho Atticus5
: "Tôi đã đánh mất một thứ ràng buộc tôi với cuộc sống", và Atticus đã mời Cicero đến thăm trong những tuần đầu tiên sau cái chết của con gái, để ông có thể vơi đi nỗi đau mất người thân Trong thư viện lớn của Atticus, Cicero đã đọc tất cả những gì các nhà triết học Hy Lạp đã viết về việc vượt qua nỗi đau buồn, "nhưng nỗi buồn của tôi đánh bại mọi sự an ủi" Caesar và Brutus cũng như Servius Sulpicius Rufus6
đã gửi cho ông những
lá thư chia buồn Cicero hy vọng rằng con trai Marcus sẽ trở thành một triết gia như ông, nhưng bản thân Marcus lại mong muốn theo đuổi sự nghiệp quân sự
Vì bước chân vào chính trường khi còn trẻ nên Cicero được xem là "người mới" (novus homo) và con đường thăng tiến của ông rất gian nan [55] Năm 75
Trang 36TCN, ông được bổ nhiệm vào chức quan giám tài tại tỉnh đảo Sicily Ông đã thể hiện trung thực và liêm chính đối với dân chúng và chiếm được niềm tin lớn từ
họ để năm năm sau, họ đã đến nhờ ông tố cáo viên thống xứ tham nhũng là Verres7, một thống đốc của Sicily, người đã cướp phá tỉnh này Thống xứ Gaius Verres đã thuê luật sư nổi tiếng của một gia đình quý tộc Quintus Hortensius Hortalus8 biện hộ cho mình Sau một thời gian dài ở Sicily thu thập bằng chứng cũng như thuyết phục các nhân chứng, Cicero soạn sẵn bài luận tội cho hai phiên
xử, trở lại Rome và thắng kiện trong một loạt các trận chiến kịch tính tại tòa án
Và vì vậy, ngay khi kết thúc phiên xử đầu, Verres đã bỏ trốn và không bao giờ trở lại Sicily Sau đó, năm 63 TCN, ông lên đến nấc thang danh vọng cao nhất với chức chấp chính quan (có quyền hạn tối thượng, nhiệm kỳ một năm)
Cicero lớn lên trong thời kỳ bất ổn dân sự và chiến tranh Chiến thắng của Sulla trong lần đầu tiên của một loạt các cuộc nội chiến đã dẫn đến một khuôn khổ hiến pháp mới phá hoại tự do và các giá trị cơ bản của Cộng hòa La Mã Tuy nhiên, cải cách của Sulla đã củng cố vị thế của giai cấp kỵ sĩ, góp phần vào sức mạnh chính trị ngày càng tăng của giai cấp này Cicero là một công dân nhưng quan trọng hơn, ông là một nhà lập hiến La Mã Tầng lớp xã hội và lòng trung thành của ông đối với nền Cộng hòa đảm bảo rằng ông sẽ "chỉ huy sự ủng hộ và tự tin của người dân cũng như tầng lớp trung lưu La Mã" Các phe phái lúc bấy giờ không bao giờ thực sự chấp nhận Cicero, và điều này là một trong những yếu tố cản trở nỗ lực cải cách nền Cộng hòa của ông trong khi bảo tồn hiến pháp Tuy nhiên, ông đã thành công trong việc tôn vinh chương trình giáo dục (Cursus), nắm giữ nhiều chức quan ở độ tuổi trẻ nhất trong chính quyền Cộng hòa La Mã Năm
43 tuổi ông được bầu làm lãnh sự và đập tan âm mưu đảo chính của Lucius
Trang 37Sergius Catilina9, một nhà quý tộc bất mãn vì không được bổ nhiệm chức này Sau khi những kẻ âm mưu lật đổ bị kết án tử hình, Cicero đã rất tự hào về thành tích của mình Tuy nhiên, sự kiện này cũng gây nên khá nhiều tranh cãi Một số kẻ thù chính trị của ông lập luận rằng mặc dù hành động này đã khiến Cicero trở nên nổi tiếng thì ông cũng đã phóng đại mức độ thành công của bản thân Nhiều người La
Mã vào thời điểm đó, dẫn đầu là chính trị gia nổi tiếng Gaius Julius Caesar tin rằng bằng chứng của Cicero chống lại Catiline là bịa đặt và các nhân chứng bị mua chuộc
Vào năm 58 TCN, Publius Clodius Pulcher10
đã đưa ra một đạo luật lưu đày bất cứ ai hành quyết một công dân La Mã mà không cần xét xử Cicero đã xử
tử các thành viên của Âm mưu Catiline bốn năm trước mà không tiến hành xét xử một cách chính thức và sau khi tự bào chữa cho mình mà không nhận được sự ủng
hộ, ông phải chấp nhận cuộc sống bị lưu đày khỏi La Mã cho đến tận tháng 8 năm
52 TCN Việc lưu đày này là một cú sốc lớn đối với Cicero và khiến ông rơi vào trầm cảm Mặc dù sau đó không lâu, Cicero trở về với sự chào đón của gia đình và một nhóm đông những người ủng hộ và yêu mến nhưng điều đó không đủ để ông
có thể tiếp tục tham gia vào chính trường Ông cố gắng tấn công vào một dự luật của Caesar nhưng không thành công, điều này khiến ông trở nên nhụt chí và tập trung nhiều hơn vào các tác phẩm văn học của mình
Cuộc đấu tranh giữa Pompey11 và Julius Caesar ngày càng dữ dội hơn vào năm 50 TCN Cicero ủng hộ Pompey và công khai xa lánh Caesar, thậm chí Cicero đã trốn khỏi Rome và theo Pompey tới Hi Lạp nhân lúc Caesar đang mải
mê đem quân xâm chiếm Italia Tuy nhiên, sự thất vọng của Cicero cũng dần tăng lên khi ông nhìn nhận rõ quân đội của Pompey thiếu năng lực và sự công
9 Lucius Sergius Catilina (108 TCN – 62 TCN) được biết đến nhiều nhất với sự kiện đảo chính do không được bầu làm quan chấp chính
10 Publius Clodius Pulcher (93 TCN – 53 TCN) là một nhà thông thái La Mã và một chính trị gia, được nhớ đến nhiều nhất vì mối thù với Cicero và Titus Annius Milo
11 Pompey (106 TCN – 48 TCN) là một nhà lãnh đạo quân sự, chính trị lỗi lạc của Cộng hòa La Mã
Trang 38bằng Sau chiến thắng của Caesar tại trận Pharsalus vào ngày 9 tháng 8 năm 49 TCN, Cicero trở lại Rome với tâm thế thận trọng Cicero đã nhận được sự tha thứ từ Caesar và ông cố gắng thích nghi với tình hình và duy trì công việc chính trị của mình, hy vọng rằng Caesar có thể hồi sinh nền Cộng hòa và các tổ chức của nó Đến năm 44 TCN, Caesar bị ám sát bởi Brutus – kẻ mà Cicero đã từng coi là bạn và ủng hộ trên chính trường, khiến ông kinh hoàng và ghê tởm vì sự tàn bạo của nó, đã khiến ông một lần nữa chọn cách sống ẩn dật
Khi ba người hùng mới, Octavius12
, Marcus Antonius13 và Lepidus14thành lập Tam đầu chế thứ hai, Cicero theo phe Octavius Ông viết 14 bài hùng biện tấn công Marcus Antonius dữ dội (Philippics) nên đã chuốc lấy hận thù Sau
đó, Octavius và Marcus Antonius tạm thời bắt tay cùng nhau lập một danh sách những công dân bị đặt ngoài vòng pháp luật Octavius tìm mọi cách bênh vực Cicero nhưng Marcus Antonius vẫn căm thù ông và Octavius đành im lặng Cicero định bỏ trốn, nhưng bị một học trò tâm phúc phản bội và ngày 7 tháng 12 năm 43 TCN, ông bị thủ hạ của Marcus Antonius đến bắt, chặt đầu và hai bàn tay, đưa đi đóng đinh tại Quảng trường Rome
1.3.2 Giới thiệu khái quát về tác phẩm “Bàn về chính quyền”
“Bàn về chính quyền” là cuốn sách tập hợp 7 bài hùng biện và bài luận của Cicero xoay quanh các hoạt động chính trị tại nơi ông sống Cuốn sách được một số học giả nhận định là một văn bản khó chuyển ngữ do ngôn ngữ Cicero sử dụng là tiếng Latin, bản dịch tại Việt Nam được dịch từ bản tiếng Anh của Michael Grant
14 Lepidus (89 TCN – 13 TCN) là một quý tộc La Mã, là người đã vươn lên trở thành một thành viên của “tam
Trang 39Tác phẩm “Bàn về chính quyền”15 (On Government), chính là một tập hợp các trích đoạn diễn văn và tác phẩm giá trị của Cicero về chính trị Trong đó, ông vừa mô tả lại chính quyền La Mã đương thời, vừa đề xuất một số ý tưởng mới của riêng mình
Do phương pháp trình bày cuốn sách thuộc dạng diễn văn và đối thoại nên
“Bàn về chính quyền” không trình bày một cách hệ thống toàn bộ quan điểm của Cicero Tuy nhiên, cuốn sách đủ cho ta thấy một số nội dung cơ bản trong quan niệm triết học chính trị - xã hội của Cicero như: Nguyên tắc phân quyền, nguyên tắc kiểm soát và cân bằng quyền lực, giới hạn nhiệm kỳ của quan chức…
Chương 1 của tác phẩm có tên “Buộc tội Verres” được Cicero viết vào năm 70 TCN để thay mặt công dân Sicily tố cáo tên thống xứ Gaius Verres vì tội tống tiền Thế nhưng, hầu như ai cũng hiểu rằng cáo trạng này của Cicero nhằm tấn công vào thói cai trị tệ hại nói chung trong chính quyền lúc bây giờ Michael
Grant đánh giá tác phẩm này “là đóng góp quan trọng đầu tiên của Cicero cho
nghệ thuật cai trị” [4; tr 28] Cicero đã dành rất nhiều tâm huyết cho vụ án
thống xứ Gaius Verres (có nhiều nguyên nhân khiến ông làm vậy, tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu vẫn là ông thực lòng căm ghét lối cai trị bất lương và sách nhiễu dân chúng), do vậy nó đã thành công triệt để, khiến Verres phải trốn chạy ngay sau khi Cicero trình bày phần đầu tiên của diễn văn luận tội Và Cicero đã rất thành công với mục tiêu cuối cùng của mình là thông qua sự buộc tội một tham quan để bày tỏ quan điểm của ông về nghệ thuật cai trị Quan lại là đại diện cho nhà nước bảo vệ nhân dân do vậy hành vi ăn hối lộ và sách nhiễu dân chúng
là một biểu hiện của lối cai trị bất lương, hành vi này phải bị triệt tiêu nếu nhà nước muốn tồn tại
Ở chương 2 có tên “Biện hộ cho Murena” được Cicero viết năm 62 TCN Mục đích trực tiếp của bài diễn văn này là biện hộ cho Murena – một trong bốn
15 Bản dịch do Lương Đăng Vĩnh Đức dịch từ nguyên tác tiếng Anh, nhà xuất bản Hồng Đức kết hợp cùng Omega Plus
Trang 40ứng viên của vị trí chấp chính cho nhiệm kì tiếp theo16
Sau khi dập tắt âm mưu của Catilina trong nhiệm kì của mình, Cicero lo sợ hiểm họa cách mạng sẽ kéo dài lâu hơn sau nhiệm kì của ông, nên hi vọng đưa Murena lên làm chấp chính quan sẽ góp phần ngăn chặn mối nguy cơ này Trong trường hợp này, Cicero đã
cố quên đi rằng kẻ mà ông đang biện hộ thật sự đã có hành vi hối lộ Thông qua lối diễn đạt tài tình, Cicero bộc lộ rõ quan điểm chính trị của mình là: nếu phải lựa chọn giữa việc giữ vững sự ổn định của một chính quyền với việc vi phạm một nguyên tắc, ở đây cụ thể là nguyên tắc liêm khiết, thì có thể chọn vi phạm nguyên tắc
Chương 3 có tên “Biện hộ cho Balbus” được Cicero công bố năm 56 TCN Ở giai đoạn này, Cicero đã không thể hành động đơn độc để chống lại chế
độ độc tài nữa, ông buộc phải thực hiện nhiều bài diễn văn đại diện cho “tam đầu chế thứ nhất”17 tại Viện Nguyên lão và bài “Biện hộ cho Balbus” này chính là bài diễn văn thứ hai trong số đó Cicero với tư cách một chính trị gia đã từ bỏ các nguyên tắc của bản thân để bảo vệ nhà nước, qua đó thể hiện quan điểm cởi mở tương đối trong việc chấp nhận người ngoại quốc trở thành một công dân – điều
mà các thành bang Hi Lạp chưa bao giờ sẵn lòng thực hiện
Chương 4 và chương 5, có thể được coi là trung tâm của tác phẩm, nơi thể hiện quan điểm rất rõ nét của Cicero về các hình thức chính quyền trong lịch sử, nguyên tắc để xác định chính trị gia mẫu mực và cách thức vận hành của một chính quyền lý tưởng Đáng tiếc là do những nguyên nhân khách quan và chủ quan nào đó mà bản dịch không đề cập nhiều đến quan niệm của Cicero về nguồn gốc, bản chất của nhà nước mà chủ yếu tập trung vào vấn đề công lý và mối quan
hệ của công lý với luật pháp
16 Là nhiệm kì ngay sau nhiệm kì của Cicero
17 Tam đầu chế thứ nhất là một liên minh chính trị được thành lập bởi Gaius Julius Caesar, Marcus Licinius Crassus và Gnaeus Pompeius Magnus