Những bài viết của GS Văn Tân: Vài nét về Lê Quý Đôn, nhà bác học của Việt Nam dưới thời phong kiến và Lê Quý Đôn, cuộc đời và sự nghiệp được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử cũng là
Trang 1đã thực sự trở thành đỉnh cao tri thức Việt Nam thế kỷ XVIII, và có ảnhhưởng vĩ đại mãi về sau.
Bình sinh Lê Quý Đôn có hai hoài bão lớn, kinh bang tế thế và trướcthư lập ngôn Với hoài bão thứ nhất, ông không được viên mãn, đến khi cuốiđời vẫn ôm mối bất đắc chí Với hoài bão thứ hai, ông thực sự được thỏa chí,
và đã trở thành một nhà bác học lừng danh của Việt Nam
Không ít người cho rằng, Lê Quý Đôn là người công danh hiển đạt,hoạn lộ hanh thông, nhưng thực tế không phải như vậy Cuộc đời ông là một
bi kịch, bi kịch này chứa đựng những mâu thuẫn của thời đại Bởi ông là mộttài năng lớn, mà tầm vóc đó đã vượt ra khỏi khuôn khổ của xã hội đương thời,làm quan ở thời loạn, khi mà nền cai trị đã thối nát thì một người chính trựcuyên bác, một người có tư tưởng bác học tiến bộ như ông thì đương nhiênphải hứng chịu nhiều bi kịch Song con đường làm quan quả lắm chông gai,
Trang 2thì con đường học thuật lại thăng hoa rực rỡ Với sự nghiệp trước thuật, tàinăng của ông thật sự ở hàng những thành tựu tiêu biểu của văn hóa ThăngLong – Hà Nội.
Đối với Lê Quý Đôn, đọc sách và viết sách là cái sở trường, cái đam
mê, và gần như mục đích sống của ông Ông không chỉ đọc Kinh, Thư, Sử,
Truyện mà còn đọc cả bách gia chư tử, không chỉ đọc sách của tiền nhân nước
ta mà còn đọc nhiều ngoại thư, kể cả thiên văn, địa lý, tử vi, thái ất, lục nhâm.Ông không chỉ đọc sách Trung Hoa mà còn đọc cả sách Tây phương, như
Khôn dư đồ thuyết – cuốn sách về địa lý của Ferdinandus Verbiest (1623 –
1688, một giáo sĩ Bỉ đến Trung Hoa đời Thuận Trị – nhà Thanh), đã đượcdịch sang Hán văn, khi ông đi sứ Yên Kinh (1761) Không chỉ đọc và họcchữ, ông còn học hỏi ở dân gian và biết kết hợp cái tư duy bác học với tri thứcdân gian Lê Quý Đôn thực sự là một con người “uyên bác” theo nghĩa đầy đủnhất của hai chữ này ở thời đại của ông
Với Lê Quý Đôn, di sản lập ngôn của ông là cả một khối đồ sộ đến 50
bộ sách, với hàng trăm quyển, gồm cả khoa học nhân văn lẫn khoa học tựnhiên Ông là cây đại thụ trong lịch sử học thuật nước nhà Không kể các tácphẩm bị thất lạc, bị tiêu hủy hay còn ở dạng tồn nghi, chỉ tính riêng 12 bộsách biết đích xác tác giả là Lê Quý Đôn cũng đủ thấy sức đọc, sức viết củaông phi thường đến nhường nào Điển hình là trong vòng sáu tháng làm Hiệptrấn vùng Thuận Hóa (1776), dù công việc của vùng đất mới bình định bề
bộn, nhưng ông vẫn hoàn thành công trình Phủ biên tạp lục - một tập ký với
những tư liệu có giá trị về xứ Đàng trong, từ thế kỷ XVIII trở về trước, màtrước ông rất ít người đề cập đến
Niên biểu Lê Quý Đôn cho biết, những công trình nghiên cứu quantrọng nhất của ông được hoàn thành vào những thời điểm ông đang ở “ngôicao chức trọng” Chính cái vị thế quan chức cao cấp ấy đã giúp ông chiếm
Trang 3lĩnh những khối tư liệu đồ sộ ở thư khố, thư viện của nhà nước và biết đượcnhững chuyện “thâm cung bí sử” Ông thường xuyên có những chuyến điền
dã, khảo sát ở những vùng xa xôi, dưới danh nghĩa liêm phóng hay trị nhậm.Ông cũng từng đi sứ Trung Hoa để tiếp cận một nền văn hóa lớn và những trithức mới về thế giới Ông là một nhà bác học, một nhà tư tưởng làm quan hơn
là một ông quan có tư tưởng và tư duy bác học Ông đã thành công khi sửdụng quyền lực như một phương tiện để đạt mục đích khoa học, mà thực chấtcũng là vì lợi ích quốc gia, dân tộc
Từ hơn hai thế kỷ nay, nhiều ngành khoa học nước ta, ở những mức độkhác nhau vẫn phát triển dưới ánh sáng của tư duy bác học Lê Quý Đôn Bởiông là “tập đại thành” của mọi tri thức dân tộc thế kỷ XVIII, là một nhà khoahọc tiêu biểu cho xu hướng bách khoa thư ở phương Đông lúc bấy giờ
Giới sử học Việt Nam hiện vẫn coi ông là bậc tiền bối đặc biệt tin cậy
Những bộ sách lớn của ông như Lê triều thông sử, Bắc sứ thông lục, Phủ biên
tạp lục, Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục, Thư kinh diễn nghĩa
ngoài ý nghĩa là kho sử liệu vô giá, còn mang lại cho người nghiên cứu lịch
sử một phương pháp làm việc khoa học
Trong tất cả những giá trị lịch sử mà ông để lại cho đời, không thế
không kể đến tác phẩm Vân Đài loại ngữ, một trước tác tiêu biểu nhất của Lê
Quý Đôn, mang tư tưởng tiến bộ và chưa đựng nhiều giá trị Những tư tưởngtiến bộ, những hiểu biết trên nhiều lĩnh vực của ông trong tác phẩm đến bâygiờ còn nguyên giá trị
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình các cấp, các tạp chí, bàibáo nghiên cứu về nhà bác học Lê Quý Đôn nhưng hầu như chưa có một nhànghiên cứu, một tác giả nào có công trình nghiên cứu đầy đủ tư tưởng cuảông Xét thấy giá trị cũng như tính hiện đại trong nhiều tư tưởng của Lê QuýĐôn cộng với những công trình nghiên cứu về ông còn sơ sài, thiếu hệ thống,
Trang 4mặt khác, việc nghiên cứu cơ bản về tư tưởng của dân tộc ta trong lịch sử làviệc làm cần thiết không chỉ khơi gợi niềm tự hào dân tộc mà còn góp phầngiao lưu văn hóa với các nước trong khu vực và thế giới Vì vậy để góp phần
vào việc nghiên cứu tư tưởng dân tộc, tôi quyết định chọn “Tư tưởng triết học của Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại ngữ” làm đề tài luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, đã có nhiều công trình viết về Lê Quý Đôn theo nhiềuphương diện khác nhau Có thể phân định sơ bộ các nhóm nghiên cứu theochủ đề và mục đích riêng Nhóm thứ nhất là tập trung nghiên cứu và giớithiệu thân thế, sự nghiệp của Lê Quý Đôn Nhóm thứ hai đề cập đến một sốkhuynh hướng tư tưởng của Lê Quý Đôn cũng như mối quan hệ của tư tưởng
đó với tư tưởng dân tộc thế kỉ XVIII Số khác chuyên bàn đến tư liệu của ông.Tuy nhiên trong đề tài của mình tôi chú trọng đến những công trình liên quanđến thân thế sự nghiệp và những nội dung tư tưởng quan trọng được nhà tư
tưởng trình bày trong Vân Đài loại ngữ.
Trong các công trình nghiên cứu, các bài viết mà tôi tìm hiểu có một sốcông trình tiêu biểu bàn đến tư tưởng của Lê Quý Đôn, cụ thể:
1 Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1 của Viện Triết học do GS.TS
Nguyễn Tài Thư chủ biên, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm
1993 Trong công trình này, các tác giả đã chọn Lê Quý Đôn là nhà tư tưởngtiêu biểu đại diện cho khuynh hướng tư tưởng của thời đại ông Công trình đãnêu lên được những nét cơ bản nhất trong tư tưởng của Lê Quý Đôn về chínhtrị - xã hội, những tư tưởng triết học, về ý thức dân tộc tự cường Các tác giả
đã khẳng định rằng, Lê Quý Đôn có khuynh hướng kết hợp đường lối nhân trịvới pháp trị, sử dụng cặp phạm trù lý và khí để giải thích vấn đề bản thể củathế giới Tuy nhiên các tác giả đã không đi sâu làm rõ nguồn gốc của những
Trang 5quan điểm của ông cũng như chưa giải thích rõ nhiều quan niệm khác của LêQuý Đôn Tóm lại, với những gì đã đóng góp, công trình này đã giúp ngườiđọc có định hướng chính xác và cái nhìn khái quát khi bắt tay nghiên cứu nhàbác học Lê Quý Đôn trên nhiều lĩnh vực.
2 Công trình thứ hai là “Lê Quý Đôn và học thuyết lý, khí” của GS
Cao Xuân Huy trong Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham
chiếu do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1995 Bài viết đã trình bày rất cụ
thể quan điểm của Lê Quý Đôn về bản thể của thế giới, vũ trụ, chỉ rõ nhữngđiểm tiến bộ cũng như hạn chế của ông so với các nhà Nho đương thời Tuynhiên do phạm vi và mục đích của bài viết mà tác giả của bài viết này chưa đềcập tới các vấn đề về con người, chính trị xã hội – những vấn đề rất quantrọng trong tư tưởng của Lê Quý Đôn
3 Công trình thứ ba là Lê Quý Đôn, nhà tư tưởng Việt Nam thế kỷ
XVIII của GS Hà Thúc Minh do nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1998.
Đây là công trình nghiên cứu khái quát về Lê Quý Đôn trên mọi phương diện
từ thân thế, sự nghiệp, những tác phẩm tiêu biểu cho đến tư tưởng của Lê QuýĐôn Tác giả đã trình bày những tư tưởng chính trị xã hội, triết học của LêQuý Đôn và đã giúp cho độc giả có cái nhìn khái quát nhất về quan điểm lậptrường, khuynh hướng tư tưởng của ông Tác giả đã dùng nhiều nguồn tư liệu
khác nhau ở các tác phẩm: Vân Đài loại ngữ, Thư kinh diễn nghĩa, Quần thư
khảo biện… để chứng minh cho những kết quả mà tác giả đã nêu ra.
4 Những bài viết của GS Văn Tân: Vài nét về Lê Quý Đôn, nhà bác
học của Việt Nam dưới thời phong kiến và Lê Quý Đôn, cuộc đời và sự nghiệp được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử cũng là nguồn tư liệu tham
khảo tốt bởi trong các bài viết này tác giả cũng có những bàn luận về quanniệm triết học của nhà bác học Lê Quý Đôn Trong bài viết của mình tác giả
đã đề cập đến cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn, bên cạnh đó tác giả còntrình bày khái quát những quan điểm triết học thông qua việc giải quyết mốiquan hệ giữa Lý – Khí cũng như cuộc đời hoạt động chính trị của ông Theo
Trang 6GS Văn Tân, “quan niệm triết học của Lê Quý Đôn không thể vượt ra ngoàiquan niệm triết học của Tống Nho” Điều đó, có phần chính xác, song ngoài
sự kế thừa những tư tưởng đó, Lê Quý Đôn cũng có những quan điểm riêngcủa ông về những vấn đề mà ông nghiên cứu được từ triết học Tống Nho Tuyxuất phát từ triết học Tống Nho, cụ thể là triết học Trình Di, song ông lại có
cách giải quyết rất riêng của mình, điều đó thể hiện rõ nét trong tác phẩm Vân
Đài loại ngữ Lê Quý Đôn đã sử dụng rất nhiều quan điểm của các nhà triết
học phương Tây để chứng minh cho quan điểm của mình chứ không hoàntoàn phụ thuộc vào Tống Nho Các nhà nho thời Tống khi giải quyết mốiquan hệ giữa Lý và Khí dù theo hướng duy vật như Trương Tải hay duy tâmkhách quan như Nhị Trình, Chu Hy thì mục đích cuối cùng của họ đề caonhững giá trị đạo đức truyền thống của Nho giáo như Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí,coi đó là quy luật phổ biến chung, khách quan của xã hội loài người
Đọc Vân Đài loại ngữ, chúng ta thấy Lê Quý Đôn luôn chủ trương
chứng minh tính thống nhất của thế giới ở Khí chứ không phải ở những giá trịđạo đức của Nho giáo Đó là quan điểm duy vật về bản thể của thế giới vàcũng chính là điểm khác biệt của Lê Quý Đôn so với phái Tống Nho
Hơn nữa, các nhà Nho luôn đề cao đến mức tuyệt đối hóa nguyên tắcNhân trị, Đức trị trong trị nước, quản lý xã hội, còn Lê Quý Đôn lại cho rằngphải kết hợp Nhân trị và Pháp trị, thậm chí có chỗ ông nghiêng về Pháp trịhơn Như chúng ta đã biết, thế kỉ XVIII, Nho giáo Việt Nam đang dần suyyếu và lâm vào khủng hoảng Do vậy để ngăn chặn thực trạng này, khôi phụcđịa vị và vai trò của Nho giáo như thời Lê sơ, khuynh hướng “tam giáo đồngnguyên” trên cơ sở Nho giáo giữ vai trò chủ đạo được các nhà Nho chú trọngtriển khai mà Lê Quý Đôn là đại biểu tiêu biểu Do vậy, không vì thế màkhẳng định rằng, quan điểm triết học của Lê Quý Đôn không thể vượt rangoài quan điểm của Tống Nho được Khẳng định như vậy là chưa thực sựthỏa đáng
Trang 7Bên cạnh một số điều tác giả khẳng định chưa được thuyết phục ngườiđọc, thì bài viết trên của tác giả cũng cung cấp nhiều tư liệu quý về Lê QuýĐôn, đặc biệt là về cuộc đời hoạt động chính trị của ông Tác giả đã sử dụng
nhiều nguồn tài liệu khác nhau như Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều
hiến chương loại chí… để viết về cuộc đời, sự nghiệp của Lê Quý Đôn, vì vậy
những tư liệu mà tác giả sử dụng có độ tin cậy khá cao và rất quý giá
5 Ngoài ra còn có những bài viết của GS.TS Nguyễn Tài Thư: Tư
tưởng của Lê Quý Đôn và khuynh hướng tư tưởng của thời đại ông, Lê Quý Đôn trong lĩnh vực tư tưởng của dân tộc ở thế kỉ XVII được đăng tải trên tạp
chí Triết học, cũng là những nguồn tư liệu quan trọng khi nghiên cứu về Lê
Quý Đôn
Những tài liệu trên đây là nguồn tư liệu quý giá Trong quá thình thựchiện luận văn, tôi đã tham khảo và sử dụng những tư liệu đó cho luận văn củamình hoàn thiện hơn Tuy vậy, số lượng sách, công trình, bài viết về tác phẩm
Vân Đài loại ngữ còn ít, chưa thực sự xứng với tầm của tác giả và tác phẩm.
Mặt khác, những bài viết đó còn chưa có hệ thống, chưa nêu bật được tư
tưởng của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Vân Đài loại ngữ…Do vậy, ngoài việc
kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, khắc phụcnhững khó khăn về tham khảo và xử lý nguồn tư liệu, trong luận văn này tôi
sẽ cố gắng trình bày một cách có hệ thống và bước đầu đưa ra những nhận xét
thỏa đáng về một số tư tưởng triết học của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Vân
Đài loại ngữ của ông.
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn:
Luận văn làm rõ những quan điểm triết học, quan điểm về trị nước,quan điểm về văn học, thiên chúa giáo, địa lý, phong tục tập quán của Lê Quý
Đôn được thể hiện trong tác phẩm Vân Đài loại ngữ, qua đó chỉ ra vị trí, vai
trò của ông trong tiến trình lịch sử tư tưởng của dân tộc
Trang 8Đối tượng: Tập trung nghiên cứu những tư tưởng về phạm trù lý, khí;
vũ trụ, đường lối trị nước, địa lý và phong tục tập quán của Lê Quý Đôn
trong tác phẩm Vân Đài loại ngữ, giá trị và hạn chế của những tư tưởng ấy.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung làm rõ những tư tưởng cơ bản vềphạm trù lý, khí; vũ trụ, đường lối trị nước, con đường nắm quyền lực, địa lý,
phong tục tập quán của Lê Quý Đôn trong một tác phẩm là Vân Đài loại ngữ.
4 Luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã chỉ rõ nguồn gốc tư tưởng của Lê Quý Đôn, sự kế thừa vàphát triển của Lê Quý Đôn những tư tưởng triết học cơ bản của Tống Nho, vànhững tư tưởng về trị nước, con đường nắm quyền lực… Luận văn chỉ ra đượcnhững tư tưởng cơ bản của Lê Quý Đôn Ngoài ra luận văn còn dựa vào phươngpháp của triết học và lịch sử để đánh giá những giá trị tích cực cũng như nhữnghạn chế trong tư tưởng của Lê Quý Đôn và chỉ ra những đóng góp cũng như vịtrí của ông trên tiến trình phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác – Lênin vềlịch sử triết học, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu là logic – lịch sử,phân tích tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa, nhằm tái hiện chân thực và đánhgiá một cách khách quan những tư tưởng cơ bản mà Lê Quý Đôn trình bày
trong Vân Đài loại ngữ.
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănchia làm 2 chương, 7 tiết
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ VÀ TIỀN ĐỀ
TƯ TƯỞNG CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA LÊ QUÝ ĐÔN TRONG “VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ”
1.1 Tiền đề tư tưởng
1.1.1 Nho, Phật, Thiên Chúa giáo
Nho giáo là một học thuyết về chính trị - xã hội, đạo đức của giai cấpphong kiến theo khuynh hướng nhập thế, có nhiều tư tưởng triết học sâu sắc
do Khổng Tử sáng lập vào khoảng thế kỉ VI TCN và đã tồn tại, phát triển ởTrung Quốc hơn hai nghìn năm Nho giáo đã trải qua nhiều giai đoạn pháttriển: Nho giáo Tiên Tần (Nho giáo nguyên thủy); Hán Nho; Tống Nho Nhogiáo thời kỳ nhà Tống được gọi với nhiều tên gọi khác nhau: Tống nho, đạohọc, lý học với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo,Trình Di Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo” Các nhà Lý họcthời Tống đã phát hiện ra một số sự thuần khiết bên trong các văn bản kinhđiển cổ, viết bình luận về chúng Lý học lấy tư tưởng Khổng – Mạnh làm hạtnhân nhưng có nội hàm sâu sắc hơn so với Nho học truyền thống là bởi nóhấp thu triết học của Phật giáo và Đạo giáo, gạt bỏ các yếu tố tiêu cực, biquan Nhờ đó mà lý luận của Nho học thời Tống tỏ ra tinh vi, thứ lớp Sự hìnhthành của Lý học, lấy Nho làm chủ có tác dụng to lớn đưa tư tưởng triết họccủa Trung Quốc bước vào một giai đoạn phát triển mới cao hơn Người nổitiếng nhất trong số họ là Chu Hy (1130 - 1200), sự tổng hợp tư tưởng Khổnggiáo với Phật giáo và Đạo giáo của ông cùng với các tư tưởng khác đã trởthành hệ tư tưởng chính thức của triều đình từ cuối thời nhà Tống tới cuối thế
kỷ 19 Vì được kết hợp với khoa cử, triết lý Chu Hy liên quan tới tín điều
Trang 10chính thức cứng nhắc, bắt buộc sự tuân phục mù quáng từ một phía của dânchúng đối với nhà cai trị, con với cha, vợ với chồng, em với anh Hậu quả làmkìm hãm sự phát triển xã hội của nước Trung Hoa tiền hiện đại, dẫn tới sựphát triển chậm chạp của nhiều thế hệ chính trị xã hội và sự ổn định tưtưởng dẫn tới sự trì trệ văn hoá cho tới tận thế kỷ 19 Những ảnhhưởng của Nho giáo nói chung và Tống nho nói riêng về mặt bản thể, nhânsinh và nhận thức không chỉ sâu rộng trong xã hội Trung Quốc mà còn đốivới nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam.
Từ sau thế kỷ XII - XIII, Tân Nho học Tống Minh còn gọi là lý học TốngMinh, được khởi nguồn từ Trung Quốc, không chỉ là dòng chảy văn hoá, nghệthuật chính của Trung Quốc, mà thậm chí còn mở rộng sang cả các nước xungquanh, trở thành biểu hiện chung của văn minh Đông Á, là nguồn tư tưởngchung của dòng văn hoá chữ Hán Điều đáng chú ý là, sự phát triển của Tân Nhohọc Tống Minh, nhất là Chu Tử học, đã lan truyền theo hai hướng: Đông và Tây.Hướng phát triển sang phía Đông của Tân Nho học truyền đến Triều Tiên, ảnhhưởng đến thể chế chính trị và tư tưởng văn hoá hơn năm trăm năm (thời kỳ
1392 - 1910), thậm chí đến cả thời Cận đại của Triều Tiên Cũng theo hướngĐông, Tân Nho học truyền sang cả Nhật Bản và có ảnh hưởng to lớn đối vớichính trị, xã hội, văn hoá của Nhật Bản thời đại Đức Xuyên (1600 - 1868) Mộthướng phát triển khác của Tân Nho học là hướng Nam, sang Việt Nam, ảnhhưởng đến thời đại Hậu Lê (1428-1784) và thời nhà Nguyễn (1802 - 1945) củaViệt Nam, tạo ra thời kỳ hưng thịnh của Nho học Việt Nam Có thể nói, từ sauthế kỷ XV, Tân Nho học (đặc biệt là Chu Tử học) đã có ảnh hưởng to lớn đốivới cả Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam Xét từ góc độ Nho học Đông Á, việcphát triển sang phía Đông và phía Nam của Tân Nho học không chỉ ăn sâu vàovăn hoá của Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, mà còn tạo ra nét đặc trưng khuvực cho Nho học ở cả ba nước
Trang 11Xét về lịch sử giao lưu với Việt Nam, ngay từ khi Tần Thủy Hoàngbình định Lĩnh Nam (năm, Thủy Hoàng thứ 32 năm 214 TCN) Tần ThủyHoàng đã thành lập ba quận là Quế Lâm, Tượng, và Nam Hải) Trong đóquận Tượng chính là Bắc bộ và Trung bộ của Việt Nam Đây cũng là thờiđiểm khởi đầu Trung Quốc thống trị các quận huyện ở Việt Nam Sau đó thời
kỳ Lưỡng Hán cũng thiết lập sứ bộ Giao Chỉ tại Việt Nam Thời Tam Quốc,Đông Tấn, Nam Triều thiết lập Giao Châu, đời đường thiết lập An Nam Đô
hộ phủ Vì thế cái tên Giao Chỉ, Giao Châu, An Nam được gọi trong sử sáchTrung Quốc chính là Việt Nam Nói cách khác, từ thời Tần Hán đến cuối đờiđường, Việt Nam có đến gần một nghìn năm là quận, huyện của Trung Quốc.Ngày nay người Việt Nam gọi thời kỳ thống trị quận huyện đó là “thời kỳ Bắcthuộc” hay “thời kỳ đô hộ”
Từ sau thời nhà Tống, Việt Nam giành được độc lập, tự thành lậpphương triều phong kiến của riêng mình, giữ quan hệ chính quốc và thuộc địavới Trung Quốc Tuy vậy, trên thực tế Việt Nam đã thoát khỏi sự thống trịcủa Trung Quốc có lịch sử độc lập tự chủ của mình Sau khi độc lập Việt Nam
đã trải qua các triều đại: Đinh (968 – 980), Tiền Lê (980 – 1009), Lý (1010 –1225), Trần ( 1225 – 1440), và Hồ (1400 – 1407), thời kỳ này vào đầu nhàMinh ở Trung Quốc
Thời nhà Hồ, giặc Minh xâm lược nước ta đem Tống Nho vào truyền
bá Từ đây Tống Nho ngày càng phổ biến và đến khi nhà Lê giành được độclập, Tống Nho dần dần chiếm địa vị độc tôn trong thượng tầng kiến trúc của
xã hội phong kiến Đối với xã hội phong kiến, ảnh hưởng của Nho giáo đãđược lịch sử chứng minh, nhất là tầng lớp nho sĩ Có thể khẳng định Nho giáo
đã tạo ra cho các nhà tư tưởng phong kiến Việt Nam một thế giới quan, cáchnhìn nhận và tư duy trong suốt thời phong kiến Sau khi đánh đuổi hết quânMinh, giải phóng đất nước, vương triều Lê chính thức được kiến lập (1428)
Trang 12và bắt đầu công việc xây dựng, phát triển nền văn hóa độc lập dân tộc LêThái Tông lên ngôi năm Giáp Dần (1434) Thái Tông đã họp triều đình bànđịnh việc mở khoa thi Tiến sĩ và đưa ra điều lệ thi Hương, thi Hội cùng phépthi ở các kỳ Nhưng phải tới tháng 3 năm Nhâm Tuất (1442), thời Lê NhânTông, triều Lê mới chính thức cho thi đối sách ở sân điện để lấy Tiến sĩ vàcũng bắt đầu cho dựng bia khắc văn nói về việc mở khoa thi Tiến sĩ, khắctên những người đỗ Tiến sĩ Khoa thi Tiến sĩ năm Nhâm Tuất là cái mốc quantrọng xác lập vị trí độc tôn của Nho học ở Việt Nam hồi thế kỷ XV Nho giáo
ở thời Lê thế kỷ XV đến triều Thánh Tông Thuần Hoàng đế (1460-1497) thìđạt tới đỉnh cao thịnh vượng
Nhìn lại toàn bộ lịch sử phong kiến của Việt Nam, chúng ta thấy rằngphần lớn mọi việc đều áp dụng theo chế độ của Trung Quốc, như thực hiệnchế độ khoa cử để chọn hiền tài, lấy Tứ thư, Ngũ Kinh làm nội dung thi cử.Nói chung, sau khi Việt Nam độc lập và lập nên các triều đại thì trong hơn
1000 năm, Nho học cũng đã trải qua quá trình từ thịnh đến suy Vào thời nhà
Lý, mặc dù đã lập Văn Miếu ở thủ đô Thăng Long (1070), tiến hành thi cử(1075), lập Quốc Tử Giám (1076), lập Hàn Lâm Viện (1986), nhưng đến cuốithời Lý, chế độ khoa thi vẫn ở giai đoạn thử nghiệm ban đầu, việc thi cử vẫn
tổ chức theo đúng kỳ hạn Nói tóm lại, trong thời Lý, mặc dù tam giáo là Nho,Thích, Đạo đều phát triển, song ý thức chủ đạo của vương triều vẫn là Phậtgiáo, đó mới là dòng chảy tư tưởng văn hóa chủ lưu Tiếp sau đó, nhà Trần đãlấy tư tưởng Nho gia làm tư tưởng chủ đạo, lập nên một hệ thống giáo dụchoàn chỉnh, từ trung ương đến địa phương đều thành lập trường học, vừa cótrường quan, trường tư Chế độ khoa cử của nhà Trần cũng rất chặt chẽ vàhoàn thiện, lấy kinh, nghĩa của Nho gia làm nội dung thi cử Thậm chí, chế độnày còn được dùng trong các triều đại sau đó của Việt Nam Do sự phát triểncủa các trường quan, trường tư và chế độ khoa cử, nên tầng lớp Nho sĩ tăng
Trang 13lên, giữ vị trí quan trọng trong triều đình Điều đó càng thúc đẩy sự lan truyềncủa Nho học Thậm chí, vào năm 1370, nhà Trần còn lập bàn thờ Chu Văn An(tự là Linh Triệt, hiệu là Tiểu Ẩn) tại Văn Miếu Điều này đủ cho thấy Nhohọc khi đó đã chiếm một vị trí tương đối cao Vì thế, dưới thời nhà Trần, Nhohọc đã dần giành lấy vị trí chủ đạo.
Trên nền tảng Nho học thời Trần nhà Hậu Lê không chỉ là triều đại dàinhất của Việt Nam, mà còn là thời kỳ Nho học phát triển rực rỡ nhất, giốngnhư thời nhà Minh, Thanh của Trung Quốc Các vị vua đều tôn sùng Nho học,lấy Nho học làm tư tưởng chủ đạo để trị dân kiến quốc, lấy Nho học làm cơ
sở lý luận ban hành các loại chế độ điển chương và làm kim hoa ngọc kỹ đểquân thần và nhân dân tuân theo Nho học của Việt Nam thời kỳ này chủ yếu
là tân Nho học Tống Minh, nó không chỉ mang tính tư biện mà còn nhấnmạnh thực tiễn và giáo hóa đạo đức, có vai trò ổn định tích cực cho luân lýcương thường của chính trị và xã hội, nhận được sự ủng hộ của giai cấp thốngtrị và các nhà Nho Đặc biệt, nhà Hậu Lê kịch liệt bài xích cực đoan Phật giáo
và Đạo giáo, tạo thành cục diện Nho học độc tôn
Thậm chí, đến thời kỳ đầu giữa của nhà Nguyễn, Nho học vẫn giữ được
sự hưng thịnh, nhất là việc tôn thờ Khổng Tử càng rộ hơn Nhưng, cùng với
sự cứng nhắc của Nho học và những nhược điểm của chế độ khoa cử, chế độkhoa cử kéo dài hơn 800 năm của Việt Nam dần bước vào lãng quên và suytàn Cùng với đó, việc thực dân Pháp ra sức tiến hành Latinh hóa tiếng Việtnhằm thay thế chữ Hán và chữ Nôm khiến cho việc người Việt Nam đọc cáctác phẩm kinh điển của các nhà Nho cổ càng thêm khó khăn Thậm chí, nó tỏ
ra hoài nghi và phê phán Nho học Vào cuối thời nhà Nguyễn, Nho học từthịnh chuyển sang thành suy, dần biến vào trong làn sóng dâng trào của lịch
sử Việt Nam
Trang 14Xét quá trình trên, có thể nói, Nho học thời Hậu Lê là thời kỳ hưngthịnh nhất của Nho học Việt Nam, quan trọng nhất trong sự phát triển củaNho học Việt Nam Đáng kể là nhà Hậu Lê rất chú ý đến việc in ấn các tácphẩm kinh điển Nho gia, cho khắc rất nhiều các điển tích Nho gia Chế độkhoa cử thời Hậu Lê cũng phát triển hơn trước, hình thành một hệ thống giáodục hoàn chỉnh hơn, đào tạo ra nhiều Nho sĩ hơn Ngoài ra Lê Thánh Tôngcòn rất coi trọng đề xướng lễ nghĩa, khuyến khích người “trung, tín, hiếu, đễ”,tham chiếu các luật lệ của Tùy Đường cho ra đời “bộ luật Hồng Đức”, banhành “24 lời giáo huấn”, làm cho luân lý, đạo đức Nho gia đi vào mọi ngõngách của xã hội Hơn nữa, tính thực tiễn đạo đức của Tân Nho học TốngMinh cũng được đưa vào hoạt động giáo hóa, phổ cập đến dân gian, thẩmthấu vào mọi giai tầng trong xã hội nhất là những nhà trí thức Nho học.
Trong số các nhà Nho Việt Nam, Lê Quý Đôn là nhà Nho quan trọngnhất cuối thời Hậu Lê, ông đã lớn lên trong môi trường học thuật của thời kỳNho học thịnh vượng đó Bởi vậy mà ông đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ tưtưởng của các nhà Nho Trung Quốc nhất là Chu Hy, Nhị Trình Lê QuýĐôn đã xuất phát từ chính cặp phạm trù lý, khí của Tống Nho để giải quyếtvấn đề bản thể của thế giới Chính việc giải quyết mối quan hệ giữa phạm trùnày mà toàn bộ quan niệm triết học tự nhiên của ông được thể hiện ra Phạmtrù lý, khí trong triết học Tống Nho đã tạo nên linh hồn cho các quan niệm vềtriết học tự nhiên của ông Không những thế khi trình bày các vấn đề về chínhtrị xã hội ông còn thông qua nhiều sự kiện lịch sử của Trung Quốc có liênquan đến vấn đề trị nước Lê Quý Đôn đã xuất phát từ lập trường Nho giáo,ông nêu lên mục đích của sự học là ra làm quan, lưu lại danh tích muôn đờicũng như cách cai trị một đất nước, con đường nắm quyền lực Như vậy cóthể khẳng định rằng Nho giáo (nhất là Tống nho) đã có những ảnh hưởng rất
Trang 15lớn đối với sự hình thành và phát triển các tư tưởng triết học về tự nhiên, xãhội của Lê Quý Đôn.
Phật giáo được truyền bá trực tiếp vào Việt Nam từ những buổi đầu côngnguyên từ những người Ấn Độ Trên đất Giao Chỉ vốn đã hình thành một nềntín ngưỡng bản địa Đối với người dân nơi này, Ông Trời là một đấng ở trêncao, thấu hiểu mọi việc, biết rõ người tốt kẻ xấu, từ đó mà phù giúp người hiền,trừng phạt kẻ ác Quan niệm này khiến cư dân Giao Chỉ dễ tiếp nhận thuyếtnhân quả, nghiệp báo của nhà Phật Ngoài Ông Trời, họ cũng quan niệm cónhững vị thần thánh khác như Thần Sấm, Thần Mưa… như là những thủ hạ củaÔng Trời Họ cũng coi Ma Xó là linh hồn của người chết còn tồn tại quẩnquanh trong nhà để phù trợ cho gia đình Điều này làm cho họ cảm thấy dễ gầngũi khi thuyết luân hồi tiếp xúc với họ Người Giao Chỉ cũng tin vào nguồn gốccon Rồng cháu Tiên của mình Thêm vào đó, trong thời đại lịch sử này, ngườiGiao Chỉ không hề là những tín đồ trung kiên của Khổng, Lão giáo, nên sựthâm nhập của Phật giáo không gặp phải sự cản trở có ý thức Sự hòa hợp giữatín ngưỡng bản địa có sẵn với những sinh hoạt văn hóa, giáo lý cơ bản của Phậtgiáo đã hình thành nên một loại tín ngưỡng Phật giáo bình dân trong thế kỷ đầutiên của công lịch
Trang 16Vào thế kỷ II, sự thâm nhập của Phật giáo đã ở vào một giai đoạn mới.
Đã hình thành tăng đoàn, công việc hành đạo từ đó cũng dần có tổ chức, cáctăng sĩ bắt đầu dịch kinh, sáng tác, chùa chiền cũng đã được xây cất Ở thế kỷnày, sự hành đạo cũng gặp một ít trở ngại từ phía những người ủng hộ Khổng,Lão Tuy nhiên, điều đó không thể ngăn cản được ảnh hưởng của Phật giáotrong dân gian
Phật giáo thâm nhập vào nước ta một cách êm thấm, không có sự chốngđối của tín ngưỡng dân gian Tuy Phật giáo cũng phải có một ít nỗ lực trước giớicai trị Hán tộc, nhưng không bằng sự phản kháng, mà bằng sự hòa đồng Điềunày xuất phát từ tinh thần cởi mở của Phật học, và Phật tử thì sẵn sàng học hỏi,đối thoại với những tư tưởng khác Kết quả của tinh thần này là, giới tăng sĩkhông những đã sử dụng từ ngữ Nho, Lão để truyền bá Phật giáo, mà còn làmcho những người theo Khổng, Lão thấy được tư tưởng của Phật học
Từ thế kỷ III, Phật giáo tại Giao Châu vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ.Thế kỷ III, Phật giáo từ phương Bắc, cho dù có hình thành những trung tâmmuộn hơn, cũng đã bắt đầu có ảnh hưởng trở lại lên Phật giáo Giao Chỉ Sự thâmnhập của Phật giáo phương Bắc sau đó còn được thể hiện ở việc các thiền sư lớn,những người sáng lập ra những thiền phái có vị trí lớn trong lịch sử Phật giáoViệt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu Phật giáo Trung Hoa
Như vậy sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam đã cơ bản hoàn tấttrước thế kỷ X, khi mà một mặt có sự du nhập trực tiếp từ Ấn Độ cộng với sựảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa từ phương Bắc sau đó, mặt khác là sự sảnsinh, hình thành thiền học Việt Nam với những thiền phái đầu tiên nhưng lạirất lớn mạnh Từ đây đã tạo một tiền đề vững vàng cho sự phát triển của Phậtgiáo Việt Nam về sau, nhất là giai đoạn từ thế kỷ X đến đầu thế kỉ XIV
Dười thời Đinh, Tiền Lê, do vốn đã thâm nhập sâu trong đời sống dângian, một cách tự nhiên, trách nhiệm xã hội được đặt lên vai giới tăng sĩ
Trang 17Phật giáo Họ, ngoài việc thâm nhập vào đời sống tinh thần, đời sống tâmlinh và giáo dục đạo đức, còn trực tiếp lo toan những công việc thuộc nhucầu thực tế của dân chúng Họ mở lớp dạy chữ ở chùa cho mọi con em, nhưtrường hợp của Lý Công Uẩn đã từng nhận được sự giáo dục nơi cửa chùa.Chính tại đây họ đã nuôi dưỡng ý thức dân tộc, lòng yêu nước cho nhiều thế
hệ thanh thiếu niên, không để nó bị mai một, bị “mất gốc” sau hàng trămnăm Bắc thuộc Họ không phải là những thầy lang nhưng lại có kiến thức ydược, trực tiếp chuẩn trị, bốc thuốc cho mọi người Họ đứng ra làm các côngviệc cầu an, ma chay, chọn đất, chọn ngày cho việc xây cất, khai trương làmăn… Giới tăng sĩ vốn là thành phần có học thức, lại không thuộc thành phầnthống trị, gần gũi với dân chúng, nên có được sự cảm thông, chia sẻ nỗi khổcủa người dân trong cảnh đô hộ Và từ đó nhà chùa đã thực sự trở thành nơihun đúc lòng yêu nước, một trung tâm của ý thức và niềm tin vào độc lậpdân tộc, có sức ảnh hưởng rộng khắp trong dân gian Ngay trong thời kỳ tiềnđộc lập, Phật giáo đã đóng một vai trò rất lớn về mặt tinh thần trên bướcđường đấu tranh của dân tộc
Vào thời đại nhà Lý, Phật giáo vẫn tiếp tục giữ một vai trò rất lớn vềmặt chính trị Phật giáo có vai trò hết sức quan trọng trong xác lập triều Lý.Tuy đã giúp nhà Tiền Lê, nhưng trước tình trạng thối nát của quốc gia dưới sựcai trị của Lê Long Đĩnh, sư Vạn Hạnh đã không ngần ngại ủng hộ Lý CôngUẩn lên ngôi, chấm dứt chế độ dã man của Lê Ngọa Triều, bằng một cuộc vậnđộng quần chúng qua sấm truyền về vận mệnh dân tộc gắn với chữ Lý, vốn đãđược nhà sư Định Không (? - 808) nói đến từ hai thế kỷ trước Với việc LýCông Uẩn xuất thân là một môn sinh của nhà chùa và vai trò của sư VạnHạnh, sẽ không sai khi nói rằng bước đầu dựng lên nhà Lý công đầu thuộc vềPhật giáo Sư Vạn Hạnh cũng là người đã thuyết phục Lý Công Uẩn dời đô từHoa Lư về Thăng Long với ý nguyện bảo vệ lâu dài nền độc lập dân tộc Các
Trang 18tăng sư Phật giáo cũng trực tiếp tham dự chính sự qua việc trực tiếp thiết lậpcác kế hoạch, thảo văn thư, tiếp sứ thần, bàn luận cả những vấn đề về quân sự.Tuy can dự vào chính sự nhưng tăng sư Phật giáo không hề chủ trương thamgia chính quyền, nên sau đó, khi triều đình đã vững mạnh hơn, có thể tự mìnhgánh vác tất cả, thì họ lại tự nhiên lui về với chức năng vốn có của mình, lui
về với việc tu đạo của mình khi nhiệm vụ đối với quốc gia, với quảng đạiquần chúng đã hoàn thành
Sự ảnh hưởng của Phật giáo dưới đời nhà Lý vẫn được tiếp tục dưới đờiTrần Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) lại là một chân truyền chính thức đờithứ sáu của Yên Tử Ông là người có công đầu trong việc xây dựng một giáohội hoàn toàn thống nhất, chính thức dựng nên thiền phái Trúc Lâm chủtrương nhập thế Trong buổi đầu nhà Lý, các thiền sư còn can dự trực tiếp vàocông việc chính sự Triều đình cần đến sức học, tài ngoại giao, khả năng giáodục, sự liên kết nhân tâm của họ Nhưng đến đời Trần, tình hình đã khác đi.Các vua Trần là những người có tri thức, lại uyên bác Phật học Nhưng dù vịtrí trực tiếp trong công việc chính sự của các tăng sĩ không còn nữa, Phật giáolại vẫn phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết, ảnh hưởng trực tiếp lên chính trị,kinh tế văn hóa, xã hội đời Trần, trở thành một tinh thần dân tộc thời bấy giờ
Với sự việc vua Trần Thái Tông chuyên tâm học Phật, vua Trần NhânTông xuất gia, xây dựng thiền phái Trúc Lâm, Phật giáo thật sự trở thành mộtthế lực tinh thần ủng hộ cho chính trị, và ngược lại, triều đình là một quyền lựccủng cố cho Phật giáo Có thể nói, giai đoạn vua Trần Nhân Tông là giai đoạnPhật giáo hưng thịnh cực độ ở nước ta Phật giáo Trúc Lâm chủ trương nhậpthế, đạo Phật phụng sự đời sống, đời sống tâm linh coi trọng giải thoát, Phậtgiáo đời Trần thật sự tạo nên một sự thống nhất chính trị, thống nhất tinh thầndân tộc trên phương diện quốc gia một cách rộng khắp Yếu tố liên kết nhântâm của Phật giáo Trúc Lâm đã khiến thời kỳ này có một nền tảng chính trị
Trang 19bình dị, dân chủ, thân dân Sự đồng lòng của dân tộc thể hiện tại Hội nghị DiênHồng và ba lần liên tục đánh bại quân xâm lược nhà Nguyên, không thể phủnhận vai trò của Phật giáo trong việc cố kết, củng cố khối nhân tâm và thốngnhất dân tộc Phật giáo đời Trần mang một tinh thần khoan dung và tự do.Chính điều này gây dựng nên những nét văn hóa xã hội, văn hóa dân tộc vàothời kỳ này
Phật giáo Trúc Lâm đạt đến đỉnh điểm là vậy, nhưng đến sau đời sưHuyền Quang (1254-1334), nó không còn hưng thịnh nữa Điều này được giảithích bởi nhiều lý do khác nhau nhưng có lẽ lý do cơ bản nhất đó là đến lúcnày, Nho giáo đang dần lớn mạnh Ngoài ra, việc nhà Minh xâm lược ĐạiViệt đầu thế kỉ XV cùng chính sách tận diệt nền văn hóa độc lập của đất nước
đã hủy diệt không chỉ truyền thống của đạo Phật tại Việt Nam mà là cả truyềnthống dân tộc Từ khi nhà Hậu Lê thành lập, và nhất là từ khi vua Lê ThánhTông đưa Nho giáo lên địa vị độc tôn trong lĩnh vực tư tưởng và Nho học làquốc học thì đạo Phật chính thức suy thoái trong một thời gian kéo dài đếnmấy trăm năm
Thế kỷ XVIII, Nho giáo vẫn là hệ tư tưởng độc tôn Tuy nhiên ở mộtmức độ nào đó, thì Phật giáo vẫn ảnh hưởng không nhỏ đối với đời sống vănhóa tinh thần của mọi người dân đất Việt Nó vẫn tồn tại, phát triển và chiphối, các hệ tư tưởng giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
Là một trí thức, có vốn hiểu biết sâu rộng và trí tuệ hơn người, Lê QuýĐôn trong con đường phát triển sự nghiệp của mình đã tiếp nhận, đã dung hòađược Phật giáo với Nho học và các tôn giáo khác Ông đã tiếp thu những tưtưởng đạo đức tiến bộ của đạo Phật và phát triển nó nhằm khẳng định tinhthần, ý chí đấu tranh vì danh dự và niềm tự hào dân tộc như: “Khi đi sứ sangTrung Quốc ông nhận thấy trong các văn thư của quan lại Trung Quốc đềudùng lời khinh bỉ, gọi sứ bộ ta là Di quan, di mục nghĩa là bọn quan lại rợ
Trang 20mọi” Và sau đó, ông đã có những phản kháng lối dùng từ ấy lên bọn quan lạiTrung Hoa, đòi họ đổi lại không gọi là “di” nữa, các quan đầu tỉnh của TrungQuốc đã đổi lại và gọi là “An Nam cống sứ” Đây chính là minh chứng cholòng yêu nước, lòng tự hào của người dân đất An Nam, được kế thừa, xâydựng từ những tư tưởng lớn lao trong đạo Phật.
Không những thế, những giá trị nhân, nghĩa, trong đạo Phật đã có ảnhhưởng nhất định đến tư tưởng của Lê Quý Đôn về chính trị xã hội, mà vấn đềcăn bản chính là đường lối chính trị (cách trị nước) Khi nghiên cứu và đề ra
tư tưởng trị nước, Lê Quý Đôn đã cho rằng, cần phải kết hợp Đức trị với Pháptrị Thiên quá về bên nào cũng là điều không hay Những tư tưởng Đức trị ởđây chính là tư tưởng Nhân kết hợp giữa Phật và Nho giáo Nhân là đạo đức,nhân nghĩa, là sự yêu thương lẫn nhau, và đó cũng chính là tinh hoa trong tưtưởng Phật giáo Như vậy ta thấy rằng, Phật giáo đã có những ảnh hưởngkhông nhỏ, đã góp phần hun đúc lên một Lê Quý Đôn, nhà bách khoa toànthư cho dân tộc Việt
Thiên chúa giáo
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, có cả tôn giáo nội sinh và ngoạilai Việc tiếp nhận các tôn giáo ngoại lai trong đó có Công giáo gắn với hoàncảnh chính trị - xã hội của Việt Nam Trong mấy thế kỷ Việt Nam tiếp xúc vàgiao lưu với phương Tây, bên cạnh Công giáo, ảnh hưởng của văn hóaphương Tây đã tác động một cách khá sâu rộng vào nhiều lĩnh vực văn hóavật chất và tinh thần Việt Nam
Cũng như các tôn giáo khác, Công giáo xem việc truyền đạo là sứmạng thiêng liêng và thường trực Với những phát kiến địa lý thời kỳ cận đại
đã mở ra những triển vọng lớn lao cho việc mở rộng nước Chúa đến nhữngmiền đất ngoại trong đó có Việt Nam
Trang 21Tình hình Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII có nhiều xáo trộn vàdiễn biến phức tạp Nội bộ giai cấp thống trị lục đục vì sự tranh chấp quyền lựcdẫn đến sự chia cắt đất nước kéo dài từ năm 1645 đến năm 1692, sau đó là cuộcnội chiến giữa Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn, sự phục hồi của nhà Nguyễn đầuthế kỷ XIX Những điều đó đã làm cho kinh tế trì trệ và gián đoạn, chính trị thìhỗn độn, đời sống của nhân dân thì đói khổ lầm than, nhân tâm thì dao động lytán, tạo thuận lợi cho việc thâm nhập, truyền bá Công giáo cũng như việc dòmngó chinh phục của chủ nghĩa tư bản phương Tây.
Từ những thập niên đầu của thế kỷ XVI ở Việt Nam đã có các giáo sĩ
phương Tây đến truyền giáo Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục
chép rằng: Năm Nguyên Hòa đời vua Lê Trang Tông (1533) có một thươngnhân là Inikhu đi đường biển vào giảng đạo Gia - tô ở Ninh Cường, QuầnAnh thuộc huyện Nam Chấn và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy Nhiềunhà nghiên cứu lịch sử Công giáo lấy năm 1533 là thời mốc đánh dấu việctruyền Công giáo vào Việt Nam Thời kỳ 1533 đến năm 1614 chủ yếu là cácgiáo sĩ dòng Phan-xi-cô thuộc Bồ Đào Nha và dòng Đa Minh thuộc Tây BanNha đi theo những thuyền buôn vào nước ta, nhưng do không quen thông thổ,chưa thạo ngôn ngữ nên việc truyền giáo không mấy kết quả Từ năm 1615đến năm 1665, các giáo sĩ dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha từ Ma Cao (TrungQuốc) vào Việt Nam hoạt động ở cả Đàng Trong (nam sông Gianh), ĐàngNgoài (bắc sông Gianh) Những giáo sĩ dòng Tên tỏ ra thông thạo tiếng Việtlại hoạt động khôn khéo nên mặc dù gặp khó khăn phức tạp nhưng họ đã thuhút được nhiều người theo đạo
Thế kỷ XVI, XVII là thời kỳ truyền giáo của các giáo sĩ Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha Càng về sau, vai trò của các giáo sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nhacàng lu mờ, trong khi các giáo sĩ Pháp ngày càng mạnh Tình hình kinh tế, chínhtrị, xã hội nước ta thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX tiếp tục có nhiều biến động
Trang 22phức tạp càng tạo điều kiện cho sự bành trướng của Hội Thừa sai Paris Thời kỳnày thực dân Pháp âm mưu xâm lược Việt Nam, đe dọa nền độc lập dân tộc.Đây là lý do chính trị chủ yếu và trực tiếp, bên cạnh các lý do tư tưởng, tôn giáo
và văn hóa để dẫn đến việc các vua chúa phong kiến Việt Nam nghi ngại cấmđạo, bức đạo quyết liệt Tuy nhiên, với tầm ảnh hưởng mạnh mẽ cả về Thiênchúa giáo và sức mạnh quân sự của mình, thực dân Pháp đã nhanh chóng chiếmđược Việt Nam
Công giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt của một tầng lớp dân
cư trong xã hội, nhất là những người có trí thức trong xã hội thời bấy giờ.Nhiều nhà trí thức thời bấy giờ đề cập đến Thiên chúa giáo trong bài viết,trong văn thơ, sách của mình, và Lê Quý Đôn là một ví dụ
Thông qua những nhà truyền giáo và đạo Công giáo, người Việt Nam
có thêm những kỹ thuật mới như dệt vải mịn, khổ rộng, kỹ thuật in với conchữ đúc rời, lối làm báo “nói viết như thường”, những giống cây, con mới …Năm 1627, Alexandre de Rhodes và Marquez đã đem chiếc đồng hồ chạybằng bánh xe và cuốn hình học của Ơcơlit vào biếu chúa Trịnh Tráng vàgiảng giải cho chúa nghe Các ông còn tiên đoán nguyệt thực xảy ra một cáchchính xác và cam đoan chẳng cần gõ chiêng trống, bắn súng vẫn “cứu” đượcmặt trăng gây ngạc nhiên cho dân chúng lúc bấy giờ
Ngay cả các bậc thức giả thời đó như Lê Quý Đôn (1726-1784) cũng
phải thốt lên lời thán phục Ông viết trong Vân Đài loại ngữ như sau: “Các
giáo sĩ Âu, Ba La đàm luận về trời đất mới lạ vô cùng Lý luận về chính trị vàluật pháp có nhiều điều suất sắc mà tiền nho chưa tìm ra được Họ bàn về địa
lý, địa cầu, núi non, sông biển, thuỷ triều lên xuống, gió mưa phần nhiều hợp
lý Họ nói thiên hạ có 4 châu là Á, Âu, Phi, Mỹ Châu Á lớn nhất gầm trờinày”[6, 93] Không những thế, khi vào truyền bá ở nước ta, các giáo sĩ còn
đem theo những sách vô cùng quý báu Tiêu biểu là cuốn sách địa lý Khôn dư
Trang 23đồ thuyết của một giáo sĩ người Bỉ Và cuốn sách này đã có những ảnh hưởng
không nhỏ đến những bậc học giả hiểu biết sâu rộng như Lê Quý Đôn Ông
đã đọc và nghiên cứu rất sâu tác phẩm này, nhất là những kiến thức liên quanđến vũ trụ học mà cụ thể là hình tượng trời, các vì sao tinh tú, cách làm lịch,núi non sông biển, thủy triều lên xuống (là những tri thức tư tưởng triết học
về tự nhiên) Thậm chí khi bàn về phạm trù lý, khí ông còn dẫn cả những cứ
liệu trong sách Khôn dư đồ thuyết để chứng minh sự tồn tại của khí như một
cái gì đó rất cụ thể xung quanh chúng ta
Tóm lại, Thiên chúa giáo là một tôn giáo ngoại sinh nhưng nó có nhữngảnh hưởng không nhỏ đến sự hiểu biết, cách nhìn nhận của một nhà bác họcnhư Lê Quý Đôn, và điều đó có những ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của
ông mà cụ thể ở đây chính là cuốn Vân Đài loại ngữ.
1.1.2 Tín ngưỡng, văn hóa truyền thống
Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiêntương đối phong phú, đa dạng Từ thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựavào việc khai thác tự nhiên Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiênthần) đã sớm gần gũi với họ Các vị thần mà họ thờ là thần Mây, thần Mưa,Sấm, Chớp Các vị thần ấy là các đấng tối cao có quyền lực rất lớn trongđời sống tâm linh mỗi người Ngoài ra, họ còn tôn sùng tín ngưỡng phồn thựcthờ sinh thực khí, thờ hành vi giao phối, trống đồng Và bên cạnh đó còn rấtnhiều những tín ngưỡng khác cũng thu hút đông đảo mọi người đó là tínngưỡng thờ thiên nhiên, tín ngưỡng thờ động, thực vật, tín ngưỡng sùng báicon người, thờ tổ tiên, những vị có công lao lớn đối với làng (thành hoànglàng), hay những vị vua trị vì đất nước hay thờ những ông, bà tổ nghề -người có công khai sinh và truyền bá một nghề nào đó Là một học giả đấtViệt, Lê Quý Đôn cũng như bao người khác đã chịu những ảnh hưởng sâu sắc
từ tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, điều đó thể hiện qua tác phẩm của
Trang 24ông Ta có thể nhận thấy rõ nét qua mục Vựng điển trong cuốn Vân Đài loại
ngữ Trong phần Vựng điển, Lê Quý Đôn trình bày về phong tục tập quán, tín
ngưỡng truyền thống do thế hệ trước để lại Trong mục Lục dẫn ông đã viết
rằng, lập pháp quý ở việc phỏng theo đời trước Do vậy ông đã trình bày phầnnày để những nhà lập pháp sau này nhân theo điển cũ mà lập pháp cho phùhợp Trong đó, ông trình bày mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ những việcthường ngày trong dân gian như việc thờ cúng, tế tự, nghi lễ đốt hương, tụcđốt vàng mã, những kiêng kị trong đời sống hàng ngày… cho đến những quyđịnh về triều phục, nghênh giá, chế độ khoa cử, tuyển dụng quan lại, cống vật,
tô thuế, quân đội, vũ khí…
Lê Quý Đôn còn bàn về nguồn gốc, ý nghĩa của nhiều phong tục cho đếnnay vẫn tồn tại phổ biến như tục đốt hương, đốt vàng mã, thờ cúng… Bên cạnh
đó là những nghi lễ, quy định trong triều đình Bên cạnh những tín ngưỡngtruyền thống đa dạng phong phú, Lê Quý Đôn còn tiếp thu những truyền thốngvăn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc
Nước ta là một quốc gia có nền tảng văn hóa đa dạng và có một bề dàytruyền thống bốn ngàn năm Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước,truyền thống văn hóa nước ta đã được hun đúc và có giá trị rất lớn đối với sựlớn mạnh của đất nước cũng như đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc.Trước tiên, phải kể đến đó là truyền thống yêu nước Tinh thần yêu nướcnồng nàn đó đã biến thành động lực để dân tộc Việt Nam ta có thể đánh thắngnhững cường quốc hàng đầu như quân Nam Hán, Mông – Nguyên thờiphong kiến, hay thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thời hiện đại, và làm nhụt chíbao nhiêu cường quốc có âm mưu xâm lược khác Phải nói rằng tinh thần yêunước đó đã ngấm vào máu mọi người dân đất Việt, ở mọi lứa tuổi và mọi thờiđại khác nhau Truyền thống văn hóa thứ hai phải kể đến đó là tinh thần đoànkết, cố kết cộng đồng của người Việt Tinh thần đoàn kết xuất phát trước hết
Trang 25từ công cuộc mưu sinh, đấu tranh chống lại những thiên tai, hạn hán, lũ lụt vàbên cạnh đó còn chống lại địch họa, quân thù thường xuyên nhòm ngó xâmlược hòng áp bức và bóc lột nhân dân ta Đoàn kết là một truyền thống bềnchặt lâu đời, nó làm nên bản sắc văn hóa tốt đẹp bên cạnh tinh thần yêu nướccủa nhân dân Việt Nam Ngoài truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, vănhóa truyền thống Việt còn có rất nhiều giá trị khác như tinh thần nhân nghĩa,tương thân, tương ái, coi trọng độc lập và hòa bình, truyền thống cần cù, chịuthương chịu khó, hiền lành
Tất cả những giá trị văn hóa truyền thống quý báu ấy đã góp phần xâydựng, vun đắp nên những con người Việt vĩ đại mà thời nào cũng có Mỗi thờiđại khác nhau lại có những anh hùng hào kiệt khác nhau, họ yêu nước, họ tựhào, họ cống hiến trên nhiều phương diện Thế kỉ XVIII là thế kỉ của nhà báchọc Lê Quý Đôn Phải nói rằng những truyền thống yêu nước, tinh thần nhânnghĩa thấm nhuần trong con người ông, thể hiện trong từng lời văn, câu chữ,
trong từng tác phẩm khác nhau Vân Đài loại ngữ là một tác phẩm như thế.
Phải có một tấm lòng yêu nước nhiệt thành ông mới có thể nghiên cứu và viết
về mọi thứ trên đất nước mình một cách say sưa và chi tiết như vậy Mục Khu
vũ trong tác phẩm thể hiện rõ điều đó, ông viết về không biết bao nhiêu loại
phẩm vật trên khắp đất nước: các giống lúa, các loại con vật, các địa danh Ông còn nghiên cứu phong tục, tập quán của từng vùng khác nhau Lê QuýĐôn đúng là một nhà bác học của dân tộc, những người như ông ở Việt Namkhông phải là nhiều, chỉ có những người như ông mới có thể cất công tìmhiểu, khám phá và cho ra đời những tác phẩm giá trị như vậy
Việt Nam là một quốc gia có bề dày truyền thống, có nhiều loại hình tínngưỡng lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồngvăn minh Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôngiáo, tín ngưỡng Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các vị
Trang 26thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức mộtngười Việt Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng - tôn giáocủa người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo Trước sự du nhập của các tôngiáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sựcải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa Vì vậy, ở nước ta, trongkhi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai tròquan trọng trong đời sống tâm linh của người dân.
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị
1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.2.1.1 Kinh tế nông nghiệp Đàng Ngoài
Trong các thế kỷ XVI - XVII đầu XVIII, đất nước diễn ra các cuộcchiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến cầm quyền (Mạc - Trịnh, Trịnh -Nguyễn ) và điều đó đã ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp, nhất làvào các thời điểm quyết liệt của cuộc chiến ở nhiều vùng trở thành bãi chiếntrường Trong hoàn cảnh đó, những người trực tiếp sản xuất đã nỗ lực gấp bội
để duy trì cuộc sống, xây dựng quê hương, bản quán Mặc dù nhà nước phongkiến Lê - Trịnh ở Đàng ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng trong không còn đóng vaitrò quan trọng được như thời Lý, Trần, Lê sơ, nhưng nông dân ở cả hai vùngvẫn tiếp nối được truyền thống lao động cần cù, duy trì và trong một mức độ,
đã thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp phát triển
Công cuộc khai hoang lập làng xóm mới, mở rộng thêm diện tích đấtđai canh tác tiếp tục được thực hiện ở nhiều địa phương trong cả nước, nhất làvùng đồng bằng, ven biển Ở Đàng ngoài, hàng chục vạn mẫu đất đai đượckhai khẩn đưa vào sản xuất Nhiều người nuớc ngoài có mặt ở Đàng ngoàithời đó đã ngợi ca sự trù phú của đất đai Giáo sĩ Marini trong tập ký sự vềĐàng ngoài đã dành hẳn một chương để mô tả "sự màu mỡ của Vương quốc"này ("Vương quốc xứ Đàng ngoài") Marini viết: "Đất đai màu mỡ và không
Trang 27lúc nào nghỉ sản xuất Nhân dân rất hiểu giá trị của ruộng đất nên không bỏhoang và những người nội trợ giỏi, sau khi thu hoạch mùa màng xong, lập tứclại cày bừa ngay và gieo hạt Và như vậy mỗi năm họ thường thu được 2, 3
vụ Ở những nơi nào không trồng lúa được thì họ trồng cây ăn quả và thuhoạch lớn Cây cối tươi tốt đến nỗi lúc nào cũng chỉ thấy một màu xanh tựanhư một khu rừng với một mùa xuân vĩnh viễn"[56]
Tình hình trên cho thấy, nền kinh tế nông nghiệp ở Đàng ngoài trongcác thế kỷ XVI - XVII đầu XVIII vẫn có sự phát triển trên cả hai mặt quảngcanh và thâm canh Đây là một biểu hiện rõ nét về sự ổn định của quan hệ sảnxuất phong kiến và sự phát triển của chế độ phong kiến ở Đàng ngoài bấy giờ
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển ấy thì đầu thế kỷ XVIII trở đi tình hình
đã trở nên khủng hoảng hơn bao giờ hết Nạn tư hữu ruộng đất ở Đàng ngoàingày càng gia tăng, ruộng đất công ngày càng bị thu hẹp, xuất hiện hàng loạt địachủ có hàng trăm, hàng ngàn mẫu ruộng, trong khi đó nông dân lại không córuộng đất để cày cấy Bên cạnh đó là những thiên tai, hạn hán mất mùa liêntiếpxảy ra làm cho đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, họ phải bỏ làng ra đi, trởthành dân phiêu bạt khắp nơi Trong lúc đó, bộ máy quyền lực ở làng xã ngàycàng biến chất trở thành công cụ trong tay bọn cường hào để bóc lột nông dân.Đời sống nhân dân cùng cực hơn bao giờ hết, mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân
và tầng lớp phong kiến ngày càng gay gắt đòi hỏi phải được giải quyết
Tình hình kinh tế nông nghiệp Đàng Ngoài như vậy đã có những ảnhhưởng không nhỏ đến bậc đại quan trong triều đình như Lê Quý Đôn Ông đãvạch ra những kế hoạch để khai hoang ruộng đất và phát triển đồn điền.Tháng 7 năm 1770, Lê Quý Đôn dâng sớ xin tổ chức đồn điền với nội dung
đó là: “Từ xưa, muốn cho quân lương được đầy đủ, quốc dụng được dồi dàothì không gì bằng đồn điền Nay giặc đã dẹp yên, đất thượng du đã được ổnđịnh , đất tốt, nước lành, có thể cày được không dưới vạn mẫu, thế mà đều
Trang 28bỏ hoang cả Trong khi đó thì các cơ đội thuộc trấn Thanh Hoa đều thiếu khẩuphần Tôi trộm nghĩ rằng đồn điền có nhiều lợi: Lính tráng đều là người cóthổ trước, đã có công việc làm ăn thì không đào ngũ, ấy là một Chỗ nào cũngđóng đồn để cày bừa trồng trọt, đội ngũ liên lạc với nhau để bảo vệ chỗ trọngyếu, chẳng phải lo ngại gì, ấy là hai Tính ra thì trong bốn trấn, hai khuông,năm hùng, có mười một đội cùng với một cơ nội trấn số lính làm ruộng được
là một nghìn bốn trăm ba mươi người Nếu mỗi người nhận làm ba mẫu ruộngsản lượng sáu mươi bát thóc, thì mỗi năm được hơn năm vạn bát thu vào khonhà nước, lâu ngày tích lũy đầy đủ, ấy là ba Khi đồn quân đã lập thành thìlàng xóm dần dần khôi phục, không phải nhọc lòng chiêu tập, do đó hộ khẩuthêm nhiều, ấy là bốn Đất thang mộc từ chỗ khốn khổ, biến thành giàu mạnh,
ấy là năm” [11, 13]
Như vậy, ta thấy rằng Lê Quý Đôn là người hiểu rộng, tài cao, suy nghĩthấu đáo trăm bề và thấy hết những lợi ích lâu dài của việc khẩn hoang bờ cõi,phát triển nông nghiệp
Trước tình hình kinh tế - xã hội biến động như vậy thì đời sống vănhóa tư tưởng của người dân cũng có những bước thay đổi, phát triển nhất địnhtrên nhiều phương diện Văn học chữ Nôm, đặc biệt văn học dân gian pháttriển rất mạnh, hình thành cả một kho tàng văn học dân gian phong phú.Những tri thức khoa học, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm ứng xử đượcđúc kết dưới dạng ca dao, tục ngữ Những suy tư của nhân dân lao động vềđời sống chính trị, xã hội, về tình yêu nam nữ, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sốngđược thi vị hoá đã làm phong phú cuộc sống tinh thần của con người, đồngthời thể hiện khát vọng được sống tự do, hoà bình, được giải phóng khỏi bấtcông xã hội là nội dung tư tưởng, tình cảm chủ đạo của dòng văn học bìnhdân thời bấy giờ
Trang 29Nho giáo thời kỳ này bước vào thời kỳ dần suy yếu , không còn được độctôn như trước Thực trạng này được biểu hiện ở lĩnh vực giáo dục, thi cử Chínhquyền phong kiến vẫn duy trì và mở rộng chế độ giáo dục, thi cử làm phươngtiện chủ yếu để đào tạo quan lại, đáp ứng nhu cầu tổ chức bộ máy ngày mộtđông đảo, nhưng không còn được nghiêm túc như trước Lối học từ chương, phùphiếm vẫn được duy trì Những nguyên tắc đạo đức và lễ giáo phong kiến chỉcòn là những hình thức Nội dung học tập thi cử nông cạn, khuôn sáo, không còntính sáng tạo Nhà sử học Lê Quý Đôn đã thừa nhận "các bậc tiền bối đã soạnthành bài, lời lẽ cổ nhã, bọn hậu sinh đua nhau làm theo, khi vào trường chỉ xénbớt những chỗ quá dài dòng đi mà thôi" [21, 54].
Đó là chưa nói tới một hiện tượng mua bán quan tước khá phổ biến ở
cả Đàng trong và Đàng ngoài Những người không có học nhưng có tiền thìdùng tiền mua chức tước Trong thi cử, nhiều vụ hối lộ và ăn hối lộ đã diễn ratrắng trợn Thuyết "chính danh định phận", một nội dung và là nguyên tắc cơbản của Nho giáo nhằm bảo vệ chế độ đẳng cấp và tôn ty trật tự phong kiếnmất dần phép màu nhiệm Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hoá và
sự tấn công của đồng tiền vào thành trì lễ giáo phong kiến đã làm cho ý thức
hệ Nho giáo bị rạn nứt dần
1.2.1.2 Công cuộc khai phá đất đai và nông nghiệp Đàng Trong
Ở Đàng trong, những người nông dân, nhất là lực lượng nông dân lưután đã tích cực và chủ động đẩy mạnh công cuộc khai phá đất đai dưới nhữnghình thức và quy mô khác nhau (tự động khai phá, khai hoang do các nhàgiàu, có thế lực đứng ra chiêu tập, thuê mướn.)
Đối với những dân lưu tán từ Đàng ngoài vào vùng Thuận Quảng, chúaNguyễn khuyến khích họ khẩn hoang lập làng, ruộng đất khai khẩn trở thànhcông điền chia cho người khai phá và họ nộp tô cho nhà nước, có một bộ phậnđược nhà nước chia cho họ làm tư điền, gọi là bản bức tư điền
Trang 30Đối với bộ phận ruộng đất khẩn hoang do các nhà giàu có tổ chức khaikhẩn, trong đó có một bộ phận là những người cùng quê hương với chúaNguyễn ở Thanh Hoá theo chúa vào Thuận Quảng, còn đại bộ phận là các địachủ ở miền Nam Bộ, thì nhà nước cho phép biến thành ruộng đất tư của ngườichủ đứng ra tổ chức khai hoang Ngoài ra, các chúa Nguyễn còn sử dụng các
tù binh và những người dân quê ở Nghệ An bị bắt trong chiến tranh Trịnh Nguyễn vào việc khẩn hoang
-Đối với các vùng đất phía nam, ban đầu các chúa Nguyễn dựa vàonhững người Việt đã sinh sống lâu đời ở đây lập thành xóm làng và tiếp tụccông cuộc khẩn hoang Về sau số người lưu tán từ Thuận Quảng vào ngàycàng nhiều, chúa Nguyễn đã cho phép và khuyến khích các quan lại, địa chủ
mộ người phiêu tán đi khẩn hoang và làm chủ tất cả ruộng đất khai phá Vớicách khẩn hoang này, chúa Nguyễn đã tạo nên một tầng lớp đại địa chủ rấtgiàu có ở Đàng trong, là cơ sở xã hội vững chắc cho chính quyền mới
Các chúa Nguyễn còn sử dụng quân đội vào công việc khai hoang lậpđồn điền cho nhà nước Nhờ có chủ trương đẩy mạnh công cuộc khai phá đấtđai và nhờ vào sức lao động cần cù, bền bỉ của những người dân lao động,trong đó có một bộ phận đông đảo từ Đàng ngoài vào, Đàng trong đã trởthành một vùng đất trù phú, đất đai canh tác và làng xóm được mở rộng.Ruộng đất ở Đàng trong gồm có hai bộ phận như ở Đàng ngoài Một bộ phậnthuộc quyền sở hữu của nhà nước và một bộ phận thuộc quyền sở hữu tưnhân, nhưng cũng có những đặc điểm riêng
Bộ phận ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước có hai loại: loạiquan đồn điền và quan điền trang và loại ruộng đất công ở các làng xã Quanđồn điền và quan điền trang do nhà nước trực tiếp quản lý tương tự như loạiruộng quốc khố, ruộng quan ở Đàng ngoài Ở Thuận Hoá, loại ruộng nàynhiều hơn ở các nơi khác Họ Nguyễn lấy một phần ruộng đất này ban cấp
Trang 31cho tầng lớp quý tộc và quan lại cao cấp làm ngụ lộc, nhưng chế độ ban cấpruộng đất ở Đàng trong rất nhỏ hẹp do tầng lớp quan lại quý tộc hầu hết đã lànhững đại địa chủ do chính sách khẩn hoang của các chúa Nguyễn tạo nên.Bổng lộc của quan lại chủ yếu là lấy ở dân Ruộng đất cấp cho quan lại làmngụ lộc chỉ từ 10 mẫu (cho đại thần, quý tộc), chưởng cơ chỉ được 5 mẫu, cai
cơ 4 mẫu, cai đội 4,5 mẫu, đội trưởng 2 hoặc 3 mẫu Số điền trang, đồn điềncòn lại nhà nước giao cho dân cày và họ nộp tô theo quan hệ phát canh thu tô,hay giao cho tù nhân cày cấy theo quan hệ nông nô Trong thực tế, bộ phậnquan đồn điền, quan điền trang thuộc sở hữu riêng của nhà chúa, thu tô thuế
để chi dùng trong nội phủ của gia đình chúa Nguyễn
Ruộng đất công làng xã cũng thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nướcphong kiến Nhà nước chia cho nông dân cày và họ nộp tô theo định kỳ.Ruộng đất công chia làm các hạng khác nhau để quy định suất phải nộp chonhà nước
Đặc điểm của tình hình ruộng đất ở Đàng trong là ở vùng ThuậnQuảng, loại công điền nhiều nhưng càng vào phía nam tỷ lệ càng giảm dần và
ở vùng Gia Định, công điền chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Phần lớn bộ phậnruộng đất thuộc quyền sở hữu tư nhân Những người có loại ruộng đất này làđịa chủ, quan lại, nông dân tư hữu, chủ yếu là của địa chủ, quan lại Ở Nam
bộ đã hình thành một tầng lớp đại địa chủ rất giàu có, "mỗi nhà có đến 50, 60điền nô, trâu bò có đến 300 con, cày bừa, trồng cấy, gặt hái không lúc nàorỗi" Các chúa Nguyễn cho phép địa chủ, quan lại được nuôi nô tỳ, hợp pháphoá việc buôn bán nô tỳ "đem con trai con gái người man ở các đầu nguồnbán cho dân làm nô tỳ”
Giai cấp địa chủ ở Đàng trong chủ yếu cũng phát canh thu tô, bóc lột theoquan hệ địa chủ - tá điền, nhưng ở một số nơi vẫn còn duy trì chế độ nô tỳ, trongkhi chế độ nô tỳ ở Đàng ngoài đã suy tàn và về căn bản đã bị thủ tiêu
Trang 32Do có đất đai màu mỡ, được khai khẩn nhiều, nhất là ở phương nam mànền kinh tế nông nghiệp ở Đàng trong trong các thế kỷ XVI - XVII đầu XVIIIkhá phát triển.
Kinh tế nông nghiệp Đàng trong có những bước phát triển mạnh mẽchứng tỏ thực lực triều đình nhà Nguyễn ngày càng lớn mạnh, nó thực sự làmột trở ngại với triều đình vua Lê chúa Trịnh ở Đàng ngoài Năm 1774, đểkhuyếch trương thanh thế, giải quyết mâu thuẫn lâu đời, Trịnh Sâm cho quânđánh chúa Nguyễn ở Thuận Hóa, và sau đó đã giành chiến thắng Năm 1776,Trịnh Sâm cử quan vào cai trị đất Thuận Hóa, Lê Quý Đôn giữ chức Hiệp trấntham tán quân cơ Ông đã có rất nhiều chính sách cải cách và phát triển vùngđất này của Đàng trong như: phát triển nông nghiệp, lưu thông sự vận chuyểnthóc gạo, giảm thuế đò, thuế chợ, quy định thời hạn cầm ruộng, chuộcruộng Tóm lại, dù trong bất kì hoàn cảnh nào, Lê Qúy Đôn cũng chứngminh được tài năng của mình trên mọi phương diện
1.2.1.3 Bước phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hoá, sự hưng khởi của đô thị trong thế kỉ XVI, XVII và sự suy tàn vào thế kỉ XVIII.
Sự phát triển của nông nghiệp trong các thế kỷ XVI - XVII và đầu thế
kỷ XVIII đã có tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế hàng hoábấy giờ ở cả Đàng ngoài và Đàng trong Sự tăng cường buôn bán với cácthương nhân nước ngoài và việc tiếp xúc với thương mại tư bản chủ nghĩaphương Tây càng kích thích thêm sự phát triển của kinh tế hàng hoá Thủcông nghiệp phát triển thêm một bước, buôn bán phồn vinh, những thành thịhưng khởi, những mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có điềukiện nảy sinh Trong nhân dân, các nghề thủ công truyền thống tiếp tục pháttriển và trở nên phổ biến rộng khắp ở nhiều làng xã Nghề làm gốm, làm nồiđất nung, dệt chiếu, lụa hoa, sản xuất chum vại, vò, chĩnh, làm giấy Nổitiếng nhất là nghề dệt vải, lụa Người nước ngoài đến Đàng ngoài vào các thế
Trang 33kỷ XVII - XVIII đều có nhận xét rất giống nhau về sự phát triển của nghề dệtvải, tơ lụa Tơ trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng bậc nhất Thủcông nghiệp khai mỏ cũng rất phát triển và đạt được nhiều thành tựu.
Thương nghiệp cũng phát triển lên một bước đáng kể, cả nội thương vàngoại thương Theo Phan Huy Chú, ở Đàng ngoài có 8 chợ có quy mô lớn,nộp thuế cho nhà nước Sự trao đổi buôn bán với các thương nhân nước ngoàiđược tăng cường và mở rộng Bên cạnh các thương nhân Trung Quốc, Gia
Va, Xiêm, Nhật Bản còn có thuyền buôn các nước tư bản phương Tây nhưPháp, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh
Sự phát triển của công, thương nghiệp đã làm xuất hiện một số thànhthị mới và làm hưng thịnh, phồn vinh các trung tâm kinh tế hàng hoá cũ KẻChợ và Phố Hiến là hai đô thị nổi tiếng bấy giờ ở Đàng ngoài Ở Đàng trong
có Hội An là thành phố cảng lớn nhất, từ thế kỷ XVI đã có thương nhân nướcngoài đến buôn bán nhộn nhịp và tấp nập
Nhìn chung, quan hệ ngoại thương giữa Đàng trong và Đàng ngoài vớicác nước phương Tây chỉ được phát triển khá mạnh mẽ ở thế kỷ XVII và đầuthế kỷ XVIII, sau đó thuyền buôn các nước thưa thớt dần và chấm dứt hẳn.Kinh tế hàng hóa gặp nhiều khó khăn, các đô thị hưng thịnh một thời giancũng đã đến lúc suy tàn
1.2.2 Điều kiện chính trị
1.2.2.1 Thể chế vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài
Chuyên chế trung ương tập quyền (mọi quyền hành tập trung vào tayngười đứng đầu nhà nước – ông vua chuyên chế) là đặc điểm thể chế chính trịcủa các quốc gia phong kiến phương Đông; thế nhưng, ở Việt Nam thời kỳ từ
1545 đến 1786 lại tồn tại một thể chế chính trị đặc biệt: Vua Lê - Chúa Trịnh.Năm 1527, Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi vua cho mình -nhà Mạc hình thành Năm 1530, Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con là
Trang 34Mạc Đăng Doanh, còn mình tự xưng là Thượng hoàng sống ở Cổ Trai(Dương Kinh) Năm 1530, Lê Ý ở Thanh Hóa nổi quân chống lại nhà Mạc.Năm 1532, Nguyễn Kim được sự giúp đỡ của vua Ai Lao, tập hợp lực lượngngày đêm luyện tập và tôn con của Lê Chiêu Tông tên là Ninh lên làm vua(Lê Trang Tông), đóng đô ở Thanh Hóa, nhiều quan lại cũ của nhà Lê cũngtheo về phò tá tạo nên một triều đình mới đối lập với nhà Mạc ở phía Bắc ĐạiViệt lúc đó có hai triều đình, lịch sử gọi đó là thời kỳ Nam – Bắc Triều.Người mở đầu sự nghiệp của họ Trịnh là Trịnh Kiểm, người huyện Vĩnh Lộc,Thanh Hóa Nghe tin Nguyễn Kim nổi dậy dựng lại nhà Lê, Trịnh Kiểm tìmđến xin gia nhập nghĩa quân Nhờ tài năng, ông được Nguyễn Kim tin cậy và
gả con gái là Ngọc Bảo cho Nǎm 1539, ông được phong làm Đại tướng quân,tước Dực quận công Năm 1545, Nguyễn Kim bị một hàng tướng nhà Mạcđầu độc chết, vua Lê phong con rể của Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm lên thay.Vừa được phong chức, Trịnh Kiểm tìm mọi cách loại trừ phe cánh củaNguyễn Kim (bố vợ) để tập trung quyền lực vào tay mình Trịnh Kiểm đã sáthại người con cả của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông, người con trai thứ hai làNguyễn Hoàng lo sợ phải nhờ chị gái mình là Ngọc Bảo (vợ của Trịnh Kiểm)xin cho vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa (Huế); Trịnh Kiểm thuận ý cho vào
Họ Nguyễn vào đó ngấm ngầm lập “vương quốc” riêng của mình chống lại
họ Trịnh, nhưng bề ngoài vẫn tỏ vẻ thuần phục, giúp họ Trịnh chống họ Mạc
Để tạo cơ sở thực lực chống lại họ Trịnh, các chúa Nguyễn đã đẩy mạnh khaikhẩn vùng đất Đàng trong mở rộng lãnh thổ đến tận vùng Hà Tiên, An Giang
Từ khi Trịnh Kiểm nắm quyền, họ Trịnh cai quản vùng phía Nam của ĐạiViệt (trên danh nghĩa vẫn là dưới quyền vua Lê) và chiến đấu với nhà Mạc ởphía Bắc Bấy giờ nhà Lê chiếm lại được Thanh Hóa và Nghệ An Nhờ cókhẩu hiệu “Phù Lê diệt Mạc” (giúp Lê diệt Mạc), thanh thế họ Trịnh ngàymột lớn Ở vùng Tây Bắc, anh em Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên cát cứ tại
Trang 35Tuyên Quang sai người đến xin quy phục Sau đó năm 1550, có Lê Bá Ly làcựu thần nhà Lê sơ cùng thông gia là Nguyễn Thiến cũng mang gia quyến vềhàng Từ khi cướp ngôi nhà Lê (1527), triều Mạc ra sức củng cố mọi mặt đểchống lại tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh ở Thanh Hóa Đến thời Mạc MậuHợp (1562-1592) – qua các Niên hiệu: Thuần Phúc (1562-1565), Sùng Khang(1566-1577), Diên Thành (1578-1585), Ðoan Thái (1586-1587), Hưng Trị(1590), Hồng Ninh (1591-1592) Mạc Mậu Hợp sinh năm Nhâm Tuất (1562).Khi lên ngôi mới 2 tuổi phải lấy ứng vương Mạc Ðôn Nhượng (con trai MạcÐăng Doanh) làm phụ chính Năm ấy (1562), họ Mạc ngờ Thái bảo Văn Quốccông Phạm Dao có lòng khác bèn giết đi Vào thời điểm này, ở phía Namtriều, Trịnh Kiểm đã chết (1570), binh quyền vào tay Trịnh Tùng: “Vua Lê vàTrịnh Tùng sống với nhau khá hoà thuận, chính sự được chỉnh đốn, quân sĩtinh tráng, khoẻ mạnh, khí thế đang lên” Còn phía Bắc triều, sau khi vàoÐông Kinh, Mạc Mậu Hợp ham chơi bời, say đắm tửu sắc, không để ý gì đếnviệc nước Rất nhiều sớ của các quan khuyên răn Mạc Mậu Hợp nhưng vôhiệu Giữa lúc đó quân đội Lê - Trịnh tấn công liên tiếp vào hậu cứ quân Mạc
có lúc đã phải huy động lực lượng chống trả đến 10 vạn quân, nhưng nhà Mạcvẫn thua trận Mạc Hậu Hợp lại bỏ kinh thành Thăng Long sang bến Bồ Ðề,chia quân giữ phía Bắc sông Cái để tự vệ Khốn đốn là vậy mà Mạc Mậu Hợpvẫn lao vào ăn chơi trác táng Thấy Nguyễn Thị Niên, con gái của NguyễnQuyện, vợ trấn thủ Nam Ðạo Sơn quận công Bùi Văn Khuê, em gái hoànghậu xinh đẹp, Mậu Hợp đem lòng yêu mến, bèn ngấm ngầm tính kế giết BùiVăn Khuê một tướng tài thống lĩnh toàn bộ lực lượng thuỷ quân của Mạc đểcướp vợ Khuê Biết âm mưu ấy, vợ Văn Khuê mật báo cho chồng Văn Khuêđem quân bản bộ về giữ Gia Viễn, chống lại lệnh vua Mạc Mạc Mậu Hợpmấy lần vời không được phải cho quân tướng đến hỏi tội Văn Khuê VănKhuê, một mặt đem quân chống giữ, mặt khác cho con là Bùi Văn Nguyên
Trang 36vào hàng quân Trịnh và xin quân cứu viện Trịnh Tùng rất mừng, thu nhậnngay và cho quân ra cứu Văn Khuê Thế là thuỷ quân, chỗ mạnh nhất đã lọtvào tay quân Trịnh Trịnh Tùng được Văn Khuê giúp nên thế thắng đã ở trongtay Ngày 25 tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592), thuỷ quân Trịnh gồm 300chiếc thuyền đánh vào huyện Kim Thành, Mạc Mậu Hợp bỏ chạy, quân Trịnhthu được rất nhiều vàng bạc, của cải, đồ dùng và con gái, bắt Thái hậu nhàMạc giải về Thăng Long Tới sông Bồ Ðề, Thái hậu nhà Mạc nhảy xuốngsông tự vẫn Mạc Mậu Hợp sợ đến nỗi phải trao hết quyền bính cho con trai làToàn lên làm vua còn mình thì chạy trốn Mạc Mậu Hợp chạy trốn tại mộtngôi chùa ở huyện Phượng Nhãn (Bắc Ninh) Quân Trịnh sục tới, dân địaphương cho biết Mạc Mậu Hợp đóng giả sư ông, đến ẩn ở chùa Mô Khê.Quân Trịnh đến chùa thấy Mậu Hợp nghiễm nhiên ngồi xếp bằng, đang tụngkinh Quân Trịnh dùng voi chở Mạc Mậu Hợp, giải về kinh sư Sau đó, MậuHợp bị chém đầu ở bãi cát Bồ Ðề Mạc Mậu Hợp lên ngôi lúc 2 tuổi, ở ngôi
29 năm, khi chết 31 tuổi Con trai Mạc Mậu Hợp là Toàn, được Mậu Hợpnhường ngôi, tự xưng là Vũ An, nhưng không được nhân tâm ủng hộ, thế cô,ngầm trốn cũng bị quân Trịnh bắt được đem chém đầu tại bến Thảo Tân Nhưvậy họ Mạc từ Ðăng Dung đến Mậu Hợp, truyền ngôi được năm đời thì mất,tổng cộng được 66 năm Sau đó con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng, đến
1667 những dư đảng cuối cùng của nhà Mạc mới bị triều đình Lê - Trịnh dẹpyên Như vậy, sau khi Trịnh Tùng đem quân đánh bại nhà Mạc ở Thăng Long(1592) thống nhất Bắc hà, triều Lê được khôi phục, vua Lê bấy giờ là Lê ThếTông Tuy nhiên, cậy có công dẹp nhà Mạc khôi phục triều Lê, Trịnh Tùnglộng hành, năm 1599 ông buộc vua Lê phải phong mình làm Đô nguyên súy,Tổng quốc chính, Thượng phụ bình an vương Từ đây ông nắm mọi quyềnhành trong nước, định ra luật lệ, sắp đặt Thế tử của triều Lê và được ngườiđương thời gọi là Chúa Năm 1600, cho lập Phủ đình (Vương phủ) bên cạnh
Trang 37triều đình vua Lê, đặt thêm 2 chức Tham tụng, Bối tụng cùng Chúa bàn việcnước, lại đặt các chức võ quan cao cấp cùng chỉ đạo chung Quyền lực nằm cảtrong tay họ Trịnh; chế độ Vua Lê – Chúa Trịnh hình thành từ đó.
Lần đầu tiên xuất hiện tình trạng bên cạnh ngai vàng của nhà vua lại cóphủ chúa, lịch sử gọi là thời kỳ Vua Lê – Chúa Trịnh (1545 – 1786) – một thểchế chính trị đặc biệt Thể chế này có những đặc trưng cơ bản đó là: chế độVua Lê – Chúa Trịnh không phải là sự chia đôi quyền lực giữa Vua Lê vớiChúa Trịnh Trên thực tế từ 1545 đến 1786, họ Trịnh đã nắm toàn bộ quyềnlực trong triều và thay mặt nhà vua điều hành đất nước Bằng chứng là trongthời kỳ này, Chúa Trịnh đã nhiều lần “mượn danh” Vua Lê mang quân đichinh phạt nhà Mạc (đến năm 1592 dẹp được) và cũng đã nhiều lần mang đạibinh vào đánh các chúa Nguyễn ở Đàng trong nhưng không thành Cho đếnkhi đất nước bị chia cắt thành Đàng trong và Đàng ngoài (1672) thì thực chấtcũng là sự phân chia quyền lực giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh (ở Đàngngoài), Nguyễn (ở Đàng trong) chứ không phải giữa Vua Lê với các ChúaNguyễn, cho nên sự tồn tại của Vua Lê trong thực thể chính trị này thực chấtchỉ là “cái bóng”
Thể chế Vua Lê – Chúa Trịnh tồn tại được trong suốt thời kỳ từ 1545đến 1786 là dựa vào tài năng của các Chúa Trịnh chứ không phải của Vua Lê
Sự khôn khéo và tài năng của Chúa Trịnh được thể hiện ở chỗ: Chúa Trịnh rất
am hiểu thời cuộc và đối thủ của mình (kể cả Vua Lê mặc dù suy yếu như thếnhưng không phải không có ý định muốn giành lại quyền lực đã bị mất) từ đó
để có cách ứng phó hài hòa với các bên Đặc biệt, để có thể trụ được trướcnhững đối thủ mạnh như Mạc, Nguyễn… không có cách nào khác Chúa Trịnhphải tìm cách gây dựng cơ sở thực lực, thường xuyên chỉnh đốn quân sĩ, xâydựng quân đội hùng mạnh dựa chủ yếu vào thủy binh, có chính sách mềm dẻođối với các tù trưởng miền núi, kiên quyết tiêu diệt các thế lực cát cứ, canh
Trang 38giữ và bảo toàn cương vực lãnh thổ Tất cả những việc làm đó đã giúp choChúa Trịnh trụ được trong thời buổi đầy sóng gió và loạn lạc.
Và một câu hỏi mà các sử gia luôn đặt ra và tìm câu trả lời đó là tại saochúa Trịnh không chiếm ngôi báu của nhà Lê?
Xét về khía cạnh vua Lê - chúa Trịnh thì mặc dù triều Lê từ sau triềuđại Lê Thánh Tông (1460-1497) đã không còn đủ sức để khôi phục lại vị thếtập quyền của vương triều mình như trước đây nữa Trong thời buổi hỗn loạn
đó, triều đình Vua Lê muốn tồn tại được phải nhờ cậy vào thế lực của ChúaTrịnh; ngược lại, Chúa Trịnh muốn tiêu diệt được các đối thủ của mình cũngphải dựa vào “cái bóng” của Vua Lê…Có nghĩa là, cả hai tập đoàn phongkiến này đều phải cần đến nhau để tồn tại Vì thế Chúa Trịnh không cướpngôi của Vua Lê
Chúa Trịnh hơn ai hết là người tinh thông thời cuộc lúc đó Trong bốicảnh từ XVI đến XVIII, ở nước ta có 4 thế lực phong kiến tham gia tranhgiành quyền lực (Lê, Trịnh, Mạc, Nguyễn), trong đó có 3 thế lực cát cứ thànhquốc gia riêng đó là: Bắc triều (Mạc), Nam triều (Lê - Trịnh), Đàng trong(Nguyễn); từ sau 1592: Mạc ở Cao Bằng, Lê – Trịnh ở Đàng ngoài, Nguyễn ởĐàng trong; từ năm 1668 chỉ còn hai thế lực: Lê – Trịnh ở Đàng ngoài,Nguyễn ở Đàng trong Thế nhưng, theo quan điểm của phong kiến thời điểm
đó dù có bốn, ba hoặc hai thế lực phong kiến cùng tồn tại thì chỉ có Vua Lê là
“chính danh” thực quyền và đã được “Thiên triều” Trung Quốc ban sắcphong Về mặt này, Chúa Trịnh là người tinh thông thời cuộc nghe theo lờikhuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Giữ chùa thì ăn oản”; nếucướp ngôi của Vua Lê, Chúa Trịnh sẽ bị phạm hai điều cấm kỵ: thứ nhất ChúaTrịnh sẽ bị coi là “phản nghịch” (giặc), dư luận trong nước sẽ phản đối, thứhai bị “Thiên triều” của Trung Quốc trừng phạt Vì thế nên Chúa Trịnh khôngnhững không cướp ngôi của Vua Lê giống như Mạc Đăng Dung (1527) và
Trang 39cũng không “lộ mặt” chống đối nhà Lê như các tập đoàn phong kiến khác, lạicàng không có mưu đồ cát cứ kiểu như tập đoàn phong kiến Nguyễn ở Đàngtrong mà Chúa Trịnh đã khôn khéo “lựa thời” từng bước lấn át, tiến tới tiếmquyền của Vua Lê, biến Vua Lê thành “cái bóng” và thực sự Vua Lê đã bịbiến thành “cái bóng” Chúa Trịnh còn biết dùng “cái bóng” của Vua Lê đểche đậy cho những toan tính riêng của mình và rất thành công.
Trong suốt thời kỳ tham gia chính sự, họ Trịnh có nhiều đối thủ Ở phíaBắc có hai đối thủ: thứ nhất “Thiên triều” ở phương Bắc (phong kiến TrungQuốc) luôn rình rập chỉ chờ cơ hội là hành binh dưới danh nghĩa “Phù Lê, diệtTrịnh”, điều này các đời Chúa Trịnh luôn canh cánh trong lòng, thứ hai, saunăm 1592 ở Cao Bằng vẫn còn tàn dư nhà Mạc, lại được nhà Minh ủng hộluôn là mối đe dọa đối với tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh Vì thế họ Trịnhkhông dám cướp ngôi nhà Lê làm thay đổi cả một triều đại
Phía Nam là tập đoàn phong kiến Nguyễn – kẻ thù “không đội trờichung” của họ Trịnh Sau cuộc tấn công không thành năm 1620, mối mâuthuẫn giữa hai tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài, Nguyễn ở Đàngtrong ngày càng sâu sắc và đến lúc không thể điều hòa được nữa Tình trạngnày làm cho không khí chính trị ở nước ta hết sức căng thẳng Hai bên đãchuẩn bị lực lượng cho một cuộc tranh giành quyền lực mới Và đến năm
1627, cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn chính thức bùng nổ, kéo dài hơn mộtnửa thế kỷ Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, nhưng cả thảy hai bên đã dánhnhau tới 7 lần lớn, lúc quân Trịnh đánh vào, lúc họ Nguyễn đánh ra Cuốicùng không phân thắng bại, hai bên đã lấy sông Gianh làm ranh giới chia đôiđất nước (1672) Từ năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp cha(Nguyễn Hoàng) quyết định thiết lập một hệ thống chính quyền riêng, dongười Đàng Trong đảm nhiệm Có thể nói, trong khi tập đoàn phong kiến Vua
Lê - Chúa Trịnh suy yếu thì chính quyền của các chúa Nguyễn ở Đàng trong
Trang 40lại hưng thịnh, đúng như một viên quan cao cấp của họ Trịnh đứng trên lậptrường đối địch, nhưng khi đánh giá về công lao về họ Nguyễn cũng phải thừanhận: “Đoạn quận công (Nguyễn Hoàng) có uy lực xét kĩ, nghiêm minh,không ai dám dối lừa…chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn chodân, phép tắc công bằng, nghiêm giữ quân sĩ có kỉ luật, cấm chấp kẻ hungbạo Quân dân hai xứ đều mến yêu kính phục, thay đổi phong tục xấu ai aicũng đều cám ơn mến đức Như vậy, qua đây cho thấy chính quyền của họNguyễn ở Đàng trong (đối thủ số một của chúa Trịnh) rất mạnh, phát triển vềmọi mặt từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội… đã làm cho Chúa Trịnh ởĐàng ngoài luôn phải cảnh giác phòng bị Đây chính là một trong nhữngnguyên nhân làm cho họ Trịnh không thể cướp ngôi nhà Lê, dẫn tới sự tồn tạicủa thể chế chính trị Vua Lê - Chúa Trịnh trong một thời gian rất dài từ 1545đến 1786.
Như vậy, thể chế chính trị Vua Lê - Chúa Trịnh không phải là một sự chiađôi quyền lực giữa Vua Lê với Chúa Trịnh mà trên thực tế tất cả quyền lực nằmtrong tay Chúa Trịnh Thời kỳ này các phe phái phong kiến lục đục, hậu quả củacác cuộc hỗn chiến phong kiến liên miên đã làm cho đời sống của nhân dân cùngcực điêu đứng, đất nước bị phân liệt Song về mặt khách quan, ở một góc độ nào
đó, họ Trịnh vẫn có những đóng góp nhất định đối với lịch sử Chúa Trịnh cũng
có nhiều việc làm góp phần bảo vệ và tôn tạo di sản văn hóa của dân tộc, ví dụnhư thời Trịnh Giang (1729-1740) đã cho tôn tạo, xây dựng rất nhiều chùachiền Hoặc như nhờ có sự tranh chấp quyết liệt giữa hai tập đoàn phong kiến Lê– Trịnh ở Đàng Ngoài – Nguyễn ở Đàng trong đã trực tiếp hối thúc các ChúaNguyễn đẩy mạnh công cuộc khai phá dải đất Đàng trong vào đến tận An Giang,
Hà Tiên Nhờ vậy mà nước Việt Nam mới có được một nửa nước (miền Nam)rộng lớn như ngày nay