1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng triết học hiện sinh về con người của Albert Camus

97 532 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể thấy, tìm hiểu tư tưởng triết học hiện sinh của Camus về con người có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh cũng như đem những tư tưởng của ông đến gần hơn với

Trang 1



NGUYỄN THỊ LINH

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HIỆN SINH VỀ CON NGƯỜI

CỦA ALBERT CAMUS

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2



NGUYỄN THỊ LINH

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HIỆN SINH VỀ CON NGƯỜI

CỦA ALBERT CAMUS

Chuyên ngành : Triết học

Mã số : 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ THƯỜNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Thường, có kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố Những tài liệu được

sử dụng trong đề tài đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình

Hà Nội, tháng 05 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Linh

Trang 4

phòng ban khác của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho

em được học tập, nghiên cứu tại quý trường

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm Khoa Triết

học và các thầy cô giáo khoa Triết học đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn em

trong suốt thời gian qua Đặc biệt là sự chỉ dẫn nhiệt tình của cô giáo chủ

nhiệm lớp - TS Nguyễn Thị Vân đến tất cả các học viên của lớp

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS

Nguyễn Thị Thường, giảng viên khoa Triết học, trường Đại học Sư phạm Hà

Nội, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện

và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Triết học của mình

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp đã hết lòng quan tâm, giúp

đỡ và động viên tác giả luận văn trong quá trình học tập, nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Linh

Trang 5

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6

5 Giả thuyết khoa học 6

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 6

8 Phương pháp nghiên cứu 7

9 Cấu trúc luận văn 7

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả 7

Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH VÀ TÁC GIẢ ALBERT CAMUS 9

1.1 Khái luận về triết học hiện sinh 9

1.1.1 Điều kiện, tiền đề ra đời và phát triển của triết học hiện sinh 9

1.1.2 Đối tượng, phương pháp và những chủ đề chính của triết hiện sinh 22

1.2 Albert Camus trong triết học hiện sinh 32

1.2.1 Khái lược về cuộc đời, sự nghiệp của Albert Camus 32

1.2.2 Cơ sở hình thành tư tưởng hiện sinh về con người của Camus và vị trí của ông trong triết học hiện sinh 38

Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HIỆN SINH VỀ CON NGƯỜI CỦA ALBERT CAMUS 44

2.1 Vấn đề thân phận của con người trong xã hội 44

2.1.1 Sự cô đơn tồn tại như hơi thở của chính con người 44

2.1.2 Sự tồn tại đầy phi lý của con người giữa một xã hội phi lý 49

2.2 Sự nổi loạn của con người 58

2.2.1 Nổi loạn là nhận thức tình cảnh phi lý 58

2.2.2 Sự nổi loạn phản kháng lại thế giới phi lý 64

Trang 6

2.3.1 Giá trị của tư tưởng hiện sinh về con người của A Camus 69

2.3.2 Hạn chế của tư tưởng hiện sinh về con người của A Camus 74

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 87

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tư duy triết học là sự phản tư của con người đối với chính bản thân mình vậy nên vấn đề bản chất con người và việc giải phóng con người từ xưa tới nay luôn là chủ đề trung tâm của mọi cuộc bàn luận triết học Đây cũng chính là xu hướng tiếp cận của triết học hiện sinh Trong thế kỷ XX, triết học hiện sinh đã ghi dấu ấn đậm nét bằng việc thổi một luồng gió mới lạ vào không khí triết học lúc bấy giờ Những trang tiểu thuyết, kịch, những bài thơ

và các loại hình văn chương sống động khác nhau của các nhà tư tưởng lớn như M Heidegger, J Sartre, Marcel, K Jaspers, A Camus… đã đề cập đến

chủ đề con người, với các giá trị đặc trưng như tự do, tự quyết, vươn lên, dấn

thân, tồn tại người

Khoảng cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, loài người đã đạt được những thành tựu to lớn trong mọi lĩnh vực hoạt động sống của mình Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, con người có được những tiền đề cần thiết cho sự phát triển toàn diện Nhiều mơ ước từ ngàn năm của con người đã được thực hiện Chính khoa học tư duy duy lý đã đem lại những điều tuyệt vời như vậy Song, thực tiễn lịch sử cũng cho chúng ta thấy cuộc sống của con người còn đầy rẫy những vấn đề bất ổn Sự phát triển của văn minh vật chất dường như

có lúc tỉ lệ nghịch với sự phát triển của văn minh tinh thần, bởi lẽ, của cải trong xã hội ngày càng dồi dào nhưng những giá trị đạo đức của con người lại ngày càng suy đồi Trong xã hội ấy, con người chỉ được xem như một lực lượng vật chất đơn thuần, họ cảm thấy bất lực và cô đơn trước bộ máy kỹ thuật khổng lồ của xã hội phương Tây hiện đại và dần đánh mất nhân vị của mình, đánh mất niềm tin vào mọi thứ

Triết học hiện sinh ra đời đã miêu tả đúng tâm trạng của con người lúc bấy giờ, chính vì vậy nó được đón nhận hết sức nồng nhiệt Trong lịch sử triết

Trang 8

học, từ cổ chí kim, triết học hiện sinh là trường hợp duy nhất người ta thấy “triết học đã xuống đường” Triết học hiện sinh đã đóng trọn vẹn vai trò lịch sử của nó với việc tạo nên được cả một phong trào rộng lớn và sôi nổi trong giới văn học Trong số đó đáng kể nhất là Albert Camus với hàng loạt các tác phẩm thể hiện nỗi lo âu, sự sợ hãi của thân phận con người trước bao nhiêu biến động và tai ương trong nửa đầu thế kỷ XX ở phương Tây Ông cũng đã xây dựng một lý

thuyết độc đáo nói về ý nghĩa của hiện sinh và thân phận con người Albert

Camus đã để lại cho hậu thế những lời nhắn nhủ chân thành và ý nghĩa nhằm giải phóng con người, đem lại tự do đích thực cho con người cá nhân

Có thể thấy, tìm hiểu tư tưởng triết học hiện sinh của Camus về con người có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh cũng như đem những tư tưởng của ông đến gần hơn với người Việt Nam nói chung và những tác giả nghiên cứu về Camus nói riêng Từ những lí do về mặt lí luận

và thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài Tư tưởng triết học hiện

sinh về con người của Albert Camus

2 Lịch sử nghiên cứu

Albert Camus được coi là một nhà tiểu thuyết, một nhà triết học lớn Ông gửi gắm tư tưởng triết học của mình qua những trang tiểu thuyết, kịch Ông đã được giới nghiên cứu trong và ngoài nước chú ý ngay từ khi công bố tác phẩm đầu tiên Những tác phẩm của Camus được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng chủ yếu là ở hai góc độ: góc độ khai thác nghệ thuật văn học và góc độ triết học

2.1 Dưới góc độ văn học

Trên thế giới, một số công trình nghiên cứu về văn chương thế kỷ XX

đã có đề cập đến Camus mà tiêu biểu nhất là thiên tiểu luận Cuộc phiêu lưu tư

tưởng văn học Âu châu thế kỷ XX (1900 - 1959) của R.M Alberes Trong đó,

Trang 9

Alberes đã viết về lịch sử tính nhạy cảm của văn học Âu châu thế kỷ XX và A Camus đã được nhắc đến như một đại biểu điển hình

Ở Việt Nam, với tư cách là một nhà văn đậm chất hiện sinh, Albert Camus được nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ XX Những năm 1960 -

1975, các tác giả: Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lý Chánh Trung, Trần Văn Toàn, Nguyễn Quốc Trụ… đã có nhiều bài viết, tác phẩm dịch về triết học, văn học hiện sinh được in trên các tạp chí: Sáng Tạo, Bách Khoa, Thông Cảm…

Đặc biệt, tác giả Hoàng Trinh với bài viết Anbe Camuy và vấn đề “văn

học nổi loạn” trong Phương Tây văn học và con người (1969) đã có cái nhìn

trên tinh thần phê phán với quan điểm hiện sinh của Camus, tác giả coi thuyết phi lý của Camus có hạt nhân là lý luận mơ hồ và ngụy biện Nổi loạn như là

hệ quả của cái phi lý: không xác định rõ lập trường, ai nổi loạn, nổi loạn chống lại ai và nổi loạn như thế nào…

Công trình Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa (1978) của Đỗ Đức

Hiểu đã chỉ ra những đặc điểm của văn học hiện sinh trong các tác phẩm của Camus, khởi điểm là cái phi lý và nổi loạn là sắc thái đáng chú ý nhất của chủ nghĩa hiện sinh của Camus

Cả hai tác giả Hoàng Trinh và Đỗ Đức Hiểu đều đứng trên lập trường phê phán triết học hiện sinh của Camus để đánh giá những tư tưởng của Camus

Gần đây, trong công trình Tiếp cận văn học Pháp (2007), Liễu Trương một lần nữa đặc biệt chú ý tới sự phi lý trong tác phẩm Kẻ xa lạ

Bài viết của ông như một sự gợi nhắc lại ý muốn của Camus khi viết tác phẩm đó là tả “tính trần trụi của con người trước sự phi lý” Ở đây, phi lý

là độ không của sự dấn thân Sự thật trong Kẻ xa lạ, cũng như trong Thần

thoại Sysyphus là một sự thật tiêu cực, là một khởi đầu cần thiết cho sự dấn

thân tích cực

Trang 10

2.2 Dưới góc độ triết học

Trên thế giới, Alain Robbe - Grillet, thủ lĩnh nhóm Tiểu thuyết Mới những năm 60 của thế kỷ XX ở Pháp, đánh giá rất cao cuốn Kẻ xa lạ, coi đó

là một tác phẩm lớn, bởi vì trong cuốn sách đó, Camus đã tạo nên một thế giới

mà ông hoàn toàn tin Nói về cái phi lý trong tác phẩm của Camus, tác giả khẳng định, sự phi lý là vực thẳm không vượt qua được tồn tại giữa con người

và thế giới, giữa các khát vọng của tinh thần con người và sự bất lực của thế giới trong việc thỏa mãn chúng

Jean Paul Sartre - nhà triết học hiện sinh Pháp nổi tiếng cùng thời với A

Camus đã viết Cắt nghĩa “Kẻ xa lạ” đăng trên tạp chí Cahier du Sud tháng 3

- 1943 Bài viết có những nhận xét tinh tế, sâu sắc, ông cho rằng những tác phẩm của Camus đặt chúng ta trong trạng thái bất an trước sự phi nhân tính của con người, viết cho sự phi lý và chống lại sự phi lý

Còn ở Việt Nam, xuất phát từ góc độ triết học, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy những tư tưởng hiện sinh về con người biểu hiện sâu sắc trong các sáng tác của Camus đã thông qua các phạm trù như: cô đơn, phi lý, nổi loạn…

Vì thế, như một lẽ tự nhiên, tác phẩm của Camus được xếp vào văn chương triết học

Tác giả Bùi Ngọc Dung trong bài viết Albert Camus với nền văn

chương triết học (1963) cho rằng, Camus không thuộc một trường phái hay

một chủ nghĩa nào, nhưng ông đề cập đến mọi khía cạnh của mọi vấn đề trong tiểu thuyết và văn chương Camus đặt vào các nhân vật của ông một sứ mạng

để phổ biến triết học Thân phận con người được ông đào sâu tỉ mỉ hơn lúc nào hết, ông dùng triết học để giải đáp tâm hồn con người thời hậu chiến vì họ chưa ra khỏi cơn thảm họa của chiến tranh Như vậy, Camus đã dùng văn chương để chở những triết thuyết: thân phận con người trước vấn đề phi lý, cô đơn, nổi loạn

Trang 11

Trong chuyên luận nghiên cứu Về tư tưởng văn học phương Tây hiện

đại (1986), quan điểm của Phạm Văn Sĩvề chủ nghĩa hiện sinh đã hướng đến

việc nhấn mạnh một số khái niệm đặc thù của chủ nghĩa hiện sinh: cái phi lý, cái tự do, dấn thân

Tác giả Bùi Giáng được xem là người đặc biệt quan tâm đến những tác phẩm của Camus Ông cho rằng, không một trang văn nào của Camus không mang nặng những ưu tư xao xuyến của một đời người và những trải nghiệm sâu sắc Điều này thể hiện giá trị thực sự của chủ nghĩa hiện sinh là chiến đấu cho địa vị con người trong thế giới, con người với những tâm tình, ưu tư chính là cứu cánh của mọi triết lý

Bên cạnh những chuyên luận nghiên cứu chuyên sâu về chủ nghĩa hiện sinh và Albert Camus còn có một số bài viết về Camus trên sách báo như:

Văn chương và siêu hình học của Nguyễn Văn Trung đăng trên tạp chí Sáng

Tạo, số 10, tháng 7 năm 1957; Trình bày và phê bình hai quan điểm nổi loạn

của Camus của Thạch Chương đăng trên tạp chí Sáng Tạo số 48 tháng 9 năm

1960; Albert Camus và triết lý chống đối của Cô Liêu đăng trên tạp chí Bách Khoa số 76 năm 1960 và Lập trường văn nghệ của Albert Camus của Cô Liêu

đăng trên tạp chí Bách Khoa số 77 năm 1960…

Như vậy, từ tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, hướng nghiên cứu của đề tài đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, các công trình đi trước đã để lại những kết quả có giá trị nhất định Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu tư tưởng triết học hiện sinh về con người của Albert Camus vẫn chưa thực sự thấu đáo Do đó cần tiếp tục nghiên cứu khám phá tư tưởng hiện sinh về con người của Albert Camus để thấy được ý nghĩa tư tưởng lớn lao mà tác giả muốn gửi gắm Đồng thời đánh giá lại những giá trị

và hạn chế của nó trong điều kiện lịch sử mới

Trang 12

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tư tưởng triết học hiện sinh về con người của Albert Camus

để đánh giá những giá trị, hạn chế của những tư tưởng đó

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu của đề tài là những tư tưởng triết học về con người

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tư tưởng triết học hiện sinh về con người của Albert Camus

5 Giả thuyết khoa học

Triết học hiện sinh là học thuyết gây khá nhiều tranh cãi, phần lớn chỉ được biết đến thông qua “phong trào hiện sinh”, tức là văn chương hiện sinh

và lối sống hiện sinh Chính vì vậy, học thuyết này đã từng được nhìn nhận chưa thực sự đúng đắn, thậm chí bị chỉ trích, phê phán Việc nghiên cứu tư tưởng triết học hiện sinh của Albert Camus là rất cần thiết để có thể đưa ra những đánh giá xác đáng hơn, để tinh thần và giá trị của thuyết hiện sinh nói chung, tư tưởng triết học của Camus nói riêng đến với độc giả một cách trọn vẹn hơn, mang góc nhìn thấu đáo và sâu sắc hơn

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát những nội dung chính của triết học hiện sinh về con người

và về tác giả Albert Camus

- Chỉ ra những nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học hiện sinh về con người của Albert Camus cùng những giá trị, hạn chế của nó

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Tư tưởng triết học hiện sinh của Albert Camus được thể hiện thông qua rất nhiều tác phẩm, song trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, đề tài tập

trung làm rõ tư tưởng của ông qua một số tác phẩm tiêu biểu là: Kẻ xa lạ do

Trang 13

Dương Kiền và Bùi Ngọc Dung dịch, Nxb Ngày Nay, năm 1965; Dịch hạch

do Nguyễn Trọng Định dịch, Nxb Văn học, năm 2002; Ngộ nhận (kịch) do Bùi Giáng dịch, Nxb Văn Nghệ, năm 2006; và Thần thoại Sysyphus do

Trương Thị Hoàng Yến và Phong Sa dịch, Nxb Trẻ, năm 2014

8 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, bên cạnh đó là những phương pháp cụ thể sau:

- Phương pháp lịch sử và logic

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp tham vấn chuyên gia…

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả

10.1 Những luận điểm cơ bản của luận văn

- Khái quát điều kiện, tiền đề hình thành, đối tượng, phương pháp và những chủ đề chính của triết học hiện sinh

- Vị trí, tầm vóc của Albert Camus trong trào lưu hiện sinh

- Sự cô đơn và phi lý của tồn tại người trong các tác phẩm tiêu biểu

của A.Camus

- Sự nổi loạn của con người qua góc nhìn của A.Camus

- Đánh giá giá trị và hạn chế của tư tưởng hiện sinh về con người của A.Camus

10.2 Những đóng góp mới của tác giả

Về mặt lý luận:

- Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về triết học hiện sinh và đưa ra những đánh giá xác đáng về trào lưu triết học còn gây nhiều tranh cãi này

Trang 14

- Phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học hiện sinh về con người của Albert Camus và chỉ ra những giá trị, hạn chế của triết học hiện sinh Camus

Về mặt thực tiễn:

- Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, việc nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá, lựa chọn, tiếp thu những giá trị văn hóa, triết học của các dân tộc, khu vực trên thế giới là việc làm cần thiết.Với việc nghiên cứu tư tưởng triết học hiện sinh về con người của A Camus, luận văn góp phần đưa tác giả đến gần hơn với độc giả Việt Nam

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn lịch sử triết học phương Tây hiện đại và các chuyên đề về văn hóa học, văn học và mỹ học phương Tây

Trang 15

Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH

VÀ TÁC GIẢ ALBERT CAMUS

1.1 Khái luận về triết học hiện sinh

1.1.1 Điều kiện, tiền đề ra đời và phát triển của triết học hiện sinh

1.1.1.1 Điều kiện và tiền đề ra đời của triết học hiện sinh

❖ Điều kiện kinh tế - xã hội

Ra đời ở nước Đức trong chiến tranh Thế giới thứ I và nở rộ sau chiến tranh Thế giới thứ II ở Pháp, triết học hiện sinh đã phản ánh hiện thực xã hội Châu Âu thời kỳ đó Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc để lại những hậu quả hết sức nặng nề, ngay cả các nước của phe thắng cuộc cũng phải chịu rất nhiều thiệt hại Xã hội trở nên tiêu điều, đổ nát, con người rơi vào tình trạng chán nản, mất niềm tin vào cuộc sống Đặc biệt là tầng lớp thanh niên, cảm thấy hoài nghi tất thảy, họ thấy chỉ còn có bản thân, một cá nhân cô độc, xa lạ với mọi thứ, không có gì đảm bảo cho cuộc sống Trong bối cảnh đó, họ tìm đến với triết học hiện sinh như tìm đến với một chỗ dựa tinh thần Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất cho rằng, chiến tranh, đặc biệt là hai cuộc đại chiến Thế giới khốc liệt là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự ra đời và phát

triển mạnh mẽ của triết học hiện sinh

Một nguyên nhân nữa phải kể tới đó chính là sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa duy lý đã gây ra không ít sự khủng hoảng trong đời sống tinh thần của xã hội phương Tây Chủ nghĩa duy lý ở phương Tây xuất hiện khi chủ nghĩa công nghiệp ra đời ở thế kỷ XVII Cuộc cách mạng công nghiệp và sau

đó là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm thay đổi căn bản nền sản xuất của xã hội Công nghiệp cơ khí phát triển giúp cho quy mô sản xuất mở rộng và tạo ra số lượng lớn sản phẩm cho xã hội Con người không khỏi

Trang 16

choáng váng trước những thành tựu của chủ nghĩa duy lý và họ cho rằng nhận thức duy lý là nhận thức duy nhất Nhờ có nhận thức lý tính mà con người đã khái quát nên hệ thống tri thức khoa học có giá trị tích cực trong việc khám phá và cải tạo thế giới, nhờ đó đưa xã hội đến sự tiến bộ, văn minh

Với chủ nghĩa duy lý, xã hội phương Tây có thể nói đã đạt tới giai đoạn tột cùng trong sự phát triển của nó, nhưng ở chính đỉnh điểm của sự phồn vinh đó, nó đã sa vào khủng hoảng Xã hội châu Âu ngày càng trở nên sùng bái kỹ thuật, máy móc hóa, rô bốt hóa… xuất hiện những xu hướng duy lý khác nhau trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị… trong đó đáng kể nhất là chủ nghĩa “kỹ trị” Đặc trưng cơ bản của kỹ trị là trọng kỹ thuật mà hạ thấp đi vai trò con người, khóa chặt con người vào xã hội không còn lối thoát

Nói về hậu quả mà xã hội kỹ trị để lại, Các Mác cũng đã viết: “Trong thời đại chúng ta, mọi sự vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của nó Chúng ta thấy rằng, máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt sức lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì đem lại nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người Những nguồn của cải mới từ xưa đến nay chưa ai biết, dường như có một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần” [40, tr.10] Rằng “Tất cả những phát minh của chúng ta và tất cả sự tiến

bộ của chúng ta tựa hồ như đang dẫn tới chỗ là những lực lượng vật chất thì được ban cho một đời sống tinh thần, còn đời sống của con người vốn đã bị tước mất các mặt tinh thần rồi thì nay lại bị hạ thấp xuống trình độ những lực

lượng vật chất đơn thuần” [39, tr.10]

Như vậy, xã hội đã bị duy lý hóa cao độ và phát triển theo nguyên tắc coi trọng đồng tiền, tham lam, thương mại hóa và vụ lợi Mối quan hệ giữa người và người chỉ là sự lợi dụng không cần tình nghĩa Sự bành trướng của

Trang 17

kỹ thuật không làm thỏa mãn những phúc lợi của con người mà ngược lại làm phi nhân cách, tha hóa con người Xã hội tư bản hiện đại bộc lộ rõ bản chất là một xã hội bóc lột và bất công Giai cấp tư sản đã “tước hết vòng hào quang thần thánh của những gì xưa nay được coi là thiêng liêng, được trọng vọng, tôn sùng, nó dìm tất cả tình cảm của con người xuống dòng nước lạnh giá của

sự tính toán ích kỷ, nó biến phẩm giá con người thành một giá trị trao đổi đơn

thuần” [40, tr.154]

Trong sự khủng hoảng của chủ nghĩa duy lý, con người đã bị “phi nhân vị”, chỉ còn là một “lực lượng vật chất đơn thuần” Một khi con người trở thành bần cùng và kiệt quệ trong bộ máy kỹ thuật khổng lồ của xã hội hiện đại thì sự suy sụp cá nhân là một điều hiển nhiên Điều này khiến nhà triết học E.Fromn nhận định rằng nếu Nietzche tuyên bố vấn đề của thế kỷ XIX là

“Chúa đã chết” thì vấn đề của thế kỷ XX là con người đã chết Họ mơ hồ thấy mình vô danh, rẻ mạt trong xã hội đầy bất công và phi nhân bản Cái còn lại duy nhất là cái tôi ích kỷ của mỗi người, là sự sở hữu, khát vọng riêng lẻ,

không có gì vượt khỏi cá nhân

Trong hoàn cảnh đó, sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít lại càng đẩy con người đến bờ tuyệt vọng, không thể thu phục lòng người Chính trị, pháp luật, lý luận tôn giáo đều trở thành công cụ để lừa dối, tiếp tay cho tội ác Con người mất niềm tin và nghi ngờ những giá trị, từ đó rơi vào bi quan, thất vọng

Họ luôn sống trong lo âu, chán chường, thấy cuộc đời vô nghĩa, phi lý Sâu xa hơn đó chính là mâu thuẫn gay gắt giữa tầng lớp thống trị và bị trị ngày càng

tăng trong xã hội tư bản, con người trở thành nô lệ của khoa học kỹ thuật

Triết học hiện sinh là một sự phản ứng, đối lập chủ nghĩa duy lý đang thống trị trong xã hội phương Tây hiện đại Vấn đề cơ bản mà nó đặt ra là lấy lại nhân vị của con người Chủ nghĩa hiện sinh không chỉ hiện diện trên phương diện lý thuyết mà còn trở thành một phong cách, một lối sống Người

Trang 18

ta mô tả sự hiện diện của triết học hiện sinh ở Pháp như sau: “Ấy là một buổi sáng mùa đông (1946) vừa thức dậy cả thành phố Pari thấy mình “hiện sinh”, sách báo đầy hiện sinh quyến rũ tràn khắp phố phường, những “đám thanh niên nam nữ vui vẻ” kéo đến những căn hầm ở Saint - Germain, ầm vang điệu nhạc Jazz trong những trang phục mới lạ với đầu tóc xõa, quần túm ống và ăn nói mời chào phóng túng” [17, tr.10-11]

Triết học hiện sinh đặt ra yêu cầu miêu tả và vạch rõ nguyên nhân cũng như chứng minh việc cá tính con người bị mất đi, tự do con người bị tước đoạt và phải làm thế nào để con người được tự do thực sự, thoát khỏi trạng thái tha hóa

❖ Tiền đề tư tưởng

Không chỉ dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội đó, triết học hiện sinh ra đời còn có tiền đề về tư tưởng, lý luận rất sâu sắc Triết học hiện sinh

là một phong trào triết học nở rộ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai Trào lưu triết học này đã ảnh hưởng to lớn đến nhiều khuynh hướng triết học cũng như văn học nghệ thuật hiện đại của các nước phương Tây Không những thế, triết học hiện sinh còn thâm nhập vào đời sống tạo nên một lối sống mang tên trào lưu này rất được ưa chuộng ở nhiều nước phương Tây

Có thể đánh giá những năm 50 và những năm 60 của thế kỷ XX là giai đoạn thịnh vượng của triết học hiện sinh Tuy nhiên, nói về nguồn gốc lý luận của triết học hiện sinh cần phải ngược về thời kỳ Hy Lạp cổ đại với những mảnh tư tưởng hiện sinh còn đọng lại trong văn hóa Hy Lạp, đặc biệt ở Socrates (470 - 399 TCN) và Auguistin (354 - 430 SCN)

Nếu như đa phần các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là các nhà khoa học tự nhiên và hướng sự nghiên cứu vào việc đi sâu tìm tòi yếu tố bản nguyên đầu tiên của thế giới là gì thì Socrates đã sớm nhận ra sự không toàn diện của triết học thời kỳ đó Ông đã đưa ra lời kêu gọi: Triết học phải quay

Trang 19

về tìm hiểu con người, đó là nhiệm vụ trước tiên Khẩu hiệu mà Socrates đưa

ra đã được khắc trên cửa đền Delphi, đó là: “Connais - toi, toi - même” (Hãy

tự biết chính mình) Như vậy, với khẩu hiệu đó, ông đã xác định đối tượng nghiên cứu của triết học phải là bản thân con người, mọi ứng xử của con người, mọi qui tắc đạo đức đều phải xuất phát từ đó Tư tưởng đó của Socrates đã mở ra một bước ngoặt cho triết học phương Tây và đặt nền móng cho sự hình thành triết học hiện sinh Cuộc đời và cái chết của Socrates cũng

là một sự hiện sinh Kierkegaar đã viết như sau: “Cái làm cho Socrates trở nên cao cả không phải do ông đưa chứng cứ về sự bất tử, mà vì ông đã thách thức

nó và dám đảm nhận nguy hiểm đó” [19, tr.21-22]

Auguistin là triết gia và nhà thần học Kitô giáo, người Bắc Phi Ông hay viết về cuộc sống con người với những vấn đề như ý nghĩa của đời sống con người, cuộc sống tạm bợ của con người trên trần thế, đời sống tâm linh của con người… Tri thức luận của Auguistin chủ yếu dựa vào bản tính con người Ngài cho rằng con người là một tạo vật từ Thiên Chúa, được tạo ra với mục đích là trở về với Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc và chân lý vĩnh cửu Trong con người phần nào đó đã có Thiên Chúa, nên con người có khả năng

nhận thức được chân lý tuyệt đối Đó là Thiên Chúa

Ông cho rằng, giá trị của con người không tùy thuộc và thời gian sống rong ruổi, trôi nổi, mà phụ thuộc vào những giây phút hiện tại hoàn hảo mà con người được sống qua, là giây phút con người làm điều thiện, hay con người gặp được Chúa… Augustin chính là một trong những người đầu tiên đề cập đến con người cá nhân Ông cũng là một trong những người đầu tiên thăm

dò cái tôi bí ẩn của con người, coi đó là cách tìm kiếm chính mình Tư tưởng sâu sắc ấy của Augustin có sức sống kỳ lạ dù đã trải qua hàng nghìn năm với

những thăng trầm của lịch sử

Như vậy, các nhà triết học trong quá khứ đã không hề quên đi việc tìm hiểu, nghiên cứu về con người Các học thuyết triết học ít nhiều cũng đều nói

Trang 20

về sự tồn tại của con người, suy tư về đời sống con người, số phận con người, đặc biệt thường thấy trong các học thuyết tôn giáo… Triết học hiện sinh chỉ là

sự tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu con người nhưng theo một hướng khác, mang

một tinh thần khác

Song song với việc tìm hiểu cái gì tạo nên thế giới, các nhà triết học cũng luôn trăn trở về khả năng nhận thức của con người Chính vì vậy, quá trình phát triển các lý thuyết về nhận thức luận của triết học với khuynh hướng phi duy lý là một nguồn gốc cơ sở khác đã gợi mở, thúc đẩy sự ra đời

và phát triển của triết học hiện sinh

Khuynh hướng triết học phi duy lý là khuynh hướng có thái độ hoài nghi vào khả năng của khoa học, kỹ thuật trong việc giải quyết những vấn đề

do con người đặt ra Khuynh hướng triết học này chống lại hoặc hạ thấp tư duy duy lý, trái với quan điểm của những nhà triết học duy lý thuần túy như Hegel, với câu nói: Cái gì tồn tại thì hợp lý và cái gì hợp lý thì tồn tại Các nhà triết học theo khuynh hướng phi duy lý đã đi sâu tìm hiểu khả năng nhận thức rất đặc biệt và độc đáo của những tư duy phản duy lý: Tư duy cảm tính, tư duy duy cảm, tư duy kinh nghiệm… Chân lý mà nhà triết học Pháp Pascal đã nói ở thế kỷ XVII là một minh chứng: “Con tim có những lý lẽ mà lý trí không thể hiểu được”(“Le coeur a sa raison que la raison ne conait pas”) Pascal tư duy về con người trong tình trạng bất an với tư cách một cá nhân cụ thể và một toàn thể khi con người ý thức về sự liên quan của nó trong những cực đoan đối

Trang 21

triết học cùng thời như Locke, Hobbes, Berkeley và Hume cũng đã nêu ra

sự hạn chế của lý trí đồng thời ghi nhận những giá trị chân lý chủ quan

Ở thế kỷ thứ XVIII, việc đề cao tính nhân bản trong triết học đã được Kant xây dựng một cách hoàn hảo và hết sức sâu sắc, phong phú Bằng những

lý thuyết của mình, Kant đã thể hiện quan điểm đề cao tri thức khoa học được xây dựng từ những phán đoán duy lý Phương pháp của khoa học thực nghiệm

là rất hiệu nghiệm, tuyệt vời nhưng nó chỉ hiệu nghiệm, tuyệt vời khi dùng đúng chỗ, bởi vì tư duy duy lý không phải là tất cả mà nó cũng có những hạn

chế Ông đã nói: Lý trí ta cũng hạn hẹp, biết sao hết mọi nguyên lý của vũ trụ

Ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đã xuất hiện một học thuyết mới có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khuynh hướng chống chủ nghĩa duy lý trong triết học và bổ sung cơ sở cho sự hình thành triết học hiện sinh, đó là thuyết trực giác của Henri Bergson (1859 - 1941) Triết gia người Pháp này cho rằng, mọi vật đều không ngừng biến dịch, vì vậy dòng chảy thời gian là bản chất của mọi thực tại Chúng ta nhận thức về dòng chảy đó trực tiếp và ngay tức khắc, không qua ý niệm và không qua các giác quan của chúng ta Ông gọi thứ tri thức trực tiếp đó là “trực giác” Ông tin rằng chúng ta cũng có

tri thức trực giác đó trong những quyết định hành động của chúng ta

Trong học thuyết của mình, Bergson không hạ thấp vai trò của trí tuệ, nhưng lại vạch ra những hạn chế của phương pháp nhận thức chỉ dựa vào duy

lý Theo ông, nhận thức bằng trực giác là hoạt động nhận thức trên cơ sở trở

về với những kinh nghiệm trực tiếp, chú ý nhằm vào đối tượng để nắm bắt, phát hiện những điều sâu kín của chúng Do vậy, nhận thức bằng trực giác đem lại sự chính xác, phong phú, sắc sảo, độc đáo mà nhiều lúc trí tuệ không đạt tới được Cách nhận thức bằng trực giác có thể đi sâu vào bên trong, tìm hiểu được những gì là duy nhất, bản chất nhất, nhận thức được cái phong phú, sinh động sự tồn tại của sự vật, đối tượng Ông gọi tư duy duy lý là “chủ

Trang 22

nghĩa giáo điều khoa học”, làm cho những nhà duy vật và các quan điểm của

họ cứng nhắc hơn Ông cũng phê phán những tham vọng, ảo tưởng về sự tinh

thông vạn năng của trí tuệ con người

Thuyết trực giác của Bergson đã ảnh hưởng trực tiếp tới triết học hiện sinh Các nhà triết học hiện sinh coi thuyết trực giác của ông như một sự minh

chứng cho con đường triết học mà họ đang đi theo

Hiện tượng học của Husserl (1859 - 1938)cũng có vai trò hết sức quan trọng với sự hình thành và phát triển của triết học hiện sinh Hiện tượng học là một học thuyết có tham vọng điều hòa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong lĩnh vực nhận thức luận Đây là một trào lưu triết học thuộc khuynh hướng triết học phi duy lý Ra đời ở nước Đức nhưng không lâu sau, hiện tượng học đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới và ảnh hưởng đến nhiều trào lưu triết học khác từ cuối thế kỷ XIX cho đến tận ngày nay Được coi là một trào lưu triết học độc đáo khi khám phá ra phương pháp luận mới, hiện tượng

học là cơ sở lý luận cơ bản để hình thành triết học hiện sinh

Người khai sinh ra hiện tượng học là Franz Brentano (1838 - 1917) nhưng Husserl mới thực sự làm cho hiện tượng học trở thành một trào lưu triết học Ông là người đề xướng “phương pháp hiện tượng học” hay “giản lược hiện tượng học” Đây là phương pháp mà nhiều nhà triết học đã dùng để chỉ đạo cho việc trình bày các triết thuyết của mình Từ việc nghiên cứu có phê phán triết học truyền thống, Husserl cho rằng cần phải giải phóng nhận thức chúng ta ra khỏi những “hệ tư tưởng” đã được làm sẵn và “đặt vào trong ngoặc” những triết học trước đó Xác định mục đích của nhận thức là “trở về với chính những sự vật”, ông đã đưa ra hai thủ tục (procédure) quan trọng, đó

là quy giản bản chất và quy giản hiện tượng học Husserl cho rằng trước khi ý thức con người xuất hiện, thế giới chỉ là tiền thế giới, chưa có bản chất nào, nhưng khi ý thức nhận thức thì nó trở thành thế giới mà ý thức đón nhận như

Trang 23

hiện tượng, tức là nó tự lộ ra Nói một cách ngắn gọn, phương pháp quy giản của Husserl được hiểu là: “Tôi tư duy những cái mà tôi tư duy như những cái

mà tôi đã tư duy như thế” [53, tr.166]

Ý thức con người luôn mang một đặc tính, đó là tính ý hướng Ý thức

có tính ý hướng bởi nó biến đổi tất cả những gì nó gặp thành những bản thể

với tư cách là hiện tượng đối với ý thức ý hướng Do đó, thế giới ngoại tại như được bao hàm, được ẩn chứa trong ý thức Những sự vật trong thế giới trong quan hệ với chủ thể không phải tự hiện hữu nữa, mà chúng được cấu thành ý thức đối với ý thức ý hướng Bởi vậy, ý nghĩa của thế giới được hiểu như là những gì mà tôi đưa lại cho thế giới, những thứ đã nghiệm sinh như

một mục tiêu mà tôi khám phá ra

Bằng phương cách “quy giản bản chất”, Husserl đã bỏ qua sự hiện hữu của sự vật trong tự nhiên và chỉ nhận thức cái bản chất mà con người đã ý thức về nó Theo ông, cái gì xuất hiện ra với ý thức đều với tư cách một tổng thể, do vậy không qui giảm thành những nhân tố được mà chỉ có thể miêu tả, chứ không thể phân tích

Chính vì vậy phương pháp hiện tượng học là nhằm vào mô tả.Các nhà triết học hiện sinh đã cho nó là phương pháp duy nhất, đúng đắn, hợp lý để tìm hiểu đối tượng và đặc biệt là đối tượng hiện sinh Hiện sinh theo quan niệm của các nhà triết học trường phái này chính là kinh nghiệm sống cụ thể của con người do chính con người tạo ra trong thời gian cũng như trong không gian Hiện sinh là một kiếp sống của một người có ý thức về nền tảng và

ý nghĩa của kiếp sống đó, và tự động thể hiện kiếp sống ấy theo ý mình - tức là một động tác tự khẳng định về sự tồn tại cũng như bản ngã của mình Và theo các nhà triết hoc hiện sinh, để có thể lột trần được hiện sinh, chúng ta cần phương pháp mô tả của hiện tượng học Husserl Phương pháp ấy đóng vai trò hàng đầu cho những nhận thức thế giới và đặc biệt nhận thức con người của

Trang 24

những nhà triết học hiện sinh, là điểm tựa cho triết học hiện sinh khi miêu tả tính chủ quan của con người Vì vậy có thể nói không có hiện tượng học thì

không có triết học hiện sinh

Như vậy, có thể thấy triết học hiện sinh ra đời dựa trên cơ sở kế thừa tư tưởng của các thế hệ đi trước Triết học hiện sinh đã tìm thấy mình trong triết học Hi Lạp cổ đại, tiếp thu qua triết học tôn giáo của Augustin, nảy sinh trong việc chống chủ nghĩa duy lý của Kierkegaard và khai thác phương pháp hiện tượng học của Husserl

Đồng thời, triết học hiện sinh ra đời còn là sự phản ánh hiện thực xã hội Châu Âu những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Lúc bấy giờ, chủ nghĩa

tư bản đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, ra sức bành trướng, xâm lược các nước khác Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa duy lý và sự khủng hoảng của xã hội coi trọng kỹ thuật, triết học hiện sinh ra đời đã phản ánh đúng tâm trạng của con người Các nhà hiện sinh đều tập trung bàn về những vấn đề liên quan đến con người, nhằm cứu vớt con người

1.1.1.2 Quá trình hình thành, phát triển của triết học hiện sinh

Là một trường phái triết học có ảnh hưởng tương đối lớn, triết học hiện sinh được hình thành chính thức ở Đức sau đại chiến thế giới thứ nhất Nhưng

S Kierkegaard (1813 - 1855), người Đan mạch, lại được coi là ông tổ sáng lập ra chủ nghĩa hiện sinh Có quan điểm cho rằng: “hiện tượng học Đức + Kierkegaad = chủ nghĩa hiện sinh” [19, tr.130] Ông tiến hành phê phán chủ nghĩa duy lý của A Comte, đặc biệt của Hegel Các tác phẩm chủ yếu của

ông đó là: Không thế này thì thế kia (1843), Sợ hãi và run rẩy (1843), Khái

niệm về hoảng sợ (1844), Các giai đoạn trên con đường nhân sinh (1845)…

Mỗi tác phẩm của Kierkegaard đều in rõ những đặc điểm của cuộc đời ông, những nghịch lý ông gặp phải đều hằn sâu ở đó Ý thức cá nhân để lại dấu ấn trong những diễn tiến lịch sử, trong những sáng tác văn hóa nhưng nó không

Trang 25

thể xuất hiện ngoài ý thức xã hội mà tồn tại thống nhất trong sự biện chứng, chịu sự qui định của tồn tại xã hội Triết học của Kierkegaard là sự phản ứng của con người trước sự bành trướng của chủ nghĩa duy lý đã và đang đưa chủ

nghĩa tư bản vào cuộc khủng hoảng làm tha hóa và phi nhân vị con người

Ở Đức, Nietzsche, Heidegeer, Jaspers là những nhà triết học hiện sinh tiêu biểu Trong đó F Nietzsche (1844 - 1900) được coi là người thứ hai sáng lập ra chủ nghĩa hiện sinh Ông là một nhà hiện sinh vô thần, nhà đạo đức học nhiệt liệt bác bỏ nền văn minh trưởng giả Tây phương Câu nói nổi tiếng của ông là “Thượng đế đã chết” Tư tưởng của Nietzsche về con người siêu nhân

đã đem lại những nhận định hoàn toàn mới về thiện, ác, đặt lại bảng giá trị luân lý và xã hội Ông muốn kiến tạo một lớp người tự do, biết tự chủ và tự mình đặt lấy những giá trị cho mình, ông nêu cao tôn chỉ: “Hãy luôn luôn trở nên chính mình anh, hãy là chủ ông và là nhà điêu khắc để tạc nên chính mình anh” [23, tr.136]

Heidegger (1889 - 1976), tên đầy đủ là Martin Heidegger Dù được đánh giá rộng rãi là người hiện sinh chủ nghĩa, Heidegger quyết liệt bác bỏ danh vị

đó, cũng như ông bác bỏ hiện tượng học của Husserl Quan tâm căn bản của

Heidegger, như đã được công bố trong cuốn Hữu thể và thời gian, và được triển khai trong các tác phẩm sau đó là vấn đề hữu thể Trong Hữu thể và thời

gian, hữu thể được chứng minh là nối kết mật thiết với sự tạm thời; mối quan

hệ này được thẩm tra bằng cách phân tích sự hiện hữu của con người

Triết học hiện sinh của K Jaspers (1883 - 1969) là hiện sinh công giáo hướng đến “siêu việt” Theo ông, một hiện sinh không vươn tới siêu việt là một hiện sinh không trung thực Khi vươn tới mức hiện sinh, bỏ cách sống tầm thường của một người chỉ sống để mà sống như cầm thú, để từ nay sống như một nhân vị tự ý thức và tự trách nhiệm về mình: Jaspers gọi đó là một siêu việt, vì con người hiện sinh đã vươn lên trên con người sinh tồn Chữ

Trang 26

siêu việt của Jaspers có thể hiểu là “vươn lên”, hướng tới cái hiện sinh, nhưng cũng có thể hiểu đó là từ dùng để thay thế Thượng Đế

Sau Đại chiến thế giới thứ hai, trung tâm của triết học hiện sinh chuyển

từ Đức sang Pháp Các nhà hiện sinh tiêu biểu đó là J Sartre, A Camus, G Marcel, Merleau Ponty, Simone de Beauvoir… Phần lớn họ là các nhà triết học kiêm nhà văn, nhà viết kịch hoặc nhà chính trị… Họ thường sử dụng những hình thức sinh động và dễ hiểu như văn nghệ để trình bày quan điểm triết học, nên triết học hiện sinh được truyền bá rộng rãi

G.Marcel (1889 - 1978) là nhà hiện sinh hữu thần người Pháp Hệ thống triết học của ông gắn liền với huyền nhiệm Nói một cách tổng quát, tất

cả những gì không thể xác định và không thể khách thể hóa đều là những

“Huyền nhiệm” “Huyền nhiệm” không phải là đối tượng của tri thức hay một suy tưởng, “Huyền nhiệm” là đối tượng của tin tưởng.Huyền nhiệm về tôi, về anh, huyền nhiệm của vũ trụ, của Thượng Đế Theo Marcel, hiện sinh là một huyền nhiệm, vũ trụ hay Thiên Chúa cũng là một huyền nhiệm Con người không thể sống theo thuyết duy tâm vì chúng ta không có quyền gói ghém hiện sinh của con người vào trong những quan niệm đơn giản Cái ta quan niệm được bao giờ cũng minh bạch và khúc chiết; nhưng không nên sa vào cám dỗ của duy tâm; cần phải ý thức rằng những quan niệm khô khan kia đã giết chết hiện sinh và làm mất hết giá trị sống của con người

Đến Sartre (1905 - 1980), ông là triết gia hiện sinh vô thần nổi tiếng, nhà văn và nhà viết kịch người Pháp, tên đầy đủ là Jean Paul Sartre Trong khi Heidegger bác bỏ nhãn hiệu “người hiện sinh chủ nghĩa” của mình, thì trong số các nhà tư tưởng có liên quan tới phong trào ấy, chỉ có Sartre đích thân tuyên

bố mình là “người hiện sinh chủ nghĩa”

Ðối với Sartre, không có Thượng đế và do đó không có bản tính cố định của con người, quyết định cái ta phải hành động Trong tình thế bị can dự và

Trang 27

phải nhập cuộc vào thế giới, con người sống thể hiện mình một cách đích thực Con người hoàn toàn tự do và hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mình đã làm cho mình, nghĩa là đã làm thành mình Nhưng cũng như quan điểm của Kierkegaard, chính sự tự do và trách nhiệm ấy là nguồn suối âu lo sợ hãi của con người

Chủ nghĩa hiện sinh còn xuất hiện ở nhiều nước khác như Tây Ban Nha, Nga, Nhật Bản… Nhưng đặc biệt, từ những năm 50 của thế kỷ XX, triết học hiện sinh cũng đã có sự phát triển mạnh ở Mỹ, trở thành một bộ phận quan trọng của ý thức hệ, nền văn hóa Mỹ Đại biểu chủ yếu là Paul Johanne Tillich (1886 - 1965), John Dainel Wild (1902 - 1972), William Barrett (1913

- 1992)… Cũng giống như ở Châu Âu, triết học hiện sinh Mỹ không những không bị bó hẹp trong lĩnh vực triết học chuyên nghiệp mà còn mở rộng đến các phương diện khác của hình thái ý thức và đời sống xã hội như văn học, nghệ thuật, xã hội học, đạo đức, giáo dục, tôn giáo… Nhưng triết học hiện sinh chưa bao giờ có được vị trí chủ đạo ở Mỹ Sau những năm 70 thì nó bắt đầu đi xuống

Trong quá trình phát triển của triết học hiện sinh, do cách giải quyết khác nhau của các nhà triết học hiện sinh về sự tồn tại của Thượng đế nên triết học hiện sinh đã chia thành hai phái: Triết học hiện sinh vô thần (branche atheiste) và triết học hiện sinh hữu thần (branche theiste) Trong đó, các đại biểu tiêu biểu của triết học hiện sinh vô thần như F.Nietzsche, Heidegeer, Sartre… đều có chung quan điểm rằng đời là phi lý, buồn nôn, vô nghĩa, không có một thế lực bên ngoài nào có thể giải thoát được tình trạng đó của con người Còn triết học hiện sinh hữu thần với những đại biểu tiêu biểu như: K.Jaspers, G.Marcel… cũng quan niệm đời sống là vô nghĩa, phi lý, nhưng lại tin rằng chỉ những giá trị siêu việt (tức Thượng Đế) và vươn lên một cuộc sống siêu nghiệm, ưu việt mới là đáng sống

Trang 28

Có thể thấy, trào lưu triết học này không phải một trào lưu triết học thuần nhất mà là học thuyết khá phức tạp ở nội dung lý thuyết cũng như những biến thể của nó Vì vậy, có nhà nghiên cứu đã cho rằng, có bao nhiêu nhà triết học hiện sinh thì có bấy nhiêu chủ nghĩa hiện sinh Chủ nghĩa hiện sinh không chỉ được bàn luận sôi nổi trong những lý thuyết triết học, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, mà còn thâm nhập vào đời sống, tạo nên một lối sống được ưa chuộng ở nhiều nước phương Tây sau đại chiến thế giới thứ II

1.1.2 Đối tượng, phương pháp và những chủ đề chính của triết hiện sinh

1.1.2.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của triết học hiện sinh

❖ Đối tượng của triết học hiện sinh

Đối tượng của chủ nghĩa hiện sinh là con người với hai mặt là hữu thể

và hiện sinh (bản chất và tồn tại) Trong đó hữu thể (bản chất) là những sự vật tồn tại cảm tính, tồn tại hiện thực nhưng chưa có diện mạo, chưa là một cái gì

đó cụ thể Đó chỉ là một tồn tại vô hồn, chưa hiện hữu, chưa phân biệt được với các sự vật khác Còn hiện sinh (tồn tại) thì chỉ có ở con người, bản chất đích thực bên trong của nó là cái tinh thần, cái phi lý tính, phi duy lý thuộc nhân tố bên trong con người

Bản thể luận của triết học hiện sinh cho rằng ở con người tồn tại có trước bản chất Cái hữu thể chỉ là vỏ bề ngoài, là vô nghĩa với tồn tại người Bản chất đích thực của con người là tinh thần thế giới bên trong Như J.P.Sartre đã đưa ra quan điểm: “Ngay từ lúc ban đầu, con người không là gì

cả Sau đó rồi mới trở thành là thế này , hay thế kia… Tức là sẽ là cái mình tạo nên Như vậy không thể có một bản tính nhân loại, vì rằng không có một Thượng Đế nào cả để quan niệm bản tính đó” [24, tr.141] Sau này ông vẫn nhấn mạnh quan điểm đó: “Ở con người, và chỉ ở con người mà thôi, tồn tại

có trước bản chất Điều đó có nghĩa rằng: con người có trước đã, sau này mới thành thế này hay thế khác - tức bản chất” [24, tr.141]

Trang 29

Con người lấy hiện sinh, mặt cơ bản của hiện hữu để làm nhân vị của mình Bản tính con người không có sẵn mà luôn được tạo ra Con người tự nhận thức về mình, tự tạo nên mình, làm cho mình trở thành mình Đó là nhân

vị, là tính chủ thể của con người Tính chủ thể biểu hiện tự do của con người Chỉ có con người mới có tự do, tự do có trước bản chất của con người Bản chất chỉ có được khi con người bằng sự tự do của mình hành động, dấn thân vào hoàn cảnh vào đời sống để tạo ra mình Con người sống là có tự do, không thể tránh khỏi tự do

Có thể coi là con người bị tự do, tự do là lựa chọn Theo ý của Sartre, mỗi người trong hoàn cảnh của mình buộc phải lựa chọn, không ai sống mà không tự do lựa chọn, ngay cả khi con người khăng khăng là mình không lựa chọn gì thì đó vẫn là lựa chọn rồi

Như vậy, con người mà triết học hiện sinh nghiên cứu không phải là con người phổ quát mà là con người sinh hoạt, là tôi, là anh ta, tôi là một chủ thể và tôi là một nhân vị tự do Các triết gia hiện sinh không đưa ra những định nghĩa, khái niệm cụ thể con người là gì? Nhưng họ đưa ra những chiêm nghiệm dưới nhiều khía cạnh, góc nhìn khác nhau về con người trong những tác phẩm của mình

Trước tiên, phải kể tới Kierkegaard - ông tổ của triết học hiện sinh, triết học hiện sinh được coi là xuất phát từ những suy tưởng của Kierkegaard Như quan điểm của nhà triết học J.Wahl đã được trích dẫn như sau: “Triết hiện sinh đã khởi sự nơi những suy niệm thuần chất tôn giáo của Kierkegaard… tất

cả nền triết học hiện sinh đã phát xuất từ những suy nghĩ của Kierkegaard về những uẩn khúc của đời sống tư của ông, về cuộc đính hôn của ông và về sự ông không thể hiệp nhất với vị hôn thê của ông” [23, tr.81] Theo Kierkegaard, con người là một chủ thể riêng biệt khác với tất cả các vật tồn tại khác Tức là con người đều có cá tính riêng biệt của mình Thế giới đứng trước mỗi con

Trang 30

người đều là thế giới mà chính cá nhân ấy thể nghiệm được, nó khác với thế giới mà người khác thể nghiệm được Vì thế chỉ xuất phát từ mỗi cá nhân riêng biệt mới có thể tìm hiểu được bản thân cá nhân đó và thế giới có quan

hệ với nó Dù tồn tại thế giới khách quan, chân lý khách quan nhưng điều mà con người nhận thức được chỉ có thể là thế giới cá nhân, chân lý mà họ nắm

được là chân lý chủ quan, ngang tầm với mọi cá nhân

Keirkegaard không phủ định con người có thể xác bằng xương bằng thịt, có khả năng nhận thức như cảm giác, tư duy Ông coi con người được tạo nên từ ba bộ phận: Thân thể, linh hồn, tinh thần Thân thể làm cho con người

có thể cảm thấy thế giới bên ngoài, linh hồn của con người làm cho con người

có lý trí, tinh thần làm cho con người có tình cảm, ý chí Một con người hoàn chỉnh là sự thống nhất của ba bộ phận đó Tuy nhiên, trong ba bộ phận đó thì chỉ có tình cảm, ý chí của con người mới làm cho con người có cá tính và tình cảm riêng biệt để tạo nên sự hiện sinh của con người Con người chỉ hiện sinh khi có tính riêng biệt, có khả năng độc lập, tự chủ tiến hành quyết định và lựa chọn, lúc đó mới có thể tiếp xúc với Thượng Đế

Cũng như Keirkegaard, F.Nietzsche được mệnh danh là ông tổ triết học hiện sinh vô thần, triết học của ông chính là đời sống của ông và đời sống của ông là tài liệu suy tưởng của ông Đối tượng và cũng là trung tâm của triết học hiện sinh mà Nietzsche hướng tới đó là người hùng và con người siêu nhân Theo Nietzsche, người hùng là con người tự chủ, có ý chí hùng cường, tự quyết Nietzsche coi đời sống xã hội là mồ chôn người hùng, là làn nước vô tình, lúc nào cũng muốn dìm chết kẻ hiền tài Vì thế, người tự chủ phải tự tìm

ra lối đi và quyết tâm dấn thân vào lối đi đầy nguy hiểm cũng như vinh quang

đó Người hùng là người biết tự quyết và điều căn bản là phải tìm ra một lối nhìn mới Theo Nietzsche và cũng như theo Schopenhauer “vũ trụ chỉ là cái nhìn của ta” và nhận một vũ trụ quan là nhận một cách sống nhất định

Trang 31

Con người là gì? Là một thành quả lỡ làng? Hay một huyền nhiệm? Heidegger đã lặp lại câu hỏi muôn thuở này của những triết gia đi trước Tuy nhiên, ông đã đi xa hơn họ khi đặt thêm câu hỏi về chính sự hiện hữu của con người: hiện hữu có nghĩa là gì? Đâu là yếu tính của hiện hữu? Thế giới là gì với con người và con người là gì của thế giới? Đó là những điều khiến Heidegger phải băn khoăn Heidegger gọi con người là Dasein (Hiện hữu) và ông quan niệm con người như một In-der-Welt-sein (Hữu thể tại thế) Vấn đề

cơ bản của triết học Heidegger là vấn đề bản thể luận, lấy sự nghiên cứu đối với “tồn tại” làm hạt nhân Ông coi con người là Dasein: Da là hiện diện, Sein

là hiện hữu, trong đó hiện diện là hữu thể vô hồn chưa có diện mạo đích thực Chỉ có ý thức con người mới đích thực là Dasein, chính Dasein là hữu thể được trao sứ mạng, sứ mạng đó là tiến tới sự hiện hữu trọn vẹn

Thông qua những tư tưởng của Soren Kierkegaard, F.Nietzsche, Heidegger có lẽ ta mới chỉ thấy được những sự chuẩn bị cho triết lý hiện sinh, nhưng cho tới Jaspers thì dường như con đường nhận thức về vũ trụ huyền bí lại mở rộng hơn ra với cách thức suy tư mới mẻ của ông

Với câu hỏi: Con người là gì? Chúng ta có hiểu được con người không? Jaspers cho rằng, chúng ta có thể đề cập đến vấn đề con người bằng hai đường lối khác nhau: Một như là đối tượng khảo cứu của khoa học; hai như là một tự

do hiện hữu vượt lên trên mọi khảo cứu của khoa học Trường hợp thứ nhất, chúng ta bàn về con người như một đối tượng khách quan; còn trường hợp thứ hai, chúng ta bàn về con người như một thực tại không thể khách quan hóa được Do vậy, chúng ta không thể biết về nó một cách chính xác, rõ ràng bản chất của nó, mà chỉ có thể cảm nghiệm được ở tận nguồn tư tưởng và hành động của ta Theo ông, tự do là khi chúng ta làm theo những hướng dẫn của đấng tối cao và phải có trách nhiệm với xã hội mà chúng ta đang sống Con người tự do khi Chúa dẫn dắt sự tồn tại của họ

Trang 32

Trong số các triết gia hiện đại, Jean Paul Sartre là tác giả được biết đến nhiều hơn cả.Sartre thể hiện phần lớn những tư tưởng của mình qua văn chương Nói đến con người hiện sinh, theo Sartre có hai đặc điểm chính: Một

là con người tự tạo nên mình, làm mình thành người Hai là để tạo nên mình

con người lựa chọn “tự do” Như vậy, Husserl và Heidegger chỉ đặt ra một cái nhìn mới về chủ thể còn Sartre khẳng định vai trò của chủ thể và con người tạo dựng cho thế giới những giá trị của con người gán cho nó

Có thể nói, mỗi nhà triết học hiện sinh đều đưa ra cho mình những quan điểm riêng, xây dựng những lý thuyết khác nhau khi nói về vấn đề trung tâm

đó là con người Nếu như triết học Mác - Lênin quan niệm con người là thực thể sinh vật - xã hội, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội, thì con người mà triết học hiện sinh nghiên cứu mang nét khác biệt là con người cá nhân, độc đáo Phần lớn các nhà triết học hiện sinh đều đồng tình với khuynh hướng quan niệm định nghĩa con người chính là cuộc sống được triển khai theo mọi chiều hướng của hoàn cảnh - nghĩa là người là một hiện sinh và chỉ có người mới gọi là hiện sinh

❖ Phương pháp nghiên cứu của triết học hiện sinh

Triết học hiện sinh là một trào lưu nổi bật của chủ nghĩa phi duy lý, một khuynh hướng xuất hiện trực tiếp chống lại chủ nghĩa duy lý, mà trước hết

là triết học Hegel Triết học của Hegel là chủ nghĩa duy lý triệt để Ông xây dựng một hệ thống đồ sộ những qui luật, khái niệm, phạm trù để thể hiện tư tưởng triết học biện chứng của mình Các nhà triết học hiện sinh cho rằng chủ nghĩa duy lý bằng phương pháp định nghĩa khái niệm, phạm trù để khái quát hóa, trừu tượng hóa những cái cụ thể còn triết học hiện sinh phải thực hiện ngược lại, khai thác cái trừu tượng để trình bày nó một cách cụ thể, sinh động

Có thể thấy rõ sự khác biệt trong phương pháp thể hiện và cả hình thức thể hiện của triết học hiện sinh Những trường phái triết học cổ điển thường

Trang 33

sử dụng những phương pháp như trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích - tổng hợp… và trình bày luận điểm thành những hệ thống lý luận Còn triết học hiện sinh dùng phương pháp mô tả trực quan và thường dùng cách gián tiếp để trình bày những quan điểm, tư tưởng của mình, thông qua những cuốn tiểu thuyết, các vở kịch… Ở đó những luận điểm, lý thuyết triết học khô khan, phức tạp đã được thể hiện một cách cụ thể, phong phú, sinh động qua các hình tượng nghệ thuật

Phương pháp mô tả trực quan mà triết học hiện sinh sử dụng xuất phát

từ phương pháp của hiện tượng học Husserl Husserl đã xây dựng nên lý thuyết hiện tượng luận chủ yếu bàn về tâm lý học mô tả Theo ông, mô tả tâm

lý đời sống thực của chủ thể là phương pháp nhận thức toàn diện, chính xác, sâu sắc nhất về đối tượng, giúp ta nắm bắt được cái bản chất của đối tượng Husserl đã phát triển học thuyết của mình thành phương pháp mô tả hiện tượng luận Đây là phương pháp dùng để mô tả trọn vẹn đời sống tâm lý, tinh thần của con người từ những giây phút sống thực cho đến những dòng ý thức của con người trong quá trình tương tác với thế giới Hiện tượng và bản chất

là hai mặt thống nhất, không thể tách rời và mang một ý nghĩa như nhau, do vậy, theo các nhà triết học hiện sinh, chúng ta không thể dùng phương pháp phân tích để nghiên cứu, tìm hiểu mà chỉ có thể nhận thức được toàn bộ đối tượng thông qua việc miêu tả Các phương pháp của triết học duy lý đặt đối tượng trong sự tách rời những bộ phận, theo khuôn mẫu cứng nhắc sẽ dẫn đến nhận thức sai lệch, không đầy đủ về đối tượng Chỉ có phương pháp mô tả mới giúp ta nhận thức được đầy đủ, sinh động mọi diễn biến và ý nghĩa sâu xa của đối tượng nghiên cứu

Lối diễn tả của triết học hiện sinh không trừu tượng như những câu định nghĩa của triết học cổ truyền mà là sự mô tả về các tình huống của con người trong thế giới Đó là lý do ta có rất nhiều các triết gia hiện sinh gửi gắm

Trang 34

tư tưởng trong văn chương, nghệ thuật Kierkegaard và Marcel để lại những cuốn nhật ký; Sartre, Camus đã cho xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch triết lý Một số triết gia khác như Heidergger, Jaspers, Ponty… tuy không viết nhiều tiểu thuyết hay kịch bản nhưng những trang sách của các ông luôn phản ánh sống động sinh hoạt của con người ý thức về số phận của mình

1.1.2.2 Các chủ đề chính của triết học hiện sinh

❖ Chủ đề thuần túy hiện tượng học

Ở chủ đề này, chủ yếu là các tư tưởng bàn về bản thể luận của các nhà hiện sinh Trong đó, một số phạm trù tiêu biểu đó là “chủ thể tính”,“hữu thể”,“hiện hữu”…

Triết học hiện sinh không coi con người là một sự vật của toàn thể vũ trụ mà coi con người là một hữu thể đứng trên vũ trụ và có quyền gán cho vũ trụ một giá trị tùy quan điểm của mỗi người Chủ thể tính không phải là một trừu tượng mà là một thực tại của mọi hình thức sinh hoạt của con người, từ quan điểm, cái nhìn cho đến những phản ứng Vì con người là chủ thể cho nên mỗi tiếp xúc của con người với sự vật đều là những phản ứng và trong phản ứng đó con người có phần chủ động Như vậy, chủ thể tính làm cho con người nhận thức về mình, tự tạo nên mình, làm cho mình trở thành mình, trở thành một nhân vị độc đáo

Con người lấy hiện sinh, mặt cơ bản của hiện hữu để làm nhân vị của mình Hiện sinh chỉ có ở nơi con người chứ không có ở bất cứ sự vật nào

Đưa ra định nghĩa con người là một Dasein, đó là hiện hữu như một hiện

diện, Heidegger chỉ ra bản chất con người là “hiện hữu” Chỉ có mình con người mới có bản chất đó cho nên chỉ mình con người được coi là “một hữu thể mà bản chất là mở ra đón chào ý nghĩa của vạn vật” [23, tr.351] Chỉ có con người là hiện sinh, và nhờ con người mà vạn vật được nhận thức và gọi tên

Trang 35

Bản chất con người cũng như là một hữu thể - tại - thế sein) Theo Heidegger, con người không sống trong không gian và cũng không sinh hoạt trong thời gian Heidegger chủ trương rằng chính sinh hoạt của Dasein phát sinh không gian và thời gian Nó phát sinh không gian, bởi vì những ý niệm căn bản nhất của không gian như xa gần, trên dưới, bên mặt bên trái… đều bắt nguồn nơi con người, và nếu không có sự căn cứ vào cái tâm điểm là con người thì không gian trở thành một quan niệm mơ hồ, một khái niệm do lý trí tạo ra làm nền cho khoa hình học Heidegger đã tạo ra một

(In-der-Welt-từ mới, tức động (In-der-Welt-từ “existieren” (ek-sister) để nói lên sự “hiện hữu” của con người Theo quan niệm của ông hiện hữu là tự vượt qua mình để bản thân phát sinh ra “dự phóng”, hay có thể nói cái khả năng phóng mình về phía trước Con người tự tạo ra mình trong dự phóng, khi hết dự phóng là chết Vì thế, con người phải chịu trách nhiệm về bản chất của mình

❖ Chủ đề tiêu cực (Buồn nôn, lo âu, cô đơn, phi lý, ưu tư)

Cuộc đời con người sống đều mang vẻ tầm thường và phi lý, cho nên

nó đáng “buồn nôn” Buồn nôn chính là trạng thái sinh hoạt lầm lì thường nhật, là sự trầm tư của con người trước cái phi lý của thế giới Đó là lối sống

mà Sartre miêu tả là hiện hữu như một sự vật, tức là chưa phải hiện sinh Con người thấy buồn nôn vì họ chưa ý thức được về định mệnh của mình, họ sinh tồn như những vật vô tri, không có nhân vị và nhân cách đặc sắc, độc đáo Nhưng buồn nôn cũng là nguồn động lực để con người ý thức sâu xa về tính chất phi lý của cuộc đời vô nhân vị Nó giúp chúng ta không chấp nhận được thế giới trống rỗng, trừu tượng, làm cho chúng ta vùng dậy, vươn lên tới những nhân vị tự do và trách nhiệm Một khi con người không còn buồn nôn với cái phi lý của cuộc đời thì con người đã bị tha hóa, đánh mất mình

Con người sống trong xã hội bị kìm kẹp trong những “Qui pháp ban ngày”, đó là những qui định, luật lệ, những gì khuôn mẫu… Con người sống

Trang 36

trong trần thế như những kẻ bị bỏ rơi, bị lưu đày Họ như bị ném vào một thế giới xa lạ, không có nơi nương tựa Do đó họ cảm thấy “lo âu” và “cô đơn”

Họ cô đơn khi chỉ có một mình lang thang trên con đường đi tìm tự do, đi tìm nhân vị độc đáo của mình mà không biết bao giờ tới đích Cuộc đời vốn là một bi kịch, con người sống và chấp nhận mọi sự đau khổ, bất hạnh đó Họ bị

bỏ rơi, lạc lõng giữa đường đời và những người xung quanh “Lo âu” có nguồn gốc ở tự do Đây là tâm lý đầy đam mê mở ra sự sáng tạo Những người chấp nhận những khuôn mẫu, lấy những giá trị phổ biến làm chuẩn mực cho cuộc sống của mình thì không có tự do Vậy nên con người hiện sinh

để tự do cần phải luôn vươn lên đấu tranh để vượt qua những sự xếp đặt và khi đó họ cảm thấy lo âu

Con người luôn sống trong tâm trạng kinh hoàng, lo âu, sợ hãi, cô đơn còn là vì lúc nào họ cũng phải đối mặt với “cái chết” Cái chết có thể đến với con người ở bất kì nơi đâu và bất cứ lúc nào, cái chết luôn đe dọa con người

vì vậy họ càng phải nhận thấy trách nhiệm nặng nề của mình trong lúc sống

Xuất phát từ quan niệm con người sống trong trần thế luôn lo âu và cô đơn nên Heidegger đã định nghĩa con người là sự “ưu tư” Ưu tư là sự xao xuyến, băn khoăn về tương lai, là sự tỉnh ngộ của con người, bắt đầu thức tỉnh

và suy nghĩ Bởi vì ưu tư nên con người mới suy tư, thắc mắc, để tìm hiểu, khám phá, tìm ra phương pháp, cách giải quyết vấn đề và từ đó mới hành động

Các nhà triết học hiện sinh không nhìn những tâm trạng lo âu, cô đơn,

ưu tư hay buồn nôn của con người là những điều hoàn toàn tiêu cực Bởi chính những điều đó lại là nguồn gốc của những sự cố gắng, là động cơ thúc đẩy, khích lệ con người tự cứu lấy bản thân mình

❖ Chủ đề tích cực (Tự quyết, vươn lên, độc đáo)

Ý niệm “tự quyết” thường đi liền với “dấn thân”, con người hiện sinh cần tự quyết nhân vị của mình, chứng minh mình là một chủ thể tự do và tự

Trang 37

đảm nhận Con người dám sống thật với bản thân mình, đưa ra quyết định của riêng mình và chịu trách nhiệm về nó dù sai hay đúng Người hiện sinh tin tưởng ở giá trị hành động, sự tự quyết và dấn thân của mình Trong hành động

tự quyết, triết học hiện sinh đề cao giá trị sống, bởi con người luôn cần tự đưa

ra quyết định cho bất kì vấn đề nào, kể cả những vấn đề đòi hỏi sự tư duy vượt quá bản thân ta Lúc này, để thể hiện tính chủ thể con người cần tự quyết, đảm nhận lấy trách nhiệm làm người Mặc dù hành động tự quyết có thể vượt quá những những lý luận, qui tắc, nhưng không phải là bồng bột, mù quáng

Con người lo âu, trách nhiệm về hành vi của mình tức là con người đảm nhận cuộc sống của mình, do vậy họ không ngừng phải ném mình về phía trước Họ phải hành động, phải “vươn lên” để bản thân không đứng im tại một chỗ, trơ lì không tiến bộ Con người hiện sinh ý thức về nhân vị của mình và vì thế họ không được hài lòng với những gì mình đang có mà phải vươn lên khỏi tình tạng tầm thường, để đạt đến cái hoàn mỹ Vươn lên là để chiến thắng chính mình, nhận ra sự trưởng thành của mình, chứ không phải chiến thắng người khác Không vươn lên tức là bị sa lầy, hay như Augustin đã viết : “Không tiến

là lùi rồi” (Non progredi regredi est) [23, tr.52] Con người hiện sinh trung thực lấy sự vươn lên làm lẽ sống, luôn buộc mình tiến lên phía trước

Nếu như triết học truyền thống luôn nghiên cứu con người phổ quát và mỗi cá nhân chiếm một vị trí nhỏ lẻ trong nhân loại thì triết học hiện sinh lại muốn con người nhìn thấy mình là một chủ thể “độc đáo” Mỗi chủ thể tự do đều có quyền tự quyết, phản ứng khác nhau, định đoạt số phận của mình khác nhau dù đặt trong những hoàn cảnh giống nhau, điều đó mới thực sự thể hiện nhân vị và sự độc đáo của con người hiện sinh Triết học hiện sinh chỉ ra sự độc đáo của con người ngay cả ở những hành động sinh hoạt đời thường tưởng chừng ai cũng như ai, nhưng thực chất mỗi người lại thực hiện theo một cách khác nhau, cảm nhận những điều khác nhau Sự độc đáo của con

Trang 38

người còn thể hiện trong tính lịch sử của con người, tức là con người tự đảm nhận mọi hành vi của mình và tự làm nên lịch sử của mình chứ không đơn thuần chỉ là một sinh vật sống trong lịch sử Con người có nhân vị độc đáo dám đảm nhiệm lấy cô đơn, họ không sống theo người khác, họ dám phát huy tất cả những khả năng riêng biệt của mình theo lối đi của riêng mình để đạt đến sự hoàn thiện

1.2 Albert Camus trong triết học hiện sinh

1.2.1 Khái lược về cuộc đời, sự nghiệp của Albert Camus

1.2.1.1 Cuộc đời của Albert Camus

Albert Camus (07/11/1913 - 04/ 01/1960) là nhà văn viết tiểu thuyết, kịch, các bài bình luận và cũng là nhà triết học người Pháp, một nhân vật danh tiếng trong trường phái Phi lý (Absurdism) Albert Camus đã nhận được Giải thưởng Nobel Văn Chương vào năm 1957, là người trẻ tuổi thứ hai đã từng lĩnh Giải thưởng danh dự này, nhưng ông qua đời quá sớm năm 47 tuổi trong một tai nạn xe hơi

Albert Camus chào đời vào ngày 7 tháng 11 năm 1913 trong làng Modovi, thuộc Constantinois gần Bone, nước Algeria Cha của Albert là ông Lucien August Camus, một công nhân làm rượu, đã bị động viên, phục vụ trong trung đoàn bộ binh Zouave và bị thương trong trận Marne năm 1914 vào thời kỳ đầu của Thế Chiến Thứ Nhất rồi qua đời tại nhà thương Saint Brieuc lúc 28 tuổi Mẹ ông, Catherine Sintè là người gốc Tây Ban Nha Bà làm nghề giúp việc để kiếm tiền nuôi hai con trai Lucien và Albert Sau khi chồng qua đời, bà mang hai con về vùng ngoại ô Belcourt, cư ngụ trong một căn hộ chung với người mẹ ruột và các em

Thời thơ ấu, Albert Camus may mắn được thầy giáo Louis Germain dạy lớp 5 tình nguyện dạy kèm và thuyết phục gia đình để ông được thi tuyển học bổng vào trường Trung học Bugeaud d'Alger năm 1924

Trang 39

Ông đậu tú tài năm 1930, sau đó bị lao phổi Việc nhiễm căn bệnh này khi chỉ mới bước vào tuổi thanh niên đã làm ông nhận thức một cách phũ phàng sự bất công của cuộc sống, sự mong manh của tồn tại người Trong khoảng thời gian này, Camus rơi vào trạng thái cô độc, yếu đuối và luôn bị

ám ảnh bởi cái chết Ngay khi hồi phục, Camus đã đi làm cho sở Khí Tượng, nhiệm vụ chính của ông là thư kí Cũng tại đây, công việc buồn tẻ lặp lại mỗi ngày, mỗi tuần, trở thành ấn tượng nhàm chán và sau này xuất hiện khá nhiều trong những trang văn của ông

Sau đó, Camus học triết tại trường Ðại học Alger, tại đây ông gặp giáo

sư kiêm triết gia Jean Grenier Vị giáo sư này đã có ảnh hưởng khá nhiều đến việc học tập của ông.Năm 1936, sau khi học xong Cử nhân Triết, ông chuẩn

bị bằng Cao học với tựa đề “Les rapports du néoplatonisme et de la métaphysique chrétienne” (Sự liên quan giữa Thuyết Platon mới và tính siêu hình của Ki Tô giáo) Tuy nhiên, do căn bệnh lao nên Camus đã không thể hoàn thành trọn vẹn để lấy được bằng thạc sĩ

Trong năm 1937, Albert Camus tham gia viết nhiều bài điểm sách và khảo luận cho tờ báo khuynh tả “Người Cộng hòa Alger” (Alger - Republicain) rồi làm chủ bút cho tờ “Người Cộng hòa - Buổi chiều” (Soir - Republicain) Trong đó, Camus đã mô tả hoàn cảnh kinh tế nghèo khó của người Ả Rập, chỉ trích gay gắt chính phủ Pháp vì các chính sách hà khắc tại xứ Algiers, đòi quyền bình đẳng cho các người Ả Rập ngang với người Âu

Sau khi tờ báo bị đóng cửa, Camus phải rời xứ Algeria vì không kiếm được việc làm, ông chuyển đến sinh sống tại thành phố Paris vào năm 1938 Ông làm công trong một thời gian ngắn cho tờ báo “Paris - Buổi chiều” (Paris - Soir) nhưng nghề viết báo này bị chấm dứt khi quân đội Đức tràn sang xâm chiếm nước Pháp Tới lúc này, ông đành phải quay lại vùng Bắc Phi, dạy học tại một trường tư thục thuộc tỉnh Oran trong một thời gian ngắn

Trang 40

Ông trở về Pháp năm 1942, sau đó làm việc cho báo Combat (Chiến đấu) Chỉ hai năm sau, Camus đã trở thành chủ bút của tờ báo này và cho đăng rất nhiều bài khảo luận về chiến tranh Lúc đó, thành phố Pari cũng đã được giải phóng

Sau khi Thế chiến chấm dứt, Albert Camus là một thành viên của nhóm các nhà văn do Jean Paul Sartre đứng đầu, họ thường hay lui tới quán cà phê Flore trên đại lộ St Germain của thành phố Paris Về chính trị, Albert Camus

là một người tả khuynh nhưng vì ông chỉ trích mạnh mẽ chế độ cộng sản nên

đã không có bạn bè trong số các đảng viên và về sau, bất hòa với Jean Paul Sartre Năm 1946, Albert Camus du lịch qua Hoa Kỳ, diễn thuyết về chủ thuyết Hiện sinh của trường phái Pháp (French Existentialism) tại nhiều nơi Sau chuyến đi vòng quanh Nam Mỹ, năm 1949, Camus trở về Pháp, sống cuộc sống ẩn dật nhưng thỉnh thoảng ông cũng viết vài bài khảo luận chính trị

Trong thập niên 1950, Albert Camus dành thời giờ cho các hoạt động

về nhân quyền Albert Camus chủ trương chính sách hòa bình, phản đối mọi hình thức tử hình trên thế giới Cuộc chiến tranh giành độc lập của xứ Algeria

nổ ra vào năm 1954 đã khiến cho Albert Camus ở vào tình trạng khó xử Trước kia, ông đã từng nhận rằng mình thuộc về lớp người “chân đen” là những người gốc châu Âu tại miền đất Bắc Phi Tới nay, ông ủng hộ nền tự trị của xứ Algeria nhưng lại bênh vực các chính sách của nước Pháp vì cho rằng cuộc cách mạng tại xứ thuộc địa Bắc Phi là do Ai Cập một phần của chủ nghĩa đế quốc Ả Rập mới và Liên Xô xúi giục để bao vây châu Âu và cô lập Hoa Kỳ

Trong suốt cuộc đời, Albert Camus luôn luôn nói rõ và tích cực hành động để chống lại chế độ toàn trị (totalitarianism) thuộc bất cứ hình thức nào Ông đã tham gia vào phong trào kháng chiến Pháp và điều khiển tờ báo kháng chiến danh tiếng Combat

Ngày đăng: 14/06/2017, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mortimer J. Adler (2004), Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại
Tác giả: Mortimer J. Adler
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
2. R.M. Alberes (1971), Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học Âu châu thế kỉ XX (1900 - 1959), Nxb Sài Gòn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học Âu châu thế kỉ XX (1900 - 1959)
Tác giả: R.M. Alberes
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1971
3. Bochenski (1969), Triết học phương Tây hiện đại, Nxb Ca Dao, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Bochenski
Nhà XB: Nxb Ca Dao
Năm: 1969
4. Brunel, Patrick (2006), Văn học Pháp thế kỉ XX, Nguyễn Văn Quảng dịch, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Pháp thế kỉ XX
Tác giả: Brunel, Patrick
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
5. Albert Camus (1942), Kẻ xa lạ, Lê Hoàng Dân (dịch), 2001, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kẻ xa lạ
Tác giả: Albert Camus
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1942
6. Albert Camus (1965), Người xa lạ, Dương Kền, Bùi Ngọc Dung dịch Nxb Ngày nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người xa lạ
Tác giả: Albert Camus
Nhà XB: Nxb Ngày nay
Năm: 1965
7. Albert Camus (2001), Dịch hạch, Trần Trọng Định dịch, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch hạch
Tác giả: Albert Camus
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
8. Albert Camus (2002), "Một lập luận phi lý và Huyền thoại Sisyphus", Tạp chí văn học nước ngoài, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một lập luận phi lý và Huyền thoại Sisyphus
Tác giả: Albert Camus
Năm: 2002
9. Albert Camus (2006), Ngộ nhận, Bùi Giáng dịch, Nxb Văn Nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngộ nhận
Tác giả: Albert Camus
Nhà XB: Nxb Văn Nghệ
Năm: 2006
10. Albert Camus (2014), Thần thoại Sysyphus, Trương Thị Hoàng Yến, Phong Sa dịch, Nxb Trẻ (2014), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần thoại Sysyphus
Tác giả: Albert Camus (2014), Thần thoại Sysyphus, Trương Thị Hoàng Yến, Phong Sa dịch, Nxb Trẻ
Nhà XB: Nxb Trẻ (2014)
Năm: 2014
11. Thạch Chương (1960), "Trình bày và phê bình hai quan điểm nổi loạn của Camus", Tạp chí Sáng Tạo (48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình bày và phê bình hai quan điểm nổi loạn của Camus
Tác giả: Thạch Chương
Năm: 1960
12. David E. Cooper (2005), Các trường phái triết học trên thế giới, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trường phái triết học trên thế giới
Tác giả: David E. Cooper
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
13. Armand Cuvillier (1962), Các vấn đề triết học, Nguyễn Hữu Trọng (dịch), Viện Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề triết học
Tác giả: Armand Cuvillier
Năm: 1962
14. Nguyễn Văn Dân khảo luận, tuyển chọn, giới thiệu (2002), Văn học phi lí, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phi lí
Tác giả: Nguyễn Văn Dân khảo luận, tuyển chọn, giới thiệu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
15. Nguyễn Tiến Dũng (1999), "Một số khía cạnh về văn hóa và con người trong triết học phương Tây hiện đại", Tạp chí Triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khía cạnh về văn hóa và con người trong triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 1999
16. Nguyễn Tiến Dũng (2002), "Triết học Mỹ với việc thiết lập nền tảng Triết học cho khoa học", Tạp chí Triết học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mỹ với việc thiết lập nền tảng Triết học cho khoa học
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2002
17. Nguyễn Tiến Dũng (2006), Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
18. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2003), Lược khảo triết học phương tây hiện đại, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo triết học phương tây hiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
19. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2005), Lịch sử triết học phương tây hiện đại, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương tây hiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
20. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2006), Triết học Mỹ, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mỹ
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w