1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đại cương văn học giân gian

114 502 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 582,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự kế thừa thành tựu VHDG của văn học viết SV chuẩn bị bài – GV tổ chức - Văn nghệ dân gian là khái niệm rộng hơn khái niệm VHDG, bao gồm cả văn vànghệ, cả sáng tác ngôn từ và các loại h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

\

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG

ĐẠI CƯƠNG VĂN HỌC DÂN GIAN

Trang 2

Chương 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN

CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN

1 KHÁI NIỆM FOLKLORE

1 1 Thuật ngữ Folklore

Tiếng Anh: Folk: Nhân dân, lore: kiến thức, trí khôn.

Thuật ngữ Folklore xuất hiện lần đầu tiên năm 1846 ở Luân Đôn trong mộtbài báo công bố trên tạp chí “The Atheneum” do một nhà khảo cổ học người Anhtên là William J Thoms sử dụng Thuật ngữ này được dùng lần đầu tiên bao hàmmột nội dung khá rộng, dùng để chỉ:

+ Những di tích của nền văn hóa vật chất

+ Nhưng chủ yếu là những di tích của nền văn hóa tinh thần của nhân dân

Sang những thập kỷ giữa của thế kỷ XIX, thuật ngữ này được chấp nhận sửdụng một cách rộng rãi và trở thành thuật ngữ khoa học mang tính quốc tế

Trên thực tế, trong quá trình sử dụng, có nhiều cách định nghĩa khác nhau,nhiều quan niệm khác nhau về nội dung khái niệm folklore, đối tượng nghiên cứucủa Folklore học VD: Quan niệm của trường phái nhân chủng học Anh -Mỹ, trườngphái xã hội học ở Tây Âu, trường phái folklore học Xô Viết…

1 2 Các quan niệm khác nhau về Folklore

a Quan niệm của trường phái nhân chủng học Anh- Mỹ (đại biểu: T.Sternberg,

J Harland, T.T.Wilkinson)

Đây là trường phái chiếm vị trí quan trọng trong các trường phái Folklore.Năm 1879, Hội Folklore được thành lập ở Luân Đôn và việc xác định nội dung kháiniệm được đặt ra một cách cụ thể Có hai xu hướng: mở rộng và thu hẹp nội hàmkhái niệm dẫn đến hai cách định nghĩa khác nhau

Thứ nhất, theo nghĩa rộng: Folklore bao gồm toàn bộ lịch sử văn hóa khôngthành văn của các dân tộc thời nguyên thủy

Trang 3

Thứ hai, theo nghĩa hẹp: Folklore bao gồm phong tục, tập quán, lễ nghi, tínngưỡng…thời cổ sơ được bảo lưu trong những bộ phận cư dân trong thời kỳ đầu vănminh.

Đến giai đoạn sau, các nhà nghiên cứu (A.Lang, M.R Cox, E S Hartland, G

L Gomme…) chủ yếu theo xu hướng mở rộng khái niệm nhưng họ đã quan niệmchặt chẽ hơn Họ nhấn mạnh đến yếu tố tinh thần, tín ngưỡng, tôn giáo, nghi lễ,huyền thoại, cổ tích, dân ca…bao hàm trong khái niệm Folklore Trong khi phátbiểu quan niệm của mình, mỗi nhà nghiên cứu lại nhấn mạnh đến những khía cạnhriêng VD: Lang chú ý đến “tàn dư tinh thần xa xưa để phân biệt với các hiện tượngvăn hóa hiện đại” còn M R Cox lại chú ý tới “các khái cạnh truyền thống”, trong

đó, “yếu tố tâm lý có vai trò đặc biệt” Nghĩa là, hầu hết các học giả Anh đều cho

rằng Folklore học là khoa học về truyền thống.

Như vậy, Khái niệm Folklore ngay tại quê hương của nó đã gây được sự chú

ý, quan tâm tìm hiểu với rất nhiều cách định nghĩa khác nhau trong các cuốn từ điểnbách khoa của Anh Điều quan trọng là các định nghĩa ấy đều thống nhất ở quanniệm cho rằng Folklore học là khoa học nghiên cứu về truyền thống

b Quan niệm của trường phái xã hội học ở Tây Âu (Pháp, Ý, Bỉ, Tây Ban Nha)

- Khoảng những năm thập kỷ 80 của thế kỷ XIX, thuật ngữ Folklore đã được sửdụng khá phổ biến ở Tây Âu Các đại biểu: Paul Sebillot, A Gittee, A V Gennep,

P Saintyves, A Marinus (Bỉ), R Corso, A Gramsi (Ý)…

- Các nhà nghiên cứu Tây Âu quan niệm nội dung của folklore cũng khá rộng, cơbản cũng thống nhất với cách hiểu của trường phái nhân chủng học Anh- Mỹ chorằng Folklore học là khoa học nghiên cứu về truyền thống

- Điểm khác biệt giữa Folklore học Tây Âu và Folklore Anh Mỹ là ở góc độ tiếpcận, cách định vị trong hệ thống khoa học và quan hệ nó với các khoa học khác

c Quan niệm của trường phái Folklore học Xô Viết

- Các nhà khoa học Nga sử dụng thuật ngữ này cũng vào khoảng thập kỷ 80 của thế

kỷ XIX Ban đầu, họ quan niệm Folklore tương đương với các khái niệm quen dùng

Trang 4

như “cái cổ xưa đang còn sống động”, “cái cổ xưa hiện tồn”, “sáng tác dân gian”,

“sáng tác thơ ca dân gian”

- Về sau, ở đây xảy ra rất nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề Folklore, tạo racác khuynh hướng, cách hiểu khác nhau

+ Khuynh hướng 1: Ngữ văn học hóa Folklore: Đồng nhất Folklore với nghệ thuậtngôn từ Crap xốp, Nôvi côva

+ Khuynh hướng 2: Dân tộc học hóa Folklore: Đồng nhất Folklore với dân tộc học.Prop và Xô cô lốp

+ Khuynh hướng 3: Nghệ thuật hóa Folklore, khẳng định F là một loại hình nghệthuật, tiếp cận nó chủ yếu dưới góc độ thẩm mỹ Đap le tốp

- Các khuynh hướng đều thu hẹp nội hàm khái niệm

1.3 Folklore ở Việt Nam

Ở Việt Nam, thuật ngữ folklore được dùng tương đối muộn và cũng được hiểuvới một số nội dung rộng hẹp khác nhau

Giai đoạn đầu, một số nhà nghiên cứu đồng nhất folklore với văn học dângian

Khoảng cuối những năm 60 của thế kỷ XX, khi Hội văn nghệ dân gian thànhlập, khái niệm này lại có xu hướng mở rộng hơn, bao gồm văn học và nghệ thuật dângian, gọi tắt là văn nghệ dân gian Văn nghệ dân gian được coi là một nghệ thuậtnguyên hợp bao gồm các thành tố cơ bản: ngữ văn dân gian, nghệ thuật diễn xướngdân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian Như vậy folklore là những sáng tác dân gian

bao gồm ngữ văn dân gian, diễn xướng dân gian và tạo hình dân gian Từ đây, người

ta nhận thức được rằng không thể chia cắt các thành tố tạo thành văn nghệ dân gian

Năm 1983, khi Viện văn hóa dân gian thành lập, khái niệm folklore được xácđịnh rõ ràng hơn Các nhà nghiên cứu dần thống nhất cách hiểu về khái niệmfolklore như sau:

Folklore tương đương với thuật ngữ Văn hóa dân gian trong tiếng Việt Văn

hóa dân gian là toàn bộ sáng tạo tinh thần và sáng tạo vật chất mang tính nghệ thuậtcủa nhân dân, trong đó có văn học dân gian, hội họa dân gian, nghi lễ dân gian, tạohình dân gian, kiến trúc, y học, ẩm thực, tôn giáo…

Trang 5

2 KHÁI NIỆM VĂN HỌC DÂN GIAN

2.1 Thuật ngữ

Trước đây, những sáng tác văn học nghệ thuật tập thể, truyền miệng của nhândân lao động thường được định danh bằng các thuật ngữ như: văn chương bình dân,văn học bình dân, văn học đại chúng, văn chương truyền khẩu, văn học truyềnmiệng…

Những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ VHDG xuất hiện (cụ thể, năm 1955,nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã đưa ra khái niệm này dựa trên thuật ngữ gốc củaTrung Quốc: dân gian văn học) Đến năm 1960, thuật ngữ này chính thức được sửdụng trong các giáo trình VHDG của các trường chuyên nghiệp

VHDG vừa là một bộ phận của văn học dân tộc, vừa là bộ phận nghệ thuật ngôn từ truyền miệng của văn hóa dân gian, phản ánh sinh hoạt xã hội, công việc làm ăn, đời sống tâm lý, tình cảm, thái độ, nguyện vọng, kinh nghiệm mọi mặt của nhân dân lao động các thế hệ.(GT VHDG VN- Nguyễn Bích Hà, Nxb ĐHSP, tr 8)

2.3 Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, văn học dân gian và văn nghệ dân gian, văn hóa dân gian

2 3.1 Văn học dân gian và văn học viết

- Điểm tương đồng: VHDG và văn học viết đều là nghệ thuật ngôn từ Nghĩa làchúng đều cùng sử dụng ngôn từ làm phương tiện quan trọng nhất để sáng tạo hìnhtượng nghệ thuật, thể hiện tư tưởng, quan niệm, thái độ tình cảm của các tác giả quanhững hình tượng nghệ thuật đó

- Điểm khác biệt:

Trang 6

+ VHDG là nghệ thuật ngôn từ truyền miệng của tập thể nhân dân lao động, trong

đó, tính nguyên hợp, tập thể, truyền miệng, tính dị bản là những đặc trưng nổi bật

VHDG chưa phải là nghệ thuật ngôn từ thuần túy được chuyên môn hóa cao và hoàntoàn độc lập như VH viết mà chỉ là thành phần nghệ thuật ngôn từ có tính độc lậptương đối ở trong những sáng tác dân gian mang tính nguyên hợp Do đó, VHDGkhông chỉ là bộ phận của văn học dân tộc mà còn là bộ phận của văn hóa dân gian VHDG tác động trực tiếp đến thực tiễn và tham gia vào đời sống thực tiễn như mộtthành tố không thể tách rời VHDG được công chúng tập thể tham gia sáng tạo,chỉnh sửa, thêm bớt liên tục trong quá trình sáng tác và thưởng thức

+ VH viết là nghệ thuật ngôn từ gắn với tự do cá nhân của nhà văn hoặc những

người có học thức chuyên môn, sáng tác và xuất bản, lưu hành, do đó, tính thành văn, tính cá thể, hữu danh và tính ổn định là đặc trưng của văn học viết.

VH viết tác động đến đời sống thực tiễn một cách gián tiếp VH viết chỉ ra mắt côngchúng sau khi được hoàn chỉnh

- Vai trò của VHDG: VHDG vừa là “nguồn gốc” vừa là “nền tảng” của văn học mỗidân tộc Ví dụ?

a Sự kế thừa thành tựu VHDG của văn học viết (SV chuẩn bị bài – GV tổ chức

- Văn nghệ dân gian là khái niệm rộng hơn khái niệm VHDG, bao gồm cả văn vànghệ, cả sáng tác ngôn từ và các loại hình nghệ thuật khác như mỹ thuật, hội họa,sân khấu, điêu khắc, kiến trúc, nhảy múa…

- Văn hóa dân gian là toàn bộ sáng tạo tinh thần và sáng tạo vật chất mang tính nghệthuật của nhân dân, trong đó có văn học dân gian, hội họa dân gian, nghi lễ dân gian,tạo hình dân gian, kiến trúc, y học, ẩm thực, tôn giáo…

3 Các đặc trưng cơ bản của VHDG

Trang 7

3.1 Tính nguyên hợp

* Khái niệm:

- Nguyên hợp theo gốc tiếng Hy Lạp: Synkpetismos, tiếng Nga: CuHkpemugm

Theo Guxep “Nguyên hợp là sự dính liền nhau ngay từ ban đầu của các loại hình

khác nhau trong sáng tạo văn hóa” (Từ điển bách khoa toàn thư về văn học, M,

* Biểu hiện cơ bản:

+ Thứ nhất: Tác phẩm VHDG không tách rời với hoạt động của đời sống thực tiễn.Các sáng tác truyện kể thần thoại, sử thi, bài dân ca…được hình thành, tồn tại gắnliền với các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân từ xưa đến nay VD: Phầnlời của sử thi thần thoại “Đẻ đất đẻ nước” gắn bó chặt chẽ với sinh hoạt mo then củangười Mường, sử thi anh hùng “Đam San, Xing Nhã” gắn với sinh hoạt văn hóacộng đồng của người Ê đê, hát Then gắn với sinh hoạt tín ngưỡng của người Tày(Nùng, Mèo…) Nói cách khác, VHDG không chỉ là văn học mà còn là ngọn nguồncủa triết học, khoa học, lịch sử, văn hóa…Mỗi tác phẩm VHDG có thể phản ánhnhiều mặt của cuộc sống, vừa thực hiện chức năng văn học vừa thực hiện chức năng

sử học, dân tộc học, …

+ Thứ hai: VHDG gắn bó chặt chẽ với các loại hình nghệ thuật khác trong tổng thểFolklore như: vũ đạo, âm nhạc, hội họa…Nói cách khác, văn học dân gian đã kếthợp yếu tố ngôn từ với các yếu tố khác như âm nhạc, điệu bộ, động tác…để phảnánh, chuyển tải nội dung Điều này đặc biệt quan trọng và thể hiện rõ khi các sángtác được diễn xướng (hát, kể, nói, diễn), tức là khi chúng thực hiện chức năng sinhhoạt thực hành

- Sự gắn bó chặt chẽ giữa tác phẩm VHDG với hoạt động thực tiễn của nhân dân thểhiện tính nguyên hợp về mặt hình thái ý thức (nội dung), còn sự chưa tách rời giữacác loại hình nghệ thuật biểu hiện tính nguyên hợp về mặt thẩm mỹ (hình thức) củaVHDG

Trang 8

- Tính nguyên hợp của sáng tác dân gian cũng như của VHDG không nhất thành bấtbiến mà luôn vận động, biến đổi gắn liền với sự biến đổi, phát triển của bản thânsáng tác và VHDG trong tiến trình lịch sử Thời kỳ đầu khi xã hội chưa có hoặc ít cóphân công lao động thì tính nguyên hợp trong sáng tác VHDG nhiều và đậm nét Vềsau, do ảnh hưởng của VHNT chuyên nghiệp, do sự phân công lao động tăng thì tínhnguyên hợp ngày càng giảm VD: So sánh thần thoại, truyền thuyết với cổ tích,truyện cười…

3.2 Tính tập thể

- Nói đến tính tập thể chủ yếu là nói đến chủ thể sáng tạo (tác giả) và chủ thể tiếpnhận của VHDG Tính tập thể biểu hiện mối quan hệ phụ thuộc của VHDG vào môitrường sinh hoạt, điều kiện sống, điều kiện lao động và sinh hoạt tập thể của quầnchúng nhân dân lao động Các tác phẩm có thể cùng được sáng tác trong cùng khungcảnh lao động, cùng vui chơi, cùng đi hội lễ, bên bếp lửa Có thể một người hát lênmột câu, sau đó, những người khác thêm vào những câu khác cho hoàn chỉnh Cũng

có thể tác phẩm VHDG ban đầu là sáng tác của một cá nhân, nhưng sau khi xuấthiện, tập thể thấy hấp dẫn, phù hợp với tình cảm chung nên đã tiếp nhận, lưu truyền

và tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung Tác giả ban đầu không có ý thức giữ bản quyền củamình Điều này tạo nên tính vô danh của VHDG

- Cần phân biệt tính tập thể, tính vô danh với tính không có tác giả Thực chất,không có hiện tượng, sự việc, sự vật nào trong thế giới cũng như trong văn học lại cóthể tự sinh, nghĩa là không có tác phẩm nào là không có tác giả Có điều, tác giả vănhọc dân gian là một tập thể, ở đó, dấu ấn cá nhân hòa chung với dấu ấn tập thể, tâm

lý cá nhân hòa trộn với tâm lý tập thể

- Nói đến tính tập thể không có nghĩa là phủ nhận vai trò cá nhân Nghĩa là khôngthể hiểu: Tập thể sáng tạo VHDG là một tập thể đồng loại, đồng hạng, mờ mờ nhânảnh, là một công ty vô danh mà trong tập thể ấy có các cá nhân đóng vai trò quantrọng Thực tế sáng tác và diễn xướng tập thể cho thấy vai trò chủ chốt của những cánhân có tài năng nổi bật, đó là những nghệ nhân đích thực Không có sự sáng tạo cánhân thì cũng không có sự sáng tạo tập thể và không có sự sáng tạo tập thể nào lạitách rời khỏi sự sáng tạo của các cá nhân hợp thành tập thể đó

- VD: Giáo trình Đinh Gia Khánh tr 33

Trang 9

- Nhận xét của Clô đơ Roa: “Thơ ca dân gian là kết quả của sự cộng đồng sáng tạo của một người mà chúng ta không biết tên tuổi (thường là thế) với những người khác mà tên tuổi thì chúng ta (hầu như luôn luôn) không biết”.

TL: Có ý kiến cho rằng: Quá trình sáng tác và lưu truyền tập thể làm cho tác phẩm VHDG ngày càng hoàn chỉnh Nhận xét của anh (chị).

3 3 Tính truyền miệng

- Tính truyền miệng vừa là hình thức tồn tại vừa là phương thức sáng tạo củaVHDG Tính truyền miệng thể hiện trong quá trình sáng tác, lưu truyền, sử dụng vàbiểu diễn bằng miệng của tác phẩm VHDG (Phân biệt với sự sáng tác bằng bút, xuấtbản, lưu truyền và tiếp nhận bằng văn bản của văn học viết) Do tính truyền miệng

mà các quá trình nói trên (sáng tác, lưu truyền, diễn xướng, thưởng thức) của VHDGgắn chặt với nhau, tác động và thúc đẩy nhau một cách trực tiếp

- Tính truyền miệng là một đặc trưng có liên hệ mật thiết với tính tập thể trong quátrình sáng tác và lưu truyền và được coi là một đặc trưng của sự sản xuất nghệ thuậtđặc biệt của VHDG

+ Nguyên nhân đầu tiên có thể là do điều kiện lịch sử chi phối (chưa có chữ viết vàđiều kiện lao động tập thể, sáng tác trực tiếp trong quá trình lao động)

+ Nguyên nhân quan trọng hơn là hình thức tồn tại và lưu truyền đặc thù đó rất phùhợp tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của VHDG mà bộ phận VH viết không có (Kết hợpngôn từ với các yếu tố khác để phản ánh nội dung, thái độ, tình cảm, cảm xúc) Nóicách khác, tính truyền miệng đã trở thành một đặc trưng thẩm mỹ của VHDG

- Tính truyền miệng cũng tạo nên sự chọn lọc tự nhiên đối với các sáng tác VHDG.Những tác phẩm không phù hợp sẽ dần bị quên lãng, loại bỏ và ngược lại

- Tuy vậy, sự thể hiện của tính truyền miệng ở mỗi thời kỳ lịch sử là khác nhau Ởthời kỳ đầu, khi con người chưa có chữ viết, phương thức truyền miệng đóng vai tròđộc tôn Trong thời hiện đại, chúng giữ vai trò quan trọng

- Trong quá trình lưu truyền bằng miệng, có hai yếu tố được sử dụng: truyền thống

và ứng tác, hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ

- Truyền thống là những bài hát, câu hát có sẵn, nghệ nhân chỉ việc học thuộc và kểlại, hát lại Ứng tác là khả năng sáng tạo những tác phẩm, đoạn mới tùy theo hoàncảnh và mục đích

TL: Phân tích vai trò và mối quan hệ giữa truyền thống và ứng tác.

Trang 10

3 4 Tính dị bản

- Là hệ quả tất yếu của tính tập thể và truyền miệng Dị bản = bản khác

- Dị bản là sự khác nhau ở một vài đặc điểm về hình thức (từ, cụm từ) nhưng nộidung thẩm mỹ cơ bản không thay đổi (Đại đồng tiểu dị)

VD: Theo Đinh Gia Khánh, đến năm 1958, có đến gần 500 dị bản của truyện Tấm Cám trên hầu khắp các châu lục.

Bản 1: Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sim.

Bản 2: Hôm qua tát nước đầu đình

Để quên chiếc áo trên cành hoa sen.

- Dị bản có mặt trong tất cả các thể loại của VHDG, nhưng thể hiện đa dạng vàphong phú hơn cả là trong ca dao

- Lưu ý nhận xét của tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn “Thi pháp ca dao”

(NXB KHXH, H, 2006, tr 83-84):

VHDG nói chung và một tác phẩm nói riêng (một lời ca dao A) luôn được lưu truyền trong không gian và thời gian Quá trình ấy có thể làm cho A sâu sắc hơn về nội dung, chặt chẽ thêm về kết cấu, trau chuốt hơn về nghệ thuật ngôn từ Quá trình lưu truyền ấy lại có khi làm cho A bị phá vỡ, mất dần đi hoặc trở nên một bộ phận cấu thành của lời khác Quá trình ấy có thể giữ nguyên khung cấu tạo của A, chỉ thay đổi một số chi tiết theo một trong hai xu hướng cụ thể hóa và khái quát hóa… Vận động đến một thời điểm nhất định (hay một địa phương nhất định), A sẽ thay đổi với một trong hai khả năng:

+ A thay đổi vượt quá độ, trở thành lời khác (là B chảng hạn).

+ A thay đổi chưa vượt quá độ, vẫn là nó nhưng có thêm sắc thái mới, A’ chẳng hạn

Như vậy, A và B là hai lời riêng biệt A và A’ là hai bản khác nhau của một lời.

Trang 11

Nếu lấy bản ghi trong các sách Tục ngữ phong dao, Tập 1 (in năm 1957, tr 17) và Thi ca bình dân Việt Nam, (Tập 1, tr 316) làm căn cứ, thì lời ca dao:

Ai đem con sáo sang sông

Để cho con sáo sổ lồng nó bay

Có 10 dị bản khác nhau:

1 Ai xui con sáo sang sông

Để cho con sáo sổ lồng nó bay

(Hát ghẹo, Dân ca Phú Thọ, tr 21)

2 Ai đem con sáo qua sông

Để cho con sáo sổ lồng nó bay

(Hương hoa đất nước, tr 43)

3 Ai đem con sáo sang sông

Cho nên con sáo sổ lồng bay xa

(Dân ca miền Nam Trung Bộ, tập I, tr 113)

4 Ai đem con sáo sang sông

Nên chi con sáo sổ lồng bay xa

(Cổ Việt phong dao, tr 9)

5 Ai đem con sáo sang sông

Để cho sáo đói sổ lồng sáo bay

(Dân ca Quan họ Bắc Ninh, tr 233)

6 Ai đem con sáo sang sông

Để cho con sáo sổ lồng sáo bay

(Hát ghẹo, Dân ca Vĩnh Phúc, tr 30)

7 Ai đem con sáo sang sông

Nên chi con sáo sổ lồng sáo bay

(Việt Nam phong sử, quyển II, tr 40)

8 Ai đem con sáo qua sông

Để cho con sáo sổ lồng bay xa

(Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, bản in năm 1971, tr 522)

9 Ai đem con sáo qua sông Cho nên con sáo sổ lồng bay xa

Trang 12

(Thi ca bình dân Việt Nam, tập I, tr 548)

10 Ai đem con khướu sang sông

Để cho con khướu sổ lồng khướu ra

(Nam âm sự loại, bản dịch chép tay, quyển VI, tr 25)

Ví dụ truyện Cây khế và các dị bản Ăn khế trả vàng, Nhân tham tài nhi Điểu tham thực nhi vong… (Xem tài liệu "Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam" củaNguyễn Đổng Chi)

tử Hay bài ca dao sau đây được lưu truyền ở nhiều địa phương:

Núi kia ai đắp mà cao

Sông kia ai bới ai đào mà sâu ?

Ta có thể liệt kê ra nhiều dị bản như

Non Hồng ai đắp mà cao

Sông Lam ai bới ai đào mà sâu ? (Vùng Nghệ Tĩnh)

Lũy Thầy ai đắp mà cao

Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu ? (Vùng Quảng Bình)

Núi Trường ai đắp mà cao

Lạch Vích ai đào nước chảy thành vung ? (Vùng Thanh Hóa)

Núi Truồi ai đắp mà cao

Sông Dinh ai bới ai đào mà sâu ? (Vùng Thừa Thiên - Huế)

- Phân biệt dị bản với bản sai:

VD: Trong sách Thi ca bình dân Việt Nam, tập 1 có ghi câu:

Sa chân bước xuống ruộng dưa

Kẻ kia tám lạng người này nửa cân

Bản đúng:

Sa chân bước xuống ruộng dưa

Dẫu cho ngay chết cũng ngờ thằng gian

So ra ai dễ kém ai

Kẻ kia tám lạng người này nửa cân

Hoặc VD về bản sai:

Trang 13

Câu: Chúa vắng nhà, gà vọc niêu tôm

Với câu: Chúa vắng nhà mà mọc đuôi tôm

- Có mấy loại bản sai sau đây:

+ Khung cấu tạo và số lượng câu chữ gần như giữ nguyên, sai ở một số tiếng và chữ.+ Khung cấu tạo của tác phẩm bị phá vỡ, một tác phẩm có thể bị cắt thành những bộphận hoặc những mảnh rời rạc

+ Nhiều tác phẩm hoặc nhiều bộ phận của tác phẩm bị chắp lại thành một tác phẩmkhông hoàn chỉnh

- Phân biệt dị bản trong VHDG và dị bản trong VHV

Ở VHDG, dị bản là một đặc điểm của quá trình sáng tạo, là một thuộc tính thẩm mỹcủa tác phẩm mang lại hiệu quả tích cực cho tác phẩm nói riêng, cho sáng tácVHDG nói chung

Ở VHV, dị bản xuất hiện do một số nguyên nhân như thất lạc, sửa chữa sau nhiềulần tái bản, in ấn sai…dị bản trong VHV rất ít và hầu như là không mang lại hiệuquả biểu đạt tích cực

TL: Giá trị của dị bản với tư cách là một thuộc tính thẩm mỹ của VHDG.

3 6 Tính truyền thống (kế thừa truyền thống)

- Tính kế thừa là đặc điểm chung của các sự vật, hiện tượng trong quá trình pháttriển, cũng là đặc điểm chung trong quá trình phát triển của VHNT Điều đặc biệt là,đối với VHDG, mặt kế thừa truyền thống mạnh hơn mặt đổi mới, nhất là về hìnhthức nghệ thuật Điều này một phần lớn là do tính truyền miệng tạo thành

- VD: Sự lặp lại các môtip, công thức mở đầu các truyện kể, lời ca dao, dân ca, cácbiểu tượng, cách thức xây dựng nhân vật…

VD:

Trang 14

c gì anh hóa ra hoa,

- Tính truy n th ng c a v n h c dân gian bi u hi n các ph n g di n nh th

lo i (th th l c bát truy n th ng), ki u truy n (ki u truy n ng i m côi, ki u

truy n ng i em út, ki u truy n ng i x u xí, ki u truy n ng i d ng s ),

ngôn ng , hình t n g , hình nh (ch ng h n s l p l i c a các hình nh trong ca dao nh tr u cau, r ng mây, trúc mai ) , tài (nh các m u quen thu c

c a ca dao: M i th n g , chi u chi u, thân em, ê m qua )

Ngoài ra, tính truy n th ng còn th hi n n i dung và ngh thu t, trong sángtác và di n x n g Nó ph n ánh quy lu t sáng t o và c tr ng c a v n h c dân gian

M i tác ph m dân gian u xây d ng trên m t lo t các y u t truy n th ng nên khitìm hi u và phân tích, ta ph i d a vào h th ng và khai thác các y u t trong các h

th ng này n g th i công th c truy n th ng c ng có m i quan h ch t ch v i v n

hi n th c c ph n ánh trong Folklore â y là m t hi n th c ã c truy n

th ng ch n l c, khái quát Ch ng h n nói v m t vùng quê giàu p , con ng ithanh l ch, gi i giang, ca dao dân ca ã có s n m t hi n th c, trong truy n th ng, th

hi n các công th c a danh - phong c nh, a danh - s n v t, a danh - con ng i ,

nh " n g vô quanh quanh", "phong c nh h u tình", "nh tranh h a " , "nonxanh n c bi c", "n c ng t gió hi n", "g o tr ng n c trong", "khoai ng t s n bùi",

"d b làm n", " trai hi n gái l ch","gái m trai tài" Các công th c x p h ng, bìnhgiá nh " p nh t ", " p thay ", "Cao nh t ", "Sâu nh t ", "Th nh t ", "Thnhì "

Trang 15

Công th c truy n th ng th n g có t ng n n v n hóa, dân t c h c r t sâu s c Công

th c "tr u - cau" g n bó m t thi t v i t c n tr u, m i tr u, dâng tr u c a nhân dân

T ó hình thành m t lo t các hình nh tr u cau nh tr u g p g làm quen, tr u ttình, tr u th nguy n chung th y, tr u tan v , tr u g bán thách c i Hay công th c

"cây a " có c i ngu n t t c l th cúng Thành hoàng lâu i các làng xã Công

th c "b n sông", "con ò ", "chi c thuy n" b t r t v n hóa sông n c c a Vi tNam T t ng n n v n hóa, dân t c h c n ý ngh a c a công th c truy n th ng làquá trình bi n i , tái t o sinh n g Vi c tìm ra cái "c t", cái "lõi" v n hóa khi phântích là c n thi t b i ó là cu c s ng b sâu c a các công th c th hi n trong t ng tác

Chương 2: HỆ THỐNG THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN

1 Vấn đề phân loại

1.1 Phân loại tác phẩm VH

Từ thời cổ đại, Arixtot (384-322TCN) và F Hêghen (1770-1831) đã căn cứvào sự khác nhau về đối tượng và phương thức miêu tả để chia văn học làm ba loại

(loại hình): Tự sự, trữ tình và kịch Các nhà Folklore Nga và các nước khác trong đó

có VN cũng áp dụng cách phân loại đó vào phân loại VHDG cùng với những điềuchỉnh nhất định cho phù hợp

1.2 Phân loại VHDG

+ Theo tác giả Đỗ Bình Trị, về đại thể, khung phân loại VHDG bao gồm ba cấp độ

cơ bản:

1 Loại

2 Thể loại (đơn vị cơ sở)

3 Biến thể của thể loại

Trang 16

Tác giả cũng lưu ý rằng những hiện tượng văn học và văn học dân gian được gọibằng loại, thể loại và biến thể của thể loại là những nhóm tác phẩm có sự tương đồng

về kết cấu, về các nguyên tắc tư tưởng- thẩm mỹ và chức năng Và do tính chất phứctạp của VHDG, người ta có thể đặt ra một số cấp trung gian giữa loại và thể loại- đó

là nhóm thể loại Căn cứ vào mục tiêu phân loại, các nhà nghiên cứu còn có thể mởrộng hơn nữa khung phân loại, chia tiếp biến thể của thể loại thành kiểu loại (nhưkiểu truyện, nhóm bài ca…)

+ Trên cơ sở này, các nhà nghiên cứu có cách phân chia của riêng mình, một số đãthể hiện quan điểm của mình qua việc hệ thống hóa các loại hình và thể loại, một sốnhà nghiên cứu đã đưa ra bảng phân loại, ở đó, chúng ta thấy vừa có sự thống nhấtvừa có sự khác biệt ở một số thể loại

VD: Về tục ngữ, Đinh Gia Khánh gọi là “Lời ăn tiếng nói của nhân dân”, Cao Huy Đỉnh gọi là “”Văn học đúc kết kinh nghiệm”, Hoàng Tiến Tựu gọi là “Suy lý dân gian” và xếp thành một loại riêng Đỗ Bình Trị coi tục ngữ là một thể loại thuộc loại hình tự sự Như vậy, ở một vài điểm lập tức chưa thể có sự thống nhất trong cách

phân loại

+ Một cách phân loại hợp lý hơn mà gần đây được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất

đó là, xếp Tục ngữ, Câu đố vào những thể loại Trung gian, còn lại phân thành ba loại hình: Tự sự dân gian, Trữ tình dân gian và Sân khấu dân gian Trong đó, loại hình Tự sự dân gian gồm các thể loại cơ bản như: Thần thoại, Truyền thuyết, Sử thi,

Cổ tích, Truyện cười, Truyện ngụ ngôn, Truyện thơ, Vè Trữ tình dân gian gồm có

Ca dao, Dân ca Sân khấu dân gian gồm có: Chèo cổ, tuồng.

Bảng 1: Phân loại tổng quát về VHDG Việt Nam (của Hoàng Tiến Tựu)

Loại hình

(Nhóm)

Phươngthức biểudiễn chủ yếu

Phươngthứcphản ánh chủyếu

Các thể loại VHDG

gian, vè

(chèo, tuồng đồ…)

Trang 17

Bảng 2: Sơ đồ phân loại VHDG Việt Nam (của Đỗ Bình Trị)

Cấp

phân loại

Danh pháp

Loại I Tự sự (Truyện kể, thơ

ca kể chuyện, và lời nói

vần vè)

II Trữ tình (Ca dao

Dân ca)

III Kịch (Cakịch và tròdiễn dângian)

A Thơ catrữ tìnhnghi lễ(ca, múa,diễn)

B Thơ catrữ tìnhphi nghi lễ(ca)

2 Sửthi

3 Vèthế sự(kểchuyệnlàng)

4 Vèthanthan(kểchuyệnmình)

5 Vètrẻ em

1 Tụcngữ

2 Câuđố

3 Câuphùchú

1 Bài canghi lễlao động(lịch tiết,khẩnnguyện,xuốngđồng…)

2 Bài canghi lễsinh hoạt(sính lễ,hôn lễ,tang lễ…)

3 Bài canghi lễ tếthần

1 Bài calao động(hò)

2 Bài casinh hoạt(gia đình,

xã hội)

3 Bài cagiao

duyên (bài ca trữtình)

1 Chèo (nói,hát)

2 Tuồng đồ(nói, ca,múa, diễn)

3 Những tròdiễn có tíchtruyện

Trang 18

Truyệnthơ

2 Đặc điểm hệ thống thể loại VHDG

Các thể loại VHDG của mỗi dân tộc là một hệ thống nghệ thuật có nhữngnguyên tắc tư tưởng- nghệ thuật chung, hình thành một cách lịch sử Chúng có quátrình phát sinh, phát triển và suy tàn riêng nhưng không tồn tại riêng lẻ mà có mốiquan hệ qua lại rất phức tạp tạo thành một hệ thống Đây là một trong những quyluật quan trọng nhất của tiến trình lịch sử VHDG

Tác giả Đỗ Bình Trị trong cuốn “Văn học dân gian Việt Nam”, (Tập 1, NXB

GD, 1991, tr 48) cho rằng “Nghiên cứu VHDG đã đành là phải xuất phát từ đơn vị thể loại, nhưng không thể xem xét thể loại một cách biệt lập, mà phải đặt nó trong mối quan hệ với các thể loại khác của hệ thống thể loại ở mỗi thời kỳ của tiến trình lịch sử VHDG”

Hệ thống thể loại VHDG có tính chỉnh thể thể hiện ở hai phương diện:

Trang 19

thống nghệ thuật thống nhất là mô tả cuộc sống nhân dân, nói lên thái độ của nhândân với cuộc sống, biểu hiện thế giới tâm lý, tình cảm của nhân dân…

- Về nghệ thuật: Các thể loại VHDG chịu sự chi phối của những nguyên tắc chungcủa mỹ học dân gian, sử dụng chung những thủ pháp nghệ thuật truyền thống, cùng

mang dấu ấn phong cách chung Sự tổng hòa những yếu tố này tạo nên tính dân gian

trong văn học nghệ thuật dân gian

2.2 Mối quan hệ qua lại giữa các thể loại:

- Nguồn gốc của thể loại: Đây là vấn đề phức tạp nhất của khoa học VHDG Các thểloại có sau thường được sinh thành trên cơ sở của thể loại có trước, nhưng cũng cóthể có hiện tượng, một thể loại này là cơ sở của một số thể loại khác và nhiều thểloại cùng làm cơ sở cho một thể loại ra đời sau

- Tác phẩm thể loại này có thể sử dụng chất liệu của tác phẩm thuộc thể loại khác(thậm chí là sử dụng tác phẩm) như một chi tiết đặc biệt của cấu trúc nghệ thuật.VD: Tục ngữ, ca dao xuất hiện trong truyện ngụ ngôn, ca dao xuất hiện trong truyện

cổ tích, chèo…

Trong truyện Con lươn và con cá rô có lời của nhân vật lươn:

Nhà tôi gió mát trăng trongThềm cao, sân rộng, sổ song bốn bề

Xin bác đừng chê!

…Nhà tôi cao rộng bốn bềBác vào nhà nghỉ không hề can chi

Xin chớ ngại gì!

…Mình em như cá vào lờKhi vào thì dễ, bây giờ khó ra

Xin cố chui qua

- Sự chuyển hóa thể loại: Tác phẩm thuộc thể loại này chuyển hóa thành tác phẩmthuộc thể loại khác

VD: truyện cổ tích loài vật chuyển hóa thành truyện ngụ ngôn, ca dao trữ tình thànhbài ca lao động…

Như vậy, nghiên cứu hệ thống thể loại VHDG là một việc làm quan trọng và cầnthiết, có ý nghĩa phương pháp luận, chi phối quá trình tìm hiểu hệ thống các thể loại,tác phẩm cụ thể

Trang 20

CHƯƠNG 3: TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VHDG VIỆT NAM

1 Khái niệm về tiến trình lịch sử VHDG và vấn đề phân kỳ lịch sử VHDG

1.1 Khái niệm tiến trình lịch sử VHDG

Tiến trình VHDG là một tổng thể phức tạp bao gồm toàn bộ các hoạt động

sáng tác, diễn xướng và tiếp nhận (thưởng thức); lịch sử VHDG là lịch sử cuộc sống của các diễn bản trong đời sống nhân dân, gắn liền với các hoạt động thực tiễn của nhân dân như lao động sản xuất, sinh hoạt gia đình, sinh hoạt tập thể- cộng đồng và các hoạt động xã hội khác (GT VHDGVN T1- ĐBT- tr 91).

Phân biệt tiến trình VHDG với tiến trình VH viết:

+ Tiến trình văn học là lịch sử các tác giả và sự nghiệp sáng tác của họ, là lịch sử củacác xu hướng văn học, các trào lưu văn học

+ Tiến trình văn học dân gian không có những bước ngoặt, những chuyển hướng độtngột, những bước lùi và bước nhảy vọt…như VH viết Sự biến đổi của VHDG theothời gian vừa có tính chất rộng lớn, liên tục vừa có tính chất chậm chạp, trầm lặng

VHDG trong quá trình lịch sử có thể được cải tác một cách có ý thức, có thể bị hiểu lại một cách không tự giác Do đó không thể phân kỳ lịch sử VHDG một cách chi li

như phân kì lịch sử VH

1.2 Phân kỳ lịch sử VHDG

Theo Đỗ Bình Trị, có thể phân chia lịch sử VHDGVN thành 5 chặng lớn, chủyếu dựa vào đặc điểm lịch sử của tiến trình tiến hóa của dân tộc và các hình thái xãhội:

+ Thời kỳ dựng nước

+ Thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của các triều đại Hán, Đường(Thời kỳ Bắc thuộc)

+ Thời kỳ xã hội phong kiến

+ Thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và giảiphóng nhân dân khỏi ách áp bức phong kiến

+ Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám

Khung phân kỳ này mang dáng dấp con đường phát triển lịch sử, phải lấp đầybằng các thể loại, các tác phẩm cụ thể Cách phân kỳ này của Đỗ Bình Trị là cách

Trang 21

phân kỳ lịch sử văn học (cần tham khảo thêm cách phân kỳ văn học dân gian củaCao Huy Đỉnh)

2 Khái quát về các thời kỳ lịch sử VHDG Việt Nam

2.1 Thời kỳ dựng nước (Thời kỳ Văn Lang- Âu Lạc)

Phục hiện quá trình hình thành của văn nghệ dân gian Việt Nam trong thời tối

cổ là những việc đầy khó khăn Nói về nguồn gốc của mình vốn là một điểm yếuchung của các dân tộc Chắc không phải không có lý do mà lịch sử của hầu hết các

dân tộc đều mở đầu bằng truyền thuyết

2.1.1 Folklore trong xã hội nguyên thủy

* Những hình thức xưa nhất của folklore

Folklore là sản phẩm của lối tư duy mang những nét đặc thù của thời cổ, như:

tín ngưỡng vật linh, ma thuật, tín ngưỡng tổ tiên, sự sùng bái tự nhiên, tư duy thần thoại.

-Tín ngưỡng vật linh là cơ sở của tư duy thần thoại, có trước những quan niệm

thần thoại rất lâu Tín ngưỡng vật linh là sự đồng nhất các hiện tượng tự nhiên vớicác sinh vật, tức là quan niệm mọi sự vật đều có linh hồn, đều là một sinh thể Từquan niệm vạn vật hữu linh, đã nảy sinh quan niệm ma thuật, là niềm tin của ma lựccủa lời nói và động tác đối với ngoại giới Ở giai đoạn tảo kì của tư duy cổ đại, conngười còn đồng nhất với tự nhiên, chưa phát hiện ra bản thân mình Từ đó sinh ra

quan niện về tô tem

-Tín ngưỡng tô tem là tín ngưỡng đối với một loại vật hay thực vật được coi là thủy

tổ của bộ lạc Tô tem không phải là thần mà là thân quyến, là người bảo hộ của bộ

lạc Gần với tín ngưỡng tô tem là quan niệm về thần theo hình ảnh của con người

(anthropo morphisme – thần nhân đồng hình, đồng tính), tức là sự chuyển cho loàivật, thực vật và cả hiện tượng tự nhiên (núi, sông, mưa, gió, sét…) những phẩm chất

và thuộc tính riêng của con người…

- Khác với những hình thức nói trên trong quan niệm của con người thời cổ về

thế giới và về bản thân mình, tư duy thần thoại sinh thành ở giai đoạn tương đối

muộn của chế độ công xã nguyên thủy Nó đã là một hình thức của thế giới quan

Trước đó, con người chưa thể đặt ra và suy nghĩ về những vấn đề cơ bản củathế giới quan như: Thế giới sinh ra như thế nào? Con người xuất hiện như thế nào?

Trang 22

Các lực lượng tự nhiên tác động ra sao? v.v… Giải đáp những câu hỏi như thế - tấtnhiên, không phải bằng hoạt động tu duy trừu tượng, những quan niệm của conngười dần dần trở thành có hệ thống Và đó là đặc điểm của tư duy thần thoại Ngoài ra, quan niệm thần thoại còn mang những nét phản ánh tình trạng xã hội đãphân chia giai cấp với một thế giới thần đã có thượng thần và các “chúng thần”, cóthần thượng đẳng và thần đẳng cấp thấp

* Tính chất hiện thực của Folklore thời cổ

Folklore thời cổ không chỉ chứa đựng những quan niệm vạn vật hữu linh, tôtem, ma thuật, thần nhân đồng hình và quan niệm thần thoại Từ lâu, dựa trên nhữngbằng cứ thuyết phục, các nhà khoa học thuộc các ngành khác nhau (khảo cổ học, dântộc học, ngôn ngữ học, v.v…) đã chứng minh rằng ngay ở giai đoạn sơ kì của sựphát triển xã hội, nhận thức của con người về thế giới và về bản thân mình đã có tínhchất hiện thực

Và các hình thức cổ nhất của folklore cũng là sản phẩm của thứ “chủ nghĩahiện thực” nguyên thủy, ấu trĩ đó Trong folklore thời cổ, vì vậy, luôn luôn có sự đankết của cái hoang đường, kì ảo với những hiện tượng thực tế thực tại, với những hiểubiết sơ khai của con người về tự nhiên, nó vừa là kết quả của sự quan sát các đốitượng có liên quan trực tiếp nhất đến sự sinh tồn của tập thể thị tộc bộ lạc trong cácquá trình lao động và sinh hoạt của họ, vừa là kết quả của sự khái quát các kinhnghiệm thâu lượm được từ các quá trình ấy

* Mối liên hệ trực tiếp, mật thiết giữa folklore thời cổ với các quá trình lao động và sinh hoạt của cộng đồng

- Folklore thời cổ có mối liên hệ trực tiếp, mật thiết với các quá trình lao động

và sinh hoạt của cộng đồng Như ta đã biết, đây là nhân tố quy định tính nghuyênhợp của folklore: Trong nghệ thuật nguyên thủy, các yếu tố âm nhạc, nhảy múa, thơ

ca, hội họa (xăm mình, trang phục) chưa tồn tại tách bạch mà hòa vào nhau ở mỗitác phẩm Sự nảy sinh và phát triển của nghệ thuật ngôn từ không chỉ gắn với hoạtđộng lao động của người nguyên thủy mà trước hết gắn với sự nảy sinh và phát triển

Trang 23

của ngôn ngữ, là yếu tố nảy sinh và phát triển do nhu cầu giao tiếp của con ngườitrong quá trình lao động và sinh hoạt

- Đề cập đến nguồn gốc của nghệ thuật không thể không nói đến vai trò của óctưởng tượng và óc thẩm mĩ Các giáo trình lý luận văn học, mỹ học…thường cónhững phần trình bày cặn kẽ về nguồn gốc của nghệ thuật Ở đây, chỉ lưu ý là mốiliên hệ với lao động tuy thể hiện đầy đủ nhất ở bài ca lao động ( dẫn chứng lấy ở tàiliệu dân tộc học về một số bộ lạc, lạc hậu hiện tại), nhưng xuyên thấm mọi hình thứccủa folklore thời cổ Ý nghĩa này chưa được phân tích sâu sắc trong nhiều công trìnhnghiên cứu về văn học dân gian trong thời kỳ dựng nước

- Một số nhà nghiên cứu, khi phân tích, chẳng hạn, ý nghĩa những truyện cổ

về thời các vua Hùng, quên rằng tổ tiên chúng ta xưa kia hình dung thế giới khác xachúng ta ngày nay, đã có xu hướng gắn cho người Việt sống cách nay hàng ngànnăm trình độ ý thức lịch sử và quan niệm thẩm mỹ của người Việt hiện đại

* Folklore thời cổ manh nha một số đặc điểm dân tộc

- Ở folklore thời cổ chưa có sự định hình rõ nét những truyền thống về nộidung và hình thức nhưng đã manh nha một số đặc điểm dân tộc C.Mác, khi nói vềvai trò của thần thoại Hy Lạp đối với nghệ thuật Hy Lạp, đã xác định rõ: “vật liệucủa nghệ thuật Hy Lạp là thần thoại Hy Lạp

- Nhưng không phải bất cứ một thần thoại nào cũng được (…) Thần thoại AiCập không bao giờ có thể là cơ sở hoặc là “lòng mẹ” của nghệ thuật Hy Lạp” (1).Nhận xét này của C.Mác bao hàm ý khẳng định đặc điểm riêng của thần thoại HyLạp so với thần thoại Ai Cập Đó cũng là một đặc điểm chung của folklore thời cổ

- Chú ý đúng mức đến những đặc điểm chung, những quy luật chung của sựsinh thành và phát triển của folklore trong chế độ công xã nguyên thủy chúng ta sẽ

có một thái độ tỉnh táo, thấm nhuần quan điểm lịch sử khi đi vào những đài kỷ niệmcủa folklore thời kỳ dựng nước - Những đài kỷ niệm này đã trãi qua biết bao đợttrùng tu của các đời sau

2.1.2 Thần thoại và sử thi thời kỳ dựng nước

Trang 24

- Những hình thức xưa nhất của folklore các dân tộc là thần thoại, câu phùchú…( tục ngữ, câu đối, bài ca nghi lễ, bài ca lao động, truyện cổ tích thường xuấthiện muộn hơn) Ở giai đoạn cuối của hình thái xã hội này mới nảy sinh sử thi anhhùng, tức là anh hùng ca trong hình thức cổ điển của nó.

- Tư liệu hiện có cho chỉ cho phép chúng ta phác họa một số nét về thần thoại

và sử thi anh hùng thời các vua Hùng Muốn nói đến cội nguồn thật sự của folkloreViệt Nam, phải đẩy công việc tìm kiếm ngược lên thời kỳ trước Hùng Vương

- Thời kì Hùng Vương là thời bắt đầu dựng nước, là buổi bình minh của lịch

sử dân tộc Xã hội Văn Lang và xã hội Âu Lạc, thời các vua Hùng không còn là xãhôi nguyên thủy nữa Đây là “giai đoạn quá độ lâu dài từ một xã hội mạt kỳ nguyênthủy tiến lên một xã hội thai nghén nhà nước với những thể chế bước đầu củanó”.Vào thời đại đó, “đã xuất hiện trên đất nước ta một nền văn hóa khá cao, mộtnền văn minh nông nghiệp rực rỡ” Cộng đồng người Việt hàng nghìn năm làm chủ

một bờ cõi, đã có một số đặc tính ổn định thể hiện ở ngôn ngữ, ở nền văn minh vật

chất và văn hóa tinh thần cùng nhiều mặt khác

- Điều đó lý giải: bị người ngoài đô hộ và dùng nhiều thủ đoạn để đồng hóatrong hơn mười thế kỉ, người Việt vẫn giữ được tiếng nói, phong tục và những bảnsắc riêng khác của mình.(ở thế “mở”), nghĩa là “biết tiếp thu những cái hay củangười ngoài để tăng sức cho mình tự giải phóng”

- Tóm lại không nên có cái nhìn mơ hồ về “thời cổ” lẫn lộn thời Hùng Vương đã ởngưỡng cửa “thời đại văn minh” với giai đoạn thấp của “thời đại dã man”

- Thời đại thời Hùng Vương còn bảo lưu một số nét của văn hóa nguyên thủy

Đi tìm những trầm tích của những tín ngưỡng nguyên thủy, của sinh hoạt xã hội thờichế độ công xã nguyên thủy trong các “lớp” sâu nhất ở những thần thoại này Nhiềunhà khoa học đã phân tích, chẳng hạn, dấu vết tín ngưỡng tô tem chim của người

Lạc Việt, trăm trứng của Âu Cơ hoặc trong truyện “Đẻ người” của Mo Đẻ Đất, Đẻ Nước; biểu hiện tư duy lưỡng hợp

Trang 25

- Sự hiện hữu những thần thoại về “anh hùng văn hóa” là đặc điểm tiêu biểucủa các thần thoại thời Hùng Vương Một bộ phận thần thoại suy nguyên (giải thích

nguồn gốc của các sự vật, hiện tượng) được nhào nặn thành thần thoại sáng tạo (tức

là thần thoại về “anh hùng văn hóa”):

- Do đó, nảy sinh hình thức thứ ba, là sự đồng nhất một số vị thần từ hainguồn nói trên lại (như Lạc Long Âu Cơ, Tản Viên ) Đó là truyện kể về những

“Ông”, “Bà” khổng lồ tạo thiên lập địa, những “anh hùng lao động” đã phá rừng, lấpbiển, khai khẩn đồng bằng, chống hạn, chống hạn, chống lụt, trồng lúa, dệt vải, dạynghề gốm, nghề mộc, nghề rèn, dựng nhà cửa, làm bánh trái, v.v Những kỳ tíchchinh phục htiên nhiên, sáng tạo văn hóa đó nói lên khá rõ tính chất cuộc sống, sự

làm ăn, tập tục, lối tư duy của một dân tộc nông nghiệp định cư và sống dưới chế độ thị tộc.

Trên cơ sở tư liệu hiện có, có thể phác họa diện mạo của thần thoại và sử thi thời kỳdựng nước qua ba giai đoạn như sau:

- Thứ nhất: Thời kỳ Hùng Vương có thể được coi là “thời kỳ anh hùng” của

lịch sử Việt Nam – “thời đại cây kiếm sắt” Đây là thời kỳ liên minh các câu lạc bộLạc Việt Sự tự ngã nhận thức của cộng đồng nhân dân rộng lớn này, là cơ sở xã hội

- lịch sử đặc thù của sự nảy sinh anh hùng ca

- Thứ hai: Với sự xuất hiện những thần thoại về “anh hùng văn hóa”, thần

thoại thời Hùng Vương đã đạt đến một sự hệ thống hóa nhất định, tạo mảnh đất choanh hùng ca nảy nở

- Thứ ba: Những tài liệu do khảo cổ học, dân tộc học cung cấp, chẳng hạn như

ý nghĩa các hình khắc trên các trồng đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ…, những miêu tả vềcác cuộc trình diễn tổng hợp ở các lễ hội như hội Đền Hùng, hội Gióng, hội Rô…Đều gợi ý liên hệ đến lối diễn xướng anh hùng ca thời cổ

- Chỉ dẫn quan trọng hơn hết là những truyện kể về thời các vua Hùng Lâu nay, tìnhtrạng rời vụn, xô bồ của những truyện kể này đã che lấp bản chất, thể loại chung,tính thống nhất và mối liên hệ bên trong của chúng:

Trang 26

- Tất cả, dù hiện mang dạng thể loại nào (truyện cổ tích, truyền thuyết lịch sử,truyện truyền kỳ…) đều kể về nguồn gốc dân tộc, đất nước, về cuộc sống xã hội vàcông cuộc khai sơn phá thạch, sáng tạo văn hóa buổi đầu Nguồn tài liệu tác phẩmgồm nhiều đơn vị truyện kể với hàng trăm diễn bản, có thể quy thành ba nhóm:

+ Một là, nhóm truyện kể về nguồn gốc các vua Hùng;

+ Hai là, truyện kể về những kỳ tích dựng nước;

+ Ba là, nhóm truyện kể về những chiến công giữ nước.

- Nhóm truyện thứ nhất: Hình thành trên cơ sở đồng nhất thủ lĩnh của cộng đồng các

bộ lạc Lạc Việt với tổ tiên thần thoại:

+ Các vua Hùng được quy là con của Âu Cơ và Lạc Long Cặp nhân thần này

là điểm đỉnh của sự phát triển của kết cấu thần thoại về nguồn gốc thế giới và muônloài theo tư duy lưỡng hợp (chia hai, hòa một): Chim - Thuồng luồng

+ Đất (Núi) - Nước (Sông); Đực – Cái … Đó cũng là biểu tượng sự kết hợphai thành phần lớn của liên minh mới hình thành, trong đó mỗi thành phần còn giữlại tộc danh, tô tem …của mình Nó mang dấu ấn sự chuyển hóa từ tín ngưỡng tôtem thành sự sùng bái tổ tiên là một hình thức tiến ngưỡng đặc sắc của người LạcViệt

- Nhóm truyện thứ hai:

+ Lớn nhất, gồm những truyện kể về kỳ tích của các “anh hùng văn hóa” đã

kế tục sự nghiệp của các đấng tổ tiên thần thoại (Lạc Long, Âu Cơ), tiếp tục chinhphục thiên nhiên, mở mang địa bàn sinh tụ, chống lụt, chống hạn, tìm kiếm nguồnlương thực mới, sáng lập các nghề…

+ Những truyện trên đã vẽ lên một bước trang hoành tráng về công cuộc dựngnước buổi đầu về đời sống văn hóa đã có quy cũ, phong phú của cộng đồng ngườiLạc Việt Đây sẽ là một bằng chứng để các vị học giả đáng kính đời Lý, đời Trầnkhẳng định: “nước ta khởi đầu từ Hùng Vương đã khá văn minh” Đáng chú ý là mọicông trạng đều quy về các vua Hùng và các em (Út Soi…) các con trai (LangLưu…), con gái (Tiên Dung…)

Trang 27

- Nhóm truyện thứ ba:

+ Gồm những truyện kể về chiến tranh và các anh hùng trận mạc (Lí Tiến vàGióng đánh giặc Ân; ông Rắn và Ông đất đánh giặc Ma Lôi và giặc Mũi Đỏ ; TrầnGiới và Trần Hà , Thổ Lĩnh và Thạch Khanh, Cao Sơn và Quý Minh trong chiếntranh Hùng Thục ; ông Nỏ, ông Nổi, Triệu Đà…)

+ Đó là những cuộc chiến tranh và anh hùng trận mạc “kiểu anh hùng ca”,đặc trưng cho “anh hùng ca trong hình thức cổ điển của nó”: Cuộc chiến tranh củacác vua Hùng chống quân Thục không phải là cuộc chiến tranh vệ quốc; Thục phánkhông phải là “tướng giặc” đi xâm lược

+ Nhưng phần lớn những truyện thuộc nhóm này kể về cuộc chiến tranh củavua Hùng chống giặc Ân, của An Dương Vương chống Triêu Đà Đó là chiến tranhchông xâm lược Gióng và Cao Lỗ là những anh hùng đánh giặc giữ nước Nhữngcâu chuyện này chắc đều đã được đời sau hiểu lại và tô điểm theo cách mới

+ Cơ sở lịch sử của hình tượng người anh hùng đánh giặc giữ nước trong sửthi của chúng ta là: Biên giới lúc ấy đã rõ và việc giũ nước đã trở thành một vấn đềsống còn của người Việt cuối thời đại Hùng Vương Truyện Ông Gióng có lẽ đó trởthành một nút chính và tiêu biểu cho cả chuỗi truyện kể về thời các vua Hùng - mộttập hợp truyện kể mang chủ đề thống nhất phản ánh hai mặt cơ bản gắn chặt với

nhau ngay từ đầu của nội dung lịch sử nước ta là dựng nước và giữ nước.

2.2 Thời kì đấu tranh và giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của các triều đại Hán, Đường (thời kỳ Bắc thuộc)

2.2.1 Hoàn cảnh lịch sử và vai trò đặc biệt của văn học dân gian trong thời Bắc thuộc

- Nước Việt, khi bị nhà Hán thôn tính, “dân…chẳng qua vài chục vạn đều là man, di,

cô độc, ở giữ nơi núi non, biển cả, cũng ví như một quận của nhà Hán”, còn TrungQuốc “đông kể hàng ức, đát vuông vạn dặm, ở nơi giàu có nhất trong thiên hạ, ngườiđông, xe cộ, vạn vật giàu có, phong phú” quả thật là “không thể so sánh được”!

Trang 28

- Cho nên, sự kiện dân tộc nhỏ bé này, cuối cùng, bằng một chiến thắng quân

sự, đánh sụp hẳn và chống dứt ách đô hộ kéo dài hơn mười thế kỷ của cái chế độ lớnmạnh hơn mình gấp bao lần và có sức bành trướng, đồng hóa ghê gớm kia, khôngnhững thế, lại giữ vững được cốt cách riêng của mình - sự kiên ấy được coi là “mộtđiều có vẻ bí hiểm khó tin”

- Văn hóa cổ truyền của dân tộc, ngược lại đã được bảo tồn và phát triển trongchính cuộc chiến đấu bất khuất nhằm khôi phục nền độc lập Như vậy trong hơnmười thế kỷ đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của triều đại Hán,Đường, số phận văn học dân gian, đương nhiên gắn liền với vận mệnh dân tộc, song

sự tồn vong của dân tộc lại phụ thuộc một phần vào việc bảo vệ và phát triển nềnvăn hóa cổ truyền, mà nền văn học dân gian là một trong những nhân tố năng độngnhất

2.2.2 Số phận hình thức phôi thai của sử thi anh hùng

- Nếu người Việt thời Hùng Vương đã có một hình thức phôi thai của sử thi anhhùng thì số phận của nó ra sao dưới thời Bắc buộc? Điều này có thể hình dung rađược ít nhiều

- Sử sách còn nghi những thủ đoạn cai trị tàn ác hiểm độc của bọn thái thú,thứ sử như Tô Định, Cao Biền, v.v…Chỉ một hiện tượng tự nhiên nghịch thườngnhư hiên tượng dòng sông Tô chảy ngược (1) cũng đã khiến bọn đô hộ bày trò mờiphủ thành, cầu cúng, phong thần để tự chấn an và chấn át người Việt “hay làm loạn”.Đến một nét sinh hoạt bình thường như “ở nông thôn, trẻ mục đồng vẫn ngồi trênlưng trâu thổi sáo và hát các bài đồng dao của người Việt” (Giao châu kí) cũngkhông lọt qua mắt các quan lại người Hán

- Những cuộc diễn xướng văn nghệ dân gian, những lễ hội ở các làng xã củangười Việt…làm sao lại không gây phản ứng gì ở bọn chúng! Một số lời lẽ chi tiếttrong sử viết của ta hay của kẻ xâm lược có thể hé cho ta thấy đôi nét cụ thể về tìnhhình này

Trang 29

- Bản thân hoàn cảnh của một dân tộc bị mê dịch cũng khiến cho người Việt, cùngvới biến cố đất nước sau tấm bi kịch Cổ Loa, đã mất luôn cả cái điều kiện hô hấp tựnhiên của anh hùng ca Không còn cái hào hứng tưng bừng của một cộng đồng, sauhàng nghìn năm chống chọi với thiên nhiên, chiến đấu chống kẻ thù bên ngoài, bắtđầu có ý thức về bản thân mình! Nếu người Việt ở hoàn cảnh và điều kiện thời Bắcthuộc, dù có là thiên tài cũng không biến nguồn truyện kể thành anh hùng ca thực sựđược; thậm chí, ngay nguồn vật liệu của nó cũng khó bảo tồn nổi

- Còn phải nói đến ảnh hưởng và tác động của những nhân tố khác nữa, đặcbiệt ảnh hưởng của các tôn giáo đời sau Ở châu Á, thái độ của Phật giáo và Đạogiáo về phương diện này, mềm dẻo hơn nhiều: Nó phả tinh thần giáo lý của nó làlinh hồn truyện dân gian

- Chính vì vậy mà các tôn giáo này đã có những ảnh hưởng tinh vi đối với vănhọc dân gian Mặt tiêu cực của ảnh hưởng này đã được nhấn mạnh từ lâu Nhiềuthần thoại, truyện cổ tích dân gian, v.v…đã bị uôn nắn cải biến, bị giải thích theotinh thân giáo lý Mạch Phật toại, Tiên toại (chủ yếu mang hình thức thể laọi truyện

cổ tích), do các tăng lữ, đạo sĩ chế tác để thuyết giáo, truyền đạo cộng với nhữngtruyện thần linh ma quái nhẳm nhí do những người làm nghề mê tín đặt ra, đã đi vàonhân dân bằng con đường truyền miệng và một số đã xâm nhập vào truyện kể dângian

Hình thức phôi thai nói trên của sử thi anh hùng Việt cổ đã biến đổi theo chiềuhướng:

- Sử thi anh hùng là hình thức tự giác đầu tiên của nghệ thuật ngôn từ Nó là

hư cấu nghệ thuật và tính lịch sử của hư cấu nghệ thuật này tương ứng với cả quátrình chung của “ thời kì anh hùng ” Nó không thể được tạo ra trong một lúc, bởimột người, nhằm phản ánh một sự kiện, nhân vật lịch sử riêng biệt nào đó, sử thi anhhùng giàu sự kiện lịch sử cụ thể, trong đó có những biến cố lịch sử tiêu biểu thể hiệnđược bản chất của cả quá trình lịch sử, được nhân dân đặc biệt ghi nhớ

Trang 30

- Sử thi anh hùng đã có sẵn mầm mống trong truyện cổ tích thần kì, và truyềnthuyết lịch sử.Đối với người Việt thời này nguồn truyện kể dân gian thời các vuaHùng chính là ký ức về buổi bình minh của lịch sử dân tộc, là bằng chứng lịch sử vềthời họ còn hùng cứ một phương trời Trong hoàn cảnh bị người ngoài đô hộ và tìmmọi cách đồng hóa, nhân dân ta, lẽ tự nhiên, càng nhấn mạnh tính sát thực củanhững gì được miêu tả trong những truyện ấy.

- Đó là những lý do giải thích vì sao những truyện này chỉ còn tồn tại ở dạng

bị xé lẻ ra và phần lớn đã được lịch sử hóa, mang hình thức thể loại truyền thuyết.

Đó là nguyên nhân đặc thù của xu hướng lịch sử hóa nguồn truyện kể dân gian thời

cổ ở nước ta

2.2.3 Mấy nét về các thể loại khác của văn học dân gian

* Truyền thuyết lịch sử

- Xu hướng lịch sử hóa nguồn truyện kể về thời các vua Hùng đã khởi đầu cho

sự nảy nở một thể loại - thể loại truyền thuyết lịch sử Phải đến thể loại này mới thực

sự xuất hiện hình thức tự sự lịch sử đích thực, hướng vào những quá trình lịch sử cụ thể, xác thực nhằm nghi giữ và biểu thị thái độ của nhân dân đối với những sự kiện

và nhân vật lịch sử đã thu hút sự chú ý của nhân dân

- Truyền thuyết lịch sử không bao giờ tồn tại tách rời sự thờ cúng, nghi lễ tínngưỡng, phong tục Nó đã được kể như để viện dẫn nhằm minh giải cho sự thờ cúng,cho nghi lễ tín ngưỡng, phong tục Ngược lại, chính những yếu tố này lại chứngminh tính xác thực của truyền thuyết lịch sử

- Truyền thuyết là yếu tố có trước Tức là, trước hết nó phải có một hình thức

đã hoàn chỉnh nào đó, cùng thời với sự kiện mà nó phản ánh Sau đó, nghi lễ phongtục, tín ngưỡng và các thế hệ đến sau sẽ tiếp tục thêm thắt, cải biên , tái tạo

- Những người cùng thời, những người đã từng chứng kiến hoặc tham gia sựkiện, đã tập hợp tư liệu, tạo dựng thành truyện để tưởng niệm vị anh hùng của họ.Rất có thể cũng chính họ đặt nơi hương lửa định ra lễ thức thờ cúng để vị anh hùngsống mãi cùng Làng Nước

Trang 31

* Truyện cổ tích

Với sự phát triển của quá trình phong kiến hóa trong hơn mười thế kỷ Bắcthuộc, sự phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc Đó là cơ sở xã hội lịch sử chung của

nhóm thể loại tự sự xã hội, nhất là truyện cổ tích

+ Để định vị các biến thể của thể loại và các thể loại tác phẩm của thể loại

truyện cổ tích trong tiến trình văn học dân gian, người ta căn cứ trước hết vào đề tài

và tính chất xung đột xã hội trong truyện.

+ Bắt nguồn từ sự bênh vực và lý tưởng hóa những truyền thống dân chủ - thị

tộc là những truyện xuất hiện sớm hơn (Chẳng hạn, truyện hai anh em và cây Khế

và nhiều truyện cổ tích khác về người em - người mồ côi, có nội dung gắn với sựnảy sinh chế độ tư hữu và gia đình riêng lẻ, chắc chắn thuốc số những truyện cổ tíchtạo kỳ)

+ Những mảng truyện vỡ ra từ hình thức phôi phai của sử thi anh hùng Việt

cổ và được cổ tích hóa (Sự tích trầu cau, Chử Đồng Tử, Sự tích dưa hấu ) cũng

mang tiêu chí nói trên và điều này cung cấp thêm một lý lẽ nữa để khẳng định quanđiểm đã trình bày về nguồn truyện kể về thời các vua Hùng

* Kịch hát dân gian

- Người Việt thời Bắc thuộc có thể có hình thức kịch hát dân gian Có thể tinvào ức đoán này, bởi ngay từ thời Đinh (968- 981), nghĩa là chỉ ít lâu sau khi dân tộc

ta giành lại được độc lập, đã có chức ưu bà chuyên trách dạy múa hát trong quân đội

- Kịch hát là một nghệ thuật tổng hợp có ý thức Không thể có kịch hát khicác loại hình và thể loại ca, múa, nhạc, truyện kể, trò diễn chưa phát triển đến mộttrình độ cao

2.3 Thời kì xây dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến đôc lập (thời kỳ phong kiến tự chủ)

2.3.1 Giai đoạn xây dựng và bảo vệ nước Đai Việt (từ thế kỉ X đến thế kỉ XV)

* Vài nét về tình hình lịch sử - xã hội

Trang 32

- Với đại chiến Bạch Đằng năm 938, lịch sử Việt Nam sang trang cuối, dântộc Việt Nam bắt tay vào một nhiệm vụ lich sử: tự mình xây dựngmột quốc gia hoànchỉnh.

- Trong những thế kỉ đầu của thời kì này, giai cấp phong kiến dân tộc, để củng

cố độc lập, thống nhất và xây dựng, bảo vệ đất nước, đã mạnh dạn khai phá conđường độc lập tự chủ, dựa vào cơ sở dân tộc, dựa vào sức dân

Đường lối sáng suốt trên đã cổ vũ được sức quật khởi mãnh liệt của cả dântộc mới trỗi dậy sau cả nghìn năm bị bọn ngoại bang kìm kẹp nặng nề

- Đặc điểm ấy của giai đoạn lịch sử này đã in dấu đậm nét vào nội dung và cơcấu văn học dân gian

* Nội dung và cơ cấu văn học dân gian

- Trước hết, có thể đây là giai đoạn của truyền thuyết lịch sử Mạch tự sự này

khởi nguồn từ thời Bắc thuộc Khi đất nước mới hồi sinh và chủ nhân của nó quyếtchọn con đường tìm sức mạnh xây dựng và bảo vệ nó ở cơ sở dân tộc,

+ Những truyền thuyết về thời các vua Hùng dựng nước và những truyềnthuyết của mười thế kỉ đấu tranh giải phóng được tự do lưu truyền và có cơ hội vôcùng thuận lợi để tiếp tục củng cố, hoàn thiện

+ Những truyền thuyết thời Đại Việt ca hát về những thời đại hiển hách vớisáu cuộc chiến tranh vệ quốc ác liệt liên tục và những chiến thắng lẫy lừng, với côngcuộc xây dựng lại đất nước ở tầm cao lịch sử “ mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài

cho con cháu đời sau ” (Chiếu dời đô)

- So với những truyền thuyết về thời dựng nước và thời Bắc thuộc, nhómtruyền thuyết dân gian, của thời tự chủ về những vị thống soái kết tinh ý chí, trí tuệcủa dân tộc, của nhân dân, trong các lĩnh vực quân sự, kinh tế, văn hóa Như Đinh

Bộ Lĩnh, Lý Thường kiệt, Trần Quốc Toản, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Dường nhưchúng cùng một kiểu dạng, cùng một hệ tư tưởng - thẩm mĩ Có khác chăng là ở chỗnhững truyền thuyết đời sau giàu tính hiện thực hơn so với những truyền thuyết đậm

đà chất tưởng tượng hoang đường kỳ ảo thời trước

Trang 33

Các triều đại từ Ngô (939- 965), Đinh (968- 989) đến Lý (1009- 1225), Trần(1226- 1400), và đầu Lê (thế kỉ XV) hầu như thường xuyên phải lo tập trung sứcmạnh của dân tộc vào việc đối phó với giặc ngoài lợi ích của giai cấp cầm quyền bấygiờ căn bản nhất trí với lợi ích dân tộc.

+ Trong xã hội không có mâu thuẫn đối kháng Cuối đời Lý nổ ra chiến tranhphe phái phong kiến Bốn xứ Đông, Đoài, Nam, Bắc đều rần rật những cuộc nổi dậy(Nguyễn Tự, Hà Cao, Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn ) làm nghiên ngửa chíng quyềntrung ương

+ Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV luôn năm mất mùa, đói kém, trong khi cáctriều vua cuối đời Lý, đời Trần, điển hình là Trần Dụ Tông (1341- 1369) ngày càng

xa đọa

+ Khởi nghĩa nông dân bùng nổ (Ngô Bệ, Phạm Sư Ôn), giáng vào vươngtriều Trần những đòn trí mạng Rồi những cuộc xung đột từ cuối thế kỷ XIII sang thế

kỷ XIV giữa nhà Trần với Ai Lao và Chăm Pa Thăng Long mấy phen bị quân Chăm

Pa tàn phá Khắp nơi, sử cũ viết – “Nhân dân như cá trong vạc nước sôi” (Đại Việt

sử kí toàn thư)

Văn học dân gian luôn luôn tỏ ra hết sức nhạy cảm với thực tế này Thực tiễn đấutranh xã hội của nhân dân kích thích sự phát triển một số thể loại

- Văn học cổ, kể cả văn học chữ Hán, cung cấp những bằng chứng rõ ràng về

sự lưu truyền rộng rãi của truyện cổ tích thần kỳ trong giai đoạn này Tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ phát triển trong giai đoạn đầu và tiểu loại truyện cổ tích sinh

hoạt nở rộ trong giai đoạn sau

- Trong giai đoạn đầu của thời kỳ xây dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến

độc lập, một vài triết lý dân gian đã phát triển.

+ Riêng Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi cũng đủ là một bằng chứng để

khẳng định là vào thế kỉ XV, thể loại tục ngữ đã đạt tới hình thức hoàn hảo

+ Về đời Lý - Trần, truyện ngụ ngôn Việt Nam phát triển quá mạnh về sốlượng cũng như về chất Ngụ ngôn, cũng như tục ngữ, truyện cười, là thể loại có tính

Trang 34

chất triết lý Do có tính truyện, nó sinh động hơn tục ngữ (một số câu tục ngữ được

“khai triển” thành một câu chuyện để mở tung hàm nghĩa ra); Do có tính ngụ ý trựctiếp, nó “nghiêm túc” hơn truyện cười

- Trong bức tranh toàn cảnh về văn nghệ dân gian giai đoạn Lý - Trần, các

hình thức dân ca, ca- múa- nhạc và nghệ thuật sân khấu chiếm một mảng lớn ở vị

trí trung tâm Không khí sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, từ cung đình đến dân dã, diễn

- Sinh hoạt ca hát dân gian rất nhiều vẻ về hình loại Một số nhà nghiên cứuvăn học dân gian đã nêu lên giả thuyết có căn cứ xác đáng về sự phát triển của dân

ca quan họ Bắc Ninh dưới thời Lý - Trần

- Cũng như dân ca và cùng với dân ca, nghệ thuật sân khấu dân gian phát

triển mạnh dưới thời Lý - Trần Lối diễn xướng sử thi thời cổ chắc vẫn tồn tại dướihình thức diễn ca - múa- nhạc tổng hợp gắn với lễ thức trong một số hội hè đìnhđám + Hội Gióng, hội đền hai bà một mặt vẫn bảo tồn nhiều nghi lễ nông nghiệprất cổ, mặt khác đã mang những yếu tố tôn giáo đời sau và yếu tố phong kiến nhưng

đó chưa phải là nghệ thuật sân khấu thực sự, bởi vì nôi dung và hình thức diễnxướng còn có mối quan hệ với lễ thức tín ngưỡng

+ Trong quá trình phát triển về sau của nó sân khấu múa rối từ diễn “trò” tiếnlên diễn “tích” Nhưng đây vẫn xhưa phải là hình thức sân khấu có nội dung văn học(tức là cơ sở kịch bản)

Đời Lí hát chèo đã có quy củ Sự hình thành về diễn xướng trong đó có những nghệ

nhân chuyên nghiệp nổi tiếng được giới quý tộc hâm mộ;

Trang 35

+Việc nhà nước phong kiến đặt ra tổ chức trông nom hạng “xướng nhi” (conhát), “xướng ưu” (phường chèo);

+ sự xuất hiện tác phẩm lí luận về nghệ thuật ca kịch Hí phường phả lục

(1501- Lương Thế Vinh), v.v Nói lên quy mô phát triển bề thế của hình thức tiêubiểu này của sân khấu dân gian

+Chưa tìm ra ẩn số văn học (kịch bản của thời Đai Việt), nhưng căn cứ vàonhững tài liệu còn lại, có thể đoán chắc rằng hát chèo thời này đã có tích, có truyệnthật sự, với một hệ thống các vai rành mạch như hề, lão, mụ, nam, nữ

+.Quy mô ấy của hát chèo là một chỉ dẫn rõ ràng về sự phát triển đồng bộ của

các loại hình và thể loại văn nghệ dân gian được nó sử dụng tổng hợp

Đây là một chỉ số quan trọng về đời sống văn hóa phồn thịnh của nước ĐạiViệt

Tóm lại, nếu giai đoạn Đại Việt có thể được mệnh danh là giai đoạn phụchưng văn hóa dân tộc, thì bằng chứng hùng hồn nhất của sự phục hưng ấy chính là

sự hồi sinh và phát triển phồn thịnh của văn hóa dân gian Và, sự hồi sinh, sự phát

triển phồn thịnh ấy của văn hóa dân gian trong bốn, năm thế kỷ đầu của thời kỳ tựchủ, đến lượt nó lại là bằng chứng cuối cùng về sự phá sản hoàn toàn của chính sáchđồng hóa thâm độc mà bọn thống trị nước ngoài đã tiến hành quyết liệt, dai dẳngtrong suốt một nghìn năm trước

2.3.2 Giai đoạn nhân dân đấu trang chống phong kiến và tiếp tục chống ngoại xâm (từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX)

* Vài nét về tình hình lịch sử - xã hội

- Thế kỷ XVI, XII cùng với nhà Lê chế độ phong kiến bước vào chặng đườngsuy yếu dần, đi đến khủng hoảng toàn diện và suy sup vào thế kỷ XVIII nửa đầu thế

kỷ XIX cùng với triều Lê Trịnh và triều Nguyễn

- Đây cũng là giai đoạn khủng hoảng và suy tàn của hệ tư tưởng chính thống

và nền văn hóa chính thống phục vụ văn hóa chính trị Nhiều hình thức văn nghệ dân

Trang 36

gian đã bị phân biệt đối xử, bị khinh biệt, bị cấm đoán đàn áp thẳng tay Song sựhưng phế của các triều đại không đồng nhất với sự thăng trầm của lịch sử dân tộc.

- Ở giai đoạn này, khi giai cấp phong kiến thói hóa, thì phong trào nông dânphát triển mạnh Họ vươn lên làm nhiệm vụ dân tộc các cuộc đấu tranh chống áchchuyên chế phong kiến nổ ra

- Đặc điểm lịch sử trên giải thích vì sao giai đoạn bão táp của chiến tranhnông dân cũng là giai đoạn phát triển huy hoàng của văn học dân tộc, là giai đoạnvăn học dân gian truyền thống đạt đến mức phát triển cao nhất, hoàn chỉnh nhất về:Kết cấu thể loại, thể tài, nội dung và hình thức nghệ thuật

*Văn học dân gian truyền thống đạt đến mức phát triển cao và hoàn chỉnh

- Truyền thuyết lịch sử là thể loại luôn nổi lên ở dòng chính của tiến trình vănhọc dân gian Việt Nam từ thời Bắc tuộc suốt đến thời kỳ hiện đại tạo nên những nétriêng cho văn học dân gian Việt Nam

+ Nhà nước phong kiến từ lâu đã tự đảm đương công việc chép sử song cáctriều đại sau này chủ yếu quan tâm đến việc chép sử cho mình

+ Tự sự lịch sử dân gian đã phát triển thành một thể loại lớn, phản ánh những

sự kiện lịch sử mà chính sử cố ý bỏ qua, đính chính những lí mà giai cấp thống trịxuyên tạc

+ Cảm hứng chủ đạo trong truyền thuyết lịch sử giai đoạn này là cảm hứngcủa nhân dân đấu trang chống áp bức, tất nhiên nó vẫn nêu cao truyền thống yêunước Tiêu biểu là chuỗi truyền thuyết lịch sư dân gian về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

+ Xuyên suốt chuỗi truyền thuyết này là sự tô đậm tính chất nhân dân Trongkhi đó chính sử thản nhiên biến chiến thắng của trăm họ thành công lao của một nhànước phong kiến v.v…

- Trong giai đoạn này, văn học viết tuy có nhu cầu cấp thiết về văn xuôi nhưng chưa

đủ điều kiện cho sự sinh thành một nền văn xuôi viết bằng tiếng Việt Mâu thuẫn

này đựoc điều hòa bằng giải pháp truyện thơ.

Trang 37

+ Văn học dân gian đã góp phần quyết định vào việc tìm kiếm hình thức diễn

đạt mới ấy Truyền thuyết lịch sử bằng thơ (tức vè lịch sử)

+Truyện cổ tích bằng thơ nảy nở trong hoàn cảnh đó Ví dụ truyện thơ ThạchSanh, vè Chàng Lía …

- Truyện cổ tích thần kỳ vẫn tiếp tục tồn lưu Một số truyện cũ vẫn sản sinh

thêm dị bản mới hoặc thay đổi với sự gia tăng của những mô tiếp phản ánh xung đột

xã hội, có những truyện gắn với hoàn cảnh lịch sử mới Chẳng

hạn truyện cổ tích Đá Vọng Phu

- Thời kì này là giai đoạn của truyện cổ tích sinh hoạt xã hội Trong truyện cổ

tích sinh hoạt, cái thế giới đen tối trong cổ tích thần kỳ đã trở nên lỗi thời, và cũng

có số phận “phải chết một lần nữa” ( truyện cổ tích sinh hoạt hai anh em và con chó

đá, người đày tớ và người ăn trộm, sợi bấc tìm ra thủ phạm, dì phải thằng chết trôitôi phải đôi sấu sành.)

- Truyện trạng là một nhóm truyện khá phức tạp về nguồn gốc, nội dung, tính

chất Truyện trạng nói chung xây dựng trên cơ sở bộc lộ khôi hài những mâu thuẫnphi lý trong đời sống

+ Nó là sự đùa cợt có tính chất báng bổ đối với những giá trị thiêng liêng củachế độ chuyên chế phong kiến

+ Nó phát sinh và được kích thích phát triển tù những phong trào nổi lọan củanông dân…

- Các thể loại triết lý dân gian nảy nở ở giai đoạn lịch sử này Đó là, truyện

ngụ ngôn, tục ngữ

+ Truyện ngụ ngôn nói lên những nhận thức của nhân dân về chân lý đời sống

những chân lý được minh họ bằng ngụ ngôn là kinh nghiệm đấu tranh xã hội, lànhững phát hiện về chân tướng của giai cấp thống trị (Cọp, Cò, Cáo và Chuột; Trâu

và Ngựa…), là những bài học về cảnh giác mưu trí, dũng cảm, rút ra từ thực tế đấutranh chống áp bức (Ví dụ chèo bẻo với ác là, kiến giết voi, người nông dân, con trâu

và con hổ…)

Trang 38

+ Hình thức phổ biến của triết học bình dân là tục ngữ Nghiên cứu nội dung

tư tưởng của tục ngữ ta cảm nhận rõ triết lý dân gian là thứ triết lý xuất phát từ thựctiễn hằng ngày, triết lý của kinh nghiệm đời sống

- Truyện cười dân gian ở giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn được mùa lớn, phần lớn

truyện cười dân gian đã sưu tập đều gắn với giai đoạn lịch sử này Có thể tìm thấy hình ảnh một chế độ phong kiến cuối mùa qua những nhân vật tiêu biểu của nó: Vuachúa, quan lại, phú ông, thầy đồ, thầy lang, thầy bói, thầy địa lý…

- Sự nở rộ của các thể loại ca dao dân ca ở giai đoạn này đã đáp ứng nhu cầu

của nhân dân lao động muốn diễn tả sâu sắc nỗi thống khổ và khát vọng về quyềnsống, quyền tự do của họ Về mặt hình thức và thể lọai, đây cũng là giai đoạn thơ cadân gian đạt tới độ viên mãn - kết quả của quá trình phát triển lâu dài của ngôn ngữvăn học, thể loại thơ ca và văn hóa âm nhạc

- Trong giai đoạn này, sân khấu dân gian truyền thống tiếp tục chuyên nghiệp

hóa và đạt tới đỉnh cao của sự phát triển Sân khấu dân gian truyền thống gồm sânkhấu múa rối và sân khấu chèo

+Tuy sân khấu dân gian diễn tích cổ nhưng câu chuuyện kể lại như nhữngđiều trông thấy trong cuộc sống thực tế Phải chăng nhân dân thông qua các nghệnhân dân gian đã mượn chuyện xưa để nói chuyện nay

+Trong sân khấu chèo đáng chú ý là vai hề Nghệ nhân dân gian cố ý cho vai

hề chèo đi bên lề tích chuyện phản ánh mặt bi thảm của xã hội phong kiến thànhmặt hài hước của xã hội đó

Tóm lại văn học dân gian giai đoạn toàn dân đấu tranh chống phong kiến vàtiếp chống giặc ngoại xâm có những biến đổi quan trọng so với giai đoạn toàn dânxây dưng và bảo vệ quốc gia Đại Việt

+ Chế độ phong kiến khủng hoảng, là sóng đấu tranh của nhân dân chốngphomg kiến dâng cao

+ Văn nghệ dân gian bị phân biệt đối xử, bị kìm hãm nhiều trường hợp bị cấmđoán Nhưng chính trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử ấy, văn học dân gian đã

Trang 39

phát triển rực rỡ và biểu hiện một cách độc đáo, xuất sắc sức sống và khí thế vươnlên của dân tộc, tinh thần quật khởi của nhân dân

+Cơ cấu xã hội của nhân dân có sự biến đổi, do đó cơ cấu xã hội của lựclượng sáng tác, diễn xướng, lưu truyền cũng biến đổi theo

Đó là một số đặc điểm chính của văn học dân gian giai đoạn cuối cùng của xãhội phong kiến

2.4 Thời Pháp thuộc (tù nửa sau thế kỉ XIX đến cách mạng tháng 8 năm 1945)

2.4.1 Hoàn cảnh xã hội - lịch sử - văn hóa mới

- Cuộc xâm lược của thực dân Pháp biến nước ta thành nước thuộc địa nửaphong kiến, nhân dân ta lâm vào tình cảnh một cổ đôi tròng Thời kỳ này văn hóacách mạng bị cấm đoán

- Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914- 1918), thực dân Pháp thi hànhchính sách khai thác thuộc địa

+ Nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hóa và bị phá sản hàng loạt

+ Giai cấp công nhân ra đời nhanh chóng trưởng thành bước vào cuộc đấutranh cách mạng tự giác và có tổ chức…

+ Văn học dân gian công nhân nảy nở và phát triển

2.4.2 Văn học dân gian yêu nước và cách mạng

Trong thơ văn yêu nước và cách mạng, thành phần văn học dân gian chiếmmột khố lượng đáng kể

+ Sự phát triển rộng rãi của bản thân văn học dân gian và việc sư dụng hìnhthức văn học dân gian trong thơ văn yêu nước được đánh giá là một đặc điểm lớntrong hình thức nghệ thuật ở thơ văn yêu nước lúc này

+ Đến đầu thế kỷ XX, nhiều thơ văn gắn với phong trào yêu nước và cáchmạng, văn thơ tuyên truyền cổ động của phong trào Việt Minh

+ Qua sáng tác dân gian của quần chúng công nông cách mạng từ những năm

30 về sau, chúng ta nhận ra một số hình thức đầu tiên của văn học dân gian hiện đại

Trang 40

Trong bộ phận thơ văn yêu nước và cách mạng, phân biệt văn học dân gian với vănhọc không phải là dễ bởi giữa chúng có mối quan hệ qua lại.

- Cùng với văn học yêu nước, cách mạng, văn học dân gian yêu nước cáchmạng được coi là pho sử chân thật, sinh động của các phong trào yêu nước cáchmạng

2.4.3 Văn học dân gian hợp pháp

- Nội dung cố hữu của văn học dân gian truyền thống vẫn là cái nền chung củavăn học dân gian lưu hành hợp pháp

+ Nội dung bài ca giao duyên thời kỳ này vẫn gồm nhiều chặng hát

+ Thi thoảng lạc vào một vài chi tiết của sinh hoạt hiện đại

- Giữa văn học dân gian lưu hành hợp pháp và văn học dân gian yêu nướccách mạng có sự khác biệt cũng chỉ là đề tài

Do đó, chúng ta có thể phác họa một bước tranh toàn cảnh về tình hình thơ cadân gian thời này

2.5 Thời kỳ sau cách mạng tháng 8 năm 1945

2.5.1 Phác họa diện mạo văn học dân gian

* Về mặt thể loại:

- Ca dao mới tiếp tục nảy sinh theo chiều hướng tiếp cận với thơ

+Phần lớn ca dao mới không tồn tại trong sinh hoạt dân gian với tư cách lànhững câu hát như xưa,

+Tuy vậy thể loại ca dao vẫn bảo lưu trong chừng mực nhất định phương thứcsáng tác theo lối ngẫu hứng, truyền miệng

- Vè vẫn tiếp tục có thành tựu, hiện tượng nhiều bài vè được sáng tác lưu

truyền kha thuận lợi như vè Lương Lộc, vè Chợ Cạn Thời kháng chiến chống Pháp

và vè kể chuyện phát động quần chúng thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất

- Sự hồi sinh của chèo là một biểu hiện tiêu biểu cho sức sống của văn học

dân gian trong thời hiện đại Một số vở chèo mới đã gây được tiếng vang, chẳng hạnnhư những vở chèo thự hiện cải cách ruộng đất như chị Trần, chị Hàn, anh Lục

Ngày đăng: 16/05/2017, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Đổng Chi, Cao Huy Đỉnh, Đặng Nghiêm Vạn (1969), Ph-ương pháp sưu tầm văn học dân gian ở nông thôn, Vụ văn hoá quần chúng xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph-ương pháp sưu tầm văn học dân gian ở nông thôn
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Cao Huy Đỉnh, Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: Vụ văn hoá quần chúng xuất bản
Năm: 1969
8. Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
9. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. (Tập IV- Tra cứu và bàn luận) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1995
10. Hoàng Tiến Tựu (1997), Bình giảng ca dao, (tái bản lần thứ 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình giảng ca dao
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
13. Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ (2001), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2001
15. Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức (1968), Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại
Tác giả: Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1968
1. Đỗ Bình Trị (1991), Văn học dân gian Việt Nam (tập I), Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
3. Nhiều tác giả (1989), Văn hoá dân gian - Những lĩnh vực nghiên cứu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
4. Nhiều tác giả (1990), Văn hoá dân gian - Những phương pháp nghiên cứu Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
5. Viện nghiên cứu văn hoá (2002- 2006), Tổng tập văn học dân gian người Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, (Tập 15, 16- ca dao) Khác
7. Đinh Gia Khánh (1995), Văn hoá dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
11. Chu Xuân Diên (2001), Văn hoá dân gian, mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
12. Bùi Mạnh Nhị chủ biên (2000), Văn học dân gian, những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
14. Đỗ Bình Trị (1992), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
16. Hội Folklore châu Á (2006), Giá trị và tính đa dạng của Folklore châu Á trong quá trình hội nhập, Nxb Thế giới, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w