Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Trường Cán bộ quản lý văn hóa,thể thao và du lịch bao gồm: Xây dựng kế hoạch, triển khai kế hoạch; Tổchức quản lý lớp học; Xây dựng nội dung chương trình
Trang 1TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
***
Đề tài khoa học
"ĐÁNH GIÁ HỌAT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CỦA TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH GIAI ĐOẠN 2010 - 2015."
Chủ nhiệm đề tài: Th.s Ma Kiều Ly
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Trang 21 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đánh giá là một hoạt động khoa học và là công cụ quan trọng trongquản lý Đánh giá chính là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng địnhtình hình và kết quả công việc giúp cho quá trình lập kế hoạch, ra quyếtđịnh và hành động có kết quả của các nhà quản lý
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng là nhiệm vụ chính trị trọng tâm củatrường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch Lãnh đạo nhà trường rấtquan tâm tới việc đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng Hàng năm, bêncạnh những báo cáo hành chính, nhà trường còn tổ chức hội nghị, hội thảo,nghiên cứu đề tài khoa học nhằm đổi mới nâng cao chất lượng hoạt độngđào tạo, bồi dưỡng Năm 2009 và 2010 hai đề tài khoa học cấp trường
“Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình” và “Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ của Trường Bồi dưỡng cán bộ văn hóa, thể thao và du lịch” đã có những đánh giá khá toàn diện về công tác đào tạo, bồi dưỡng
của nhà trường trong giai đoạn 2005 - 2009 Để có cơ sở khoa học cho việctiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng củaTrường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch giai đoạn 2016 - 2020thì việc đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viênchức của nhà trường giai đoạn 2010-2015 là việc làm cần thiết Đây là giaiđoạn Nhà trường triển khai nhiều văn bản quan trọng về đào tạo, bồi dưỡngnhư Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010 của Thủ tướngChính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức; Quyết định 1374/QĐ-TTgngày 12 tháng 8 năm 2011 về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015; Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27tháng 11 năm 2009 Phê duyệt đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn
đến năm 2020” Vì vậy, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá hoạt động
đào tạo, bồi dưỡng của Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch giai đoạn 2010 - 2015” để nghiên cứu nhằm hỗ trợ lãnh đạo nhà
trường trong việc lập kế hoạch, ra quyết định cho hoạt động đào tạo, bồidưỡng của nhà trường trong những năm tới, đồng thời đề xuất một số giảipháp nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,viên chức đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, thể
Trang 3thao và du lịch trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập khuvực và quốc tế hiện nay.
- Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu nội dung, phương pháp bồi dưỡng cán bộquản lý văn hóa thông tin cơ sở” do TS Hoàng Thị Điệp, nguyên Hiệu trưởngNhà trường làm chủ nhiệm (2007-2009)
- Đề tài cấp Trường: “Đổi mới phương pháp giảng dạy và chương trìnhđào tạo cán bộ, công chức ngành Văn hóa-Thông tin” do bà Nguyễn ThịHoàng Hà, nguyên Phó Hiệu trưởng Nhà trường làm chủ nhiệm (2004)
- Đề tài cấp Trường “ Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộquản lý văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình” do Ths Quách Hoài Ân, trưởng
Bộ môn Lý luận cơ bản làm chủ nhiệm (2009)
- Đề tài cấp Trường “Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡngngoại ngữ của Trường Bồi dưỡng cán bộ văn hóa, thể thao và du lịch” do Ths.Lưu Thị Bích Hồng, Phó hiệu trưởng Nhà trường làm chủ nhiệm (2010)
- Đề tài cấp Trường: Nghiên cứu xây dựng chương trình khung bồi dưỡngcán bộ văn hóa, thông tin cấp huyện do Ths Hoàng Thị Bình, Phó trưởngPhòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế làm chủ nhiệm ( năm 2012)
- Đề tài cấp Trường: Xây dựng chương trình khung bồi dưỡng cán bộquản lý cấp sở ngành văn hóa, thể thao và du lịch theo Nghị định18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức do Ths Hoàng Thị Lâm,Phó trưởng Bộ Khoa Quản lý Văn hóa, thể thao và du lịch làm chủ nhiệm(năm 2012)
- Đề tài cấp Trường: Nghiên cứu đề xuất xây dựng đề án thành lậpHọc viện Quản lý văn hóa, thể thao và du lịch do PGS.TS Lê Ngọc Thắng,Nguyên Trưởng Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế làm chủnhiệm (năm 2013)
Một số sản phẩm khoa học ngoài ngành đề cập tới vấn đề nghiên cứu:
Trang 4- Ts Trần Văn Ngợi, Q Viện trưởng Viện Khoa học Tổ chức Nhà
nước: Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về thu hút và trọngdụng người có tài năng cho nền công vụ, Báo điện tử Viện Khoa học Tổchức Nhà nước - Bộ Nội vụ http://isos.gov.vn/
- Ts Ngô Thành Can: Công chức và đào tạo công chức ở nước Cộnghòa Pháp, Báo điện tử Caicachhanhchinh.gov.vn của Bộ Nội vụ
- Ts Lê Quang: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở một số nướctrên thế giới, Tạp chí Xây dựng Đảng số 11/2009
- Ths Trịnh Xuân Thắng, Học viện Chính trị khu vực IV: Kinh
nghiệm đào tạo nhân lực của một số quốc gia trên thế giới và bài học thamkhảo cho Việt Nam; Tạp chí Tuyên giáo số 10/2014
- PGS.TS Đỗ Đức Minh, Trường Bồi dưỡng cán bộ Tài chính: Đa dạng
hóa các loại hình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu của xã hội Báo điện
tử http://www.ift.edu.vn/
Tuy nhiên, trong số những công trình nghiên cứu trên chưa có đề tàinào nghiên cứu chuyên sâu về “Đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng củatrường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch giai đoạn 2010-2015”
3 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng củatrường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch từ năm 2010 đến 2015,
đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động đàotạo, bồi dưỡng của nhà trường trong giai đoạn tiếp theo
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của
Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch
Tuy nhiên, đề tài không nghiên cứu hoạt động đào tạo, bồi dưỡng tinhọc và ngoại ngữ, vì lĩnh vực ngoại ngữ được Ths Nguyễn Phương Thảo,giảng viên ngoại ngữ của Trung tâm Ngoại ngữ, Công nghệ truyền thông
nghiên cứu tại đề tài “Hoạt động giảng dạy ngoại ngữ của trường Cán bộ
quản lý văn hóa, thể thao và du lịch giai đoạn 2010 - 2015” Và đề tài
“………….” do Ths Nguyễn Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Ngoại ngữ,Công nghệ truyền thông nghiên cứu, được nghiệm thu năm 2015 đã bànthấu đáo về nội dung bồi dưỡng tin học
- Phạm vi thời gian: Từ 2010 - 2015
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 5Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp kế thừa: Sưu tầm, xử lý tài liệu thứ cấp, Kế thừa các
công trình nghiên cứu tài liệu, báo cáo, ấn phẩm có nội dung liên quan đến
đề tài
- Phương pháp chuyên gia: Tọa đàm trao đổi với sự tham gia của cácchuyên gia, các nhà khoa học, cán bộ quản lý am hiểu về lĩnh hoạt độngđào tạo, bồi dưỡng
- Phương pháp điều tra xã hội học: Gặp gỡ học viên đã từng học tạitrường xin ý kiến đánh giá thông qua phiếu hỏi
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Từ những thông tin thuthập được nhóm nghiên cứu tiến hành tổng hợp, xử lý số liệu, phân tích, sosánh từ đó rút ra những nhận xét, tìm ra nguyên nhân và đề xuất những giảipháp cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường trong thời gian tới
6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu các nội dung sau:
Chương 1: Khái quát cơ sở lý luận
Chương 2: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch (2010-2015)
Chương 3: Khuyến nghị và một số giải pháp
Trang 6Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Đào tạo, bồi dưỡng
* Khái niệm Đào tạo
Theo từ điển tiếng Việt thì “đào tạo là làm cho trở thành người cónăng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”.1
Theo Wikipedia, Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành,nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người họclĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệthống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảmnhận được một công việc nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơbản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạolại, đào tạo từ xa, tự đào tạo
Theo nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5 tháng 3 năm 2010 củaChính phủ về Đào tạo, bồi dưỡng công chức, Đào tạo được giải thích là “quátrình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy địnhcủa từng cấp học, bậc học”2
Đạo luật Liên bang của Mỹ, đào tạo được xác định như là một quátrình cung cấp và tạo dựng khả năng làm việc cho người học và bố trí, đưa
họ vào các chương trình, khoá học, môn học, hoặc nói cách khác là huấnluyện và giáo dục được chuẩn bị, có kế hoạch, có sự kết hợp trong các lĩnhvực nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức
Như vậy, khái niệm về đào tạo được định nghĩa theo nhiều cách khácnhau nhằm nhấn mạnh trọng tâm nghiên cứu của từng tài liệu Nhưng nhìnchung Đào tạo được xác định như là quá trình làm biến đổi hành vi conngười một cách có hệ thống thông qua việc học tập Việc học tập này cóđược là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển và lĩnh hội kinhnghiệm một cách có kế hoạch hay nó là một quá trình tác động đến conngười làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹxảo…một cách có hệ thống nhằm cho người ta trở thành người có năng lựctheo những tiêu chuẩn nhất định
1 Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, 2005.
Trang 7* Khái niệm Bồi dưỡng
Theo nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5 tháng 3 năm 2010 củaChính phủ về Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Bồi dưỡng được hiểu “là hoạtđộng trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc Bồi dưỡngtheo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chươngtrình quy định cho ngạch công chức Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang
bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việcđược giao”3 Hay nói cách khác, khái niệm Bồi dưỡng được dùng với nghĩa
là cập nhật, bổ túc thêm một số kiến thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểubiết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thứcchuyên ngành, mang tính ứng dụng
Như vậy, Đào tạo, Bồi dưỡng chính là việc tổ chức ra những cơ hộicho người ta học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằngviệc tăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản Đàotạo, bồi dưỡng tác động đến con người trong tổ chức, làm cho họ có thểlàm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng các khả năng, tiềm năng vốn có,phát huy hết năng lực làm việc Xét về mặt thời gian đào tạo có thời giandài hơn, thường là từ một năm học trở lên, về bằng cấp thì đào tạo có bằngcấp chứng nhận trình độ được đào tạo, còn bồi dưỡng thường chỉ có chứngchỉ chứng nhận đã học qua khoá bồi dưỡng
Với quan niệm như trên, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằmtới các mục đích:
Phát triển năng lực làm việc cán bộ, công chức và nâng cao khả năngthực hiện công việc thực tế của họ
Giúp cán bộ, công chức luôn phát triển để có thể đáp ứng được nhucầu nhân lực trong tương lai của tổ chức
Giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới của cán bộ,công chức do thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho họ
có đầy đủ khả năng làm việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm
Tóm lại, Đào tạo, bồi dưỡng là một nhiệm vụ quan trọng trong bất kỳmột tổ chức nào Nó không chỉ nâng cao năng lực công tác cho cán bộ,công chức hiện tại mà chính là đáp ứng các yêu cầu về nhân lực trongtương lai của tổ chức Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là thực hiệnnhiệm vụ lấp đầy khoảng trống giữa một bên là những điều đã đạt được, đã
có trong hiện tại với một bên là những yêu cầu cho những thứ cần ở tươnglai, những thứ mà cần phải có theo chuẩn mực
Trang 81.1.2 Đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
* Khái niệm Đánh giá
Đánh giá chính là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng địnhtình hình và kết quả công việc giúp cho quá trình lập kế hoạch, ra quyếtđịnh và hành động có kết quả của các nhà quản lý
* Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng là tất cả các công việc liên quan đếnquá trình tổ chức một khóa đào tạo, bồi dưỡng nhằm mục đích hình thànhtri thức, phát triển kỹ năng cho người học
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Trường Cán bộ quản lý văn hóa,thể thao và du lịch bao gồm: Xây dựng kế hoạch, triển khai kế hoạch; Tổchức quản lý lớp học; Xây dựng nội dung chương trình; Phát triển đội ngũgiảng viên; Nguồn kinh phí; Đối tượng học viên; cơ sở vật chất và trangthiết bị giảng dạy; …
Vậy, đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chính là quá trình thuthập xử lý thông tin về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng để xác định hiệu quảcủa các công việc nhằm giúp Lãnh đạo có những quyết định khả thi và hiệuquả trong quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
1.2 Vai trò của đánh giá trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2011-2020 đề ra mục tiêu đến năm 2011-2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có
số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụnhân dân và sự nghiệp phát triển đất nước Để thực hiện được mục tiêu củachương trình, Đảng và Chính phủ đã coi hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tíchcực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng
và hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức, viên chức; hướng tới mục tiêu làtạo được sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn
Xuất phát từ quan điểm này, trong thời gian qua, công tác đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức ở các cấp, các ngành, các địa phương đã cóchuyển biến tích cực, bước đầu đạt được những kết quả quan trọng Báocáo của Bộ Nội vụ về kết quả 3 năm thực hiện Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12-8-2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạchđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015 cho thấy 100%các bộ, ngành và địa phương đã xây dựng, ban hành Kế hoạch đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015 và tổ chức triển khai thực
Trang 9hiện đúng yêu cầu về đối tượng và nội dung đào tạo, bồi dưỡng Tuy nhiên,chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa được cải thiện rõ rệt
so với yêu cầu cải cách hành chính4 Chính vì vậy, đổi mới, nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một vấn
đề cần được quan tâm nhiều hơn nữa Để làm tốt nội dung công việc này,song song với việc tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng, các cơ quan, đơn
vị chức năng cần tiến hành đánh giá thực trạng của hoạt động này Đây sẽ
là cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đàotạo, bồi dưỡng
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của chính phủ về đào tạo, bồi dưỡngcông chức ngày 5 tháng 3 năm 2010 quy định rõ về việc cần đánh giá chấtlượng đạo, bồi dưỡng nhằm mục đích cung cấp thông tin về mức độ nângcao năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức sau khi đào tạo,bồi dưỡng
Nội dung đánh giá nhằm xác định:
- Mức độ phù hợp giữa nội dung chương trình với yêu cầu tiêu chuẩnngạch, chức vụ lãnh đạo, quản lý và yêu cầu vị trí việc làm;
- Năng lực của giảng viên và sự phù hợp của phương pháp đào tạo,bồi dưỡng với nội dung chương trình và người học;
- Năng lực tổ chức đào tạo, bồi dưỡng của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng;
- Mức độ tiếp thu kiến thức, kỹ năng của công chức và thực tế ápdụng vào việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Để việc đánh giá được chính xác cần tiến hành đánh giá cả chươngtrình khoá học và đánh giá hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Khi tiến hành đánh giá chương trình, khoá học phải xác định xemchương trình, khoá học và các hoạt động đào tạo và bồi dưỡng cán bộ đãđáp ứng được các nhu cầu mà các cơ quan hay tổ chức cử cán bộ đi học đặt
ra hay chưa; xem xét các quy trình, công đoạn tiến hành đào tạo và bồidưỡng có hợp lý không; người cán bộ được cử đi học tiếp thu được nhữngcái gì sau khoá học; đánh giá sự tác động của chương trình, khoá học đốivới các đơn vị hoặc nhóm cán bộ
Đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức là mộtcông việc phức tạp Để đat được sự chuẩn xác và toàn diện khi đánh giá,chúng ta cần tiến hành một cách có hệ thống, thừờng xuyên, liên tục, khoahọc và phản ánh đúng thực tế chất lượng của việc đào tạo và bồi dưỡng
Trang 10Quá trình đánh giá này có thể được coi là một quá trình kĩ thuật nhằm phântích thông tin và tính toán hai mặt “đầu tư” và lợi ích của việc đào tạo vàbồi dưỡng, để từ đó có những điều chỉnh hợp lý giúp cho việc đào tạo vàbồi dưỡng đạt được những mục tiêu và yêu cầu đặt ra nhằm nâng cao chấtlượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.
Tóm lại, Đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giúp phát hiện nhữngmặt tốt, mặt chưa tốt, khó khăn, vướng mắc và xác định nguyên nhân để đề
ra các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng
1.3 Quan điểm của Đảng, nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
1.3.1 Chủ trương của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng
Hiệu lực hiệu quả của bộ máy nhà nước nói chung, của hệ thốnghành chính nói riêng suy cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, nănglực và kết quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Phẩm chấtcủa đội ngũ cán bộ, công chức ngoài khả năng và tinh thần tự học tập lạiphụ thuộc rất nhiều vào công tác đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên kiếnthức và kỹ năng thực hành Trong điều kiện đội ngũ cán bộ, công chứcnước ta chưa thực sự đáp ứng được đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa hội nhập vớikhu vực và thế giới, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trở nêncần thiêt hơn bao giờ hết Vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức là vấn đề luôn được Đảng, nhà nước đặc biệt quan tâm
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã ra nhiều nghị quyết về đổi mới vànâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tổ chức và cán bộ, đã xây dựng và
tổ chức chỉ đạo thực hiện Chiến lược cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳmới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Kể từ sau Đại hội VI của Đảng (1986) công tác cán bộ đã có nhữngđổi mới rất quan trọng, có tính bước ngoặt cả về tư duy lý luận và chỉ đạothực tiễn của các cấp ủy đảng, mà trước hết là Ban chấp hành Trung ương
và Bộ Chính trị Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức luôn được coi làmột khâu quan trọng trong quá trình đổi mới công tác cán bộ Sau gần 30năm đổi mới, chúng ta đi đến một nhận thức chung là: Trong công tác cán
bộ, mỗi khâu có một vai trò nhất định và có quan hệ mật thiết với nhau,trong đó đánh giá cán bộ là tiền đề; quy hoạch cán bộ là nền tảng; luânchuyển cán bộ là khâu đột phá; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vừa là yêu cầutrước mắt, vừa là nhiệm vụ lâu dài; chính sách cán bộ đúng đắn là công cụquan trọng; quản lý cán bộ một cách khoa học là nhiệm vụ thường xuyên;
sử dụng, phát huy cán bộ là mục tiêu xuyên suốt Trong mỗi khâu của công
Trang 11tác cán bộ, qua các kỳ đại hội đều có các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quychế, hướng dẫn của Trung ương Trong thực hiện đã gắn chặt các khâu đểtạo ra sự đổi mới đồng bộ trong công tác cán bộ Bắt đầu từ Nghị quyếtTrung ương 3 (khóa VIII) về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã có riêng một nghị quyết về chiếnlược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đếnNghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, là một chặngđường đổi mới cả về nội dung và cách làm Nhiều chủ trương, quan điểm,giải pháp lớn về công tác cán bộ trong đó đào tạo được thể chế hóa, cụ thểhóa thành các quy định, quy chế, hướng dẫn để thực hiện, đạt nhiều chuyểnbiến tích cực và có hiệu quả trong thực tiễn.
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng trong công tác cán bộ ngày càng được đềcập đến một cách cụ thể hơn trong các văn kiện Đại hội Đảng Kết luận số37-KL/TW của Hội nghị Trung ương 9 (khóa X) về “Tiếp tục đẩy mạnhthực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020 nêu rõ “Cần tạo chuyểnbiến sâu sắc trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch, theotiêu chuẩn chức danh cán bộ, chú trọng bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mớicho cán bộ lãnh đạo, quản lý, coi đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trongthực hiện Chiến lược cán bộ trong giai đoạn mới Củng cố, nâng cao chấtlượng về mọi mặt của hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Huyđộng mọi nguồn lực và tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước cho việc đàotạo, bồi dưỡng cán bộ cả trong và ngoài nước, trong và ngoài Đảng, trong vàngoài khu vực nhà nước Xây dựng chương trình quốc gia về đào tạo, bồidưỡng cán bộ, chiến lược quốc gia về nhân tài đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩymạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và chủ động hội nhập quốc tế.”5
Văn kiện Đại hội XI của Đảng, đặc biệt là Cương lĩnh và Chiến lượcđều nhấn mạnh tầm quan trọng của tổ chức và chất lượng cán bộ, đặt côngtác này ở vị trí chiến lược trên quan điểm coi con người là chủ thể, là trungtâm của phát triển, là mục tiêu và động lực của đổi mới Đó là đầu tư đểphát triển con người và đội ngũ cán bộ đòi hỏi phải đầu tư cho giáo dục -đào tạo Coi phát triển giáo dục - đào tạo cũng như phát triển khoa học -công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đây là đầu tư theo chiều sâu, đầu tư chophát triển Phải đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, bảođảm phát triển giáo dục cả số lượng, chất lượng, chú trọng giáo dục toàndiện dạy chữ, dạy nghề và dạy người Hiện đại hóa, chuẩn hóa, dân chủ hóa
và xã hội hóa giáo dục
Trang 12Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh vềyếu tố con người trong phát triển kinh tế-xã hội “Phát huy nhân tố con ngườitrong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạođức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trườngvăn hoá lành mạnh. Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượngtăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế Tiếp tụcthực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược: hoàn thiện thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục,đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao;xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ”6.
Có thể nói, nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồnlực. Vốn xã hội trong phát triển là một tổng hợp mọi nguồn vốn, trong
đó vốn con người là trung tâm, cốt yếu, là quan trọng nhất và quyết định.Với tầm tư duy và tư tưởng đó, Đảng ta luôn đặt vấn đề xây dựng conngười, xây dựng đội ngũ cán bộ một cách toàn diện, nhất là nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành trong thời kỳ mới là yếu tố nềntảng cho sự phát triển kinh tế-xã hội Trong đó, đào tạo, bồi dưỡng luônđược khẳng định là một trong những nội dung quan trọng để có được độingũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
1.3.2 Một số chính sách, văn bản của nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
Nhìn lại công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong thờigian qua, Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức gồm có: Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Chínhtrị Quốc gia Hồ Chí Minh, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứccác bộ ngành trung ương, trường chính trị các tỉnh thành phố, trung tâmchính trị các quận huyện được củng cố và phát triển Công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức đã có những chuyển biến tích cực Hệ thống thểchế và các chế độ, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứcđược bổ sung và hoàn thiện Nhiều văn bản của nhà nước được ban hành
Sau quyết định 874/QĐ-TTg, ngày 05 tháng 4 năm 1997, Thủ tướngChính phủ đã ban hành chỉ thị về việc cử Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân, Chủtịch Hội đồng Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thủtrưởng các bộ và cấp tương đương tham gia khoá bồi dưỡng kiến thức quản
lý hành chính nhà nước tại Học viện Hành chính Quốc gia
Để nâng cao chất lượng và đưa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức đi vào nề nếp theo những quy định pháp lý thống nhất, ngày 04
Trang 13tháng 8 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định TTg ban hành quy chế đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là văn bản quantrọng, giải quyết mối quan hệ phát sinh trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức từ việc xác định hệ thống quản lý, hệ thống các cơ sở đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức đến việc phân công, phân cấp đào tạo, bồi dưỡng
số161/2003/QĐ-Mặt khác để công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đượcthực hiện theo kế hoạch, ngày 07 tháng 5 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số74/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạchđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2001-2005 Đến ngày 11tháng 7 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 137/2003/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch ĐT,BD nguồn nhân lực cho công tác hội nhập nềnkinh tế quốc tế giai đoạn 2003-2010
Ngoài ra, trong chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nướcgiai đoạn 2001-2010 cũng xác định chương trình xây dựng nâng cao chấtlượng đội ngũ CB,CC, trong đó có phần quan trọng đề cập đến nhiệm vụđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một trong những vănbản quy phạm pháp luật quan trọng của nhà nước nhằm thực hiện chủtrương của Đảng về đẩy mạnh hoạt động ĐT,BD xây dựng đội ngũ CB,CCtrong giai đoạn mới Khi ban hành Quyết định này Thủ tướng đã yêu cầucác ngành, các cấp phải coi trọng việc xây dựng kế hoạch và tổ chức triểnkhai thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là nhiệm vụtrọng tâm của kế hoạch phát triển
Sau 3 năm thực hiện Quyết định 74/2001/QĐ-TTg đã có 8 văn bảnđược ban hành, có thể nói, các văn bản được xây dựng và ban hành bướcđầu đã xác định và tạo lập được những cơ sở làm nền móng cho việc xâydựng và ban hành các văn bản khác về lĩnh vự đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức trong thời gian tới
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5 tháng 3 năm 2010 của Chínhphủ về Đào tạo, bồi dưỡng đã cụ thể hóa yêu cầu về đào tạo, bồi dưỡngtheo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương phápcần thiết để làm tốt công việc được giao “Bồi dưỡng bắt buộc tối thiểukiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm (thời gian thực hiện là 01tuần/01 năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết)7.Nghị định cũng nhấn mạnh vào yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
Trang 14dưỡng với những quy định bắt buộc về phương pháp giảng dạy “Đào tạo,bồi dưỡng bằng phương pháp tích cực, phát huy tính tự giác, chủ động và
tư duy sáng tạo của người học, tăng cường trao đổi thông tin, kiến thức vàkinh nghiệm giữa giảng viên với học viên và giữa các học viên”.8
Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày 25 tháng 01 năm 2011 của BộNội vụ về Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 18/2010/NĐ-
CP ngày 5 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về Đào tạo, bồi dưỡng côngchức: thông tư đã cụ thể hóa một số điểm về việc thực hiện chế độ đào tạo,bồi dưỡng và biên soạn chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng Thực hiệnchế độ bồi dưỡng hàng năm là một yêu cầu bắt buộc đối với công chức.Cách tính thời gian tham gia các khóa bồi dưỡng được nêu rất rõ rang trongThông tư này
Nhằm triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng XII về đổi mớicăn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất lànguồn nhân lực chất lượng cao, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyếtđịnh số 163/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2016 về Phê duyệt đề án đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2025 Mụctiêu của Đề án nhằm “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệuquả đào tạo, bồi dưỡng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức,viên chức chuyên nghiệp có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứngyêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước và hội nhậpquốc tế.” và “phấn đấu đến năm 2020, 100% cán bộ, công chức ở Trungương, cấp tỉnh, huyện đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn quy định trước khi bổnhiệm ngạch, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý, 80% cán bộ, công chứcđược cập nhật kiến thức pháp luật, đạo đức công vụ, 70% được bồi dưỡngcập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực thi công vụ Đối với cán bộ,công chức cấp xã đến năm 2020, 100% có trình độ chuyên môn từ Trungcấp trở lên, 90% có trình độ chuyên môn phù hợp với vị trí đảm nhiệm”
Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2010, của Thủtướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Xây dựng đội ngũ tri thức Ngànhvăn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2020” xác định mục tiêu phấn đấu xâydựng đội ngũ trí thức Ngành đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, đồng bộ về
cơ cấu, có trình độ chuyên môn cao và năng lực thực tiễn; có khả năng tiếpcận, làm chủ và chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến, sáng tạo vàtruyền bá tinh hóa dân tộc và thế giới trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thểdục thể thao và du lịch; sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa nghệ thuật cóchất lượng, đạt được đỉnh cao nghệ thuật, kỷ lực thể thao quốc gia và quốc
tế, thu hút nhiều khách du lịch; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị,
Trang 15phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề đáp ứng đòi hỏi ngày càng caocủa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhìn chung, các văn bản trên đã quy định khá rõ mục tiêu, nguyêntắc và chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chức Nội dung của các văn bản đãthể hiện rõ tinh thần đổi mới toàn diện trên các mặt: chế độ đào tạo, bồidưỡng; tăng cường phân cấp cho các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức
và quản lý đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, đồng thời bảo đảmquyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng cán
bộ, công chức, viên chức trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng; đổi mới hìnhthức và nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kỹnăng hành chính cho công chức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho viênchức; tạo lập cơ sở pháp lý để kiểm soát chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức, viên chức Các văn bản là cơ sở quan trọng cho Ngành Vănhóa, Thể thao và Du lịch cũng như Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thểthao và du lịch triển khai nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượngnguồn nhân lực của Ngành trong tình hình mới hiện nay
1.4 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng của một số nước trên thế giới
Việc phát triển, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực phục
vụ cho nền hành chính công vụ có vị trí đặc biệt quan trọng và trở thànhchiến lược của nhiều nước trên thế giới Mỗi nước có những cách tiếp cậnkhác nhau về tuyển chọn đội ngũ cán bộ,công chức và chính sách đào tạo,bồi dưỡng với mục đích cuối cùng là làm sao để có được một đội ngũ nhânlực có năng lực thực sự, có đạo đức nghề nghiệp vào làm việc trong các cơquan của chính quyền Trong phạm vi Đề tài này, nhóm nghiên cứu tậptrung nghiên cứu kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức viên chức ở
04 quốc gia có nền công vụ phát triển và mang tính đại diện cho các nềnkinh tế, các khu vực khác nhau trên thế giới gồm Singapore, Trung Quốc
và Hoa Kỳ
1.4.1 Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Singapore
Có diện tích nhỏ, dân số ít, tài nguyên thiên nhiên không có gì, nhưngquốc đảo này là một hình mẫu phát triển kinh tế đầy năng động trong nhiềunăm qua và cũng được coi là “một con hổ” của châu Á Năm 1991,Singapore đã khởi động chương trình cải cách mang tên “Nền công vụ thế
kỷ 21” nhằm xây dựng nền công vụ có hiệu quả, hiệu lực với lực lượng côngchức liêm chính, tận tuỵ, có năng suất lao động và chất lượng dịch vụ cao.Một số biện pháp đồng bộ đã được áp dụng, đó là:
Trang 16- Áp dụng bộ quy chuẩn ISO 9000 trong BMHC, coi đó vừa là công cụcải tiến lề lối làm việc, vừa là công cụ đánh giá hiệu quả, phân loại công chức.
- Đưa tinh thần “doanh nghiệp” vào hoạt động của BMHC mà cốt lõi
là lấy hiệu quả làm thước đo
- Thành lập Uỷ ban hỗ trợ doanh nghiệp nhằm tìm hiểu, đánh giá và
đề xuất phương án giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp
- Đề ra Chương trình xoá bỏ cách làm việc quan liêu, nhiều tầng nấccủa BMHC với mục tiêu là việc gì cũng phải có cơ quan chịu trách nhiệm
- Thường xuyên rà soát để loại bỏ những quy định lỗi thời không cònphù hợp
- Đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức,coi đó là giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nền công vụ có hiệu quả
Với quan điểm chú trọng đặc biệt đến đào tạo, bồi dưỡng, nền hànhchính và công vụ của đất nước này đã có những bước phát triển mạnh mẽ,được xem là một nhân tố chủ đạo làm nên sự thành công của một trong
"bốn con rồng châuÁ".Với số lượng 114.500 người làm việc trong lĩnh vựccông, chiếm khoảng 5,23% tổng số lao động 9, nền công vụ Singapo luônđặt chất lượng phục vụ, hiệu quả, hiệu lực lên hàng đầu và là nền công vụluôn cải tiến để thích nghi với môi trường quốc tế luôn thay đổi và đáp ứngyêu cầu phát triển đất nước
Khái niệm chất lượng phục vụ được hiểu là đáp ứng tốt nguyệnvọng, nhu cầu của công dân với tác phong, thái độ nhã nhặn, vươn tới sựhoàn hảo Singapo lập ra cơ quan đánh giá chất lượng phục vụ của từng cán
bộ, công chức, từng cơ quan, đơn vị với các bảng biểu cho điểm chi tiết vàcác giải thưởng chất lượng phục vụ mang đẳng cấp quốc gia và quốc tế
Để có những chất lượng phục vụ hoàn hảo của các cơ quan côngquyền, Xingapo quan niệm công chức là chìa khóa thành công nên luôn coitrọng yếu tố con người, trọng dụng nhân tài và vấn đề đào tạo, bồi dưỡngcông chức nhằm phát huy cao độ tiềm lực của con người
Việc đào tạo, bồi dưỡng công chức theo hướng mỗi người đều cầnđược phát triển tài năng riêng; tạo thói quen học tập suốt đời, liên tục học hỏi
để mỗi công chức đều có đầy đủ phẩm chất, năng lực, trình độ phục vụ tốtcho nền công vụ Singapore xây dựng chiến lược cán bộ thể hiện bằng kế
9 báo STRAITIMES http://www.straitstimes.com , Parliament: Singapore's public sector workforce
expected to grow 2.5% a year, 20/1/2015, Charisa Yong.
Trang 17hoạch đào tạo ngắn hạn, dài hạn, đào tạo kế nhiệm, bài bản, từ xa Thời gianđào tạo tối thiểu bắt buộc là 100 giờ trong một năm đối với mỗi công chức.Trong đó 60% nội dung đào tạo về chuyên môn, 40% nội dung đào tạo liênquan đến phát triển Có nhiều khóa học khác nhau dành cho các đối tượng
Hàng năm, Singapore dành 4% ngân sách cho đào tạo, bồi dưỡng.Công chức được đi học sau đại học bằng học bổng của Chính phủ với điềukiện sau khi học phải phục vụ Chính phủ từ 3 đến 5 năm, nếu không thựchiện cam kết như vậy thì phải trả lại tiền đào tạo Trước khi đi học, ngườihọc ký cam kết và phải có hai người có đủ khả năng tài chính bảo lãnh đểđảm bảo tiền của Chính phủ không bị thất thoát
Đối với Singapore, đào tạo công chức trẻ sau khi tuyển dụng phảiđảm bảo nguyên tắc hữu ích và kế thừa (đào tạo, bồi dưỡng phải phục vụdài lâu cho công việc), khuyến khích áp dụng công nghệ thông tin để đadạng hóa hình thức đào tạo, tăng cường tính tự giác của người học (mỗicông chức ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp phải xây dựng kế hoạch học tập cánhân (Bản đồ đào tạo cá nhân), và kiên trì nguyên tắc “Muộn còn hơnkhông” và nhất là nguyên tắc đào tạo song hành chuyên môn với các kỹnăng mềm (Quản lý sự thay đổi, phương pháp học tập của người trưởngthành (Adult Learning) và phát triển nhân cách
Quá trình đào tạo và bồi dưỡng của Singapore qua 5 công đoạn chính:
- Giới thiệu: Nhằm tổ chức cho nhân viên mới về nhận việc, trongvòng 13 tháng Phần này còn dành cho cả những người mới chuyển côngtác từ nơi khác đến
- Cơ bản: Đào tạo để công chức thích ứng với công tác của mình Tổchức cho người mới tuyển dụng trong năm đầu công tác
- Nâng cao: Đào tạo bổ sung, giúp công chức đạt hiệu quả cao nhấttrong công việc Tổ chức trong khoảng 13 năm đầu
- Mở rộng: Tạo điều kiện cho công chức vượt ra khỏi công việc củamình, có thể làm những công việc liên quan khi cần thiết
- Tiếp tục: Đào tạo này không chỉ liên quan đến công việc hiện tại
mà còn nâng cao khả năng làm việc của công chức trong tương lai
Các công đoạn đào tạo này có liên quan chặt chẽ tới cuộc đời chứcnghiệp của công chức và tới việc chỉ định công chức vào công việc Việcđào tạo được tổ chức theo các hình thức chính quy hoặc tại chức Tuỳ theoyêu cầu của từng loại đối tượng, có thể có những phần hợp nhất giữa mộtvài công đoạn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cá nhân công chức
Trang 18Các cơ quan chịu trách nhiệm chính trong đào tạo, bồi dưỡng côngchức gồm có Học viện Công vụ và Viện Quản lý Singapore, Trường Chínhsách công Lý Quang Diệu Học viện Công vụ có chương trình đào tạo cácnhà quản lý cao cấp; chương trình đào tạo chuyên môn quản lý trung cấp.Còn Viện Quản lý Singapore là cơ quan tổ chức nhiều chương trình bồidưỡng ngắn hạn để học viên tự chọn phù hợp với nhu cầu của cá nhân Đây
là những hoạt động cập nhật thông tin và lý luận mới về quản lý phục vụcho các khóa bồi dưỡng ngắn hạn và tại chức mở theo đơn đặt hàng.TrườngChính sách công Lý Quang Diệu, là trường đào tạo về chính sách công hệcao học Sứ mệnh của trường là đào tạo một đội ngũ các nhà lãnh đạo vànhững người tham mưu, hoạch định chính sách ở khu vực nhà nước và khuvực tư nhân, với mục tiêu là hướng tới sự thịnh vượng và phát triển của cácquốc gia
Tóm lại, công tác đào tạo và bồi dưỡng ở Singapore luôn hướng tới mụctiêu để mỗi cá nhân có thể phát huy cao độ tiềm lực cá nhân cho phát triển
1.4.2 Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Trung Quốc
Nhằm xây dựng một đội ngũ công chức chuyên nghiệp và có chấtlượng cao,Trung Quốc đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ chính trị, phẩmchất, năng lực chuyên môn cho đội ngũ công chức
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức của Trung Quốc tập trungvào: lý luận xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc và chiến lược pháttriển; quản lý hành chính nhà nước trong nền kinh tế thị trường; quản lý vĩ
mô nhà nước với những nội dung cụ thể như thể chế hành chính, quyết sáchhành chính, đào tạo và phát triển nhân tài
Nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng được phân thành 3 loại: + Đào tạo để nhận nhiệm vụ, áp dụng cho những đối tượng chuẩn bị
đi làm ở cơ quan nhà nước
+ Đào tạo cho những người đang công tác trong cơ quan nhà nước,chuẩn bị được đề bạt vào vị trí quản lý.
+ Bồi dưỡng các chức danh chuyên môn
Một khóa học của công chức thường được tiến hành theo mô hình "cơbản + chuyên môn",nghĩa là bao gồm khóa học cơ bản và khóa học chuyênmôn Tỷ lệ của các khóa học thường được sắp xếp là 30% cơ bản và 70%chuyên môn Khóa học cơ bản đi sâu vào các nội dung như: về học thuyếtchính trị, về luật hành chính, về hành chính công, về phát triển kinh tế - xãhội ; khóa học chuyên môn thường được thiết kế dựa vào các nhu cầu khác
Trang 19nhau của công chức ở các nhóm và các cấp khác nhau, thể hiện tính chuyênmôn trong đào tạo cho các cấp và các loại công chức khác nhau
Hiện nay 17 trường Đại học ở Trung Quốc có chức năng đào tạo, bồidưỡng công chức cho Chính phủ.
Học viện hành chính trung ương Bắc Kinh được thành lập năm 1994
là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Quốc vụ viện, do 1 Uỷ viên Quốc vụ việnđứng đầu, có biên chế trên 300 người Chức năng chính là đào tạo, bồidưỡng cho cán bộ đương chức ở cấp bộ, cấp tỉnh, thành phố theo chức danh
cụ thể, không đào tạo đại học Bình quân mỗi năm đào tạo cho khoảng 2-3ngàn người Cấp tỉnh cũng có học viện Đối tượng đào tạo là cán bộ trẻ,mới được tuyển dụng (thời gian dài nhất 2 năm) và cán bộ quản lý từ cấp
sở đến Phó tỉnh trưởng (thông thường là bồi dưỡng chuyên đề, thời gianchừng 20 ngày/năm) Hàng năm, kinh phí do Chính phủ cấp cho các họcviện khoảng 60%, số còn lại các học viện tự thu xếp từ các nguồn khác.Chương trình và nội dung đào tạo có sự thống nhất giữa các Bộ Nhân sự vàBan Tổ chức Trung ương
Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức của Trung Quốc khá linh hoạtsong vẫn theo đúng nguyên tắc: công khai, công bằng, cạnh tranh, chọnđược người giỏi; lý luận gắn với thực tế, học tập gắn liền với ứng dụng, coitrọng hiệu quả thiết thực; không bồi dưỡng đủ thì không đề bạt Đặc biệt,Trung Quốc rất chú trọng rèn luyện năng lực thực hành của công chức trongthực tiễn, coi đây là một trong ba tố chất chủ yếu tạo nên phẩm chất côngchức, đó là trình độ lý luận chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn và đứctính tự trọng, tự lập Giảng viên ở các trường hành chính, trường Đảng cáccấp và các cơ sở đào tạo khác bao gồm đội ngũ giảng viên chuyên tráchđược đào tạo bài bản và thường xuyên được bồi dưỡng cập nhật kiến thức vàđội ngũ giảng viên kiêm chức Nguồn giảng viên kiếm chức đa dạng và hìnhthức tuyển dụng linh hoạt Những công chức có năng lực chuyên môn cao,các chuyên gia hoặc các học giả từ các trường cao hơn và từ các viện nghiêncứu khoa học có thể được tuyển vào vị trí này Một cách khác nữa là sử dụngmột số quan chức của Chính phủ và cán bộ từ các ủy ban của Đảng hoặcthuê giáo sư nước ngoài giảng dạy
Để xác định được hiệu quả của quá trình đào tạo, bồi dưỡng đối vớiviệc thực thi công vụ của công chức, Trung Quốc chú trọng đánh giá quátrình đào tạo, bồi dưỡng của họ Có hai cách thức đánh giá chủ yếu là đánhgiá thái độ học tập và kết quả học tập Việc đánh giá thái độ học tập dựavào việc học viên tham gia đầy đủ thời gian đào tạo theo quy định và việcchấp hành kỷ luật nghiêm túc Nội dung đánh giá bao gồm cả tỷ lệ tham gia
Trang 20các giờ học trên lớp, các sáng kiến hội thảo và các quan điểm đúng đắn.Kết quả học tập được đánh giá dựa trên số điểm của các bài kiểm tra, tiểuluận, đề tài Việc đánh giá học viên trong trường được thực hiện dưới hìnhthức "Mẫu đăng ký đánh giá đào tạo công chức", đó là những thông tinphản hồi tới cơ quan, đơn vị mà học viên đang công tác Đây là một trongnhững cơ sở cho quy trình kiểm tra và đánh giá hàng năm của các bộ phận
tổ chức nhân sự
Tóm lại, hình thức và nội dung đào tạo bồi dưỡng tại Trung Quôc khálinh hoạt và coi trọng hiệu quả thiết thực Nhờ đó, Trung Quốc đã tiến hànhtương đối thành công nhiều cuộc cải cách hành chính kể khi thực hiện đườnglối mở cửa vào năm 1978
1.4.4 Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Mỹ
Ở Hoa Kỳ nguyên tắc chính yếu của đào tạo, bồi dưỡng công chứcphục vụ trong nền công vụ tập trung nhấn mạnh vào tính chủ động và thựctiễn Nguyên tắc đào tạo của Hoa Kỳ tập trung nhấn mạnh đào tạo gắn vớinhu cầu Nguyên tắc này thể hiện tính chủ động của cơ quan, đơn vị trongquản lý và sử dụng nguồn nhân lực trong nhiều khâu, trong đó thể hiện cụthể trong đào tạo và bồi dưỡng
Nội dung đào tạo tập trung vào các kỹ năng lãnh đạo cho công chức,bao gồm kỹ năng phân tích, kỹ năng quản lý và kỹ năng cố vấn Mỗi kỹnăng được thiết kế tương đương một khóa học với quan niệm rằng mỗicông chức cần lãnh đạo được chính mình, công việc của mình và đều có thểtrở thành người lãnh đạo trong tương lai Chương trình đào tạo cho cán bộquản lý cao cấp (7 tuần) và Chương trình quản lý và lãnh đạo thực thi (3tuần) và một loạt các chương trình đào tạo cho công chức từ bậc 16 trở lên,chương trình Đào tạo học tập đặc biệt (Ví dụ: đào tạo Bộ trưởng, Thứtrưởng); chương trình đào tạo chức năng đặc biệt (khóa đào tạo xây dựngnhóm, tổ công tác; khóa đào tạo về Lập kế hoạch và đánh giá). Trong quytrình đào tạo công chức trẻ, độ chênh lệch giữa chất lượng hoạt động hiệntại với chất lượng hoạt động theo yêu cầu được lấy làm thước đo để triểnkhai công tác đào tạo, đánh giá nhu cầu họ đào tạo, bồi dưỡng và dựa trên
sự đánh giá này để đề ra các chính sách, chủ trương về đào tạo, bồi dưỡng.Các phương pháp phổ biến đang áp dụng là gắn kết mô hình lý thuyết vớiviệc nghiên cứu phân tích Các hình thức đào tạo chủ yếu dành cho côngchức Hoa Kỳ bao gồm đào tạo trong nội bộ đơn vị (Bộ, Cục), đào tạo tại
Bộ, cục khác của liên bang, đào tạo trong các trường cao đẳng chuyênngành thuộc Bộ và đào tạo qua thực hành Các hình thức đào tạo khác nhau
Trang 21hình thành lên các cơ sở đào tạo khác nhau, và các cơ sở đào tạo này cùnghợp thành một mạng lưới đào tạo
Ngoài hệ thống mạng lưới đào tạo trong công việc trên, các côngchức mới tuyển dụng tại Hoa Kỳ còn được đào tạo thông qua một kênhkhác, đó là đào tạo trong trường đại học Hình thức dạy học chủ yếu trongcác cơ sở đào tạo ở Hoa Kỳ là phương pháp giải quyết theo vấn đề để kíchthích công chức phát huy tối đa sở trường và khả năng sáng tạo Chính phủ
cử công chức tham gia các chương trình đào tạo trong vòng từ 6 tháng đến
1 năm tại trường đại học và Chính phủ chi trả kinh phí đào tạo cho côngchức này
Đối với Hoa Kỳ, các cơ sở đào tạo công chức mới tuyển dụng rất đadạng Đối với công chức mới tuyển dụng vào các vị trí cấp cao, họ thườngđược Chính phủ gửi đến các khóa định hướng ngắn hạn tại Viện Điều hànhLiên bang hoặc trường Kennedy Đối với công chức mới tuyển dụng vàocác vị trí khác, Chính phủ gửi họ đến đào tạo tại trường Kennedy hoặc cáctrường Đại học Bản thân mỗi Bộ cũng có các đơn vị đào tạo riêng hoặc cáctrường trực thuộc để đào tạo nguồn nhân lực nội ngành sau khi tuyển dụng.Đại diện cho loại hình cơ sở đào tạo độc lập dành cho công chức là TrườngĐại học Havard Kennedy Trường Harvard Kennedy có mối quan hệ chặtchẽ với Chính phủ và cung cấp thông tin, cố vấn cho Chính phủ Một sốgiảng viên của Trường chính là Công chức cố vấn cao cấp của Chính phủ.Chính vị thế trong mối quan hệ với Chính phủ và nguồn giảng viên độc đáo
đã tạo ra lợi thế tuyệt đối cho Trường trong công tác giảng dạy về ra quyếtđịnh ở tầm cao và quản trị Chính phủ Trường Harvard Kennedy có khoảng
30 cơ sở nghiên cứu bao trùm nhiều lĩnh vực từ nhà ở, thông tin đại chúng,chính quyền địa phương, các vấn đề quốc tế, tổ chức phi chính phủ đến các
cơ quan nghiên cứu về nhân quyền Lợi thế nghiên cứu đã hỗ trợ đáng kểcho chất lượng và hiệu quả đào tạo của Trường Ngoài Trường HavardKennedy, xét về cơ sở đào tạo công chức còn phải kể đến Viện Điều hànhLiên bang Viện thành lập năm 1968, chuyên trách đào tạo công chức caocấp cho Chính phủ Hình thức đào tạo chủ yếu là đào tạo ngắn hạn Việnđào tạo cho các công chức mới tuyển dụng vào các vị trí cao cấp trongChính phủ Viện có 4 cơ sở đào tạo chính dành cho công chức tại Hoa Kỳđặt tại California, New York, Tennessee và Delaware
Bên cạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức trẻ, Mỹcòn đặc biệt chú trọng đến lĩnh vực đào tạo, bôi dưỡng cho các lãnh đạo.Chương trình đào tạo lãnh đạo tập trung vào một số kỹ năng cơ bản: Tựđánh giá về bản thân, khả năng nhận thức; Xây dựng kỹ năng cá nhân như
Trang 22giải quyết mâu thuẫn, tư duy sáng tạo, khả năng giao tiếp; Kỹ thuật giảiquyết vận dụng; Giáo dục kiến thức về văn hóa; Phục vụ và cống hiến, mônhọc này giúp người học hiểu rõ trách nhiệm của mình với tổ chức, với quốcgia; Chính sách công…
Ở Mỹ, đội ngũ giảng viên bao gồm các giáo sư, học giả tại cáctrường đại học, viện nghiên cứu và các chuyên gia, cố vấn, công chức caocấp trong Chính phủ Đối tượng học viên rất đa dạng về quốc tịch, chủngtộc, tôn giáo, lứa tuổi, giới tính và hoàn cảnh xuất thân (không phân biệtngành nghề trước đây) Các công chức trẻ mới tuyển dụng chủ yếu là từnguồn sinh viên tốt nghiệp đại học trong nước và nguồn ứng viện được traohọc bổng của Chính phủ từ khắp nới trên thế giới
Tóm lại, qua nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡngcông chức của 3 nước: Singapore, Trung Quốc, Hoa Kỳ trong thời gian từđầu thế kỷ cho đến nay, có thể thấy rằng các quốc gia đều ý thức được tầmquan trọng của nguồn tài nguyên nhân lực trong công cuộc phát triển kinh
tế xã hội của đất nước Vì vậy, Chính phủ đều dành những nguồn lực đáng
kể cho lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng công chức nhằm có được đội ngũ nhânlực chất lượng cao đáp ứng tốt nhu cầu công việc Qua đây có thể thấy rút
ra một số nội dung chính sau:
- Các quốc gia đều ý thức được tầm quan trọng của nguồn tài nguyênnhân lực trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Chính phủđều dành những nguồn lực đáng kể cho lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng côngchức nhằm có được đội ngũ nhân lực chất lượng cao đáp ứng tốt nhu cầucông việc Mỗi nước đều có những quy định bắt buộc cán bộ, công chứctham gia vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng được thiết kế phù hợp với mụctiêu của tổ chức
- Nguyên tắc của các chương trình đào tạo chủ yếu nhấn mạnh vàotính chủ động, thực tiễn và nhu cầu thực tế
- Về nội dung chương trình: Bên cạnh các khóa học về quản lý hànhchính công, kỹ năng cần thiết cho các vị trí việc làm, các khóa học về pháttriển nhân cách, xây dựng kỹ năng cá nhân được quan tâm đáng kể
- Việc đánh giá chất lượng đào tào, bồi dưỡng do các đơn vị đào tạotiến hành theo 2 tiêu chí: Thái độ học tập và kết quả học tập.
Chương 2 HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CỦA TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH (2010-2015)
Trang 232.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch
2.1.1 Giai đoạn từ 2010 - 2013
Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch được thành lậpnăm 1997, là đơn vị duy nhất của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có chứcnăng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, kiến thức pháp luật và kỹ năngquản lý Nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch cán sự và tương đương, ngạchchuyên viên và tương đương, ngạch chuyên viên chính và tương đương, kiếnthức và kỹ năng theo vị trí việc làm cho cán bộ, công chức, viên chức ngànhvăn hóa, thể thao và du lịch Sau nhiều lần thay đổi tên gọi, đến năm 2007,
Bộ Văn hóa - Thông tin tách lĩnh vực Thông tin sang Bộ Thông tin vàTruyền thông Sáp nhập Ủy ban Thể dục Thể thao, Tổng cục Du lịch, lĩnhvực gia đình của Ủy ban dân số kế hoạch hóa gia đình thuộc Bộ Y tế thành
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ngày 10 tháng 04 năm 2008 Bộ trưởng BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 1605/QĐ-BVHTTDLquy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Trường Trường được đổitên thành Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch làđơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Giai đoạn 2010 - 2013 chức năng, nhiệm vụ của Trường được xâydựng trên cơ sở Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch và Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng
8 năm 2003 Ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, đếnnay Quyết định này vẫn còn hiệu lực thi hành Theo đó, Trường Bồi dưỡngcán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch có chức năng: Đào tạo, bồidưỡng lý luận chính trị; kiến thức, kỹ năng quản lý Nhà nước, quản lýchuyên môn nghiệp vụ trong các lĩnh vực Văn hóa, Gia đình, Thể dục thểthao và Du lịch cho công chức lãnh đạo, công chức chuyên môn nghiệp vụ,phục vụ yêu cầu kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứccủa ngành theo quy hoạch, kế hoạch của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Đồng thời Trường có nhiệm vụ, quyền hạn:
1 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, kiến thức và kỹ năngquản lý Nhà nước, quản lý ngành cho cán bộ, công chức ngạch cán sự, ngạchchuyên viên và tương đương Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoạingữ, tin học cho cán bộ, công chức, viên chức ngành Văn hóa, Thể thao và Dulịch theo kế hoạch của Bộ giao
Trang 242 Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao, cập nhật kiến thức chuyên mônnghiệp vụ, kỹ năng quản lý chuyên ngành cho cán bộ quản lý cấp phòng,cấp vụ, cấp sở và tương đương trong ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
3 Tổ chức nghiên cứu khoa học về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụquản lý ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ứng dụng tiến bộ khoa họccông nghệ phục vụ công tác giảng dạy
4 Nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện, chuẩn hóa chương trình, giáotrình, đề cương bài giảng Biên soạn tài liệu bồi dưỡng, cập nhật kiến thức
về chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng trong ngành Văn hóa, Thểthao và Du lịch
5 Liên kết, phối hợp với các cơ quan trong và ngoài Bộ tổ chức đàotạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phù hợp với chức năng nhiệm vụ của trườngtheo kế hoạch được lãnh đạo Bộ phê duyệt và nhu cầu xã hội
6 Tham gia điều tra, khảo sát, tổng kết nhu cầu đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức, viên chức của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch.Nghiên cứu đề xuất phương hướng, quy trình và phương pháp đào tạo, bồidưỡng mới phù hợp với đặc điểm, tình hình của ngành Văn hóa, Thể thao
và Du lịch
7 Hợp tác với các tổ chức trong nước và quốc tế để nâng cao chuyênmôn, nghiệp vụ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của Nhà nước và Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch…
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường gồm: Hiệu trưởng, các Phó hiệutrưởng và các phòng chức năng, các Bộ môn và tổ chức trực thuộc:
+ Phòng Tổ chức - Hành chính
+ Phòng Tài chính - Kế toán
+ Phòng Đào tạo - Bồi dưỡng
+ Phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế
Các Bộ môn và tổ chức trực thuộc:
+ Bộ môn Lý luận cơ bản
+ Bộ môn Quản lý văn hóa, thể thao và du lịch
+ Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học
Như vậy, tại Quyết định số 1605/QĐ-BVHTTDL đánh dấu sự thayđổi và khẳng định bước phát triển lớn của Trường Trước hết về tên gọi,chuyển từ tên Trường Cán bộ quản lý Văn hóa - Thông tin thành Trường
Trang 25Bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch Tên Trường đã phầnnào phản ánh chức năng, nhiệm vụ và những lĩnh vực chuyên ngành mớiNhà trường phải triển khai trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng Thứ hai, về
cơ cấu tổ chức bộ máy được xây dựng theo hướng chuyên môn hóa Nếunhư giai đoạn trước khi Quyết định số 1605/QĐ-BVHTTDL được banhành thì cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường khá đơn giản chỉ gồm 4 phòng:Phòng Giáo vụ; Phòng Đào tạo; Phòng Hành chính và Phòng Tài vụ Đếngiai đoạn này đã có thêm 4 tổ chức mới, đặc biệt là 2 Bộ môn và PhòngQuản lý khoa học và Hợp tác quốc tế được thành lập Điều này thể hiện tưduy về định hướng chiến lược phát triển Nhà trường của Cấp ủy, Ban giámhiệu Có thể nói đây là 3 tổ chức quan trọng đối với một nhà trường, vì nóitới trường là phải nói tới đội ngũ giảng viên và nghiên cứu viên, nhân tốquyết định đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Trung tâm Ngoại ngữ - Tinhọc được thành lập vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quan trọng là đào tạo,bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học cho đội ngũ cán bộ, côngchức của Ngành trong thời kỳ mở rộng giao lưu, hội nhập khu vực và quốc
tế vừa thể hiện tư duy “thức thời” về đào tạo, bồi dưỡng Tuy với tên gọiTrung tâm Ngoại ngữ - Tin học nhưng Trung tâm thực hiện cả nhiệm vụliên kết đào tạo, bồi dưỡng Thời điểm năm 2008 Trung tâm đã làm rất tốtliên kết đào tạo với nhiều trường đại học, cao đẳng mở nhiều lớp đào tạochính quy, tại chức với hàng ngàn sinh viên
2.1.2 Từ năm 2014 đến năm 2015
Năm 2013, tại quyết định số 2995/QĐ-BVHTTDL, ngày 03 tháng 9năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trường đượcđổi tên thành Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch
Năm 2014, tại Quyết định số 1410/QĐ-BVHTTDL, ngày 12 tháng 5năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trường Cán bộ quản lývăn hóa, thể thao và du lịch Sang giai đoạn từ 2014 đến 2015, Nhà trường
có sự thay đổi về tên trường, vị trí, chức năng; nhiệm vụ, quyền hạn vàquy mô tổ chức, bộ máy
- Về tên trường: Chuyển từ “Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý vănhóa, thể thao và du lịch” sang tên “Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao
và du lịch” Như vậy, đã bỏ từ “bồi dưỡng”, việc bỏ từ này tạo điều kiện choviệc mở rộng phạm vi đào tạo, bồi dưỡng, dễ thu hút người học hơn và hợp lýcho sự hình thành các Trung tâm
Trang 26- Về vị trí: Khẳng định Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và
du lịch là đơn vị sự nghiệp công lập có thu trực thuộc Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch
- Về Chức năng được xây dựng trên cơ sở nội dung Nghị định số76/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 07 năm 2013 Quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vàNghị định số 18/2010/NĐ-CP về Đào tạo, bồi dưỡng công chức TrườngCán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch có chức năng đào tạo, bồidưỡng: lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức pháp luật, kỹnăng quản lý nhà nước, quản lý chuyên ngành, ngoại ngữ và kinh nghiệmhội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và dulịch phục vụ yêu cầu kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức, viên chức của ngành theo quy hoạch, kế hoạch của Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch
Như vậy, Quyết định 1410/QĐ-BVHTTDL đã bổ sung thêm nộidung quy định vị trí của Nhà trường Chức năng bổ sung thêm nội dungđào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ và kinh nghiệm hội nhập quốc tế
- Về nhiệm vụ và quyền hạn: Quy định 15 nhiệm vụ và quyền hạn.Trong đó có những nhiệm vụ, quyền hạn mới như nhiệm vụ ở mục 1, 3, 6,
7, 10, 11, 12, 13, 14, 15 So với giai đoạn trước quy định về nhiệm vụ vàquyền hạn đã tăng lên gấp đôi, cụ thể hóa hơn những công việc của Nhàtrường Đặc biệt có những nhiệm vụ thể hiện đúng “tầm” và vị trí quantrọng của Trường trong hệ thống tổ chức bộ máy của Bộ như nhiệm vụ số
1, 5, 9, đó là:
1 Trình Bộ trưởng đề án, dự án xây dựng và phát triển Trường; kếhoạch đào tạo, bồi dưỡng; nghiên cứu khoa học dài hạn, hàng năm và tổchức thực hiện sau khi được phê duyệt
5 Liên kết với các cơ quan, tổ chức, cơ sở đào tạo trong và ngoàinước về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ và đáp ứng nhu cầu của xã hội theo quy định của pháp luật
9 Hợp tác với các tổ chức, cá nhân, cơ sở đào tạo trong và ngoàinước về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc
tế, kỹ năng quản lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên ngành cho cánbội, công chức, viên chức ngành văn hoá, thể thao và du lịch
- Về cơ cấu tổ chức: Từ 4 Phòng chức năng, 02 Bộ môn, 01 tổ chứctrực thuộc, nay thành 4 Phòng chức năng, 02 Khoa, 03 tổ chức trực thuộc
So với giai đoạn 2010 - 2013 thì giai đoạn 2014 - 2015 quy mô tổ chức bộ
Trang 27máy của Nhà trường đã được nâng cao và phát triển hơn theo hướng vừachuyên môn hóa vừa mở rộng, đa dạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng bằngcách vẫn giữ nguyên phòng Đào tạo- Bồi dưỡng để thực hiện chức năngtham mưu giúp việc Hiệu trưởng tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồidưỡng Bộ giao Bên cạnh đó đổi tên Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học thànhTrung tâm Ngoại ngữ, Công nghệ truyền thông với mục đích mở rộngnhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, vì tin học chỉ là một phần nhỏ của Công nghệtruyền thông Tuy nhiên, hiện nay trong thực tiễn hoạt động, Trung tâmchưa khai thác hết được ý tưởng mới, hiện đại này, biến ý tưởng thành côngviệc cụ thể.
01 tổ chức được thành lập mới là Trung tâm Liên kết đào tạo, bồidưỡng và 01 tổ chức được tách ra từ phòng Quản lý Khoa học và Hợp tácQuốc tế, đó là Thư viện
Trung tâm Liên kết đào tạo, bồi dưỡng là tổ chức hoạt động theo cơchế tự trang trải Việc thành lập Trung tâm này thể hiện mong muốn thực hiệnnhiệm vụ xã hội hóa, liên kết đào tạo, bồi dưỡng trong nước và quốc tế Tuynhiên, là tổ chức non trẻ, thành lập sau khi “phong trào” xã hội hóa đào tạocủa các trường, trung tâm có chiều hướng giảm do nhu cầu đào tạo của xã hội
đã “bão hòa”, cộng với việc Nhà nước “thắt chặt” hơn sau thời gian “lộn xộn”của công tác đào tạo nên Trung tâm Liên kết khá khó khăn trong việc tìmnguồn cho nhiệm vụ liên kết đào tạo, bồi dưỡng
Thư viện: Giai đoạn 2010 - 2013 thư viện trực thuộc phòng Quản lýkhoa học và Hợp tác quốc tế, do 01 nhân viên phụ trách, tốt nghiệp đại họcchuyên ngành thư viện Thư viện có chức năng lưu trữ tư liệu, tài liệu và tổchức khai thác sử dụng, phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, đào tạo,bồi dưỡng và các hoạt động có liên quan khác của Nhà trường Tuy đượcquy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ nhưng Thư viện chưa thực sự đượcđầu tư toàn diện Tất cả các tiêu chí của một thư viện thông thường đềuchưa đảm bảo nên chưa đáp ứng, chưa hấp dẫn được bạn đọc vì thế chưa hỗtrợ cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường
2.2 Thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
Hoạt động động đào tạo, bồi dưỡng gồm nhiều yếu tố như: Nguồnnhân lực, nội dung chương trình, giảng viên, nghiên cứu khoa học, thôngtin, tư liệu, kinh phí, đối tượng học viên, hành chính, phục vụ, cơ sở vậtchất Để đánh giá toàn diện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cần phân tích tất
Trang 28cả các yếu tố trên Tuy nhiên, do quy mô của đề tài và lịch sử nghiên cứukhoa học của Nhà trường nên nhóm nghiên cứu tập trung mô tả, phân tích
và đánh giá các những nội dung sau:
- Xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
- Công tác tổ chức, quản lý các lớp đào tạo, bồi dưỡng
- Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng
- Đội ngũ giảng viên
- Đối tượng học viên
- Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng
- Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động đào tạo, bồi dưỡngViệc gọi tên các loại hình lớp ở mỗi đề mục, dựa trên cơ sở nộidung chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nhóm tác giả chia thành 3 nhómlớp như sau:
- Nhóm 1: Lớp bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyên viên chính và đàotạo Lý luận Chính trị
- Nhóm 2: Lớp bồi dưỡng kiến thức Quản lý Ngành và bồi dưỡng theo
vị trí việc làm
- Nhóm 3: Lớp đào tạo cử nhân
Riêng ở mục 2.2.1 Xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng để tránh lặp nội dung nên nhóm tác giả chia theo: Các lớp trong kế
hoạch và Các lớp ngoài kế hoạch
2.2.1 Xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
2.2.1.1 Các lớp trong kế hoạch Bộ giao
Nhằm thực hiện tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo Bộ về công tácđào tạo, bồi dưỡng, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người học,Nhà trường rất trú trọng đến công tác xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
Các lớp bồi dưỡng được tổ chức theo kế hoạch được lãnh đạo Bộ phêduyệt hàng năm gọi là các lớp trong kế hoạch
Xây dựng kế hoạch của Nhà trường dựa trên cơ sở: Chức năng, nhiệm
vụ của Trường; Sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;Nhu cầu của ngành, của đơn vị và của cá nhân người học Trong đó, xác địnhnhu cầu là một điểm then chốt để có một bản kế hoạch khả thi
Trang 29Xác định nhu cầu là một bước cơ bản, quan trọng để xác định độingũ cán bộ, công chức đang cần đào tạo, bồi dưỡng cái gì Xác định nhucầu không đơn giản chỉ là thăm dò về số lượng được đào tạo, bồi dưỡng màquan trọng hơn là phải làm rõ những mong muốn, nguyện vọng của cán bộ,công chức, của cơ quan sử dụng cán bộ, công chức, từ đó đưa ra nhữngchương trình đào tạo, bồi dưỡng khoa học, phù hợp với người học.
Để nắm bắt nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ, công chức,viên chức năm 2013 Nhà trường đã tổ chức thành công Hội nghị “Xácđịnh nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Văn hóa, Thểthao và Du lịch năm 2014” Đây là Hội nghị có ý nghĩa thiết thực đối vớiNhà trường trong công tác xây dựng kế hoạch, tham mưu với Lãnh đạo Bộ
về nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng trên các lĩnh vực của Ngành Tuy nhiên,những hội nghị như thế này chưa được được tổ chức thường niên Hàngnăm, để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng Nhà trường thường dựa trênbáo cáo kết quả đàotạo, bồi dưỡng của năm, kết quả khảo sát nhu cầu đàotạo, bồi dưỡng của các cơ quan, đơn vị trong Bộ và các địa phương, Nhàtrường xây dựng bản Dự kiến Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng năm kế tiếptrình Bộ trưởng Công việc này thường được tiến hành vào quý II hàngnăm Tuy nhiên, khi Kế hoạch gửi lên Vụ Tổ chức Cán bộ thì Vụ thườngphân về Trường những lớp Bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyên viênchính, lớp Quản lý Ngành và các lớp đào tạo Lý luận Chính trị, còn các lớpbồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo vị trí, việc làm lại phân về cho các Tổngcục, Cục, Vụ chức năng Các đơn vị này lại phối hợp với Trường để mởlớp Với cách làm này nguồn lực dành cho công tác đào tạo bồi dưỡng bịphân tán gây khó khăn cho cả Nhà trường và các đơn vị chức năng
Nhà trường chủ động trong việc xây dựng kế hoạch nhưng Bộthường xuyên phê duyệt kế hoạch muộn (có năm đến đầu quý II mới đượcphê duyệt) đã ảnh hưởng lớn tới hoạt động của Nhà trường
Sau khi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Kế hoạch đào tạo,bồi dưỡng, dưới sự chỉ đạo của Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo - Bồi dưỡng,Trung tâm Ngoại ngữ, Công nghệ truyền thông, Trung tâm Liên kết đào tạo,bồi dưỡng phân công nhiệm vụ cho chuyên viên đảm nhiệm các lớp trên cơ
sở năng lực, sở trường và cân nhắc đến điều kiện cá nhân nhằm tạo thuậnlợi tốt nhất cho mỗi chuyên viên thực hiện nhiệm vụ
Trang 30Sau khi nhận nhiệm vụ, mỗi chuyên viên phân tích kế hoạch thành cáccông việc cụ thể và phối hợp với các phòng chức năng tiến hành các công việctheo Quy trình tổ chức lớp đã được ban hành.
2.1.1.2 Các lớp ngoài kế hoạch Bộ giao
Ngoài các lớp thuộc nhiệm vụ chính trị Trường còn tổ chức các lớpngoài kế hoạch Các lớp ngoài kế hoạch là những lớp Trường liên kết, phốihợp với các Tổng cục, Cục, Vụ và các địa phương hoặc các trường Cao đẳng,Đại học, Học viện
Đối với các lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý ngành, lĩnh vực văn hóa,gia đình, thể thao và du lịch; lớp kỹ năng; lớp bồi dưỡng ngạch chuyên viên,chuyên viên chính; lớp đào tạo Trung cấp lí luận Chính trị - Hành chính việcxây dựng kế hoạch được tiến hành sau khi có công văn đề nghị phối hợp mởlớp của các đơn vị, địa phương Phòng Đào tạo - Bồi dưỡng, Trung tâm Liênkết đào tạo, bồi dưỡng hoặc Trung tâm Ngoại ngữ, Công nghệ truyền thôngthống nhất với đối tác về công việc của mỗi bên để tiến hành xây dựng kếhoạch trình Hiệu trưởng phê duyệt
2.2.2 Công tác tổ chức, quản lý các lớp đào tạo, bồi dưỡng
2.2.2.1 Đội ngũ thực hiện việc tổ chức, quản lý các lớp
Công tác tổ chức, quản lý lớp đào tạo, bồi dưỡng của trường Cán bộquản lý văn hóa, thể thao và du lịch được tiến hành bởi đội ngũ cán bộ giàukinh nghiệm Phần lớn nhân sự tham gia vào công tác tổ chức lớp thuộcbiên chế của phòng Đào tạo - Bồi dưỡng, Trung tâm Ngoại ngữ, công nghệtruyền thông, Trung tâm Liên kết, đào tạo, bồi dưỡng dưới sự chỉ đạo trựctiếp của Ban giám hiệu Nhà trường, cụ thể như sau:
- Phòng Đào tạo - Bồi dưỡng: Giai đoạn từ 2010 đến 2015 nhân sựcủa Phòng ở mức 6-7 cán bộ, giảng viên Cuối năm 2014, đồng chí Trưởngphòng phát triển lên làm Phó hiệu trưởng 01 đồng chí Phó trưởng Phònglên làm Trưởng Phòng Đến thời điểm năm 2015 Phòng có 6 cán bộ, giảngviên Trong đó có 01 Trưởng phòng, 02 Phó trưởng phòng, 02 Chuyên viên
và 01Giảng viên Trình độ 01 Nghiên cứu sinh là đồng chí Trưởng phòng
và 5 thạc sĩ
Sang năm 2016 số lượng cán bộ, giảng viên của Phòng có sự thayđổi do yêu cầu về sắp xếp, kiện toàn tổ chức của nhà trường, đồng chí Phó
Trang 31trưởng phòng chuyển sang làm Trưởng khoa Quản lý văn hóa, thể thao và
du lịch 02 đồng chí chuyên viên của Phòng phát triển lên làm Phó trưởngphòng và nhận mới 02 cán bộ trẻ Đến nay tổng số cán bộ, giảng viênphòng Đào tạo - Bồi dưỡng là 6 cán bộ, giảng viên Nhìn chung đội ngũcán bộ, giảng viên Phòng Đào tạo - Bồi dưỡng đều là cán bộ tâm huyết vớinghề, dày dạn kinh nghiệm Tuy nhiên, với số lượng 6 người, hàng năm mở
từ 25 - 30 lớp, phần lớn các lớp này mở ở các địa phương trên cả nước nêncán bộ thường xuyên phải đi công tác xa Do vậy, để phù hợp với tính chấtcủa công việc phòng Đào tạo - Bồi dưỡng rất cần được tăng cường thêmnhân sự là nam giới
- Trung tâm Liên kết đào tạo, bồi dưỡng là tổ chức mới được thànhlập và đi vào hoạt động từ năm 2015, lực lượng mỏng, mới có 02 cán bộ,gồm 01 phó giám đốc và 01 chuyên viên Bên cạnh những khó khăn dothành lập trong bối cảnh cung vượt cầu, phải cạnh tranh với nhiều Trungtâm đào tạo, bồi dưỡng khác đã tạo được “thị trường” riêng Tuy nhiên,Trung tâm đã cố gắng tìm hướng đi mới, khai thác nguồn bồi dưỡng ở cácđịa phương Với những nỗ lực này Trung tâm mở được một số lớp, năm
2015 mở được 2 lớp và trong 6 tháng đầu năm 2016 mở được 5 lớp, đặcbiệt có 01 lớp liên kết với Học viện Báo chí Tuyên truyền đào tạo trình độ
cử nhân Chính trị học Theo quy định chức năng, nhiệm vụ thì Trung tâmhoạt động theo cơ chế tự trang trải, nhưng hiện nay nhân lực của Trung tâmmỏng, chưa “khai thác” được nhiều nguồn nên để hoạt động được theo cơchế tự trang trải cần có lộ trình cụ thể
Như vậy, Nhà trường có 2 tổ chức là phòng Đào tạo - Bồi dưỡng vàTrung tâm liên kết đào tạo, bồi dưỡng cùng đảm trách nhiệm vụ đào tạo,bồi dưỡng Để hiểu rõ hơn nhiệm vụ của từng tổ chức này ta tiếp cận ởchức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức
- Trung tâm Liên kết đào tạo, bồi dưỡnglà đầu mối và trực tiếp khaithác, tổ chức các dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng và các dịch vụ khác với các cơquan, tổ chức, cơ sở đào tạo trong, ngoài nước phù hợp với chức năng,nhiệm vụ của Nhà trường đáp ứng nhu cầu của xã hội theo quy định củapháp luật Hoạt động theo cơ chế tự trang trải
- Phòng Đào tạo, Bồi dưỡng có chức năng tham mưu, giúp việc Hiệutrưởng tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng
Trang 32Như vậy, chức năng của 2 tổ chức này rất rõ ràng, cụ thể Phòng Đàotạo - Bồi dưỡng thực hiện các lớp theo kế hoạch được Bộ phê duyệt Trungtâm Liên kết đào tạo, bồi dưỡng làm dịch vụ xã hội hóa đào tạo, bồi dưỡng.
2.2.2.2 Hoạt động tổ chức và quản lý các lớp đào tạo, bồi dưỡng
- Tổ chức lớp
Để hoạt động mở lớp đi vào nề nếp, đảm bảo tiến độ, chất lượng,mục tiêu Sau nhiều năm làm công tác tổ chức và quản lý các lớp đào tạo,bồi dưỡng phòng Đào tạo - Bồi dưỡng đã đúc rút kinh nghiệm và thiết lậpquy trình tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng Quy trình tổ chức các lớp cơbản được tiến hành giống nhau, gồm các bước và các các công việc:
5 Soạn thảo Tờ trình gửi Bộ (kèm theo Lịch học, dự toán kinh phí)
6 Soạn thảo Công văn cử cán bộ tham gia Ban Tổ chức lớp
11 Mời giảng viên
12 Kế hoạch khai giảng
Trang 3320 Quyết định khen thưởng học viên có thành tích cao trong học tập
21 Báo cáo tổng kết
22 Thư cảm ơn (những lớp phối hợp với Học viện hoặc địa phương).Quy trình tổ chức lớp được ban hành nội bộ vào năm 2013 đã giúpcho lãnh đạo quản lý, theo dõi công việc thuận lợi hơn, đồng thời giúp chochuyên viên dễ dàng triển khai các công việc theo trình tự, không sót việc,không quên việc
- Quản lý lớp
Cũng như tổ chức lớp, việc quản lý lớp được tiến hành như sau:+ Phổ biến nội quy học tập; Cung cấp lịch học cho học viên (nếu lớp học dài ngày cung cấp lịch học theo từng đợt)
2013 Hiệu trưởng Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hoá, thể thao và dulịch đã ký ban hành Quyết định số 38/QĐ-BDCBQL Quy chế, Quy định về
tổ chức, quản lý đào tạo, bồi dưỡng
Theo đó, việc tổ chức và quản lý các lớp tập trung vào công tác tổchức, quản lý học viên Tại Quyết định số 38/QĐ-BDCBQL nêu rõ:
+ Hệ thống tổ chức, quản lý học viên của nhà trường gồm: Hiệutrưởng, Ban tổ chức lớp học, phòng Đào tạo - Bồi dưỡng, chủ nhiệm lớp
Trách nhiệm của Hiệu trưởng: Chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch tổchức, triển khai của khóa học được quy định trong quy chế này
Trách nhiệm của Ban Tổ chức lớp: Thực hiện kế hoạch tổ chức, triển
Trang 34Trách nhiệm của phòng Đào tạo - Bồi dưỡng: Trực tiếp triển khai,thực hiện kế hoạch tổ chức lớp, quản lý học tập của học viên được quy địnhtrong quy chế
Trách nhiệm của chủ nhiệm lớp: Theo dõi, hướng dẫn các hoạtđộng của học viên; hỗ trợ các học viên hoàn thành kế hoạch học tập; tổchức các nhóm học tập trong lớp để hỗ trợ nhau trong học tập và hoạtđộng thực tiễn; thực hiện nhiệm vụ quản lý học viên theo phân công củaBan tổ chức lớp học và chịu trách nhiệm trước Trưởng ban về công tácquản lý của mình
Đối với các lớp bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyên viên chính,trong quá trình học tập học viên không được nghỉ học quá 15% tổng sốthời gian của môn học, học phần hoặc cụm chuyên đề; nếu trường hợpvắng quá thời gian quy định (15%) thì học viên không được dự kiểm tra,thi học phần, môn học hoặc cụm chuyên đề đó; nếu học viên nghỉ họckhông có lý do quá 1/3 tổng thời gian của chương trình hoặc không đủđiều kiện dự kiểm tra quá 1/3 tổng số học phần của chương trình thì Nhàtrường sẽ ra quyết định buộc thôi học, thông báo về cơ quan, đơn vị họcviên công tác và hủy toàn bộ kết quả học tập mà học viên đã đạt được
Đối với hệ Trung cấp lí luận Chính trị - Hành chính học viên khôngđược nghỉ học quá 10% tổng thời gian môn học, học phần đó; nếu trườnghợp vắng quá thời gian quy định (10%) thì học viên không được dự kiểm tra,thi môn học, học phần đó; nếu học viên nghỉ học không có lý do quá 1/4tổng thời gian của chương trình hoặc không đủ điều kiện dự thi, kiểm tra quá1/4 tổng số môn học, học phần của chương trình thì nhà trường sẽ ra quyếtđịnh buộc thôi học, thông báo về cơ quan, đơn vị học viên công tác và hủytoàn bộ kết quả học tập mà học viên đã đạt được
Cán bộ chủ nhiệm lớp có trách nhiệm theo dõi và báo cáo với Hiệutrưởng Nhà trường về những trường hợp học viên không đáp ứng yêu cầu vềthời lượng lên lớp và ý thức học tập chưa tốt để Nhà trường xem xét và cóbiện pháp nhắc nhở, xử lý
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà trường trong việc tiếp thu ý kiếnphản hồi của học viên, mỗi lớp đều có Ban cán sự do học viên đề xuất Bancán sự có nhiệm vụ: Đại diện cho tập thể lớp liên hệ với giảng viên, chủnhiệm lớp, các phòng chức năng trong nhà trường để tiếp nhận thông tin liênquan đến hoạt động học tập và phong trào của lớp; phản ánh, kiến nghị vớinhà trường giải quyết các vấn đề có liên quan đến học viên; Tổ chức thực hiệncác nhiệm vụ học tập, rèn luyện, các hoạt động thực tế theo kế hoạch của nhà
Trang 35trường Theo dõi, báo cáo đầy đủ, chính xác tình hình của lớp theo từng kỳhọc và những việc đột xuất của lớp với chủ nhiệm lớp và phòng Đào tạo, Bồidưỡng Đôn đốc học viên trong lớp chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy chếcủa nhà trường; Thực hiện các công việc khác theo phân công của nhà trường.
Tóm lại, việc tổ chức và quản lý các lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lýnhà nước chương trình cán sự, Chuyên viên, Chuyên viên chính, Trung cấp
Lý luận Chính trị - Hành chính của Nhà trường trong những năm gần đây
đã được “chuẩn hóa” và triển khai một cách chuyên nghiệp theo những quytrình có tính hệ thống và khoa học
2 Quản lý lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý ngành, lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, lớp Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo vị trí việc làm
Đối với những lớp đào tạo, bồi dưỡng này, hoạt động quản lý lớpđược quy định tại Nội quy học tập Nội dung Nội quy học tập về cơ bảngiống việc tổ chức và quản lý các lớp Đào tạo, bồi dưỡng ngạch chuyênviên, chuyên viên chính, Trung cấp Lý luận Chính trị - Hành chính như đãnêu ở trên
Đặc điểm của những lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý ngành, lĩnh vựcvăn hóa, thể thao và du lịch, lớp Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo vị tríviệc làm thời lượng chương trình của mỗi lớp ngắn nội dung chương trìnhđược thiết kế, xây dựng tương đối sát với nhu cầu người học Tuy nhiên,chứng chỉ của các chương trình này không nằm trong yêu cầu bắt buộc đốivới cán bộ, công chức nên tinh thần học tập của học viên thường không đượccao như khi họ tham gia vào các lớp Bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyênviên chính, lớp đào tạo Trung cấp Lý luận Chính trị - Hành chính để thi nângngạch, để hoàn thiện bằng cấp Từ đó dẫn đến việc quản lý học tập của họcviên tương đối khó khăn Công tác quản lý lớp vì vậy cũng phải linh hoạt đểphù hợp với lịch làm việc của người học và yêu cầu của chương trình học
Xuất phát từ đặc thù trên, việc tổ chức các lớp có tính hấp dẫn vàphù hợp cao với nhu cầu của người học là vô cùng quan trọng Vì vậy,công tác tổ chức và quản lý lớp phần lớn tập trung vào theo dõi, kiểm tra,đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên và tính phù hợp của chươngtrình với trình độ và nhu cầu của học viên
Để thực hiện tốt nội dung này, ngay sau khi kết thúc mỗi chuyên đề
Trang 36phỏng vấn hoặc bằng phiếu khảo sát Việc lấy ý kiến ngay sau thời điểmkết thúc chuyên đề giúp thu nhận được ý kiến một cách chuẩn xác, chi tiết
và kịp thời
Có thể nói, tổ chức và quản lý các lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lýngành, lớp Bồi dưỡng kỹ năng theo vị trí việc làm đã được triển khai mộtcách linh hoạt đáp ứng nhu cầu người học và phù hợp với từng chương trình,đối tượng tham gia học tập
3 Quản lý các lớp đào tạo cử nhân
Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về nguồn nhân lựcchất lượng cao và tận dụng nguồn lực sẵn có của Nhà trường, trong nhữngnăm qua Nhà trường đã tiến hành liên kết với các đơn vị đào tạo có uy tín
tổ chức các lớp cử nhân như: Trường Đại học Kinh tế quốc dân, trường Đạihọc Đà Nẵng, viện Đại học Mở, Đại học Văn hóa Hà Nội, Học viện Báochí và tuyên truyền, Việc quản lý các lớp này do cán bộ quản lý lớp củatrường và đơn vị liên kết đồng phụ trách trên cơ sở Quy chế của đối tác liênkết và các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Nội quy,Quy chế do Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và dulịch ban hành
2.2.3 Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nội dung chương trình là yếu tốquan trọng quyết định chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Bên cạnh việc đàotạo, bồi dưỡng các lớp theo nội dung chương trình do Bộ Nội vụ và Họcviện Chính trị - Hành chính ban hành, Trường còn căn cứ vào nhu cầu đàotạo, bồi dưỡng hàng năm của cán bộ, công chức toàn Ngành từ Trung ươngđến cơ sở để xây dựng một số chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí,việc làm Dưới đây là nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng Nhàtrường đã thực hiện trong 5 năm qua
2.2.3.1.Các lớp Bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, đào tạo Trung cấp Lý luận Chính trị - Hành chính
Nội dung chương trình của các lớp này được thực hiện nghiêm túctheo tài liệu, giáo trình do Bộ Nội vụ, Học viện Chính trị - Hành chính banhành Tuy nhiên, giai đoạn từ 2010 đến 2015 các chương trình này có sựthay đổi căn bản, giảm thời gian học lý thuyết và tăng thời gian thực hành,thảo luận Sự đổi mới này phù hợp yêu cầu của Nghị định 18/2010/NĐ-CP
và phù hợp hơn với đối tượng học viên của lớp này là cán bộ, công chức đihọc đã có kiến thức, kinh nghiệm, vị trí công tác nhất định
Trang 37Nội dung chương trình các lớp:
- Chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên
+ Chương trình thực hiện trước năm 2013:
STT Phần học và tên chuyên đề Giảng bài
4 Những ngành luật chủ yếu của hệ thống pháp luật Việt Nam 16
5 Quy chế làm việc của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân 4
6 Lý luận chung về quản lý hành chính Nhà nước 8
Phần II: Hành chính Nhà nước và Công nghệ hành chính
11 Kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý hành chính Nhà nước 8
12 Tổ chức quản lý văn bản trong cơ quan Nhà nước 8
13 Kỹ năng tổ chức và điều hành công sở hành chính 8
15 Ứng dụng tin học trong quản lý nhà nước 8
Thảo luận tổ chuyên đề 6 - 15 4
Phần III: Quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực
17 Quản lý Nhà nước về tài chính tiền tệ 12
18 Quản lý Nhà nước về đô thị và nông thôn 8
19 Quản lý Nhà nước về LĐ, việc làm tiền lương và bảo trợ xã hội 8
20 Quản lý Nhà nước về dân số và kế hoạch hoá gia đình 4
21 Quản lý Nhà nước về văn hoá, giáo dục và Y tế 12
22 Quản lý Nhà nước về KH, công nghệ, môi trường và tài
23 Quản lý Nhà nước về dân tộc và tôn giáo 8
24 Quản lý Nhà nước về quốc phòng và an ninh 8
Trang 38STT Phần học và tên chuyên đề Giảng bài
/Thảo luận
25 Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành chính tư pháp 8
26 Công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở 8
27 Thực trạng và thách thức đối với gia đình Việt Nam thời kỳ
28 Một số vấn đề về phát triển du lịch ở Việt Nam trong giai đoạn
29 Định hướng phát triển của thể thao Việt Nam và những vấn
+ Chương trình ngạch chuyên viên được thực hiện từ năm 2013:
Ban hành kèm theo (QĐ số 51/QĐ-BNV ngày 22 tháng 01 năm 2013
của Bộ Nội vụ, Chương trình và Tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình
bồi dưỡng ngạch chuyên viên Cụ thể:
Khối lượng kiến thức và thời gian
- Kiến thức, Chương trình gồm 16 chuyên đề giảng dạy và 02
chuyên đề báo cáo, chia thành 3 phần chính:
Phần 1: Kiến thức chung, gồm 08 chuyên đề giảng dạy và 01 chuyên
đề báo cáo, ôn tập, kiểm tra, với tổng thời lượng là 116 tiết;
Phần 2: Kiến thức QLNN đối với ngành và lãnh thổ, gồm 01 chuyên
đề giảng dạy, 01 chuyên đề báo cáo, ôn tập, kiểm tra, với tổng thời lượng là
32 tiết
Phần 3: Các kỹ năng, gồm 07 chuyên đề với tổng thời lượng là 112 tiết
- Tổng thời gian bồi dưỡng là 8 tuần (40 ngày làm việc) với tổng thời
lượng là 320 tiết (8 tuần x 5 ngày/tuần x 8 tổng thời lượng là 320 tiết (kể cả
thảo luận, thực hành, ôn tập, kiểm tra, viết tiểu luận tình huống và đi thực
Trang 394 Ôn tập 16
6 Hướng dẫn viết tiểu luận tình huống 4
Cấu trúc của chương trình
Phần I KIẾN THỨC CHUNG STT Chuyên đề, hoạt động Số tiết
Lý thuyết Thảo luận, thực hành Tổng
6 Quản lý tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước 8 4 12
7 Hệ thống thông tin trong quản lý hành chính nhà nước 8 4 12
Lý thuyết Thảo luận, thực hành Tổng
1 Tổng quan quản lý nhà nước theo ngành và lãnh thổ 8 4 12
Trang 402 Chuyên đề báo cáo: Thực tiễn quản lý nhà nước theo ngành/lĩnh vực và
Lý thuyết Thảo luận, thực hành Tổng
7 Kỹ năng thu thập và xử lý thông
Phần IV VIẾT TIỂU LUẬN VÀ ĐI THỰC TẾ
1 Hướng dẫn viết tiểu luận tình huống 4
- Chương trình bồi dưỡng ngạch Chuyên viên Chính
+ Chương trình bồi dưỡng ngạch Chuyên viên Chínhthực hiện đến năm 2013:
TT Nội dung chuyên đề Thảo luận Giảng bài
Phần I: NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT 60
1 Tổ chức thực hiện quyền lực Chính trị ở nước ta hiện nay 10