1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng triết học của trường phái trúc lâm yên tử và vận dụng một số tư tưởng đó vào việc xây dựng nhân cách con người việt nam hiện nay

102 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phật giáo được coi là những “thánh đăng” của vườn thiên như: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông… Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mà vị sư tổ là Trần Nhân Tông là một minh chứng đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN TRUNG KIÊN

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

VÀ VẬN DỤNG MỘT SỐ TƯ TƯỞNG ĐÓ VÀO VIỆC XÂY DỰNG

NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN TRUNG KIÊN

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

VÀ VẬN DỤNG MỘT SỐ TƯ TƯỞNG ĐÓ VÀO VIỆC XÂY DỰNG

NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học

Mã số : 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ VĂN LỰC

HÀ NỘI - 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Lê Văn Lực Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ 6

1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội thời Trần cho sự ra đời tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 6

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 9

1.2.1 Một vài nét về tiền đề của thiền phái 9

1.2.2 Tư tưởng triết học Trần Thái Tông 12

1.2.3 Tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng Sĩ 33

Chương 2 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ VÀ VAI TRÒ CỦA NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI THỜI TRẦN 42

2.1 Tam tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 42

2.1.1 Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: Trần Nhân Tông (1258-1308) 42

2.1.2 Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: Pháp Loa đại sư (1284- 1330) 43

2.1.3 Huyền Quang tôn giả đệ tam tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (1254- 1334) 44

2.2 Vai trò của những tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 45

Chương 3 VẬN DỤNG NHỮNG GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ VÀO XÂY DỰNG NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 59

3.1 Những giá trị tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 59

3.1.1 Giá trị tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đối với xã hội thời Trần 59

3.1.2 Ý nghĩa tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đối với xã hội Việt Nam hiện nay 62

Trang 5

3.2 Phương pháp và nội dung vận dụng một số giá trị tư tưởng triết học của

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vào việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay 71 3.2.1 Nắm vững nguyên lý, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

ta về kế thừa những di sản văn hóa của dân tộc 71 3.2.2 Vận dụng một số giá trị tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vào việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay 81

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phật giáo là một tôn giáo lớn, đồng thời những giáo lí của Phật giáo cũng mang đậm tính triết lí sâu sắc, trong đó có những giáo lí đã đạt đến tầm triết học

Ở Việt Nam, Phật giáo là một tôn giáo gắn bó với dân tộc và ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của nhân dân

Từ trước đến nay triều đại Lý và Trần là hai thời kỳ mà Phật giáo nước

ta phát triển rực rỡ nhất

Ở thời Lý, Phật giáo giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần với hơn nửa dân số vào chùa Câu tục ngữ: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt” phản ánh trong ý thức dân gian vai trò của Phật giáo trong giai đoạn lịch sử này Thời kỳ này, nhiều vị vua triều Lý đã cắt tóc đi tu như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông… Phật giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội, để lại những dấu ấn trong hầu hết các lĩnh vực văn hoá

Đến triều Trần, Phật giáo vẫn được đề cao và phát triển Phật giáo được coi là những “thánh đăng” của vườn thiên như: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông… Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mà vị sư tổ là Trần Nhân Tông là một minh chứng điển hình cho thiền học thời Trần nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung Với quan điểm từ bi bác ái, tinh thần rộng mở, phóng khoáng và khả năng dung hợp nhiều tư tưởng khác nên đã tỏ ra có khả năng ưu việt và được truyền bá rộng rãi

Như vậy, lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam trong suốt 14 thế kỷ đầu tiên chủ yếu là lịch sử tư tưởng triết học Phật giáo Bởi vậy, nghiên cứu triết học Phật giáo, chúng ta sẽ hiểu được tư tưởng triết học Việt Nam cổ, trung đại Tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một trong những tư tưởng triết học tiêu biểu của thời kì này Bởi đây là thiền phái có ảnh hưởng

Trang 7

2

sâu sắc đến tư tưởng của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ - một cái mốc quan trọng trong lịch sử tư tưởng nước ta Có thể khẳng định rằng, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có ngay từ thời kỳ đầu nhà Trần, mà ba vị tổ, một thánh, hai hiền đã kế thừa và phát huy thành một hệ thống tương đối chặt chẽ Chính vì vậy, nghiên cứu tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cũng phần nào cho ta biết khuynh hướng tư tưởng của dân tộc từ những ngày đầu dựng nước cho đến thế kỷ 13

Mặt khác, tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề tư tưởng triết học Việt Nam

Nghiên cứu tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử còn giúp chúng ta trở về với cội nguồn dân tộc, tìm tòi, gạn lọc và phát huy những giá trị tích cực trong kho tàng tư tưởng cha ông, không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực học thuật, mà còn đóng vai trò lớn trong việc xây dựng một nền văn hoá

Thế nhưng, cũng giống như bất cứ tôn giáo khác, sự ra đời của Phật giáo là nhằm thực hiện chức năng đền bù hư ảo nhu cầu hạnh phúc của quần chúng nhân dân Thông qua đó, các Phật tử “chính tinh tiến, chính định, chính niệm” để khắc phục sự “vô minh” nhằm đạt đến sự giải thoát

Tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không chỉ là một trào lưu tư tưởng mà còn là một quan niệm xử thế nhân sinh, không thuần tuý là những chân tu mà thực sự là những chí nhân quân tử Chính vì vậy, chúng tôi

chọn đề tài: “Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và vận

dụng một số tư tưởng đó vào việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay” để làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu

Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tôn giáo của các giáo

sư Trịnh Quốc Tuấn (Tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: mấy vấn đề lý luận và

thực tiễn cần thiết), Đặng Nghiêm Vạn (Đặc điểm tình hình tôn giáo Việt

Trang 8

3

Nam), về Phật giáo của Nguyễn Tài Thư (Triết học Phật giáo), Nguyễn Duy

Hinh (Phật giáo với văn hoá Việt Nam) Các công trình nghiên cứu khoa học

đó đã nghiên cứu Phật giáo trong tương quan với các tôn giáo nói chung hoặc

đã đi vào từng lĩnh vực cụ thể trong Phật giáo nói riêng

Về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh lịch sử, văn học, tư tưởng… như: Tam tổ hành trạng, bản dịch của Á Nam Trần Tuấn Khải - 1971; lịch sử Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Tài Thư (chủ biên)… Nhưng các tác phẩm đó khai thác một khía cạnh nào đó trong dòng thiền phái này và chưa làm rõ hết những tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử “Thanh tổ hành trạng” của

Á Nam Trần Tuấn Khải mới chỉ nêu lên “hành trạng” của ba vị tổ trong việc truyền bá tư tưởng chứ chưa rõ tư tưởng triết học của từng vị

Cũng như vậy, “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Tài Thư đã phân tích tư tưởng Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, khi nói đến vị

tổ thứ hai của thiền phái là Pháp Loa, tác giả chỉ đề cập đến sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với ông mà chưa làm rõ tư tưởng triết học của ông… Bởi vậy,

để góp phần vào việc nghiên cứu Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, nhìn từ góc

độ triết học, luận văn góp phần tìm hiểu đặc điểm tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và ảnh hưởng của tư tưởng triết học của thiền phái này đến sự hình thành nhân cách con người hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích:

Nghiên cứu tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử để thấy được ý nghĩa của tư tưởng triết học đó đối với quá trình phát triển lịch sử tư tưởng Việt Nam đồng thời vận dụng một số tư tưởng triết học của Thiền phái vào việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay

Trang 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Xã hội Việt Nam thời Trần

- Xã hội Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận:

Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, đồng thời chúng tôi kế thừa những công trình nghiên cứu của những người đi trước có nội dung liên quan

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp biện chứng duy vật mà chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp, lịch sử - logic, phương pháp so sánh đối chiếu

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Trang 10

5

Phân tích ảnh hưởng của tư tưởng triết học đến sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

có 3 chương, 6 tiết

Chương 1: Bối cảnh kinh tế - xã hội và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời

tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Chương 2: Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Chương 3: Vận dụng những giá trị tư tưởng triết học của Thiền phái

Trúc Lâm Yên Tử vào xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay

Trang 11

6

Chương 1 BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG CHO SỰ RA ĐỜI

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội thời Trần cho sự ra đời tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, suy đến cùng, một hệ thống triết học, tư tưởng của một triết gia… đều là sự phản ánh tình hình kinh tế - xã hội nhất định Tư tưởng triết học thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cũng vậy

Sự suy vong của vương triều Lý không phải hệ quả của quá trình vận động kinh tế - xã hội Bởi vì hai triều đại Lý và Trần cùng có một cơ sở về kinh tế Giữa hai thời đại này chỉ có sự chuyển biến về lượng chứ trong cơ sở kinh tế chưa xảy ra hiện tượng biến chất Đặc điểm trong sự phát triển kinh tế của hai triều đại Lý, Trần là sự phát triển của kinh tế thái ấp Nhà Lý suy vong

là do sự bóc lột nặng nề của nhà nước và quý tộc phong kiến Đời sống nhân dân ta dưới thời nhà Lý rất cực khổ, nhiều người dân đã phải bỏ quê hương đi tha hương cầu thực Nạn đói cộng thêm thiên tai hạn hán, lũ lụt khiến cho nông dân nổi dậy chống lại chế độ phong kiến Đã có một số cuộc khởi nghĩa của nông dân nổi dậy Tiêu biểu như: Lê Vãn (1180- 1182), Thân Lợi (1140), Phí Lang (1202- 1215)

Nhân chính quyền Trung ương suy yếu, các thế lực địa phương cũng đã nổi dậy gây nên cục diện cát cứ và nội chiến trong mười mấy năm trời Giữa các thế lực có ảnh hưởng nhất khi đó là: họ Đoàn ở Hồng Châu, Phạm Du - đồng minh của họ Đoàn, họ Trần ở Tức Mặc - Nam Định, Nguyễn Tự ở Quốc Oai, Nguyễn Nộn ở Bắc Giang, họ Phạm ở Nam Sách - Hải Dương… Yêu cầu của lịch sử bấy giờ là củng cố, chấn chỉnh lại nhà nước trung ương tập quyền, khôi phục thống nhất để đảm bảo cho sự phát triển của sức sản xuất Trong quá trình đấu tranh giữa các nhóm phong kiến, họ Trần đã phát triển

Trang 12

7

được thế lực, thu hút chính quyền trung ương còn thoi thóp của nhà Lý về tay mình, đàn áp các thế lực cát cứ khác mà thống nhất được quốc gia Sau đó anh em họ Trần đã truất ngôi chủ tể của họ Lý mà giành lấy ngôi vua Người

có công to lớn trong việc lập họ Trần lên ngôi vua là Trần Thủ Độ - chú ruột của Trần Cảnh (vua Trần Thái Tông) Ông Vua cuối cùng của nhà Lý là Lý Huệ Tông, vì không có con trai nên buộc phải nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng Theo kế hoạch của Trần Thủ Độ, mà “Trong buồng khuê có nhiều điều hổ thẹn”, thì năm 1225 Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng mình là Trần Cảnh, Trần Cảnh lên ngôi vua lập ra triều Trần

Khát vọng của nhân dân là hoà bình, yên ổn làm ăn Nhà Trần khôi phục được chính quyền thống nhất, thanh toán được tình trạng cát cứ địa phương, kết thúc cuộc nội chiến phong kiến, về khách quan, đã đáp ứng được đòi hỏi của nhân dân Vì vậy, nền kinh tế được nhà Trần khôi phục và phát triển

Kinh tế thời Trần là sự phát triển của nền kinh tế thái ấp Một số vương hầu được vua cấp cho thái ấp và đều ở phủ đệ riêng ở các địa phương

Đây là thời kỳ mà điền trang và thái ấp rất phát triển Chính sự phát triển của điền trang, thái ấp ấy đã kéo theo sự phát triển về chế độ nô tỳ Nhưng có một số nô tỳ được tổ chức thành trang hộ để cày cấy, từ thân phận

nô lệ, họ chuyển sang thân phận nông nô Việc giải phóng nô tỳ thành nông

nô là một biện pháp thúc đẩy việc sản xuất phát triển và mở rộng điền trang

Điền trang, thái ấp phát triển cũng không có nghĩa là toàn bộ ruộng đất trong nước đều là điền trang, thái ấp Đại bộ phận ruộng đất vẫn là công điền, tức là ruộng công của các làng xã, nông dân làng xã chia ruộng công, canh tác

và đóng tô cho nhà nước Ở thời kỳ này nông dân cày ruộng và nhà nước có quan hệ thần thuộc Chính quyền trung ương đã tổ chức khai khẩn đất hoang

để mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp Đất đai vùng bị nước mặn cũng được khai thác Việc mở rộng diện tích canh tác đã làm cho thu hoạch nông

Trang 13

Việc đắp đê ngay từ đầu thời Trần cũng đã được chú trọng Một mặt phòng ngừa thuỷ tai, mặt khác để khai thác được hết mối lợi của đất đai, Vua coi việc tu sửa đê điều cũng là việc chính sự Bởi vậy mà đời sống của nhân dân tương đối được đảm bảo, người nông dân được yên ổn làm ăn Sở dĩ nói tương đối là vì chúng ta biết rằng tình trạng kỹ thuật canh tác dưới thời phong kiến vẫn còn thấp kém, cho nên không thể nào tránh khỏi những mặt hạn chế

Do điều kiện tự nhiên cũng như do sức lao động của nhân dân và chính sách bảo vệ sản xuất nông nghiệp, vùng châu thổ các Sông Hồng, sông Mã…

đã trở thành vùng sản xuất nhiều lúa Trần Phu, một sứ giả nhà Nguyên sang

ta vào năm 1293 sau này có làm một bài thơ dài “An nam tức sự”, trong lời

chú có chép rằng “Lúa mỗi năm chín bốn lần, tuy vào giữa mùa đông mà mạ vẫn mườn mượt”

Nền kinh tế nông nghiệp phát triển đã đi sâu vào những áng văn thơ thời bấy giờ Nguyễn Bá Thông đã ca ngợi cái giàu có của đất nước trong bài

phú “Thiên hưng trấn” với những nguồn nước tạo điều kiện cho thuỷ lợi và

rất nhiều những loại gỗ quý cùng với vàng bạc châu ngọc…

Bên cạnh sự phát triển về nông nghiệp thì công thương nghiệp cũng có phát triển

Thủ công nghiệp ở nông thôn tuy gắn liền với nông nghiệp, nhưng cũng

đã có những làng chuyên môn sản xuất một thứ sản phẩm thủ công nghiệp nhất định Những công nghiệp phụ thuộc công trình kiến trúc như làm gạch ngói, làm đá, điêu khắc, sơn then… cũng phát triển Các thứ công nghiệp này

đã đạt đến một trình độ khá cao

Trang 14

9

Việc đào thêm kênh và sông có tác dụng về mặt thuỷ lợi cũng như giao thông, mở rộng thêm thị trường buôn bán trong nước Nhu cầu buôc bán bên ngoài cũng phát triển, nhất là đường thuỷ, có rất nhiều thuyền buôn đến nước

ta, nhiều nhất là người Trung Quốc

Tóm lại, sau khi thống nhất đất nước, thu về một mối Nền kinh tế thời

kỳ nhà Trần lại từng bước phát triển cho nhân dân một đời sống mới Sở dĩ nói rõ sự phát triển nền kinh tế của thời kỳ này để thấy được vai trò tích cực của nó đối với sự ra đời một tư tưởng triết học Cụ thể ở đây là sự ra đời tư tưởng triết học cho sự hình thành nên tư tưởng triết học thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mà Trần Nhân Tông - đệ nhất tổ - sáng lập ra

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

1.2.1 Một vài nét về tiền đề của thiền phái

Theo những tài liệu hiện có, Phật giáo du nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ hai Ngay từ khi có mặt ở Việt Nam, Phật giáo đã mang trong mình những mầm mống hình thành nên những khuynh hướng sau này

Khuynh hướng thiền của Khương Tăng Hội khởi nguyên cho Thiền học Việt Nam “Bát Nhã thiên tụng Bát Nhã” (Astasahaszika) là bộ Bát Nhã xuất hiện sớm nhất trong văn hệ Bát Nhã kể từ thời đại chúng bộ mà Khương Tăng Hội đã dịch Sau đó khuynh hướng thiền học của Khương Tăng Hội được Chi Cương Lương tiếp tục duy trì Vào những năm 255- 256, ở Giao Châu, Chi Cương Lương đã dịch kinh pháp Hoa Tam muội (Saddharmasamadhi) Cùng với sự xuất hiện của kinh pháp hoa tín ngưỡng thờ cúng Quan thế Bồ tát (Avalokitesvaza) cũng được phổ biến Đến thế kỷ thứ V, khuynh hướng này

đã được Đạt Ma Đề Bà (Dharmadeva) và Thích Huệ Thắng phát triển

Từ năm 580, có thiền sư người Ấn Độ là Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinataruci) qua truyền giáo, lập ra thiền phái thứ nhất ở Việt Nam Đặc biệt của dòng thiền phái này là sự kết hợp giữa thiền và mật Ông tổ của dòng thiền Tỳ-ni-

Trang 15

Tuy dòng thiền này đến từ phía bắc nhưng lại do một tăng sĩ Ấn Độ truyền vào, do đó nó cũng mang nhiều sắc thái của thiền Ấn Độ Như vậy là

từ những thế kỷ đầu cho đến thế kỷ IX Phật giáo Việt Nam chủ yếu mang đậm màu sắc của Phật giáo Ấn Độ Giai đoạn này hầu như trùng với giai đoạn bắc thuộc Điều này nói lên rằng, ngay từ buổi dựng nước và giữ nước ông cha ta vô tình hay hữu ý đã biết né tránh sự đồng hoá về mặt văn hoá của hán tộc bằng cách đề cao một nền văn hoá khác lớn hơn hoặc ít nhất cũng không kém gì văn hoá Trung Hoa Qua sự đối trọng này mà văn hoá bản địa vẫn được duy trì, giữ vững và tiếp tục đi theo con đường của nó Văn hoá Việt Nam đã tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hoá nhân bản khác qua những cuộc đụng độ tiếp xúc giữa các hệ tư tưởng, các nền văn hoá để làm phong phú thêm cho nền văn hoá bản địa của mình Như vậy ta hiểu và lý giải được rằng tại sao bị đô hộ hàng nghìn năm mà văn hoá Việt Nam không bị đồng hoá Tại sao những tác phẩm đầu tiên ở Giao Châu còn lại cho đến nay, như

“lý hoặc luận” của Mâu Bác, những tác phẩm của Khương Tăng Hội được viết bằng chữ Hán mang nội dung đề cao văn hoá Ấn Độ

Năm 820, hai trăm bốn mươi năm sau thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi có thiền sư pháp hiệu là Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc sang Việt Nam và lập ra phái thiền thứ hai tại Việt Nam Nếu như thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi mang

Trang 16

11

đậm màu sắc Phật giáo Ấn Độ thì thiền phái Vô Ngôn Thông lại là dòng thiền của Phật giáo Trung Quốc mang nét đặc trưng là kết hợp giữa thiền với đạo, thiền Vô Ngôn Thông cho rằng chân lý không phải ở đâu xa, mà có ở trong mỗi bản thân của con người, nhưng chân lý đó chỉ có tu chứng trực tiếp chứ không thể nào nắm bắt được quan ngôn ngữ

Từ khi du nhập cho đến lúc xuất hiện dòng thiện Vô Ngôn Thông thì Phật Giáo Việt Nam đã trải qua khoảng 600 năm Nhưng không có sự kỳ thị nào tôn giáo ngoại lai Đến cuối thời kỳ Bắc thuộc thì Phật giáo đã là một hiện tượng ý thức xã hội phổ biến Nhưng với các triều đại trước Lý như Ngô (939- 965) tiền Lê (980- 1009) tồn tại không lâu Đến thời kỳ nhà Lý (1009- 1255) tồn tại tương đối lâu với sự độc lập về kinh tế, chính trị, văn hoá Những tiền đề đó cần phải có một hệ tư tưởng độc lập cho nhà nước Đại Việt lúc đó Mà hai thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Ngôn Thông lại không đáp ứng được yêu cầu đó, bởi vì một thì ngả về Ấn Độ, một lại ngả về Trung Quốc

Đứng trước tình hình này Lý Thánh Tông (1054- 1068) đã sáng lập ra một thiền phái mới, thiền phái Thảo Đường Khi nghiên cứu về phái này ta thấy có sự kết hợp về Thiền, Tịnh và Nho Nhưng ở đây có một vấn đề là: tại sao triều Lý có ba thiền phái cùng tồn tại mà đến thời kỳ nhà Trần cả ba thiền phái đó cùng biến mất?

Sự xuất hiện của Thảo Đường như trên đã nói còn thiền phái lưu-chi và Ngôn Thông? Từ thế kỷ VI-IX Việt Nam nằm dưới ách đô hộ nhà Đường (618-907), thời nhà Đường là sự phát triển rực rỡ của văn hoá Trung Quốc, bởi vậy mà nó không thể không ảnh hưởng đến nước ta, đồng thời thế

Tỳ-ni-đa-kỷ IX diễn ra cuộc tranh giành ảnh hưởng của văn hoá Trung - Ấn

Nhưng đến nhà Trần cả ba thiền phái đều biến mất, mà thời Lý cũng là một trong những thời kim hoàng, dân chúng quá nửa là sư sãi ủng hộ

Trang 17

12

Nhà Trần giành được chính quyền từ nhà Lý một cách êm đẹp, bởi vậy muốn lấy lòng dân, muốn cho văn hoá được phát triển không bị đứt đoạn, nhà Trần vẫn phải đề cao Phật giáo

Triết học của Trần Thánh Tông ra đời đã đáp ứng được tình trạng xã hội lúc bấy giờ Tư tưởng triết học của ông là một học thuyết tổng hợp cả thiền, tịnh, lão, nho… của những trường phái trước đó Trong triết học của ông, nó có cả niệm Phật luận, có cả quan hệ giữa tam giáo

Những yếu tố kinh tế cũng là bà đỡ cho sự kế thừa những yếu tố tư tưởng để Trần Nhân Tông sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử một cách vững chắc, trên nền tảng tinh hoa tư tưởng triết học thời kỳ đầu nhà Trần mà

cụ thể là Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ - hai vị đã có công trong việc truyền bá tư tưởng triết học vào việc thành lập ra thiền phái này

Nay ta lần lượt tìm hiểu tư tưởng triết học của từng vị

1.2.2 Tư tưởng triết học Trần Thái Tông

Trần Thái Tông (1218- 1277) là ông vua đầu tiên của triều đại nhà Trần Ông tên thật là Trần Cảnh, con thứ của Thái Tổ (Trần Thừa), lên ngôi vua lúc tuổi còn nhỏ (1225) Năm 16 tuổi, cha mẹ lần lượt ra đi Với hai cái tang cha mẹ liên tiếp như thế khiến cho tâm hồn Trần Thái Tông dao động

Vả lại cơ nghiệp nhà Trần hầu như do Trần Thủ Độ nắm giữ, cái gì cũng dám miễn sao là làm được việc, vì thế mới có việc phế Chiêu Thánh Hoàng Hậu công chúa, lập Hoàng Vương Trần Liễu và Lý Thị làm hoàng hậu, bởi lúc bấy giờ Chiêu Thánh chưa có con mà Lý thị đã có mang được ba tháng Vì vậy mới có chuyện Trần Liễu nổi loạn

Trước tình thế ấy, Trần Thái Tông cảm thấy áy náy, cô liêu, trong lòng vừa đau đớn vừa lo sợ phân vân Chính cái cảm xúc ấy mới là thực nghiệm, mới là cái tia trực giác hoán cải con người, quyết định sáng tạo cho cả một hệ thống tư tưởng của tác giả

Trang 18

13

Vua Trần Thái Tông là bậc anh hùng văn võ toàn tài, không những đã

có công khai sơn phá thạch cho cả một triều đại anh hùng bậc nhất của lịch sử dân tộc mà ông còn mở đường cho cả một dòng tư tưởng thiền học riêng biệt Việt Nam phản chiếu cả một giai đoạn lịch sử dân tộc Nhất là tư tưởng triết học của ông

Triều đại nhà Trần đã chinh phục và thống nhất được những lực lượng cát cứ cuối triều Lý, do đó nhà Trần cũng muốn thu về một mối những lực lượng cát cứ trong tư tưởng Bởi vậy triết học Trần Thái Tông ra đời là sự tổng hợp những tư tưởng của các thiền phái trước đó; kế thừa, phát triển thành một

hệ thống tư tưởng triết học riêng biệt mà vẫn giữ được bản sắc của dân tộc

Tuy tiếp nối những tư tưởng của các thiền phái khác, nhưng tư tưởng triết học Trần Thánh Tông được mở đầu và xây dựng thành một hệ thống triết học thống nhất, hoàn toàn Việt Nam, dứt bỏ các truyền thống thừa cũ có từ bên ngoài Có thể nói đó là một biểu hiện của sự phát triển ý thức dân tộc

Về Phật học Trần Thánh Tông có những tác phẩm sau: 1 Thiền Tông

chỉ nam; 2 Lục Thời Sám Hối Khoá Nghi; 3 Kim Cương Tam Muội Kinh chú giải; 4 Bình Đẳng Lễ Sám Văn; 5 Khoá hư Lục

Có những tác phẩm trên đây không còn, nhưng một số bài vẫn còn và

được giữ lại trong tập Khoá hư lục

Trong Phật giáo nói chung và thiền tông nói riêng, “Tâm” là một khái niệm quan trọng nhất Bởi vậy, chúng ta phải đi phân tích khái niệm “Tâm” trước khi vào bản thể luận trong triết học Trần Thái Tông

“Tâm” được dịch từ Vijnàna, Manas và Citta (Thức, Ý, Tâm)

Như vậy, lại có một tổ hợp gồm ý thức, ý tâm, tâm ý và tâm thức

Ở đây, ý tâm và tâm ý tương đối gần nhau, còn ý thức và tâm thức thì lại khó phân biệt Phật giáo quan niệm con người là sự kết hợp của các yếu tố động Trung tâm của dòng này theo nghĩa trừu tượng đó là tâm thức Theo người phương Đông, tâm thức đi qua ba giai đoạn:

Trang 19

14

Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn chưa có cái ta, giai đoạn này phản ánh

trung thành của ngoại cảnh

Giai đoạn thứ hai là sự trưởng thành của cái ta

Giai đoạn thứ ba siêu thoát nhị nguyên, tức là giai đoạn giải thoát cái

siêu ngã để nhập vào đại toàn thể, nhà Phật gọi là giai đoạn “đáo bỉ ngạn” (Vượt qua bờ bên kia), giai đoạn của triết lý nhất nguyên

Nguyễn Hùng Hậu nghiên cứu về Suzuki trong “Nghiên cứu kinh lăng già” của Suzuki cho rằng Citta, Alaya (A-lại-da) Tathagatagarbha (Như Lai Tạng) là Tâm

Tâm (Citta) nuôi lớn Nghiệp (Karma), Nghiệp có nghĩa là hành động hay động tác, hành động đẻ ra hậu quả của nó, cho nên nghiệp hay đi với chữ quả hay báo là nói kết quả của những hành động từ trước đẻ ra Do đấy mà Nghiệp còn có một ý nghĩa siêu hình học và tâm lý học là lý nhân quả Ý (manas) là thám xét và thức (Vijnana) là biện biệt (ở đây có một số học giả Tây phương cho rằng Đông phương triết học hãy còn ở trong vòng vô thức của người bán khai, chưa biết biện biệt cái trong và cái ngoài “Thường lầm lẫn phần tử với toàn thể” - Bougle, nhưng ở đây ông chỉ nói đúng với tâm trạng người bán khai cổ lỗ, chứ không đúng với tâm trạng người giác ngộ)

Cái tâm tổng hợp gồm Tâm (Citta), ý tâm (Manas), ý thức (Vijnana) và những thức khác vốn yên lặng và thanh tịnh nhưng khi xuất hiện vọng động trên bề mặt của tâm thì nó bị phân ra thành bát thức Tâm (Citta) hay Tathagatagarbha (Như Lai Tạng) cũng là Alaya (A-lại-da) Bởi vì tâm với nghĩa là thu góp, Tathagatagarbha (Như Lai Tạng) cũng là một loại kho chứa

và Alaya (A-lại-da) cũng là kho (tạng) chứa hay thu gom tất cả tập khí của tư tưởng, tình cảm, ước muốn hành động của con người Nhưng Như lai Tạng (Tathagatagarbha) lại nghiêng về tôn giáo mà A-lai-da (Alaya) nghiêng về triết học

Trang 20

15

Manas (ý) là thế giới bên trong, nhưng không hẳn là toàn bộ thế giới bên trong Nó bao gồm những tính chất như trí thức, lý trí, nhận thức, lý Ngoài ra còn có cả tình cảm, xúc cảm, cảm xúc, tình Tâm trong một số trường hợp lại chỉ riêng cho mỗi cái như A-lại-da (Alaya), ý (Manas) hay thức (Vijnana)

Trường hợp xem tâm là hệ thống bát thức vận hành theo tám cách khác nhau thì đúng hơn

Các tập khí (Vasana) luôn để lại các thuộc tính, tính chất của nó trong các sự vật, hiện tượng mà nó xông ướp Tập khí (Vasana) là một loại năng lượng siêu nhiên mà không thể nghĩ về chúng được

Chức năng của ý (Manas) là suy nghĩ về Alaya sáng tạo, phân biệt chủ thể và đối tượng từ các nhất thể thuần tuý của Alaya Tập khí tích tụ trong Alaya bây giờ bị phân ra thành nhị biên tính Điều này được so sánh với sự đa dạng của sóng quấy động biển Alaya ý (Manas) là xấu theo nghĩa đó, là nguồn gốc gây lên tai hoạ, khi nó có những khát vọng dựa trên những phán đoán lầm lạc, chẳng hạn chấp vào ngã, thế giới hiện tượng là thật Thức luôn suy nghĩ về ý, đi cùng với nhau, qua lại để tạo nên thế giới hiện tượng Thức khác với ý ở chỗ nó chủ yếu giữ lại chức năng về tri thức của ý

Vậy tâm là một kho chứa vô tận các dấu ấn, dấu vết vốn được tích tụ từ thời vô thuỷ Ý chính là sự sáng tạo của Tâm Nguyễn Hùng Hậu cho rằng:

Tâm có nhiều cấp độ khác nhau Thứ nhất nếu “Tâm” là trái tim bằng xương

bằng thịt thì Phật không để ý tới Tâm là thức (Vijnana) thì theo một nghĩa nào đó là ý thức thông thường của con người Nhưng không chỉ là ý thức mà

nó còn là toàn bộ thế giới bên trong Nghĩa là ngoài lý ra còn phải có cả tình Cái Tâm này chính là ý Nó cũng là bát thức

Trong Phật giáo, Tâm là bản thể vũ trụ (tâm thể, chân tâm) Khái niệm tâm ở Việt Nam còn được dùng bằng những từ như “lòng”, “bụng”, “dạ” theo cấp bậc chủ quan thì nó thiên về tình cảm, bởi vậy tư duy, lối sống thường

Trang 21

16

mang màu sắc tình cảm Nhưng cũng chính nó lại làm hạn chế đến tiếp thu sáng tạo những tri thức duy lý, khoa học kỹ thuật để hình thành nên cách nhìn khoa học

Thứ hai, bên cạnh khái niệm “Tâm” là khái niệm về “Pháp” (Dharma)

nó là tất cả vật chất và ý thức, cả cái tương đối lẫn cái tuyệt đối Phật giáo ngay từ đầu đã thừa nhận sự tồn tại các pháp, như vậy nó cũng thừa nhận thế giới vật chất là tồn tại chứ không như không luận (Sunyavada) của đại thừa sau này

Đi liền với từ “Pháp” có từ “Thân” tạo nên thành một khái niệm “Pháp thân” (Dharma Kaya) Đây là một khái niệm quan trọng của đại thừa Trong đại thừa có quan niệm tam thân Đây là quan niệm mà có ba khía cạnh khác nhau của một hình ảnh: 1 Pháp thân (hay thân pháp) (Dharma Kaya) biểu hiện thực tại đầu tiên bất biến 2 Báo thân (Sambhoga Kaya) gắn với sự ngự trị của vật trong thế giới siêu nhiên 3 Ứng thân (Nirmana Kaya) là ứng hiện của Phật với khuôn mặt người bình thường trong thế giới hiện hữu

Đối với tư trào Đại thừa thì Phật là nguyên lý tối cao với tư cách là Pháp thân, cái tuyệt đối, không sinh mà cũng không mất Tất cả các Đức Phật đều là thể hiện của Pháp thân Phật giáo nguyên thủy Việt Nam trong các tác phẩm của Mâu Tử và Khương Tăng Hội được mô tả theo đúng tinh thần của

tư trào Đại thừa, một tư trào Phật giáo rất năng động và tích cực kết hợp nhuần nhuyễn tính phóng khoáng, không cố chấp, không giáo điều

Thứ ba, đi liền với Pháp còn có một khái niệm nữa là Tính Thiền phái

Tỳ-ni-đa-lưu-chi đã đề cập đến một loạt những khái niệm có tính chất bản thể luận, chẳng hạn như “Chân Tâm”, “Chân Tính”, “Chân Thân”, “Pháp Tính”,

“Hư Vô”, “Như Như”, “Phật Tâm” Họ cho rằng bản thể tồn tại khắp mọi nơi, mọi lúc, không sinh cũng không diệt

“Bất sinh diệc bất diệt Bất thường diệc bất đoạn

Trang 22

17

Bất nhất diệc bất dị Bất lai diệc bất xuất…”

là Không (Sunya) là Chân không Tư tưởng vô trú siêu việt: không phải là không có, tất cả mọi sự vật đều do nhân duyên mà có, có một cách tương đối

Ở đây, bản thể với thế giới hiện tượng cũng là một, giống như sóng với nước

“Chân thân thành vạn tượng Vạn tượng tức chân thân”

Sau thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi là Vô Ngôn Thông, dòng thứ hai du nhập vào Việt Nam đã đưa ra khái niệm “Thể” Họ cho rằng: Thể có ở trong vạn vật nuôi dưỡng mọi sự vật nhưng lại không phải là các sự vật đó Ngoài khái niệm “Thể” Vô Ngôn Thông còn có thêm “Chân Như” “tính”, “Pháp tính”, “Pháp thân”, “Hư Không”, “Không tịnh”, “Thể”, “Thân Tâm” Bản thể

có ở khắp mọi nơi có ở trong mỗi người Khái niệm “Không”, “Hư”, “Hư không”, “Thái hư” của Trần Thái Tông ra đời trên nền tảng của cái đã đi trước

để kế thừa, phát triển những tư tưởng của các thiền phái trên

Khái niệm “Không” của nhà Phật một mặt chỉ bản thể, sự khởi nguyên của vũ trụ Mặt khác chỉ sự quan hệ trong thế giới hiện tượng với sắc

Không không có nghĩa là không có gì, không phải là phủ định mọi sự vật hiện tượng Không cũng là có mà cũng không thật Xét ở góc độ này thì không ở đây là thế giới hiện tượng Nó bao hàm tất cả mâu thuẫn “Có” và

“Không” Còn “Không” bản thể của nhà Phật thì thế giới hiện tượng hình

Trang 23

“Không” cũng “Hư” Nhưng “Không” nghiêng về khách quan bên ngoài, còn

“Hư” nghiêng về chủ quan bên trong

Trần Thái Tông dùng khái niệm “Hư” để đặt tên “Khoá hư Lục” cho sách

“Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không, thị vọng tòng không, không hiện vọng, vọng sinh chúng sắc”

Từ cái thực tại siêu nhiên nổi lên vọng động lầm mê thấy có hình tướng Hình tướng từ cái ý thức chân thực siêu nhiên mà ra, ấy là mê lầm theo chỗ vốn không mê lầm chân thật mà xuất hiện Mê lầm mà sinh ra các hình tướng khác nhau vô số

Như vậy, “Không” ở đây là cái tuyệt đối, là thái hư, chân tể Từ cái không tuyệt đối đã khởi nguyên lên vọng - tức là vô minh Vô minh theo

“Không” thì cũng là vọng tòng không, không hiện vọng, vọng thành sắc hay vọng sinh chúng sắc, tức là vô minh sinh ra thế giới hình danh sắc tướng

Vậy vô minh ở đây không thể nói rằng nó là thực tại là không có sự biến đổi và mất đi, bởi vì nó có thể bị xoá bỏ Nhưng nó không phải là không

có “Vô Minh” theo nghĩa đen có nghĩa là “Không sáng” mà “không sáng” thì

là mê muội tối tăm, theo nhà Phật đây là nguồn gốc của sự tối tăm

Bản thể trong triết học Trần Thái Tông là “Không” Từ không biết gì cho đến xuất hiện “Vọng” Ở đây ta thấy triết học của ông mang tính thần bí

Nó gần giống với ý niệm tuyệt đối tha hoá thành giới tự nhiên trong triết học của Hêghen Nếu như “Vọng” là nguyên nhân xuất hiện thế giới hiện tượng, thì trong triết học của ông, “Niệm” là nguyên nhân xuất hiện cái tôi, con người, cá nhân

Trang 24

19

Khi nói về nguyên nhân xuất hiện các cá nhân, có nghĩa là hành (tức là Nghiệp - Karma), chúng ta đã quen hay chỉ sống với thế giới bên trong (thế giới tư tưởng) trước sau thì chúng ta không cần trực tiếp với thế giới bên ngoài Bởi vậy, mãi mãi cố gắng tìm tòi để thích ứng thế giới tư tưởng với thế giới bên ngoài Để rồi cái tự tính chân tâm của chúng ta tự đồng nhất với cái trí niệm ở nội giới, là để nổi lên những làn sóng vọng niệm khuấy động cái

“bản thân huyền ngưng, chân tâm chạm tịnh”, “cái bản thể của ý thức yên lặng huyền nhiệm với cái thật thể của tâm sâu thăm thẳm ấy” Cái trí niệm lại đồng nhất hoá vào cái thức tri kiến hay mạt na thức, cái mạt na thức đồng nhất hoá vào ngã thức, để rồi hết nhận mình là cái này, lại nhận mình là cái kia, trên quá trình số lượng cá nhân hoá, hướng ra sự vật bên ngoài để rồi nhận sự vật cụ thể bên ngoài của giác quan làm thật hơn là tư tưởng Cái vòng sinh hoá hoá sinh, luân hồi sinh tử bắt đầu vần xoay, trải qua thế đồ gót rõ kỳ khu, “gặp bao nhiêu thử thách của trường đời mà tinh thần vẫn không sao giải đáp được vấn đề thắc mắc” Đâu là thực tại? Đâu là lý? “Ai hay hát ai nghe hát?” (Nguyễn Công Trứ) Ai là chủ, ai là khách trong cái tuồng ảo hoá vô thường vô ngã ấy là cái cuộc sinh tử luân hồi này? Tất cả chỉ do một ý niệm sai lầm mà hiện ra thiên hình vạn trạng:

“Cái do niệm khởi duyên hội ngũ uẩn hợp thành, thể mạo vọng sinh, hình dung giả xuất” (Bởi vì ý niệm hiện lên, nhân duyên gặp gì năm uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) hợp nên, thân thể diện mạo lầm đẻ ra, hình dung giả hiện)

Trên đây Trần Thái Tông đã cực tả cái lịch trình kinh nghiệm của cái tâm sau khi cá nhân hoá vì “sai lầm một niệm nên hiện đa đoan” Những kinh nghiệm sướng khổ vui buồn ấy diễn qua tâm hồn ta và in vào đấy những hình ảnh khác nhau, kết quả là một mớ ấn tượng hoà hợp thành cái gọi là cá tính của ta vậy

Chính vì thế mà thiền định trong triết học của Trần Thái Tông là thủ tiêu Niệm (nghiệp) và đạt tới cái tâm vô niệm (Không nhớ nghĩa tức là không

Trang 25

20

tạo nên nghiệp) “thuỳ vô niệm, thuỳ vô sinh” (ai không có niệm thì không có sinh, tức tránh được nghiệp, vượt qua được vòng tuần hoàn luân hồi sinh tử): ông cho rằng muốn tắt hết được ý niệm thì phải tập ngồi định thần Và tinh thần thiền theo ông là một chiến đấu nội tâm để thực hiện một trạng thái quân bình cho tinh thần Quân bình ấy là ý thức tổng hợp biện chứng giữa bình diện thiền hay siêu nhiên với bình diện địa hay hiện hữu Mục đích ngồi định nhằm tắt được hết ý niệm Mà thiền học của Trần Thái Tông tránh hai cực đoan là “loạn tưởng” biết theo kinh nghiệm giác quan từ trong tiềm thức thúc đẩy, hay là “vô ký” lãng quên vào tự tính bản thể Theo Trần Thái Tông thì, thiền chỉ cốt “tức niệm chứ không cần giải thích từ đâu mà có “Niệm khởi”, chỉ làm thế nào mà để gạt được cái làm che mờ lấp chân tâm, chứ không cần giải thích từ đâu mà có cái màng che ấy

Trong triết học của Trần Thái Tông có hàng loạt những khái niệm như

“Tính”, “Pháp Tính”, “Chân Tính”, “Bản Tính”, “Tâm”, “Phật”, “Tâm Phật”,

“Chân Tâm”, “Chân Như”, “Như Như”, “Bát nhã thiện căn”, “Bồ đề giác tính”, “Pháp Thân”, “Hư Không”, “Hư”, “Không”, “Bản lai diện mục”… những khái niệm trên có tính bản thể luận Ở đây ông đã có một số khái niệm mới hơn so với hai thiền phái trước là Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông Ông đã đưa ra khái niệm “Bản tính”, “Bát nhã thiện căn”, “Bồ đề giác tính”,

“Bản lai diện mục”, “Không”, “Hư” Nhưng tất cả những khái niệm của ông cũng như của hai thiền phái trước có tính bản thể luận trên bình diện tuyệt đối hay tồn tại tuyệt đối Chúng đều na ná giống nhau

“Bản Lai Diện Mục” cũng như “Chân Tính”, “Bản Tính”, “Tính”,

“Pháp Tính”, “Thân Tâm”, “Bản Tâm”, “Tâm Phật” nó là khuôn mặt nguyên xưa, chính là bản tâm, cái tâm ban đầu, cái tâm này nó là bản thể, là không

hư Cái tâm ở trong mỗi con người không phải là tâm ban đầu, nó chỉ là sự phản ánh mờ nhạt của cái tâm ban đầu do phải trải qua những kiếp luân hồi, sinh tử Trong tâm của mỗi người hiện nay chỉ còn lại dấu vết, dấu ấn mờ nhạt

Trang 26

21

mà người ta thỉnh thoảng vẫn gọi là Phật tính hay tính Phật Phật tính này, Trần Thái Tông gọi là Bồ đề giác tính hay Bát nhã thiện căn Khi diệt được tham, sân và si thì Bồ Đề giác tính hay Bát nhã thiện căn lại tràn đầy Nhưng khi chưa diệt được tham, sân và si thì cái tâm ban đầu và cái tâm hiện có ở mỗi con người là một chặng đường dài, chuỗi mắt xích dài của sự sống chết Trong quá trình kiếm sống, tham dục nổi lên, tâm con người bị vấy bẩn

Khái niệm “Pháp Thân” có tính chất bản thể luận trong triết học của Trần Thái Tông, nhưng ở đây ông dùng khái niệm “Phàm thân” tức thân trần tục của người bình thường Nếu thân con người là giả hợp, ảo ảnh, là con số trên sân khấu cuộc đời thì pháp thân là chân thật vĩnh viễn Theo Trần Thái Tông, đời người thường nhận mình là thực, quên mất pháp thân Nhưng đây chỉ là sự lầm tưởng

Như vậy bản thể là “Không” nhưng được nhiều tên gọi như “Hư”,

“Pháp thân”, “Chân như”, “Phật tính”…

Bởi vậy, bản thể này tồn tại như thế nào thì là như thế, nó không thêm không bớt, không thiện, không ác, không hình, không tướng Nói chung, nó không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả nó được Thế giới hiện tượng con người xuất hiện một cách thần bí từ bản thể này Vì thế mà mỗi chúng sinh đều có mầm mống của bản thể Cũng có thể ví như con có những đặc tính của mẹ vậy Quan niệm này là của Đại thừa Phật tính có ở trong mỗi chúng sinh Phật tính tiềm ẩn được phản ánh rõ hay mờ là phụ thuộc vào hành vi kiếp trước và cuộc sống hiện tại của mỗi con người Vì mu muội, ngu xuẩn và vì chưa diệt được tam độc cho nên Phật tính ngày càng lu mờ đi Chứ vốn ban đầu giác tính của chúng sinh là thanh tịnh, sáng suốt, trong trẻo không một chút gợn, một chút bụi bặm

Bản thể, Phật tính này tồn tại vĩnh viễn, không phụ thuộc vào không gian, thời gian Nó như trong quá khứ, hiện tại, tương lai Phật tính ấy là bản thể Đại Đồng, là thực tại tuyệt đối của Trần Thái Tông quan niệm cho nên

Trang 27

22

ông bảo rằng: “Phật vô Nam Bắc” vì không phụ thuộc vào không gian, thời gian, vào điều kiện của hoàn cảnh địa lý, lịch sử Chính cái thực tại ấy là thực tại siêu nhiên của triết học truyền thống Đông Phương Nó không phân biệt nam bắc, ở đâu cũng có thể tu cầu, Bản thể là không nó loại ra mọi sự đối lập, mâu thuẫn, nhị nguyên Tức là nó không phân biệt kẻ khôn ngoan hay kẻ ngu

si đần độn: Trần Thái Tông chỉ ngay vào cái thực tại linh diện siêu nhiên làm đối tượng không phải chỉ cho suy tưởng mà chính là đối tượng để sống, thực hiện cả trong tư tưởng lẫn ngoài hành động Cái thực tại ấy là Phật tính, tuy một mặt không lệ thuộc vào không gian và thời gian, siêu việt lên trên, nhưng mặt khác, nó đồng thời cũng tiềm tàng linh động trong thiên hình vạn trạng của vũ trụ sự vật, biến hoá không ngừng này Đã biến hoá không ngừng “trôi chảy ngày đêm không nghỉ” (Khổng Tử) không có vật gì mãi mãi là A, chỉ có một quá trình vừa là điểm A lại chuyển sang điểm B và lại tự phủ nhận B để sang điểm C… Tất cả đều biến đổi, vận động mà toàn thể vẫn có trật tự, vẫn

có điều lý nhắc đi nhắc lại như có nhịp điệu vận hành, ở bên trong sự biểu hiện có cái gì tồn tại làm bản thể chung cho tất cả Vì bản thể chung ấy của nhân loại, theo Trần Thái Tông ở đây là Phật tính, bình đẳng, cho nên mỗi người có thể tự tu sửa để cầu tìm “quân khả tu cầu” Và cũng nhờ có Phật tính làm bản tính chung ấy cho nên ở mỗi cá nhân thông thường tuy bản tính ấy tác dụng ra trong điều kiện sinh sống thực tế có kẻ trí, kẻ ngu, nhưng không một ai là không tự bẩm, có bản tính giác ngộ của Phật cả, tất cả chúng sinh đều là con của Phật, đều bẩm thụ Phật tính mà sinh ra cả, khác nhau ở trình độ tác dụng, ở trình độ biểu hiện sáng hoặc mờ ví như trăng khi trời quang hay trời có mây vậy

Như vậy, ta lại thấy một vấn đề nữa xuất hiện, đó là quy luật “vô thường” của nhà Phật Nhà Phật cho rằng mọi sự vật, hiện tượng đều biến đổi, sinh, lão, bệnh, tử; không có cái gì tồn tại vĩnh viễn cả Nhưng bản thể của nhà Phật nói chung và triết học của Trần Thái Tông nói riêng, lại có vẻ như

Trang 28

âm như là dấu trừ (-), dương như là dấu cộng (+) hợp với nhau sẽ tiêu diệt lẫn nhau thành số không Bởi thế mà nguyên lý chí linh ở trong vũ trụ phải ở trên bình diện âm Dương đối đãi Trần Thái Tông xét vòng sinh hoá ở nhân luân phỏng theo vòng sinh hoá ở vũ trụ, đã ví mùa xuân khi cây cỏ muôn vật bắt đầu một vòng thời tiết lại sinh nở với khí dương quang trở lại, với tuổi con người mới lọt lòng mẹ ra đời, bắt đầu một vòng sinh không phải là hết, bất xuống rồi lại nhô lên chìm xuống hết lớp này đến lớp khác thành vòng luân hồi sinh hoá Nhưng sinh hoá do một cái chân tính không sinh hoá biểu hiện

ra, chứ không phải có một thượng đế ngoài thế giới đã sáng tạo ra Có sinh hoá vì một ý niệm sai lầm nên ngộ nhận nó biệt lập sai khác với vô sinh hoá của chân tính

Vì hữu niệm với vô niệm là hai quan điểm trái nghịch nhau cũng như

Âm với Dương, cho nên mới có sống, chết và không sống chết, sinh hoá và vô sinh hoá, biến dịch và bất dịch

Trang 29

24

Nhưng Âm Dương như là hai mặt của một đồng tiền, hữu niệm và vô niệm là hai quan điểm của hình danh sắc tướng còn như ở tại tự tính, chân tâm bản thể mà nhìn thì tổng hợp là “Một”, đâu còn mâu thuẫn, cũng như trong âm có dương, trong dương có âm cả hai đều nằm trong cái chí linh đồng nhất tính là Đạo hay Thái cực mà xuất hiện thì vận động sinh hoá mới cơ bản tồn tại liên tục Quá trình biện chứng vận động Âm Dương ấy cứ thế mà diễn

ra từ núi sinh, đến từng núi lão, bệnh, tử, cũng như hết xuân sang, hạ đến, thu

về, đông đến rồi lại trở lại sang xuân phục sinh Bởi thế mà Thái Tông khuyên người đời chớ bám chắc vào cuộc đời bọt bể vô thường lấy làm ý nghĩa cứu cánh mà đắm chìm vào hương, vị, thanh, sắc của mũi, lưõi, mắt, tai chúng ta lừa gạt

Một vấn đề được đặt ra: Làm thế nào để đạt được tới cảnh giới Phật Khái niệm “cảnh giới” làm chúng ta nghĩ rằng, những thế giới khác nhau chỉ

ở trong tinh thần Trần Thái Tông cho rằng muốn đi đến giác ngộ thì trước hết phải biến tâm mình thành hư không và hãy quay trở về với cái tâm ban đầu, trở về với bản thể không Ngộ ở đây là thấy trực tiếp chân lý, tức là thấy trực tiếp Phật tính tại tâm mình mà thực tại tuyệt đối vũ trụ đồng nhất thể

Cho nên Trần Thái Tông khuyên con người hãy nghiên cứu học thuyết Không Bởi vì Không là khởi nguyên, bản thể của vạn vật, không nhờ vọng

mà sinh ra thế giới hiện tượng bản thể được Thái Tông ví như nhà, như quê hương Cùng một tâm ở mỗi người là có hai con đường Một là hãy quay trở lại về nhà, về quê hương, hai là rơi tiếp vào địa ngục Ông quở trách những người quên mất Phật tính vốn sẵn có trong mình mà không quay đầu trở lại, vẫn cứ tiếp tục đắm chìm trong mê muội, bể khổ; đó là quan niệm của Trần Thái Tông về bản thể

Vậy quan niệm của Trần Thái Tông về thế giới hiện tượng và con người thì như thế nào?

Trang 30

25

Thế giới hiện tượng, hay là thế giới trần tục mà nhà Phật gọi, đó là sự kết hợp của những pháp động Nó bị chi phối bởi luật sinh tử, cái gì có sinh ra thì ắt phải có tử, chi phối bởi luật vô thường: mọi cái đều biến đổi và chi phối bởi luật nhân quả, mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong mối quan hệ nhân quả, cái lý nhân quả chi phối tất cả hành động, vì không có một hành động nào trong hiện tại lại không có một hành động trước nó sinh ra, không phản ứng một hành động khác đã có từ trước, và phản ánh này lại không sinh ra một hay nhiều phản ứng khác nữa tức là hậu quả Nhân nào quả ấy, nhân quả, quả nhân hỗ trợ ảnh hưởng lẫn nhau

Theo Trần Thái Tông thì cái tuyệt đối nằm trong cái tương đối, bản thể nằm trong thế giới hiện tượng, niết bàn nằm trong thế giới trần tục Ở đây có hai quan niệm khác nhau về Niết bàn; Tiểu thừa (Hilayana) cho rằng con người sau khi chết thì mới đạt được tới Niết bàn, còn Đại thừa thì cho rằng ngay trong thế giới trần tục này con người bằng đốn ngộ mà trở thành Phật Như vậy là niết bàn đối với Tiểu thừa là ở một trời siêu nhiên, với duy tâm khách quan, còn đại thừa thì cho rằng đó chỉ là một trạng thái tâm lý với duy tâm chủ quan

Vào Niết bàn nghĩa là đã giác ngộ, mà đã giác ngộ tức là đã trở thành Phật Phật có nhiều mức độ Trong triết học Trần Thái Tông ta thấy xuất hiện khái niệm “hoạt Phật” (Phật sống) tức là người tồn tại trên thế giới này cũng

có thể trở thành Phật Ở đây ta thấy Trần Thái Tông có ảnh hưởng của thiền Đại thừa Đối với những “hoạt Phật” này thì rực rỡ hoa vàng hết thảy là tâm bát nhã Trần Thái Tông đã phát triển theo khuynh hướng của Đại thừa, ông cho rằng Phật chỉ có ở trong lòng, chứ không tồn tại bên ngoài, tức bản thể tồn tại trong thế giới hiện tượng, cũng như Mạnh Tử chủ trương: “Vạn vật bị

ư ngã, phản thân nhi thành” (nguyên lý tạo vật có đủ ở ta, trở về bản thân mà thực hiện)

Trang 31

26

Đấy là cái ý nghĩa “Phật tức Tâm” nghĩa là Phật là nguồn của cái biết,

là cái ý thức bản thể của ý thức sự vật hay là ý thức tác dụng cho nên bảo

“tâm tịch nhi tri” tâm thể trong lặng yên sáng mà biết, đấy là cái biết toàn diện của tâm bao hàm cả tình, ý, trí Cái tâm ấy là Bát nhã, là cái “ thể đồng nhất” của vũ trụ Một khi thấy được, giác ngộ được tâm ấy thì thấy được chân tướng của vũ trụ, thấy được nguyên lý của Chân, Thiện, Mỹ, không còn phân vân đau khổ nữa và vững chắc đứng lên trên cả quan điểm thông thường của người đời về chân, giả, thiện, ác, mỹ, tương đối (Triết học của Trần Thái Tông với những lập luận của mình đã xuất phát từ việc phân tích cá nhân chứ không phải là những khách thể vật chất của thế giới bên ngoài Trong con người cá nhân, triết học của ông chỉ tập trung vào cái Tâm - nơi chứa mầm mống tính Phật Theo nhà Phật thì vạn pháp đều do tâm tạo ra cả, cái tâm là bản thể vũ trụ không dung có điểm trần niệm nào mà “vốn thành tĩnh thuần nhất bình đẳng như như bất động” Từ đây rồi mới khởi lên ý niệm phân hoá

ra phải, trái, thiện, ác Bởi vậy Trần Thái Tông cho rằng nếu tâm vô minh, vọng động thì sẽ xuất hiện cái ta - vật, tâm - cảnh, tức là xuất hiện cá nhân và hiện tượng thế giới bên ngoài Còn nếu Tâm trở nên hư không tĩnh lặng thì tâm cũng không mà cảnh - thế giới bên ngoài cũng không, ví như mặt biển không nổi sóng phẳng, lặng yên tĩnh có thể trong suốt từ mặt xuống đáy Như vậy nếu Tâm vọng động thì sẽ xuất hiện thế giới hiện tượng Về điểm này thì triết học của Trần Thái Tông theo đúng nghĩa của nó là triết học duy tâm, còn chủ nghĩa duy tâm mà ta dịch từ phương Tây sang thực ra là chủ nghĩa duy ý thức Còn chữ “Tâm” của nhà Phật rất rộng, còn ý thức cũng chỉ là một bộ phận nhỏ của “tâm” Trong khái niệm “Tâm” trên đây, chúng tôi đã khá rõ

Về luật vô thường của nhà Phật cũng như triết học của Trần Thái Tông đều công nhận sự tồn tại của thế giới Nhưng sự tồn tại của thế giới cũng chỉ

là ảo vọng, không có thật, nó như những hình ảnh được phản chiếu dưới nước

mà có những đợt sóng làm khuấy động Trần Thái Tông đã mô tả cái vũ trụ ảo

Trang 32

là như thế, nửa thực nửa hư Bởi vậy trong cái thế giới hiện tượng, tương đối này còn có luật nhân quả, sinh tử

Trước hết ta đi phân tích quan niệm của Trần Nhân Tông về phạm trù

“Sinh” trong triết học của ông: thế giới hiện tượng xuất hiện nhờ vọng hay là

vô minh của cá nhân, bởi vậy con người cá nhân này phải chịu sự chi phối của vòng luân hồi nghiệp báo Điểm xuất phát trong sợi dây mắt xích luân hồi trong triết học của Trần Thái Tông là niệm (hành nghiệp) Con người xuất hiện chịu bao đau khổ, ngũ uẩn tranh giành nhau Trong lúc sống, tất cả mọi hành vi cử chỉ của thân, khẩu, ý dù tốt hay xấu đều được ghi lại trong sâu thẳm của A-lai-da-thức, gần giống với tiềm thức, tạo nên một luật vô hình nghiệp quá khứ vừa tạo nhân cho nghiệp sau này Nhưng nếu nghiệp của quá khứ quá nặng mà trong cuộc sống hiện tại con người ngày càng tịnh tiến trên con đường thánh thiện, thì việc này làm thay đổi cấu trúc của các nghiệp theo hướng tốt làm giảm mức độ nặng nề của nghiệp quá khứ Trần Thánh Tông cho rằng sinh, lão, bệnh, tử cũng như bốn mùa xuân, hạ, thu , đông… đã có sinh ắt có tử, sống chết chỉ là sự hợp tan của ngũ uẩn Ông cho rằng muốn thoát khổ, thoát sinh tử con người cần phải tu hành, không phân biệt kẻ trí, người ngu, trai hay gái, bản thể nằm trong tâm của mỗi con người, mỗi cá nhân đều ngầm có khả năng giác ngộ đặng thấy cái Phật tính ấy đều kiến tính, thủ tiêu cái vô minh vọng niệm

Nói chung, bản thể luận của Trần Thái Tông mang mầu sắc duy tâm thần bí Điều đầu tiên là do không, không khởi vọng, vọng theo không Khi

Trang 33

Nhưng cái khổ ở đây nghiêng về mặt tâm lý, tất nhiên là cũng phải có cái khổ về vật chất như đói, rét… Nhưng khổ không có nghĩa là khổ, sướng

và khổ có mối liên hệ biện chứng lẫn nhau, sướng và khổ không đứng biệt lập Chỉ chừ những vị đã đắc đạo thì vượt lên trên sướng khổ, còn chúng ta những con người trần mắt thịt thì không thể nghĩ được

Triết học Trần Thái Tông quan niệm bản thể nằm trong Tâm, nên đã quy định nhận thức luận là nhận thức Tâm chứ không phải nhận thức thế giới hiện tượng, sự vật Bởi vì cái Tâm của ta đã trải qua bao kiếp luân hồi sinh tử, cái tâm của ta còn bị vô minh che lấp thì làm sao ta hiểu được, nắm bắt được cái “Ta” của mình, mà khi chưa hiểu được cái “Ta” thì làm sao cái ta lơ mơ

đó hiểu được và nắm bắt được thế giới sự vật, hiện tượng Chính vì nghĩa đó, triết học Trần Thái Tông kêu gọi con người hãy quay trở về với cái tâm ban đầu, cái tâm hư không, cái Tâm quê hương Con người mải mê với con đường dẫn đến sinh tử mà không ai hướng vào bên trong Tâm Bởi vậy, họ vẫn sống trong ảo ảnh, họ quên mất rằng trong mỗi con người đều có Phật tính Nhưng cái Phật tính ấy không diệt trừ được tham, sân và si, vọng động mà ta cần phải đến một trí tuệ, đây là đạo của nhà Phật - đạo trí tuệ, nó khác với trí tuệ thông thường hàng ngày của mỗi con người

Bởi xuất phát từ cái quan niệm đối tượng nhận thức trong triết học là cái Tâm, cho nên ông cho rằng tính chính là mục đích nhận thức trong triết học của ông

Trang 34

29

“Phàm người học đạo chỉ cần kiến tính”, tính, tính Phật hay là Phật tính thì đều là bản thể, bản tâm và cũng là không Bản tính vốn sẵn có đức sáng tức là tuệ giáo hay là cái biết tự biết, thì mới có thể “chuyển hồi biến kế vọng tâm, tiếp nhận như lai tạng thức” xoay cái tâm vọng lầm tính toán, đối đãi, số lượng trở về mà trực tiếp nhập vào bản thể như lai nguồn biết Công việc trở

về không phải một mình tác dụng lý trí suy tưởng đối đãi năng tri với sở tri có thể đạt được, đây là công việc biến hoá khí chất toàn diện thân tâm, đem ý thức từ bình diện này sang bình diện kia, từ tiềm thức sang ý thức và từ ý thức sang siêu thức là ý thức vũ trụ Đây cũng là Phật tính

Con người ngoài tội vô minh, không nhìn ra Phật tính nơi bản thân mình thì không có tội gì hơn nữa, kẻ nào mà đã lãnh hội được Phật tính nơi mình thì kẻ đó không còn tạo nghiệp nữa

Nhận thức trong triết học của Trần Thái Tông là nhận thức bằng trực giác, bởi vì bản thể trong triết học của ông không thể dùng ngôn ngữ văn tự mà

mô tả được Nó tồn tại như nhiên, đứng trước nó ngôn ngữ bất lực Nhưng nếu không nói thì lại không có ai hiểu Bởi vậy lại phải “nói” Việc nói ở đây như người ta lấy ngón tay của mình để chỉ trăng Bởi vậy, đã không miêu tả bằng ngôn ngữ lời nói thì mọi sự tư duy duy lý chẳng có ích gì Sự nhận thức ở đây

là bản tâm chứ không phải là nhận thức thế giới thông thường để ta dùng tư duy thông thường phân tích, bản thể chỉ có thể được trực giác trong tính toàn

bộ chỉnh thể của nó trong một khoảng khắc Nhận thức trong triết học của Trần Thái Tông không chỉ phát hiện ra hiện thực mà còn hoà đồng với hiện thực Bởi vậy nhận thức trong triết học của Trần Thái Tông là nhận thức trực giác

Có ý nghĩa là sự chuyên chú và tập trung năng lực tinh thần nhằm mục đích biết trực tiếp thực tại không nhờ đến môi giới trung gian gián tiếp

Ngoài nhận thức trực giác còn có nhận thức từ người khác, người khác truyền cho Tâm của người thầy đã giác ngộ là bản thể Bởi vậy Tâm của thầy truyền sang Tâm học trò (Dĩ tâm truyền tâm) nhưng con người đều có Phật

Trang 35

30

tính, người thầy nói là truyền tâm cho học trò, nhưng không thể lấy tâm của mình mà ấn sang tâm của người học trò được, bởi vậy người thầy chỉ cho trò biết để diệt đi hết cái vô minh mà thôi “Dĩ tâm truyền ấn” cũng là một phương pháp nhận thức trong triết học của Trần Thái Tông Ngoài ra vấn đáp

và niệm tụng cũng là phương pháp nhận thức trong triết học của ông

Ông cho rằng vấn đáp cũng là một phương pháp để đi đến giác ngộ, kẻ nào căn cơ linh lợi qua vấn đáp thì mau chóng giác ngộ Bởi vậy mà vấn đáp

là những vòng án đặc biệt của thiền Nó là cái hích làm cho mọi cái đến độ chín muồi phải bung ra và chuyển thành những cái khác

Ngoài ra trong triết học của Trần Thái Tông còn có phương pháp nhận thức niệm tụng Ở đây “Niệm” có nghĩa là nêu lên ý kiến của tác giả về vấn

đề ấy, có khi bổ sung hoặc bác bỏ “Tụng” là tóm tắt toàn bộ kiến giải của mình thành bài kệ cô đọng để học trò đọc tụng Phương pháp này dùng trong giới tu hành giữa thầy và trò, nó chẳng khác gì phương pháp vấn đáp

Phương pháp nhận thức cơ bản trong triết học của Trần Thái Tông là

“Thiền”

Trong cuộc đời của con người, mải theo suy nghĩ về một vấn đề, không

để ý tới bất cứ một việc gì ngoài khác Ví như những nhà bác học, suốt cuộc đời chỉ theo đuổi một ý tưởng của mình để rồi phát minh ra cái này hay cái khác có hữu ích, cái ý nghĩa đó có hữu ích cho học cũng giống như ánh đèn chỉ chiếu vào một chỗ, bởi thế chỗ đó rất sáng, những con người như thế là những con người rất thông minh Còn những kẻ nghĩ một nẻo, làm một nẻo, không tập trung vào một vấn đề cho nên bị phân tán, bao nhiêu tiềm năng không được phát huy

Chính vì vậy thiền đã đứng ra giải quyết nhiệm vụ này Con người muốn tập trung thì phương pháp tốt nhất là ngồi thiền (thiền định) Trong triết học của Trần Thái Tông, thiền có ba cái: Giới, Định, Tuệ Giới có nghĩa là uy nghi, Định có nghĩa là không loạn, Tuệ có nghĩa là giác biết Cho nên lấy Giới

Trang 36

31

để tiêu trừ bẩn ác, Định để tiêu trừ bẩn giàng buộc, Tuệ để tiêu trừ bẩn sai khiến dịch sử Ở đây Trần Thái Tông muốn đem Giới, Định, Tuệ để nhấn mạnh vào cái điểm nguồn gốc chung chỉ có một tâm mà thôi, nhờ đấy mà cái

nọ biến hoá được cái nọ ra cái kia để hướng cả vào “trực giác” cùng tột Nhờ

có sự tập trung vào một tâm ấy bằng cách định chỉ mà ba tác dụng của tâm từ bình diện nọ vượt sang bình diện kia, nhất là bình diện ý thức danh lý biến hoá sang bình diện của siêu ý thức hay trí tuệ thần thông Ở đây Tuệ và Định liên hệ với nhau “tuệ giác do ở sức của Định nẩy ra, nếu tâm chú định được nẩy ra gương tuệ giác Nếu tâm rối loạn thì gương tuệ giác tắt Cũng như tấm gương bằng đồng mài xoay về sau mới có sáng chiếu trong soi Nếu không mài xoay thì rêu ngấn bám bờ Đã mờ bám làm sao sinh ra sáng soi được Cho nên biết rằng tuệ giác do nơi chú định của tâm mà xuất hiện, hệ tâm dịch rồi thì tuệ giác sinh ra Chú định và tuệ giác của tâm nương tựa lẫn nhau hai phương diện không bỏ được một”- (Tuệ giáo giám luận)

Như vậy, “Định” ở đây Thái Tông nói là trình độ cao nhất của ý thức là thiền định vậy Thiền định theo ông là một năng lực, định lực tập trung hết sức để hướng vào một chỗ

Niệm Phật cũng là một trong những phương pháp của triết học Trần Thái Tông Ông cho rằng: niệm Phật thì sẽ dẹp tắt được ba nghiệp Nhưng niệm Phật như thế nào thì mới dẹp tắt được ba nghiệp đó? Thái Tông viết:

“Niệm Phật do nơi tâm nổi lên, tâm nổi lên về đường thiện là niệm thiện, niệm thiện lên liền có nghiệp thiện báo lại Tâm nổi lên về ác là niệm ác”

Bởi vậy “trong khi niệm Phật thân thể ngay thẳng, ngồi ngay ngắn, không làm hành động tà, thế là dẹp tắt thân nghiệp Miệng đọc lời thật không nói đạo tà thế là dẹp tắt khẩu nghiệp”

Theo ông, mọi sự đều do Tâm toạ ra cho nên muốn giải thoát khỏi nghiệp báo ứng chỉ phải dùng chính cái định luật báo ứng để vượt lên, cũng như kẻ bị dẫm phải cái gai rồi lại dùng cái gai khác mà nhể đi

Trang 37

32

Như vậy là triết học của Trần Thái Tông quan niệm bản thể luận trong tâm, bởi vậy, nhận thức luận trong triết học của ông cũng là nhận thức tâm, có nghĩa là biến Tâm mình thành trong lặng, thành hư không, bởi vậy đối tượng nhận thức là Tâm và mục đích nhận thức là Tính Đây là một đóng góp mới của Trần Thái Tông trong triết học Đặc điểm tư tưởng triết học của ông là sự tổng hợp những tư tưởng trước đó thành một hệ thống tư tưởng tích cực riêng biệt Hệ thống này đã được tuệ Trung Thượng Sĩ phát triển về mặt lý luận Chính con đường này đã có ảnh hưởng to lớn về Thiền phái Trúc Lâm Yên

Tử sau này

Như trên đã nói, tư tưởng triết học thời Trần được bắt đầu từ Trần Thái Tông Ở đây, tư tưởng mang đậm màu sắc của thiền, ông đã tiếp thu, sáng tạo những tư tưởng đi trước, để phù hợp với lịch sử của dân tộc, có lợi ích thiết thực cho dân tộc, bởi vậy ông đã mở đường cho cả một dòng tư tưởng thiền học riêng biệt cho dân tộc, nó phản chiếu cả một giai đoạn lịch sử dân tộc

Nếu như lịch sử Phật giáo từ trước tới nay là lịch sử rút ngắn con đường đi đến giác ngộ, thì Phật giáo Việt Nam nói chung, tư tưởng Trần Thái Tông nói riêng có đóng góp không nhỏ

Phật pháp ở tại thế gian này, không thể dời thế gian này mà đi tìm giác ngộ được, nó tồn tại ở ngay thế gian trần tục, nếu tách rời thế gian này thì sẽ chẳng bao giờ tìm thấy giác ngộ, càng tìm thì nó càng biến mất, như là đi tìm những cái không có thực Bởi vậy, cái đẹp, cái cao xa lại nằm ngay trong thế giới bụi bặm này, nó ở trong tâm của mỗi con người và con người muốn đi đến giác ngộ (niết bàn) thì cũng chính là hành động theo con đường trần tục,

đó là làm những công việc lao động hằng ngày như quét dọn, gánh nước… Tư tưởng ai hướng thiện, vươn tới cái tâm bao la thì người đó sẽ tiến dần đến giải thoát, đã được quốc sư Trúc Lâm làm rõ thêm khi khuyên nhà vua (Trần Thái Tông), đồng thời cũng là vị Phật tử: Lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình, lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình Theo tư tưởng này thì con

Trang 38

33

người hướng thiện là phải mở rộng ra bên ngoài phục vụ con người cộng đồng, khai rộng dần dần tâm nhiều người từ nhỏ đến rộng, càng rộng bao nhiêu thì con đường đi đến giác ngộ càng gần Tuệ Trung Thượng Sĩ - ngôi sao sáng trên nền thiền học Việt Nam đã nói: “Tâm của muôn loài tức Tâm Phật” Chính vì lấy nguyện vọng mong muốn của muôn dân làm nguyện vọng mong muốn của mình cho nên Phật giáo Việt Nam đã mang những hành động thiết thực cụ thể, trút được cái tâm cá nhân nhỏ bé để nhận lấy cái tâm đồng loại, bởi vậy mà vô tâm, có nghĩa là tâm tất cả, mà tâm tất cả lại là vô tâm Biện chứng là ở chỗ đó

Thầy trò Trần Thái Tông đã tìm ra được một con đường vừa tương đối

cụ thể vừa tương đối ngắn gọn để đi đến giác ngộ

1.2.3 Tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng Sĩ

Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Tung 1230- 1291) là một cư sĩ, ngôi sao sáng trên nền trời thiền học Việt Nam, ông đã được vua Thánh Tông ban cho một danh hiệu cao quý - Thượng sĩ Đã được vua Nhân Tông tôn làm thầy Vua Trần Nhân Tông viết: “Tuệ Trung là người có khí tượng thâm trầm, phong thuần nho nhã, từ nhỏ ông đã có bản chất cao sáng, thuần hậu và yêu mến đạo Phật” Nhân cách của Thượng Sĩ có khi lương thâm sâu, tinh thần nhàn nhã, tuổi trẻ sớm mộ đạo Phật Người nào tìm hỏi Thượng Sĩ đều chỉ cho điều cương yếu khiến cho giữ vững tâm đạo Ông không những là bậc thầy trong đạo, mà còn là một minh sư xuất sắc, lỗi lạc Những lời dạy, những câu thiền của ông đã được vua Trần Thánh Tông cho khắc in, để lại cho hậu thế Những đóng góp to lớn về tư tưởng triết học của ông đã có ảnh hưởng sâu sắc đến thiền phái Trúc Lâm nổi tiếng

Về bản thể luận, Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng giống Trần Thái Tông, ông cho rằng, bản thể luận là không (Sùnyata) Cái bản chất ở sâu thẳm bên trong mà ta không thể dùng ngôn ngữ diễn tả được Nó tồn tại như nhiên Bởi vậy, Cảnh lẫn Tâm đều là không:

Trang 39

34

“ Ngày ngày khi đối cảnh Cảnh cảnh do tâm ta Tâm cảnh vốn không có Chỉ Ba la mật đa (Paramita) Quan điểm trên đây của Tuệ Trung Thượng Sĩ có sự gần gũi với phái Màdhyanika của Nàgayuna, Tuệ Trung Thượng Sĩ cho rằng, khắp nơi đều là

Ba la mật Ta có thể nghĩ rằng Ba la mật ở đây mà Thượng Sĩ muốn nói đến là Bát nhã Ba la mật Theo Long thọ (Nàgayuna), khi bát nhã tức Tuệ xuất hiện thì nó có thể trở về với Không; triết học trung quán của Long Thọ cho rằng khi nào suy tư của người ta biến hết đi, bấy giờ trực giác về thực tại tuyệt đối xuất hiện Trực giác này là cái đức tính “sáng sáng” thường tư tại, không phải

tự đâu xuất hiện mà là vốn ở trong bản tính nhân loại, bị vọng tưởng che đậy

Cho nên đánh tan hết vọng tưởng thì trực giác toàn diện lại sáng tỏ, khác nào mặt trời vốn sáng bị bóng mây che lấp trước mắt chúng sinh nên thấy tối

Quan điểm của Tuệ Trung Thượng Sĩ cho bản thể là không còn được thể hiện ở Tâm và Đạo, ông cho rằng Tâm và Đạo vốn không và lặng, có thể tìm được ở đâu?

“Tâm Đạo nguyên hư tịnh

Hà xứ cánh truy tầm”

Đây là bài kệ mà Thượng Sĩ giới thuyết về đạo lý đại đồng Vốn không

có ý thức thì cũng không có cái gì gọi là đạo lý cả Nhưng cái người ta quan niệm là đạo thì hẳn phải có ý thức để ý niệm Trước khi nhân loại có ý thức về đạo thì cả ý thức lẫn tác dụng ý niệm chưa xuất hiện, còn nằm trong tiềm thức hay vô thức đại đồng

Xứ sở và thời gian đều do ý thức tạo nên, như thế thì khi chưa có ý thức thì làm sao tìm được ở đâu là đối tượng cho vô thức nữa Đấy là Thượng Sĩ muốn nói về cái đạo tuyệt đối đại đồng Như Lão Tử nói về cái Đạo: “Đạo

Trang 40

35

khả đạo phi thường Đạo” cái đạo có thể nói được thì không phải là đạo còn mãi, vĩnh cửu, tuyệt đối bất dịch

Thượng Sĩ viết: “Vô tâm bất thị đạo, vô đạo diệc vô tâm” nghĩa là:

“Không có ý thức hay vô tâm không phải là đạo lý, không có đạo lý cũng không có tâm” Hay:

“Chân tính vô phi diệc vô thị, Đáo gia tu tri bãi vấn trình Kiến duyệt an năng khổ tầm chỉ”

(Bản tính chân thật không trái cũng không phải Đến nhà mới biết thôi hỏi đường về Thấy vầng trăng sao hay khó nhọc tìm ngón tay chỉ bảo?” Như vậy Thượng Sĩ đã trung thành với tư tưởng truyền thống Đông phương, bắt nguồn từ cái trực giác “vạn vật đồng nhất thể” như Trang Tử đã nói: “Trời đất cùng với ta hiện ra đồng thời, tạo vật với ta một thể”

Chỉ khi nào ta ý thức ta là ta bấy giờ mới có cái ta mệnh danh cho là trời đất và thế giới vật này với vật kia khi ta chưa phân biệt được ta với thế giới chung quanh ta thì còn nằm trong trạng thái vô danh, hồn nhiên của cái tâm đồng tử

Cái ý nghĩa “về đến nhà” mới biết khỏi hỏi thăm đường Chính cái

“nhà” ở tại nội tâm bản thân không ở đâu bên ngoài Tất cả danh từ, ngôn ngữ, tri thức hình danh sắc tướng chỉ là môi giới gián tiếp ví như ngón tay chỉ trỏ mặt trăng ở phương nào, khi đã thấy trăng rồi thì còn theo ngón tay chỉ trỏ làm chi nữa Cũng thế mà một khi quay về nội tâm đến chỗ bản thể là nguồn gốc chung của ba tác dụng căn bản của tâm là chân, thiện, mỹ thì tự nhiên thấy viên mãn, đầy đủ, không còn đòi hỏi tìm kiếm hoài ở đâu nữa Cái tâm thể ấy vừa nội tại vừa siêu nhiên; bản thể là “không” có trong sáng, nó nằm tiềm ẩn bên trong sâu thẳm của sự vật, cái mà chúng ta nhìn thấy chỉ là tướng

và dụng của nó

Ngày đăng: 20/03/2020, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm