Chính sách tiền tệ nới lỏng: Khi NHTW nới lỏng tiền tệ thông qua các công cụ của CSTT đều nhằm hoặc làm tăng mức cung tiền danh nghĩa nếu mức giá là cố định P= Constant thì có nghĩa là m
Trang 1ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VẬN DỤNG TRONG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT CỦA NHNN VIỆT NAM
-Mã số: CS-2014-34
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thùy Linh Thành viên tham gia: ThS Nguyễn Hữu Thao
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
PHẦN MỞ ĐẦU vii
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 1
1.1 Những vấn đề cơ bản về lạm phát 1
1.1.1 Khái niệm và đo lường lạm phát 1
1.1.2 Phân loại lạm phát 3
1.1.3 Các nguyên nhân dẫn đến lạm phát 5
1.1.4 Hậu quả của lạm phát 9
1.1.5 Quan hệ giữa lạm phát với mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong điều hành CSTT 11
1.2 Chính sách tiền tệ và điều hành chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát 13
1.2.1 Khái niệm và Mục tiêu điều hành của Chính sách tiền tệ 13
1.2.2 Các công cụ chính của chính sách tiền tệ 16
1.3 Tác động của nhóm chính sách tiền tệ đến lạm phát 19
1.4 Kinh nghiệm vận dụng chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát ở một số nước trên thế giới 21
1.4.1 Kinh nghiệm của Ba Lan 21
1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc (PBC) 21
1.4.3 Kinh nghiệm của Singapore 24
1.4.4 Kinh nghiệm của Thụy Điển 24
1.4.5 Bài học đối với Việt Nam 27 Chương 2 TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG
CỤ GIÁN TIẾP CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỂM SOÁT
Trang 333
2.1.2 Diễn biến lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời gian qua 36
2.2 Thực trạng sử dụng các công cụ gián tiếp của CSTT nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua 56
2.2.1 Công cụ thị trường mở (OMO) 56
2.2.2 Chính sách tái cấp vốn và tái chiết khấu 59
2.2.3 Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc 64
2.2.4 Công cụ tỷ giá hối đoái 67
2.3 Đánh giá thực trạng điều hành CSTT nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt nam trong thời gian qua 69
2.3.1 Những thành công 69
2.3.2 Những hạn chế 73
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 77
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ GIÁN TIẾP CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN ĐẾN 2020 81
3.1 Một số định hướng và quan điểm 81
3.1.1 Định hướng chung 81
3.1.2 Định hướng điều hành CSTT của NHNN 82
3.1.3 Một số quan điểm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả điều hành các công cụ gián tiếp của CSTT nhằm kiểm soát lạm phát 83
3.1.3.1 Khả năng và điều kiện áp dụng chính sách mục tiêu kiểm soát lạm phát trong việc thực thi CSTT ở Việt Nam 83
3.1.3.2 Điều kiện áp dụng chính sách mục tiêu kiểm soát lạm phát trong việc thực thi CSTT ở Việt Nam 84
Trang 43.2.1 Giải pháp tổng thể 89
3.2.2 Đối với chính sách tỷ giá 90
3.2.3 Hoàn thiện công cụ tỷ lệ DTBB trong điều hành CSTT 92
3.2.4 Phối hợp đồng bộ các công cụ CSTT khác để nâng cao hiệu quả điều tiết tiền tệ 96
3.2.5 Nâng cao chất lượng dự báo các diễn biến tiền tệ 97
3.2.6 Hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin trong điều hành CSTT 98
3.2.7 Tăng cường công tác thanh tra và kiểm tra việc chấp hành các quy định của Ngân hàng Nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng 99
3.3 Giải pháp bổ trợ 100
3.3.1 Xây dựng Ngân hàng Trung ương hiện đại và đủ mạnh 100
3.3.2 Chọn nền tảng CSTT cho thực hiện mục tiêu xuyên suốt là kiềm chế lạm phát kết hợp với đổi mới phương pháp tính chỉ số lạm phát 104
3.3.3 Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa Ngân hàng Nhà nước với các bộ ngành khác trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô 107
3.3.4 Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền 107
3.3.5 Nâng cao chất lượng quản lý vốn của các NHTM 108
3.3.6 Về chính sách tài khóa 109
3.3.7 Giải pháp khác 109
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 5Bảng 2.2 Nghiệp vụ thị trường mở giai đoạn 2004 - 2013 57
Bảng 2.3 Các lần điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn giai đoạn 2004 – 2013 60
Bảng 2.4: Diễn biến tỷ lệ dự trữ bắt buộc giai đoạn 2004 - 2013 66
Bảng 2.5 : Diễn biến điều chỉnh tỷ giá giai đoạn 2004- 2013 68
Hình 1.1 5
Hình 1.2 6
Hình 2.1 Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm 2004 37
Hình 2.2 Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm 2008 41
Hình 2.3: Diễn biến tăng trưởng kinh tế và chỉ số lạm phát ở Việt Nam 47
giai đoạn 2004 – 2013 47
Trang 6CSTT :Chính sách tiền tệ
CSTK : Chính sách tài khóa
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DTBB : Dự trữ bắt buộc
ĐH KTQD : Đại học Kinh tế quốc dân
FDI : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP : Tổng sản phẩm trong nước
HMTD : Hạn mức tín dụng
NHTM CP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTM NN : Ngân hàng thương mại Nhà nướcNHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTW : Ngân hàng Trung ương
NSNN : Ngân sách nhà nước
OPEC : Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửaODA : Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thứcOECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tếOMOs : Nghiệp vụ thị trường mở
TPTTT : Tổng phương tiện thanh toán
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
USD : Đô la Mỹ
VND : Đồng Việt Nam
Trang 7Lạm phát là một vấn đề kinh tế cơ bản và quan trọng đối với bất kỳ quốc gianào trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội Nếu mức độ lạm phát ở mức vừa phải
sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu tỉ lệ ở mức hai con số trở lên thường sẽlàm cho nền kinh tế mất cân đối và gây ra những hậu quả nghiêm trọng Trong khi
đó ngăn chặn vấn lạm phát không phải đơn giản mà Chính phủ cần có các giải phápthống nhất, đồng bộ và khôn ngoan Theo kinh nghiệm của các quốc gia trên thếgiới, sử dụng chính sách tiền tệ (CSTT) một các hợp lý và linh hoạt là liều thuốcquan trọng hàng đầu để kiềm chế lạm phát và giúp Chính phủ đạt được các mục tiêukhác trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Ngày nay, các công cụ gián tiếpcủa CSTT thường được các Chính phủ quan tâm và sử dụng để đạt được mục tiêukiềm chế và kiểm soát lạm phát Vì thế, xây dựng hệ thống các công cụ gián tiếpcủa CSTT nhằm kiểm soát tốt lạm phát là đòi hỏi tất yếu đối với bất kỳ nền kinh tếnào
Việt nam trong thời gian qua năm qua, từ 2004 đến 2013, đã trải qua 10 nămlạm phát Các mức lạm phát trong 10 năm đó lần lượt là 9,51%; 8,42% ; 6,66%;12,63% ; 19,98%; 6,52%; 11,75%; 18,13%; 6,81%; 6,6% Tuy chưa quá cao nhưngnhững mức lạm phát chưa tới 20% này đã khiến nền kinh tế Việt nam chao đảo, đờisống dân cư khó khăn, hoạt động của các Doanh nghiệp suy giảm, Ngân sách Nhànước bị thâm hụt, … Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này bị sụt giảmnhanh chóng, cụ thể lần lượt là: 7,79%; 8,44%; 8,23%; 8,46%; 6,18%; 5,32%;6,5%; 6,24%; 5,25% và 5,42% Từ năm 2008 tới nay, tốc độ phát triển của nền kinh
tế giao động xung quanh mốc 5%-6% và vẫn chưa thể cao hơn được Từ mục tiêuhàng đầu là tăng trưởng kinh tế, Chính phủ Việt nam đã chuyển đổi mục tiêu hàngđầu thành ổn định tiền tệ và kiểm soát lạm phát Bằng cách sử dụng hàng loạt cácbiện pháp khác nhau để kiểm soát lạm phát mà trong đó, CSTT của Ngân hàng Nhànước được xem như là trung tâm của hệ thống giải pháp Trong những năm qua,
Trang 8tiêu của CSTT Việt nam là như ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, cũng nhưchuyển tải CSTT đến nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, đảm bảo an sinh
xã hội Thực tế đã cho thấy, không phải dễ dàng để có thể kiểm soát lạm phát,nhất là trong bối cảnh nền kinh té Việt nam đang trong thời kỳ bị tác động bởi hậukhủng hoảng kinh tế thế giới Dù Chính phủ Việt nam đã rất nỗ lực trong điều hànhCSTT nhưng kết quả kiểm soát lạm phát đạt được không được như mong muốn.Thực trạng điều hành CSTT hướng tới thực hiên mục tiêu kiểm soát lạm phát đangđặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục được hoàn thiện Học tập kinh nghiệm của các quốcgia trên thế giới, ngày nay, CSTT nhằm kiểm soát lạm phát của Việt nam đã biếtchú trọng việc vận dụng các công cụ gián tiếp hoan là các công cụ trực tiếp Bởi cáccông cụ trực tiếp được xem như là cách can thiệp thô bạo vào hoạt động tài chínhtiền tệ của nền kinh tế Trong khi đó, các công cụ gián tiếp có phương thức tác độnglinh hoạt hơn đến hoạt động tài chính tiền tệ cảu toàn bộ nền kinh tế và trao quyềnchủ động hơn cho các chủ thể tài chính NHư vậy, vấn đề cấp bách đặt ra hiện nayđối với mục tiêu kiểm soát lạm phát của Việt nam chính là cần xây dựng hệ thốngcác công cụ gián tiếp của CSTT của Ngân hàng Nhà nước hoạt động có hiệu quả Vì
thế: “Nghiên cứu các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ-vận dụng trong kiểm soát lạm phát của NHNN Việt nam” là đề tài mang tính thời sự cao và rất cần
thiết đối với sự phát triển ổn định của nền kinh tế Việt nam hiện nay Với những lý
do trên, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài này làm công trình nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Với đề tài “Nghiên cứu các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ-vận dụngtrong kiểm soát lạm phát của NHNN Việt nam”, nghiên cứu khoa học này tập trungvào các mục tiêu sau:
Trang 9- Khảo sát thực tình hình lạm phát của Việt nam trong giai đoạn 10năm từ 2004 đến 2013 và thực trạng vận dụng các công cụ gián tiếp của chính sáchtiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt nam trong việc kiềm chế và kiểm soát lạmphát
- Đánh giá những thành công cũng như hạn chế của quá trình vận dụngcác công cụ gián tiếp trong kiểm soát lạm phát ở Việt nạm trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc vận dụng các công cụgián tiếp của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước nhằm kiểm soát lạm phát
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về lạm phát, chính sách tiền tệ của
Ngân hàng Nhà nước và việc vận dụng các công cụ giám tiếp của chính sách tiền tệnhằm kiểm soát lạm phát
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Đề tài thực hiện khảo sát thực trạng lạm
phát và thực tế vận dụng các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ nhằm kiểmsoát lạm phát ở Việt nam
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Dải số liệu trong đề tài được thu thập trong
khoảng thời giam 10 năm từ 2004-2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh phương pháp nghiên cứu định tính, đề tài còn sử dụng các phươngduy vật biện chứng, khảo sát, thống kê, tổng hợp và phân tích, tiếp cận hệ thống và
so sánh, suy luận logic để thực hiện đề tài
Các dữ liệu sử dụng trong đề tài hoàn toàn là dữ liệu thứ cấp, được thu thập
từ trang thông tin chính thức của Tổng cục Thống kê Việt nam, Bộ Tài chính vàNgân hàng Nhà nước Việt nam Ngoài ra, để nguồn dữ liệu có tính chân thực và
Trang 10phân tích, so sánh, đối chiếu … để đánh giá được thực trạng, tìm ra nguyên nhân vàlàm cơ sở đề đề xuất giải pháp cho vấn đề nghiên cứu.
5 Kết cấu đề tài
Nội dung chính của đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về lạm phát và chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà
nước
Chương 2: Tình hình lạm phát và tác động của các công cụ gián tiếp của
chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát ở Việt nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ giám tiếp của
chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt nam trong giai đoạn đến 2020
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là quá trình đồng tiền liên tục giảmgiá Điều này có nghĩa là khi lạm phát xảy ra, với một đơn vị tiền tệ chỉ có thể muađược ngày càng ít hơn các hàng hoá và dịch vụ
Hiện nay vẫn tồn tại nhiều cuộc tranh luận kéo dài của các trường phái khácnhau xoay quanh vấn đề này
Theo trường phái “lạm phát giá cả”, A.Samuelson và William D.Nordhauscho rằng “ lạm phát xảy ra khi mức giá cả chung tăng lên” Đây là cách lý giải theo
biểu hiện của lạm phát và hậu quả của nó tới nền kinh tế Thực tế cho thấy, dù lạm
phát xảy ra bởi nguyên nhân gì thì biểu hiện đầu tiên cũng là tăng giá cả của một vàinhóm các mặt hàng, ảnh hưởng của nó cũng là làm cho giá trị tiền tệ giảm xuống,các thước đo giá trị bị ảnh hưởng
Theo C.Mark, lạm phát là do lượng tiền trong lưu thông Kt vượt quá nhu cầu
về tiền tệ của lưu thông trong hàng hoá Kc Vấn đề rất rõ ràng rằng Mark định nghĩalạm phát xuất phát từ nguyên nhân của nó, và theo Mark chỉ có nguyên nhân là dolượng tiền tăng lên Kt > Kc, giá cả hàng hoá sẽ tăng
Một khái niệm khác, lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành trong dânchúng tăng lên do Nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết
Trang 12(chiến tranh, nội chiến, thâm hụt Ngân sách v.v…) Trong khi đó, lượng hàng hoákhông tăng lên khiến dân chúng cầm trong tay quá nhiều tiền sẽ tranh mua khiến giá
cả tăng vọt có khi đi đến siêu lạm phát
Milton Friedman, nhà kinh tế tiền tệ vĩ đại, người được giải thưởng Nobel vềkinh tế năm 1976, đã cho rằng: “Lạm phát luôn luôn và lúc nào cũng là một hiệntượng của tiền tệ” Ông đã đưa ra định nghĩa phản ánh được cả biểu hiện và bảnchất của lạm phát Tuy nhiên lý luận của ông có tính thực nghiệm chứ không có tính
lý thuyết, ông đã xây dựng quan điểm của mình về lạm phát trong khi tìm hiểu vềlịch sử tiền tệ, nhằm xác định nguồn gốc và tác động của những thay đổi trong khốilượng tiền tệ từ đầu thế kỷ XX
Một định nghĩa về lạm phát được công nhận rộng rãi hiện nay là theo quan điểmcủa trường phái trọng tiền hiện đại Họ đã định nghĩa “lạm phát là hiện tượng giá cảtăng nhanh và liên tục trong một thời gian dài” Theo trường phái này, sự tăng lêncủa mức giá chung mới chỉ phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát, bản chất của
lạm phát được thể hiện ở tính chất của sự gia tăng đó: đó là sự tăng giá ở mức độ cao và kéo dài Chính sự tăng giá cao và liên tục từ thời gian này đến thời gian khác
mới tạo ra những tác động đặc thù của lạm phát Định nghĩa này được các nhà kinh
tế học theo trường phái Keynes ủng hộ, và đặc biệt thích hợp với các nhà điều hànhchính sách tiền tệ vì Ngân hàng trung ương chỉ có thể điều hành chính sách giá cảtrong dài hạn chứ không thể điều chỉnh trong ngắn hạn
1.1.1.2 Thước đo lạm phát
Lạm phát có thể được tính theo công thức tính mức giá chung trên thị trường
xã hội Có một số phương pháp để tính mức giá chung: chỉ số giá tiêu dùng (CPI);chỉ số điều chỉnh GDP; chỉ số giá hàng hoá bán lẻ (RPI); chỉ số giá sản xuất (PPI);chỉ số giá hàng hoá bán buôn (WPI) Trong đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ
số quan trọng mà các nước thường lấy để đo tỷ lệ lạm phát Chỉ số giá tiêu dùngđược tính theo công thức:
Trang 13CPIt = *100
1 0 0
1 0
i i
N i
i it
Q P
Q P
Trong đó:
Pit : giá hàng hoá i trong thời kỳ t
P0t: giá hàng hoá i trong thời kỳ gốc
Qio: hàng hoá i trong thời kỳ gốc
Chỉ số điều chỉnh GDP được coi là chỉ số phản ánh mức giá của tất cả cáchàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nước Chỉ số này được tính theo côngthức:
Dt
1 0
it i
N i
it it
Q P
Q P
Ngoài ra, người ta còn sử dụng một số chỉ số khác để đánh giá mức độ lạmphát đó là chỉ số biên độ của lạm phát
1.1.2 Phân loại lạm phát
1.1.2.1 Phân loại theo mức độ của lạm phát
Dựa theo mức độ lạm phát được chia thành các loại sau:
Lạm phát vừa phải (Lạm phát một con số):
Mức lạm phát tương ứng với tỷ lệ tăng giá dưới 10% một năm Lạm phát ởmức độ này thường không gây ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế Tuỳtheo chiến lược phát triển kinh tế từng thời kỳ, chính phủ có thể chủ động địnhhướng mức khống chế trên cơ sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu để phục vụcho một số mục tiêu kinh tế khác như : kích thích tăng trưởng kinh tế, tăng trưởngxuất khẩu và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các năm tài khoá nhất định v.v…Tuynhiên chỉ có thể chấp nhận lạm phát này trong điều kiện nền kinh tế còn chưa đạt tới
Trang 14giá trị sản lượng tiềm năng so với điều kiện hiện tại.
Lạm phát cao (Lạm phát phi mã):
Mức lạm phát tương ứng với tỷ lệ tăng giá nhanh ở hai hoặc 3 con số trongmột năm Loại lạm phát này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạngkinh tế nghiêm trọng Giải pháp để kiềm chế hiện tượng lạm phát này đòi hỏi phảitổng hợp lực lượng của toàn nền kinh tế quốc dân trong các nỗ lực thắt chặt tiền tệ,đẩy mạnh sản xuất, thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư, cải cách lại cơ cấu nềnkinh tế, nâng cao trình độ công nghệ … Nước ta đã trải qua và chống đỡ với loạilạm phát này trong thời kỳ hiện nay và thời kỳ từ năm 1985 đến 1988
Siêu lạm phát:
Lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao, vượt xa lạm phát phi mã Siêu lạmphát thường gây ra những thiệt hại cực kỳ nặng nề và nghiêm trọng; tuy nhiênchúng ít xảy ra Hình ảnh siêu lạm phát điển hình trong lịch sử lạm phát thế giới làlạm phát ở Đức năm 1922-1923, giá cả tăng từ 1 đến 10 triệu lần trong vòng 1 năm
1.1.2.2 Phân loại theo tính chất của lạm phát
Dựa vào tính chất của lạm phát, lạm phát được chia thành 3 loại: Lạmphát thuần tuý, lạm phát dự kiến và lạm phát không dự kiến
Lạm phát dự kiến (lạm phát ì):
Lạm phát dự kiến có tỷ lệ lạm phát giữ ở mức định và có thể dự đoán trướcđược Mọi hoạt động kinh tế sẽ trông đợi vào nó để tính toán điều chỉnh (ví dụ điềuchỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, giá cả trong các hợp đồng kinh tế,các khoản chi, tiêu chuẩn ngân sách…) Sở dĩ lạm phát này gọi là lạm phát ì vì khi
đã hình thành thì trở nên ổn định và tự duy trì trong một thời gian Những cú sốc
Trang 15mới trong nền kinh tế (có thể từ trong nước hoặc từ nước ngoài) sẽ đẩy lạm phátkhỏi trạng thái ì.
Lạm phát không dự kiến:
Lạm phát không dự kiến xảy ra mang tính đột biến mà trước đó chưa hề xuấthiện Kiểu lạm phát này thường duy trì ở mức độ phi mã và có ảnh hưởng lớn đếnnền kinh tế Vì xảy ra đột ngột nên sẽ tạo ra một cú sốc về kinh tế, tạo tâm lý bất ổnđịnh trong người dân và sự mất tin tưởng vào chính quyền đương đại
1.1.2.3 Phân loại theo nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, mỗi một nguyên nhân lạitạo ra loại lạm phát có tính chất khác nhau Có thể chia lạm phát thành: Lạm phátcầu kéo, lạm phát chi phí đẩy, lạm phát cơ cấu, lạm phát tiền tệ và các nguyên nhânkhác Xác định kỹ nguyên nhân chính và đặc tính của lạm phát là yếu tố căn bản đểkiềm chế lạm phát Các loại lạm phát này sẽ được phân tích rõ hơn trong phần
“Nguyên nhân cơ bản gây lạm phát”
1.1.3 Các nguyên nhân dẫn đến lạm phát
1.1.3.1 Cầu kéo
Là hiện tượng mức giá gia tăng xảy ra khi đường tổng cầu dịch chuyển sangphải Khi vì một nguyên nhân nào đó làm đường tổng cầu dịch chuyển sang phải từ
AD sang AD' với mức giá tăng lên P' và sản lượng
tăng lên lớn hơn sản lượng tiềm năng, điểm cân bằng
chuyển sang 1' (Hình 1.1) Khi sản lượng đạt Y'> sản
lượng tiềm năng Y*, lập tức giá cả đầu vào của sản
xuất tăng lên nhanh chóng nên đường tổng cung AS
dịch chuyển sang trái sang AS', điểm cân bằng chuyển
sang 2 và nếu tổng cầu chỉ tăng một đợt thì kết quả là
giá cả cũng chỉ tăng một đợt (không phải tăng liên
tục), còn sản lượng lại quay trở về vị trí cũ là sản
lượng tiềm năng Y* Như vậy,, việc tăng một đợt
trong tổng cầu chỉ đưa đến một sự tăng tạm thời của tỷ lệ lạm phát, không phải mức
1
Y
Hình 1.1 Đường
2 AS
Y* Y' 1'
AS' Y' AD ' AD P
P"
P' P*
Trang 16giá cả tăng kéo dài Có 4 lý do làm đường tổng cầu dịch chuyển sang phải làm mức
giá tăng lên, đó là: (1) Chính phủ thực hiện các chính sách: CSTT nới lỏng hoặc
Chính sách tài khoá (CSTK) mở rộng (hoặc thắt chặt) để tác động làm dịch chuyểnđường tổng cầu sang phải (hoặc sang trái) làm mức giá tăng lên, cụ thể như sau:
a Chính sách tiền tệ nới lỏng: Khi NHTW nới lỏng tiền tệ thông qua các
công cụ của CSTT đều nhằm hoặc làm tăng mức cung tiền danh nghĩa nếu mức giá
là cố định (P= Constant) thì có nghĩa là mức cung tiền thực tế tăng trong khi cầutiền thực tế vẫn như cũ làm lãi suất thị trường giảm, qua đó, mở rộng tiêu dùng, đầu
tư, tăng xuất khẩu ròng Kết quả là tổng cầu nền kinh tế tăng lên, đường tổng cầudịch chuyển sang phải, giá cả và sản lượng đều tăng lên Ngược lại, khi áp dụngchính sách tiền tệ thắt chặt sẽ tác động mức giá giảm xuống
b Chính sách tài khoá mở rộng: Khi Chính phủ quyết định tăng chi tiêu CP
hoặc giảm thuế làm thu nhập khả dụng của người dân và lợi nhuận của các doanhnghiệp tăng lên làm tăng tiêu dùng và mở rộng đầu tư Kết quả là đường tổng cầu dịchchuyển sang phải, giá cả tăng lên Quá trình sẽ ngược lại khi áp dụng chính sách tàikhoá chặt chẽ tác động làm mức giá giảm xuống;
(2) Sự lạc quan trong tiêu dùng (C) làm tiêu dùng tăng, qua đó, làm tổng cầu
tăng;
(3) Sự lạc quan trong kinh doanh làm đầu tư (I) tăng, dẫn đến tổng cầu nền
kinh tế tăng cũng làm mức giá gia tăng;
(4) Cầu nước ngoài ròng (NX) về hàng hoá trong nước: làm tổng cầu tăng,
giá cả tăng lên
1.1.3.2 Chi phí đẩy
Khi vì một nguyên nhân nào đó làm
đường tổng cung dịch chuyển sang trái từ AS
sang AS Là hiện tượng mức giá gia tăng xảy ra
do đường tổng cung dịch chuyển sang trái Khi
vì một nguyên nhân nào đó làm đường tổng cung
2 AS
Y* Y' 1
AS'
AD' AD
P
P"
P' P*
Trang 17giá tăng lên P' và sản lượng lại giảm từ Y* sang Y' nhỏ hơn sản lượng tiềm năng,
điểm cân bằng chuyển từ 1 sang 2 (Hình 1.2).
Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi các nhân tố của chi phí sản xuất tăng, đường tổngcung dịch chuyển sang trái AS', giá cả tăng lên từ P* lên P' và sản lượng giảm
xuống từ Y* xuống Y' (hình 1.2) Tuy nhiên, đường tổng cung không thể liên tục bị
đẩy sang trái vì khi sản lượng Y'< sản lượng tiềm năng Y* thì thất nghiệp nhỏ hơn
tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nên lương sẽ lại giảm và chi phí sản xuất sẽ lại giảm vàđường tổng cung bị đẩy trở về vị trí cũ với mức giá cân bằng P* và sản lượng Y* vàmức giá cân bằng P*
Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất:
Khi chi phí sản xuất tăng lên đường tổng cung dịch chuyển sang trái, mứcgiá tăng lên và ngược lại khi chi phí sản xuất giảm xuống đường tổng cung dịchchuyển sang trái làm giá cả giảm xuống, các nhân tố tác động đến chi phí sản xuấtlà: (1) Tình hình căng thẳng của thị trường lao động, (2) Dự kiến về lạm phát, (3)Tiền lương, (4) Thay đổi trong các chi phí sản xuất khác không liên quan đến lương
Ba nhân tố đầu di chuyển đường tổng cung bằng cách ảnh hưởng đến chi phí lương(ở Mỹ chiếm 70% chi phí sản xuất) trong khi nhân tố thứ tư ảnh hưởng các chi phísản xuất khác Có thể xem xét cụ thể từng nhân tố như sau:
- Tình hình căng thẳng của thị trường lao động: Khi thị trường lao động căng
thẳng vì lương và do đó chi phí sản xuất liên quan đến lương tăng lên, còn khi thịtrường lao động ế ẩm vì lương và do đó, chi phí sản xuất liên quan đến lương giảmxuống Chính vì vậy, khi thị trường lao động căng thẳng thì đường tổng cung dịchchuyển sang trái giá cả tăng lên và sản lượng giảm xuống
- Mức giá cả dự tính: Khi người lao động dự đoán lạm phát sẽ lên cao họ đòi
hỏi được tăng lương để khớp với lạm phát Đồng thời, các hợp đồng giao dịch cũng
sẽ điều chỉnh theo mức lạm phát dự tính Kết quả là đường tổng cung dịch chuyểnsang trái, giá cả tăng lên Mức giá cả dự tính càng cao thì sự di chuyển sang trái củatổng cung càng lớn
Trang 18- Thúc đẩy tiền lương: Giả sử người lao động muốn tăng lương thực tế
(lương tính theo số hàng hoá và dịch vụ có thể mua được) Họ sẽ đình công và họthắng lợi kết quả là sự thúc đẩy tiền lương đó làm tăng chi phí sản xuất và đườngtổng cung dịch chuyển sang trái
- Thay đổi trong chi phí sản xuất không liên quan đến lương (tài nguyên,
công nghệ, vốn ): đó là thay đổi trong công nghệ và việc cung ứng các nguyên liệuđầu vào của sản xuất Mọi cú sốc cung ứng tiêu cực (ví dụ như giảm nguồn cungdầu mỏ) làm tăng chi phí sản xuất thì di chuyển đường tổng cung dịch chuyển sangtrái, giá cả vì vậy mà tăng lên
Trong trạng thái dư cầu, tức là nền kinh tế đã đạt và vượt tại mức sản lượngtiềm năng thì chỉ cần một thay đổi nhỏ của tổng cầu tăng lên (cầu lớn hơn cung) thìkết quả trong ngắn hạn là tỷ lệ lạm phát ngay lập tức có xu hướng tăng lên, vàngược lại trong trạng thái dư cung (cung lớn hơn cầu) thì lạm phát giảm xuống.Chừng nào nền kinh tế còn dư cầu thì tỷ lệ lạm phát sẽ tiếp tục tăng lên, và chừngnào nền kinh tế vẫn dư cung thì tỷ lệ lạm phát còn có xu hướng giảm xuống Nếumức giá trung bình thực tế bắt đầu tăng lên thì sẽ xảy ra lạm phát và ngược lại làgiảm phát Tất nhiên, trong ngắn hạn, mức giá cũng bị ảnh hưởng của cả nhữngnhân tố khác như sự thay đổi thuế suất thuế hàng hoá, dịch vụ (VAT); sự tăng lêncủa cạnh tranh nội địa do thay đổi luật pháp, hoặc sự giảm giá dầu do sự trì trệ củakinh tế thế giới
1.1.3.3 Do tăng lượng tiền cung ứng
Lạm phát xuất hiện khi có một khối lượng tiền bơm vào trong lưu thông lớnhơn khối lượng cần thiết cho lưu thông của thị trường Khi đó, tiền nội địa sẽ mấtgiá, người dân không muốn gửi tiết kiệm ở ngân hàng vì nguyên tắc lãi suất dươngthường bị vi phạm, hơn nữa mất lòng tin vào giá trị của đồng tiền mà tích trữ ngoại
tệ, vàng hoặc bất động sản…
Theo phương trình định lượng tiền tệ ta có
P.Y = V.M (*)
Trang 19Trong đó: P là mức giá cả; Y: Sản lượng; V: Tốc độ chu chuyển tiền tệ; M:Khối lượng tiền trong lưu thông.
Để kiềm chế được lạm phát trong trường hợp này, biện pháp tốt nhất là giảmlượng tiền cung ứng trên thị trường thông qua các chính sách tiền tệ và tài khóa củachính phủ, đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư vừa giúp tăng trưởng kinh tế vừagiảm lạm phát
1.1.4 Hậu quả của lạm phát
Lạm phát không đơn thuần là sự tăng lên của giá cả các mặt hàng Đặc biệtkhi tình hình lạm phát biến động ngoài dự tính lên đến 2 con số như ở Việt Namhiện nay, nó tạo nên sự biến động bất thường về giá trị tiền tệ và làm sai lệch thước
đo trong quan hệ giá trị và ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế xã hội
1.14.1 Lạm phát tạo nên sự bất ổn cho môi trường kinh tế xã hội
Sự biến động bất thường của tỷ lệ lạm phát gây khó khăn trong việc xác địnhmức sinh lời chính xác của các khoản đầu tư Điều này tạo nên tâm lý ngần ngại khiquyết định đầu tư, đặc biệt là đầu tư dài hạn Hơn nữa, để giữ được giá trị tài sản,nhà đầu tư thường đầu cơ các tài sản có giá trị để giữ nguyên giá tài sản ban đầu của
họ như nhà đất, vàng bạc… khiến cho thị trường này tăng giá đột ngột, khó kiểmsoát nổi
Trong điều kiện lạm phát biến động, các quyết định đầu tư bị bóp méo, cácdoanh nghiệp thích vay ngắn hạn hơn là với các hợp đồng dài hạn luôn chứa đựngrủi ro tiềm năng
Trang 20Lạm phát cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến lao động khi các công đoàn tìmcách đấu tranh đòi tăng lương danh nghĩa Điều này làm tăng chi phí sản xuất củadoanh nghiệp và làm ngừng trệ sự tăng trưởng kinh tế.
1.1.4 2 Lạm phát phân phối lại thu nhập quốc dân và của cải xã hội.
Giá cả biến động mạnh làm giảm sức mua của đồng tiền, khiến cho nhiều hộgia đình bị đẩy tới mức nghèo và cận nghèo Mức lương của công nhân chưa đượcđiều chỉnh trong khi giá cả biến động các mặt hàng thiết yếu nhiều nhất thì sẽ bầncùng hoá một nhóm người dân Các nhà đầu cơ thì được lợi do giá cả tăng lên Điềunày khiến cho phân hoá xã hội ngày càng sâu sắc hơn
1.1.4.3 Lạm phát làm lãi suất tăng lên
Lạm phát làm lãi suất danh nghĩa tăng lên Lãi suất danh nghĩa được ấn địnhtheo công thức ở trên phụ thuộc vào lãi thực tế và tỷ lệ lạm phát dự tính Ngân hàng
sẽ điều chỉnh lãi suất này theo biến động lạm phát trên thị trường Trong trường hợplạm phát biến động mạnh, không phù hợp với lạm phát dự tính thì mức lãi suất danhnghĩa sẽ ảnh hưởng đến giá trị của lãi suất thực tế, tác động đến tiết kiệm và đầu tư,cuối cùng là tăng trưởng kinh tế Nếu lãi suất danh nghĩa quá cao, làm tăng chi phíhuy động vốn của doanh nghiệp, dẫn đến giảm số lượng các dự án đầu tư Ngượclại, nếu lãi suất danh nghĩa không theo kịp với mức lạm phát, tạo ra lãi suất thực
âm, làm các ngân hàng khó khăn trong quá trình huy động vốn trong khi nhu cầu tíndụng tăng cao
1.1.4.4 Lạm phát tác động đến cán cân thanh toán quốc tế
Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn nước ngoài, trong điều kiện tỷ giá cốđịnh hàng hoá trong nước sẽ trở nên đắt hơn trong khi hàng nhập khẩu lại rẻ hơntương đối, thúc đẩy hoạt động nhập khẩu, ảnh hưởng tới cán cân vãng lai và gây áplực nhiều tới tỷ giá Nếu tỷ giá được điều chỉnh nó có thể
thúc đẩy mức lạm phát trong nước cao hơn bởi giá nội địa của hàng nhập khẩu trởnên đắt hơn và đẩy mức giá cả chung tăng lên
Trang 211.1.5 Quan hệ giữa lạm phát với mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong điều hành CSTT
Với những nguyên nhân gây ra lạm phát như trên, ta thấy hậu quả của chúngkhông giống nhau Tuỳ từng trường hợp mà lạm phát có làm thay đổi tốc độ tăngtrưởng hay không và thay đổi theo chiều hướng nào Nhưng tác động to lớn nhất màmọi cuộc lạm phát nào cũng gây ra đó là tác động đến phân phối lại thu nhập và củacải giữa các thành viên trong xã hội không theo nỗ lực, cống hiến và nhu cầu của
họ Nguyên tắc chung của phân phối lại thu nhập do lạm phát là người nào nhậnđược nguồn thu nhập từ các yếu tố có giá cả tăng chậm hơn mức giá chung sẽ bịthiệt Sự thiệt hại đó trở thành cái lợi của những người nhận nguồn thu nhập từ cácyếu tố có giá cả tăng nhanh hơn mức giá chung Còn những người có thu nhập tăngtương đương với tốc độ lạm phát thì xem như họ không thu được lợi ích cũng nhưkhông bị mất gì trong cuộc lạm phát này
Lạm phát thường xảy ra bất ngờ ngoài dự tính từ trước của các tác nhân kinh
tế vì vậy có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng và đầu tư dài hạn: các nhà đầu tư khôngthể dự đoán được mức giá cả trong tương lai, kéo theo là không thể biết được lãisuất thực dương hay không vì vậy cho dù có đầy đủ các điều kiện hấp dẫn họ cũngkhông dám bỏ vốn ra đầu tư vào các dự án dài hạn
Lạm phát khiến các nhà đầu tư và người dân chỉ quan tâm đến lợi ích trongngắn hạn.Thay vì đầu tư dài hạn họ chuyển sang tích trữ vàng, ngoại tệ hay hànghoá hy vọng giá cả lên cao nhằm kiếm lời Vô hình chung điều này làm cầu hànghoá tăng lên một cách giả tạo càng đẩy lạm phát sâu hơn
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phức tạp Tuy nhiên, ngoài những hậuquả gây ra thì lạm phát ở mức nhất định nào đó lại là điều cần thiết đối với nhữngnước đang phát triển Đã có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh mối quan hệgiữa tăng trưởng và lạm phát
Các nhà kinh tế theo trường phái cơ cấu tin rằng, giữa lạm phát và tăngtrưởng kinh tế có mối quan hệ tỷ lệ thuận, có tăng trưởng tất yếu sẽ có lạm phát.Một xã hội dành ưu tiên cho tăng trưởng thì cần chấp nhận lạm phát đi kèm với nó
Trang 22Một số chuyên gia nhận thấy rằng, chính phủ có thể chủ động sử dụng lạm phátnhư một biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bởi vì lạm phát có tác dụng phân phốilại thu nhập và của cải theo hướng làm tăng tổng tiết kiệm và đầu tư trong nước Ảnhhưởng phân phối lại bao gồm việc phân phối lại thu nhập giữa công nhân và chủ doanhnghiệp cũng như giữa dân cư và chính phủ Lạm phát sẽ có xu hướng tăng khoản tiếtkiệm từ lợi nhuận cao hơn tăng khoản tiết kiệm từ tiền lương, mức đầu tư và tiết kiệmtăng lên đẩy mạnh tăng trưởng Thậm chí, nếu được dự báo trước thì lạm phát giốngnhư tăng thuế đối với khu vực tư nhân để tăng thu nhập cho khu vực nhà nước và tăngnguồn đầu tư thực tế.
Tuy nhiên, quan điểm có thể sử dụng lạm phát làm đòn bẩy cho tăng trưởngkinh tế của các nhà kinh tế thuộc trường phái cơ cấu không tránh khỏi những phảnđối Nhiều nhà kinh tế đã đưa ra những lập luận của mình cho rằng lạm phát, đặcbiệt với lạm phát cao có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Họ cho rằng,lạm phát làm mức lãi suất thực tế giảm, tạo ra mất cân bằng ở thị trường vốn Điềunày dẫn đến nguồn cung về vốn bị giảm sút, vì vậy, đầu tư tư nhân sẽ giảm do hạnchế từ nguồn vay Việc giảm lãi suất thực dương khiến đầu tư và tăng trưởng kinh
tế giảm
Lạm phát cao và biến động mạnh làm cho đầu tư của khu vực ngoài quốcdoanh mặc dù dư thừa về vốn nhưng không đầu tư dài hạn do tính rủi ro cao màchuyển sang đầu tư ngắn hạn, do vậy, chất lượng đầu tư không cao
Nếu tỷ giá hối đoái được cố định hoặc chậm điều chỉnh, lạm phát cao hơn ởtrong nước sẽ làm giảm lợi nhuận tương đối cho các doanh nghiệp sản xuất và kinhdoanh các mặt hàng có thể thương mại được, làm tăng cầu về nhập khẩu và giảmcung về xuất khẩu và do đó, cán cân thương mại bị xấu đi và tình trạng khan hiếmngoại tệ càng trở nên căng thẳng Điều này sẽ làm giảm hiệu quả của quá trình mởcửa, hội nhập với khu vực và thế giới, ảnh hưởng xấu đến thành tựu kinh tế vĩ môchung của đất nước
Qua phân tích ở trên chúng ta thấy, có hai quan điểm trái ngược nhau về ảnhhưởng của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Hiện nay, phần lớn các nhà kinh tế đều
Trang 23cho rằng quan điểm của các nhà cơ cấu về mối tương quan dương giữa lạm phát vàthất nghiệp về cơ bản thích hợp khi lạm phát ở mức thấp, còn quan điểm đối lậpthích hợp khi lạm phát ở mức cao.
1.2 Chính sách tiền tệ và điều hành chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát
1.2.1 Khái niệm và Mục tiêu điều hành của Chính sách tiền tệ
1.2.1.1 Khái niệm về Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ (CSTT) là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHNN thôngqua các công cụ của mình, thực hiện kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứngnhằm ổn định giá trị đồng tiền và đạt được các mục tiêu kinh tế-xã hội đề ra
Nghiên cứu của các nhà kinh tế học nổi tiếng như Keynes, Samuelson,Fiedman , chỉ ra rằng, CSTT đóng vai trò rất lớn trong việc cải thiện triển vọngkinh tế và tăng mức sống của xã hội, vì CSTT có thể tác động làm thay đổi tổngcung, tổng cầu của nền kinh tế, qua đó, tác động đến sản lượng, lạm phát và công ănviệc làm
1.2.1.2 Mục tiêu của CSTT
Việc lựa chọn mục tiêu CSTT được coi là vấn đề quan trọng nhất và khó khănnhất trong quá trình xây dựng và thực thi CSTT, bởi nó quyết định tính hiệu quả haykhông hiệu quả của CSTT Có thể nói, việc lựa chọn các mục tiêu CSTT phù hợpđược quyết định bởi tính cấp thiết của mục tiêu, mức độ đánh đổi giữa các mục tiêu(vì tính đa mục tiêu của CSTT) và khả năng đạt được các mục tiêu NHTW các quốcgia có nhiệm vụ thiết lập và thực thi CSTT thông qua các công cụ NHTW căn cứ vàomục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản và trạng thái kinh tế của quốc gia từng thời kỳ mà xácđịnh mục tiêu chính của CSTT
CSTT thường tập trung vào các mục tiêu sau:
- Ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) là mục tiêu hàng đầu và dài hạn củaCSTT NHNN thường lượng hoá mục tiêu này bằng tốc độ tăng của chỉ số giátiêu dùng xã hội
- Ổn định tỷ giá: Nhằm ngăn ngừa những biến động mạnh, bất thường trong tỷ
Trang 24giá hối đoái; giúp cho hoạt động kinh tế đối ngoại được hiệu quả hơn nhờ dựđoán được chính xác về mặt khối lượng giá trị
- Ổn định lãi suất: Vì lãi suất là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quyết định chitiêu của các doanh nghiệp và các hộ gia đình Những biến động bất thường củalãi suất sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân dự tính việc chi tiêu haylập kế hoạch kinh doanh
- Tăng trưởng kinh tế: Do chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng tới của cải và chitiêu của xã hội nên có thể sử dụng nó làm đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh
tế
- Giảm tỉ lệ thất nghiệp: Tạo công ăn việc làm đầy đủ là mục tiêu của hầu hếtcác chính sách vĩ mô trong đó có CSTT vì nó không chỉ làm tăng phúc lợi xãhội mà còn giảm áp lực về chi ngân sách trợ cấp thất nghiệp và an ninh xã hội.Trong những năm gần đây, một số NHTW các nước đã quyết định chuyểnhướng sang việc thiết lập CSTT với mục tiêu kiểm soát lạm phát Điều này có nghĩa
là lạm phát là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc thiết lập CSTT Thực tế chothấy, những quốc gia áp dụng chính sách mục tiêu kiểm soát lạm phát đã rất thànhcông trong việc duy trì tỷ lệ lạm phát hợp lý trong dài hạn, kinh tế tăng trưởng ổnđịnh và tỷ lệ thất nghiệp giảm
CSTT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW, thôngqua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng(hoặc lãi suất) căn cứ vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế, nhằm đạt được các mục tiêu vềgiá cả, tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm
Mục tiêu cuối cùng của CSTT hầu như thống nhất ở các nước đó là ổn định giá trịtiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm
* Mối quan hệ giữa các mục tiêu:
Về mặt dài hạn, đường cong Phillips trở nên thẳng đứng, ngụ ý rằng sẽ trởnên ổn định giữa các mục tiêu của CSTT nếu xét về dài hạn Tuy nhiên, hình dạng
Trang 25đường cong Phillips trong ngắn hạn chỉ rõ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tỷ lệ thấtnghiệp.
Thứ nhất, việc giảm tỷ lệ lạm phát đồng nghĩa với việc thực hiện một CSTT
thắt chặt, lãi suất tăng lên làm giảm các nhân tố cấu thành tổng cầu và do đó tácđộng đến tổng cầu của nền kinh tế Thất nghiệp, vì thế có xu hướng tăng lên Mặtkhác, việc duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn thường kéo theo CSTT mở rộng và
sự tăng giá
Thứ hai, mục tiêu công ăn việc làm mâu thuẫn với mục tiêu ổn định giá cả
còn thể hiện thông qua sự phản ứng của NHTW đối với các cú shock cung nhằmđảm bảo mức cầu tiền thực tế, kết quả là giá cả tăng lên
Thứ ba, mâu thuẫn này còn được thể hiện thông qua định hướng điều chỉnh
tỷ giá, bằng việc hạ giá đồng bản tệ, các ngành công nghiệp xuất khẩu có khả năng
mở rộng Tỷ lệ thất nghiệp vì thế giảm thấp kèm theo sự tăng lên của mức giáchung Như vậy, việc duy trì một mức tỷ giá ổn định và thích hợp sẽ làm giảm tỷ lệcông ăn việc làm, trong khi một mức tỷ giá cao hơn sẽ góp phần giảm tỷ lệ lạmphát
Thất nghiệp và tăng trưởng không có sự mâu thuẫn cả trong ngắn và dài hạn.Công ăn việc làm cao sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển và ngược lại Tuy nhiên, mối quan hệgiữa sự tăng trưởng và ổn định giá cả lại tương đối phức tạp; chúng mâu thuẫn nhautrong ngắn hạn nhưng lại bổ sung nhau trong dài hạn
Như vậy, trong ngắn hạn, NHTW không thể đạt được tất cả các mục tiêutrên Phần lớn NHTW các nước coi sự ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạncủa CSTT nhưng trong ngắn hạn đôi khi họ phải tạm thời từ bỏ mục tiêu chủ yếunày để khắc phục tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hoặc các ảnh hưởng của các cúshock cung đối với sản lượng NHTW được coi là có quyền lực làm việc này vì nắmtrong tay các công cụ điều chỉnh lượng tiền cung ứng Có thể nói, NHTW theo đuổimột mục tiêu trong dài hạn và đa mục tiêu trong trung hạn
Trang 261.2.2 Các công cụ chính của chính sách tiền tệ
Các công cụ của chính sách tiền tệ là các hoạt động của NHNN nhằm tácđộng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông và lãi suất trênthị trường Các công cụ gián tiếp là các công cụ tác động gián tiếp tới khối lượngcung ứng tiền và lãi suất thông qua cơ chế của thị trường Công cụ gián tiếp baogồm: nghiệp vụ thị trường mở, chính sách tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc và tỷ giá(tỷ giá Nhà nước luôn ấn định theo cơ chế thả nổi có điều chỉnh) Ngược lại với nó
là công cụ trực tiếp bao gồm : Ấn định khung lãi suất và hạn mức tín dụng, biên độgiao động của tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối Trong phạm vi của đề tài,nghiên cứu này chỉ đi sâu phân tích nhóm công cụ gián tiếp
1.2.2.1 Các công cụ gián tiếp
a Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ trong đó NHNN sử dụng việc mua bánchứng khoán trên thị trường tiền tệ mở cụ thể ở đây là trái phiếu chính phủ để thayđổi cơ số tiền, từ đó tác động tới lượng tiền cung ứng và mức lãi suất trên thịtrường
Cơ chế tác động: NHNN mua (bán) chứng khoán sẽ làm tăng hoặc giảmngay lập tức dự trữ của các NHTM Khả năng tạo tiền gửi thông qua cung ứng tíndụng bị ảnh hưởng, dẫn đến làm tăng (giảm) lượng cung tiền Thứ hai là khi vốnkhả dụng của các NH tăng (giảm), mức cung vốn trên thị trường liên NH tăng lên(hoặc giảm) làm lãi suất thị trường liên NH giảm (tăng), từ đó ảnh hưởng tới mứclãi suất khác trên thị trường tài chính nói chung Thứ ba, nghiệp vụ thị trường mởảnh hưởng đến cung cầu của chứng khoán, tác động tới giá cả, mức sinh lời củachứng khoán từ đó ảnh hưởng tới lãi suất thị trường Chứng khoán chủ yếu đượcNHNN phát hành là tín phiếu kho bạc vì nó có tính lỏng cao nên có thể thực hiệnnghiệp vụ này một cách nhanh chóng và dễ dàng
Ưu điểm của công cụ này là không chịu ảnh hưởng của bất kỳ nhân tố nàokhác, rất linh hoạt và chính xác NHNN có thể nhanh chóng điều chỉnh lượng cung
Trang 27Đây được coi là công cụ hiệu quả nhất của chính sách tiền tệ Tuy nhiên, NHTMđôi khi chịu ép buộc phải mua vào hoặc bán ra mặc dù NHNN coi nó là hoạt độngtheo nguyên tắc tự nguyện Tuy nhiên, việc thực hiện công cụ này đòi hỏi sự pháttriển của thị trường tài chính thứ cấp nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng.
b Chính sách tái chiết khấu
Chính sách tái chiết khấu bao gồm các quy định về việc cho vay của NHNNđối với NHTM NHNN thường cho các NHTM vay dưới hình thức chiết khấu lạicác giấy tờ có giá ngắn hạn (chủ yếu là tín phiếu kho bạc và thương phiếu) do cácNHTM đưa đến nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt tạm thời về tiền mặt để bù đắpthiếu hụt trong quỹ dự trữ bắt buộc và đáp ứng nhu cầu thanh khoản Những thayđổi trong chính sách tái chiết khấu tác động đến lượng vay chiết khấu của NHTM,
từ đó ảnh hưởng tới lượng tiền cung ứng
Cơ chế tác động: NHNN thông qua việc thay đổi quy định về hạn mức chiếtkhấu, lãi suất tái chiết khấu và các điều kiện tái chiết khấu ảnh hưởng đến hoạt động
đi vay của NHTM Lãi suất tái chiết khấu tác động đến chi phí đầu vào của cácNHTM, các NHTM sẽ phải tăng (giảm) lãi suất cho vay, ảnh hưởng trực tiếp đếnnhu cầu tín dụng Mặt khác, khi lãi suất chiết khấu tăng sẽ hạn chế việc vay tiền củacác NHTM, giảm khả năng tín dụng để phục hồi dự trữ
Ưu điểm của công cụ này là: Các khoản cho vay của NHNN đều được đảm bảobằng giấy tờ có giá, do đó chắc chắn sẽ thu hồi được Tuy nhiên, công cụ này chỉ cóthể phát huy tác dụng khi NHTM có nhu cầu vay từ NHNN Với sự phát triển củathị trường tài chính, các NHTM có thể huy động vốn từ nhiều nguồn vay khác nhau,giảm sự lệ thuộc vào NHNN nên giảm mức độ hiệu quả của công cụ này
c Tỷ lệ trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tàikhoản tiền gửi không hưởng lãi tại NHNN Tỷ lệ dữ trữ thấp, số nhân tiền tệ lớn sẽgiúp mở rộng tín dụng, tăng nhanh mức cung tiền và ngược lại
Cơ chế hoạt động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng tới lượng
Trang 28cung tiền như sau: Một là khi NHNN quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mộtphần dư thừa dự trữ trước đây chuyển thành dự trữ bắt buộc, làm giảm khả năngcho vay của hệ thống NH Thứ hai, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một thành phần trongmẫu số của số nhân tiền Vi vậy, sự tăng lên của tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm
số nhân tiền và do đó là mở rộng khả năng cung ứng tiền tệ của hệ thống NH
Ưu điểm của công cụ này là có ảnh hưởng rất mạnh tới lượng tiền cung ứng.Chỉ cần một thay đổi nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng kểkhối lượng tiền tệ Nhưng có thể làm cho các NHTM mất khả năng thanh toán ngay( đặc biệt là các NH có dự trữ vượt mức quá thấp), làm khả năng quản lý thanhkhoản của các ngân hàng trở nên khó khăn hơn
Mức cung tiền danh nghĩa bao gồm hai thành phần là tiền mặt lưu thông và tiền gửi không kỳ hạn: Ms = U +D
Trong đó: Ms là mức cung tiền danh nghĩa
U là lượng tiền mặt đang lưu hành
D là lượng tiền gửi
Tỷ lệ giữa tiền mặt trong lưu thông so với tiền gửi là : C P U D
P M
r C
C m
d Chính sách tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng quan trọng trong việc kìm hãm hay thúc đẩy sự
di chuyển các luồng tiền tệ, vốn và hàng hoá giữa các nước với nhau Vì vậy, việcxác lập một tỷ giá hối đoái hợp lý nhằm khuyến khích hoạt động kinh tế đối ngoạiphát triển phục vụ cho nền kinh tế quốc gia là một nhiệm vụ quan trọng của CSTT
Có ba chế độ tỷ giá mà các nước đã và đang áp dụng:
- Tỷ giá cố định: NHNN buộc phải can thiệp vào thị trường ngoại hối để duy trì tỷ
Trang 29vậy, trong chế độ tỷ giá cố định NHNN buộc phải mua vào hoặc bán ra đồng nội tệnhằm giới hạn sự biến động của tỷ giá trong biên độ đã định Chế độ này có ưuđiểm là giảm bớt rủi ro trong thanh toán quốc tế nhưng lại phụ thuộc quá nhiều vàoCSTT, đòi hỏi NHNN luôn có sẵn nguồn ngoại tệ dồi dào
Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Tỷ giá được xác định hoàn toàn theo cung cầu trên thị
trường ngoại hối mà không có bất kỳ sự can thiệp nào của NHNN Chế độ tỷ giánày được đánh giá là giúp CSTT quốc gia được độc lập và ít biến động từ bênngoài.Tuy nhiên, chế độ này lại gây biến động thường xuyên cho tỷ giá, gây nhiềurủi ro cho hoạt động thanh toán quốc tế
- Tỷ giá thả nổi có điều tiết: NHNN tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối
nhằm ảnh hưởng lên tỷ giá, nhưng NHNN cam kết không duy trì một mức tỷ giá cốđịnh hay biên độ dao động nào xung quanh tỷ giá trung tâm Điều này có nghĩa làNHNN thực hiện các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để điều tiết thị trường ngoại hối,song không nhằm mục đích để cố định tỷ giá như đối với tỷ giá cố định
1.2.2.2 Các công cụ trực tiếp
Bao gồm các công cụ Hạn mức tín dụng; Khung lãi suất; Biên độ giao động tỷ giá;Chính sách quản lý ngoại hối Do phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ giới hạntrong các công cụ gián tiếp nên các công cụ trực tiếp sẽ không được trình bày ở đây
tế đạt cân bằng dài hạn, nếu cung tiền tệ tăng lên đều đặn dần dần trong cả năm thìtổng cầu sẽ tăng cao Theo công thức ở trên: MV= PY; trong đó PY =AD là tổngcầu khi M tăng, V không đổi thì AD sẽ tăng lên Mức cân bằng mới của nền kinh tế
Trang 30về dài hạn sẽ làm giảm cung, đi về sản lượng tiềm năng và nâng cao mức giá Cứtiếp tục tăng cung tiền thì làm giá cả tăng theo.Tăng cung tiền kéo dài sẽ gây ra lạmphát.Theo Friedman, tăng cung tiền là nguyên nhân duy nhất gây ra lạm phát.
Quan điểm của trường phái Keynes: Các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes
cũng thừa nhận rằng lạm phát cao và kéo dài chỉ do sự tăng trưởng kéo dài trongmức cung tiền tệ gây ra Chính sách tài chính làm tăng tổng cầu, tạo ra cú sốc cầulàm tăng giá tạm thời và sau đó không làm tăng giá nữa Chỉ khi tăng chi tiêu kéodài được tài trợ bằng cách tăng thêm lượng tiền thì mới có thể duy trì lâu dài và tạo
ra lạm phát Như vậy, bản thân chính sách tài khoá không gây ra lạm phát nếu không
có sự tăng trưởng của cung tiền phía sau Tương tự đối với trường hợp tăng cú sốccung, đó cũng chưa phải là nguồn gốc gây ra lạm phát cao
Từ hai quan điểm trên cho thấy vai trò của CSTT đối với tình hình lạm phátcao xảy ra Vì vậy, muốn kiềm chế lạm phát đặc biệt là lạm phát cao, nhiệm vụ đầutiên mà chính phủ cần làm là dùng các công cụ của CSTT nhằm điều chỉnh và ổnđịnh lượng cung ứng tiền tệ
Ưu điểm của CSTT là có tác dụng nhanh và hiệu quả ngay vì nó quyết địnhđến mức cung ứng tiền tệ trên thị trường Tuy nhiên, bản thân nó không phải là một
giải pháp vạn năng cho bất cứ một nền kinh tế nào muốn giảm áp lực lạm phát mà
cần phải phối hợp đồng bộ với các biện pháp tài khoá và bình ổn kinh tế vĩ môkhác, đặc biệt là đối với các nước có nền ổn định vĩ mô còn kém Ví như nếu thắtchặt tiền tệ, mà Nhà nước vẫn tiếp tục tăng cường đầu tư, khi lượng tiền thắt chặttrên thị trường sẽ tập trung phục vụ cho lượng cầu của chính phủ Trong khi đó lãisuất tín dụng sẽ tăng lên, làm việc đầu tư trở nên khó khăn trong khu vực tư nhân,dẫn đến hiện tượng lấn át đầu tư của chính phủ
Trang 311.4 Kinh nghiệm vận dụng chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát ở một
số nước trên thế giới
1.4.1 Kinh nghiệm của Ba Lan
Ngân hàng Trung ương Ba Lan (NBP) hiện nay là một thành một thành viên của
hệ thống NHTW châu Âu (ESCB - gồm Ngân hàng Trung ương Châu Âu - ECB và cácNHTW của các quốc gia khu vực đồng Euro), hệ các công cụ CSTT của NBP được điềuchỉnh cho phù hợp và thống nhất với ESCB
Trong điều hành CSTT thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, hiện nay NBPđang áp dụng các hình thức tái cấp vốn (TCV) như: Chiết khấu GTCG, tín dụngLombard (thời hạn qua đêm) và TCV thông thường (thời hạn dài hơn) Để phục vụcho việc TCV đáp ứng sự thiếu hụt tạm thời về vốn trong thanh toán bù trừ của cácngân hàng, NBP đã thiết lập hệ thống thông tin ngắn hạn (10 ngày) nhằm theo dõitrạng thái thanh khoản của các ngân hàng NBP đã phát hành các tín phiếu NBP kỳhạn 1 tháng để hấp thụ vốn dư thừa của các ngân hàng NBP đặt ra lãi suất TCVphạt đối với các khoản thấu chi trên tài khoản thanh toán của các ngân hàng Cácnhu cầu vay TCV khác của các ngân hàng được đáp ứng dưới hình thức tái chiếtkhấu tín phiếu và cho vay có bảo đảm (tín dụng Lombard)
Hình thức tín dụng Lombard của NBP đóng vai trò là phương tiện tín dụngthường xuyên Tài sản đảm bảo là các chứng khoán chính phủ Các ngân hàng đềuđược tiếp cận tới công cụ này Lãi suất Lombard được xem là lãi suất trần trên thịtrường tiền tệ và lãi suất tiền gửi là lãi suất sàn
Trong trường hợp xảy ra thiếu hụt thanh khoản của các ngân hàng, NBP sẽthực hiện TCV với thời hạn dài hơn, như 7 ngày, 14 ngày
1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc (PBC)
Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBC) được giao nhiệm vụ điều hànhCSTT theo mục tiêu đã định Tại Trung Quốc, CSTT được sử dụng ba công cụ quantrọng nhất là lãi suất, tỷ giá và dự trữ bắt buộc Mục tiêu ưu tiên của chính lãi suất làtăng cường sự hoàn thiện về thể chế của thị trường tài chính tiền tệ và từ đó tạo điềukiện cho cơ chế chuyền dẫn CSTT Hiện nay, Trung Quốc đang thực hiện cơ chếtrần lãi suất tiền gửi và sàn lãi suất cho vay để tránh tình trạng cạnh tranh không
Trang 32lành mạnh giữa các ngân hàng và tổ chức tài chính Các mức lãi suất trần tiền gửi vàsàn cho vay chuẩn được điều chỉnh linh hoạt để đạt được sự cân bằng trong vàngoài nước: (i) Lạm phát là một yếu tố để cân nhắc điều chỉnh chính sách lãi suất đểđảm bảo được chính sách lãi suất dương, từ đó, loại bỏ được những yếu tố bóp méothị trường tiêu dùng và thị trường sản xuất do lãi suất thực âm (Lãi suất âm khiếncho các tổ chức kinh tế tăng cường vay tiền mua hàng để kiếm lợi nhuận, từ đó dẫntới khan hiếm hàng hoá làm tăng giá trong khi các nguồn vốn được sử dụng chomua hàng hoá chứ không phải là đầu tư cho sản xuất dẫn tới nền kinh tế không hiệuquả); (ii) Việc xác định lãi suất cũng cũng xem xét mối quan hệ giữa lợi tức giữaviệc gửi tiền bằng đồng nhân dân tệ với lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ để đảm bảocân đối trong và ngoài nước
Đối với Trung Quốc, việc xây dựng hệ thống lãi suất NHTW, cải thiện cơchế hoạt động của chính sách lãi suất và tăng cường định hướng lãi suất thị trườngcủa lãi suất NHTW là điều kiện tiên quyết đối với NHTW trong việc thực thi cóhiệu quả chính sách điều hành lãi suất trong quá trình cải cách lãi suất Cải cách lãisuất ở Trung Quốc được thực hiện trên cơ sở thị trường, lãi suất được tự do hóa
từng bước thông qua việc tự do hóa (i) lãi suất trên thị trường liên ngân hàng; (ii) lãi suất thị trường trái phiếu; (iii) lãi suất huy động và cho vay của các TCTD đối với
nền kinh tế
(i) Tự do hóa lãi suất trên thị trường liên ngân hàng:
Từ tháng 1/1996, lãi suất thị trường liên ngân hàng được tự do hóa: tất cả các hoạtđộng cho vay liên ngân hàng được tổ chức thông qua một hệ thống mạng liên ngân hàngthống nhất, lãi suất thị trường liên ngân hàng được tự do hóa, mức lãi suất do các bên tựquyết định theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường
(ii) Tự do hóa lãi suất của các trái phiếu: PBC cho rằng thị trường trái
phiếu là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính và việc tự do hóa lãi suấtthị trường trái phiếu đã tạo thành một bước tiến quan trọng trong cải cách toàn diệnlãi suất theo thị trường
Trang 33(iii) Tự do hóa lãi suất cho vay và lãi suất huy động:
Trong quá trình tự do hóa lãi suất cho vay và huy động được thực hiện theonguyên tắc: tự do hóa lãi suất ngoại tệ trước, sau đó mới tự do hóa lãi suất đồng bảntệ; tự do hóa lãi suất cho vay trước tự do hóa lãi suất huy động
a Tự do hóa lãi suất ngoại tệ: Hiện cả lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi
ngoại tệ đã được tự do hóa hoàn toàn:
+ Đối với lãi suất cho vay: Từ 21/9/2000, lãi suất cho vay bằng ngoại tệ được
tự do hóa hoàn toàn, các tổ chức tài chính tự quyết định lãi suất cho vay trên cơ sởlãi suất thị trường quốc tế, chi phí vốn và rủi ro
+ Đối với lãi suất tiền gửi: Tự do hóa lãi suất của các khoản tiền gửi dài hạn
trước, sau đó mới tự do hóa các khoản tiền gửi có giá trị nhỏ và ngắn hạn Hiện tại,lãi suất tiền gửi ngoại tệ đã được tự do hóa hoàn toàn
b Tự do hóa lãi suất đồng nội tệ: Hiện tại, PBC đang quản lý sàn lãi suất
cho vay và trần lãi suất tiền gửi
+ Đối với lãi suất cho vay: Trước đây, PBC công bố mức lãi suất cho vay
chuẩn và biên độ giao dịch nhất định Các NHTM được quyền thay đổi các mức lãisuất cho vay trong phạm vi của khung lãi suất chuẩn cộng biên độ giao dịch này.Biên độ (+) sẽ tạo mức lãi suất trần và biên độ (-) sẽ tạo lãi suất sàn Tùy vào từnggiai đoạn của nền kinh tế, từng đối tượng khách hàng và mục tiêu CSTT mà PBCthay đổi hoặc lãi suất cho vay chuẩn hoặc thay đổi biên độ và biên độ giao độngtrần cũng được nới lỏng dần nhằm từng bước thực hiện tự do hóa lãi suất (biên độthay đổi từ +10% đến +200%)
+ Đối với lãi suất huy động: Trong giai đoạn đầu tiên của quá trình cải cách
kinh tế ở Trung Quốc, các NHTM hoạt động yếu thường ấn định lãi suất huy động ởmức cao để thu hút vốn, điều này dẫn đến có dịch chuyển lớn vốn huy động và khókhăn trong việc quản lý lãi suất Do đó, từ năm 1990, PBC thực hiện mức trần lãisuất huy động, tự do hóa từng bước lãi suất huy động
Trong năm 2011, PBC đã tăng các mức lãi suất tiền gửi và cho vay chuẩn 2lần và là lần thứ 4 kể từ năm 2010 Hiện nay, lãi suất cho vay chuẩn để xác định lãisuất cho vay sàn kỳ hạn 1 năm là 6,31%/năm Lãi suất tiền gửi chuẩn để xác định
Trang 34lãi suất tiền gửi trần kỳ hạn 1 năm là 3,25%/năm Hiện tại PBC đang quản lý sàn lãisuất cho vay và trần lãi suất huy động
Công cụ dự trữ bắt buộc được sử dụng rất linh hoạt NHTW Trung Quốc(People Bank of China) trong những tháng đầu năm 2008, đã 5 lần liên tiếp tăng tỷ
lệ DTBB với tổng mức tăng tỷ lệ DTBB là 3% nhằm thực hiện CSTT thắt chặt đểngăn chặn tình trạng tăng trưởng nền kinh tế quá nóng Nhưng sang 4 tháng cuốinăm 2008, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới, NHTW TrungQuốc đã 4 lần điều chỉnh giảm tỷ lệ DTBB với tổng mức cắt giảm là 2% Việc điềuchỉnh linh hoạt tỷ lệ DTBB như nêu trên được kết hợp cùng với những giải phápkhác đã đưa Trung Quốc là một trong số ít quốc gia có mức tăng trưởng dươngtrong cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu 2009, và cũng là nước thực hiện CSTT thắtchặt ngay từ đầu năm 2010 với việc 3 lần liên tiếp điều chỉnh tăng tỷ lệ DTBB đểngăn chặn nguy cơ lạm phát Tuy vậy, mỗi lần điều chỉnh tỷ lệ DTBB, NHTWTrung Quốc tỷ lệ DTBB chỉ là 0,5%, nên các NHTM có khả năng thích ứng với sựthay đổi DTBB và không gây ra biến động quá lớn trên thị trường tiền tệ [ 10]
1.4.3 Kinh nghiệm của Singapore
NHTW nước này là Cơ quan tiền tệ Singapore (Monetary Authorithy ofSingapore) Song do đặc điểm của thị trường tài chính và hoạt động ngân hàng ởđây, nên cơ quan tiền tệ Singapore hầu như chỉ quan tâm đến vấn đề tỷ giá, còn lãisuất được thả nổi do thị trường quyết định
Thị trường liên ngân hàng ở Singapore có hai thành phần cấu thành: thị trườngliên ngân hàng thực sự và thị trường chiết khấu Lãi suất trên thị trường này là SIBOR.Thông thường, các ngân hàng nội địa với số tiền gửi lớn, hầu hết là người cho vay, cònngân hàng nước ngoài là người đi vay Hoạt động của thị trường liên ngân hàng ảnhhưởng đến lãi suất ngắn hạn Đến năm 1975, khi các chứng chỉ tiền gửi khả nhượng rađời thì lãi suất được tự do hóa
1.4.4 Kinh nghiệm của Thụy Điển
Khi thị trường tiền tệ phát triển và NHTW có khả năng sử dụng các công cụCSTT gián tiếp để điều tiết lãi suất thị trường, xu hướng chung của NHTW các
Trang 35nước là chuyển dần từ cơ chế kiểm soát trực tiếp sang kiểm soát gián tiếp lãi suất thịtrường hay nói cách khác là chuyển từ việc NHTW ấn định các lãi suất kinh doanhsang cho phép các TCTD tự quyết định các mức lãi suất kinh doanh của mình.NHTW các nước thường xây dựng lộ trình chuyển đổi từ kiểm soát trực tiếp sanggián tiếp lãi suất thị trường theo mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, khả năngđiều hành và kiểm soát rủi ro của các TCTD và khả năng sử dụng các công cụCSTT gián tiếp của NHTW
Tại các nước sử dụng các công cụ gián tiếp để điều hành lãi suất thị trường,thị trường tài chính tiền tệ phát triển hình thành các mức lãi suất chuẩn trên thịtrường các tín phiếu, trái phiếu chính phủ, từ đó, hình thành đường cong lãi suấttrên thị trường, tỷ giá được thả nổi theo quan hệ cung cầu, thì mục tiêu hàng đầu củaNHTW là kiểm soát lạm phát, ổn định tài chính và đảm bảo hệ thống thanh toán chonền kinh tế, trong đó, CSTT có mục tiêu cuối cùng là kiểm soát lạm phát, khi lạmphát tăng cao thì điều chỉnh tăng lãi suất chủ đạo, sau đó hạ dần để tránh sốc và hỗtrợ cho nền kinh tế:
Vì mỗi NHTW của mỗi quốc gia đều có những đặc thù riêng và mục tiêu ưutiên riêng nên các công cụ sử dụng trong điều hành CSTT cũng khác nhau, tuy rằng
có cùng bản chất là các công cụ CSTT đều tác động hoặc làm thay đổi mức cungtiền hoặc thay đổi lãi suất để tác động lên tổng cầu nền kinh tế, qua đó, thực hiệnmục tiêu kiểm soát lạm phát hoặc một vài mục tiêu khác Thụ Điển là một trườnghợp điển hình khi sử dụng công cụ gián tiếp của CSTT nhằm kiểm soát lạm phát.NHTW Thụy điển là một trong những NHTW phát triển bậc nhất thế giới và đượcthế giới đánh giá cao trong việc điều hành CSTT thành công để kiểm soát lạm phát
và tăng trưởng kinh tế bền vững
(i) Chiết khấu các giấy tờ có giá
NHTW Thụy Điển cho các NHTM vay thông qua nghiệp vụ chiết khấu giấy
tờ có giá Việc cho vay của NHTW Thụy Điển đối với NHTM theo các nghiệp vụnêu trên luôn kèm theo yêu cầu về cầm cố giấy tờ có giá Các giấy tờ cầm cố đượcNHTW Thụy Điển chấp nhận khá đa dạng, bao gồm: (i) Chứng khoán nợ của Chính
Trang 36phủ (tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ); (ii) Các giấy tờ có giá do các công ty(tư nhân) và chính quyền địa phương phát hành có xếp hạng từ A trở lên; và (iii)Một số giấy tờ có giá do các tổ chức, cá nhân nước ngoài phát hành
(ii) Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0
Theo quy định của Luật, NHTW Thụy Điển có thể quyết định mức dự trữ bắtbuộc tối thiểu đối với các tổ chức tín dụng Tỉ lệ này ở trong khoảng từ 0 đến 15%.Tuy nhiên, hiện nay NHTW Thụy Điển đang áp dụng tỉ lệ dự trữ bắt buộc = 0% Đâycũng là điểm khác đối với NHNN Việt Nam xuất phát từ hai lý do chính sau:
Thứ nhất, mục tiêu trung gian của NHTW Thụy Điển là kiểm soát lãi suất thị
trường, NHTW Thụy Điển không có ý định, cũng như không sử dụng các công cụ
để tác động tới cung về tiền tệ, dù là khối tiền mở rộng hay khối tiền thu hẹp, nênNHTW Thuỵ Điển không sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc nhằm kiểm soát mứcứng tiền Còn ở Việt Nam, do sử dụng M2 làm mục tiêu trung gian nên đương nhiêncông cụ dự trữ bắt buộc vẫn phải được duy trì để kiểm soát M2
Thứ hai, Thụy Điển có một thị trường liên ngân hàng hoạt động hiệu quả và
một hệ thống thanh toán hiện đại, an toàn; NHTW Thụy Điển có khả năng giảiquyết sự mất cân đối kịp thời của hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp vụ điều tiếtthanh khoản Mặt khác, ngay bản thân hệ thống NHTM của Thụy Điển, sau bề dầycủa nhiều năm phát triển cũng đã đảm bảo được sự an toàn của chính họ trước côngchúng (khi không có những đột biến bất thường xảy ra) như giai đoạn hiện nay Vìvậy, vai trò đảm bảo an toàn của dự trữ bắt buộc đối với các NHTM trở lên khôngthực sự cần thiết
(iii) Chính sách thả nổi tỷ giá hoàn toàn
Kể từ năm 1999 Thụy Điển thực hiện chính sách tỉ giá thả nổi theo thịtrường Theo luật, các vấn đề quan trọng về chính sách tỉ giá thuộc trách nhiệm củaChính phủ Thụy Điển (sau khi tham khảo ý kiến của NHTW Thụy Điển), sau đóđược NHTW Thụy Điển triển khai thực hiện Vì chính sách tỉ giá là thả nổi nênNHTW Thuỵ Điển không can thiệp trên thị trường hối đoái Chính vì vậy, trên bảngcân đối tài sản của NHTW Thụy Điển, dự trữ ngoại hối gần như cố định, không
Trang 37biến động nhiều theo thời gian Về phía các NHTM và các doanh nghiệp, tình trạng
dư thừa hoặc thiếu hụt ngoại hối cũng được giải quyết nhanh chóng bằng hoạt độngcho vay hoặc đi vay thông qua một thị trường hoạt động hiệu quả
(iv) Kiểm soát tăng trưởng tín dụng
Trên thực tế, một số NHTW có thể sử dụng mục tiêu trung gian là kiểm soáttăng trưởng tín dụng qua đó kiểm soát lạm phát, thay vì sử dụng mức cung tiền làmmục tiêu trung gian Nhưng NHTW Thụy Điển cho rằng ở các nước đang phát triển(ví dụ như Việt Nam), do quy mô và khả năng tài chính của các doanh nghiệp cònhạn chế, đồng thời, các kênh huy động vốn khác như thị trường chứng khoán cũngchưa phát triển nên ở các nước này nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp phụthuộc hầu hết vào hệ thống ngân hàng Chính vì vậy, mà chính sách lãi suất có thểtác động mạnh hơn đến đầu tư thông qua kênh tín dụng Do đó, khi lãi suất ngânhàng tăng lên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ với độ tín nhiệm trên thị trường cònthấp không thể tự phát hành cổ phiếu, trái phiếu nhằm thu hút vốn từ công chúng,
do đó, sẽ phải thu hẹp sản xuất và đầu tư Vì vậy, tổng mức tín dụng có thể giảmxuống rõ rệt, qua đó, tác động làm giảm tổng cầu trong nền kinh tế, lạm phát vì vậy
mà giảm theo
Trong khi đó, ở các nước phát triển, cụ thể là Thụy Điển, khi lãi suất ngânhàng tăng lên, doanh nghiệp có thể sử dụng các hình thức huy động vốn khác như:huy động trực tiếp thông qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu (do thị trường vốn
đã phát triển và nhiều doanh nghiệp có độ tín nhiệm cao); hoặc vay vốn từ nướcngoài… Chính vì vậy, mà việc thay đổi lãi suất của ngân hàng tác động không thậtnhiều đến tăng trưởng tín dụng để qua đó tác động đến lạm phát nên NHTW ThụyĐiển không dùng mục tiêu tăng trưởng tín dụng để kiểm soát lạm phát
1.4.5 Bài học đối với Việt Nam
1.4.5.1 Sử dụng linh hoạt và có hiệu quả công cụ dự trữ bắt buộc
Về điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tác động của điều chỉnh tỷ lệ DTBB đối
với hệ thống ngân hàng và đối với điều hành CSTT là rất lớn Vì vậy, khi cần điềuchỉnh tỷ lệ DTBB, NHTW nên điều chỉnh dần, mức thay đổi nên chỉ 0,5-1% Trước
Trang 38khi điều chỉnh nên thông báo trước cho các NHTM để chủ động về vốn khả dụng và
có phương án huy động vốn hoặc sử dụng vốn cho phù hợp Tránh việc khi NHTWtăng tỷ lệ DTBB, các NHTM thiếu vốn phải huy động vốn với lãi suất cao để đảmbảo DTBB, hoặc khi NHTW giảm tỷ lệ DTBB, các NHTM để vốn dư thừa trên tàikhoản gây lãng phí vốn
Bên cạnh đó, khi điều chỉnh tỷ lệ DTBB, NHTW cần phối hợp đồng bộ vớicác công cụ CSTT khác để trung hòa tác động của công cụ DTBB đối với thị trườngtiền tệ Khi NHTW điều chỉnh tăng DTBB theo tỷ lệ nhỏ cũng sẽ có tác động làmgiảm một khối lượng lớn vốn khả dụng của các NHTM, và ngược lại, nếu NHTWđiều chỉnh giảm 1 tỷ lệ nhỏ DTBB cũng sẽ làm tăng lượng lớn vốn khả dụng củacác NHTM Vì vậy, khi điều chỉnh tăng tỷ lệ DTBB, NHTW cần phối hợp nghiệp
vụ chào mua qua nghiệp vụ thị trường mở để giảm mức thiếu hụt trên thị trường,sau đó, sẽ giảm dần khối lượng và kỳ hạn chào mua để rút dần lượng tiền về theođúng mục tiêu CSTT Ngoài nghiệp vụ thị trường mở, NHTW có thể sử dụng TCV
để cho vay trực tiếp cho những ngân hàng thiếu hụt thanh khoản hỗ trợ vốn tạm thờicho những ngân hàng này
Về cơ sở tính dự trữ bắt buộc, trong giai đoạn phát triển thị trường tài chính,
cùng với việc tăng cường hội nhập kinh tế thế giới, các công cụ tài chính liên tụcphát triển thay thế dần các công cụ truyền thống, cơ sở tính DTBB nên được điềuchỉnh để đảm bảo hiệu quả của DTBB
Qua những bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008cho thấy, hoạt động huy động vốn đã phát triển sang những hình thái mới như pháthành chứng khoán nợ có tài sản đảm bảo là bất động sản đã được thế chấp cho ngânhàng, theo đó, các khoản nợ đã được chứng khoán hoá Quy định cơ sở tính DTBBnếu không bao trùm toàn bộ các khoản nợ sẽ có thể dẫn đến khả năng các NHTMchuyển sang những hình thức huy động vốn khác nhằm tránh nghĩa vụ thực hiệnDTBB, làm hạn chế tác động của công cụ tỷ lệ DTBB đến điều tiết tiền tệ và hạnchế vai trò ổn định hệ thống
Trang 39Vì vậy, cơ sở tính DTBB ngoài số dư tiền gửi đơn thuần, nên bao gồm cả cáckhoản phát hành giấy tờ có giá, các hợp đồng mua bán có kỳ hạn, hoặc thậm chítoàn bộ tài sản nợ của NHTM.
1.4.5.2 Lựa chọn mô hình kiểm soát lãi suất mục tiêu kết hợp với thị trường mở
Khi lãi suất mục tiêu được lựa chọn và công bố có nghĩa là NHTW sẵn sàngđáp ứng nhu cầu dự trữ hoặc hấp thụ lượng dự trữ dư thừa với các đối tác tham giagiao dịch nhằm duy trì mục tiêu đó Để hạn chế các giao động của mức lãi suất thịtrường so với mức lãi suất mục tiêu, một hệ thống các mức lãi suất chủ đạo củaNHTW thường được sử dụng phối hợp với thị trường mở theo một số mô hình sau:
+Mô hình kết hợp giữa phương tiện thường xuyên và nghiệp vụ thị trường mở
Theo mô hình này, NHTW có thể chọn lãi suất liên ngân hàng hoặc mức lãisuất nào đó của NHTW làm mục tiêu chủ đạo Hệ thống các phương tiện thườngxuyên sẽ được sử dụng để khống chế biên độ biến động của lãi suất liên ngân hàngphù hợp với mục tiêu Khác với mô hình trên, chênh lệch mức lãi suất trần và sàncủa kênh lãi suất cao hơn Vì thế, NVTTM (OMO) được sử dụng phối hợp để canthiệp vào sự biến động của lãi suất khi cần thiết nhằm giữ cho nó nằm trong kênhđiều tiết OMO với các công cụ đa dạng được sử dụng để duy trì lãi suất liên ngânhàng gần với mức lãi suất đấu thầu tối thiểu trong từng thời kỳ
+ Mô hình kiểm soát lãi suất thông qua nghiệp vụ thị trường mở
Sự biến động của lãi suất liên ngân hàng qua đêm được kiểm soát thôngqua nghiệp vụ thị trường mở Theo cơ chế này, NHTW thực hiện các giao dịchmua bán giấy tờ có giá ngắn hạn với các đối tác để tác động vào mức cung dự trữnhằm điều chỉnh thường xuyên mức lãi suất thị trường phù hợp với mức lãi suấtmục tiêu trong từng thời kỳ Vì thế, lượng dự trữ của hệ thống TCTD sẽ thay đổiliên tục phụ thuộc vào mức độ biến động của cầu dự trữ
+ Mô hình kiểm soát lãi suất bằng thị trường mở và các công cụ khác cảu CSTT
Xuất phát kinh nghiệm điều hành của Trung Quốc thì NHTW phải kiểm soátđược lãi suất thị trường bằng các công cụ gián tiếp mà thị trường liên ngân hàng cóvai trò quan trọng trong việc tiếp nhận, truyền tải tác động hiệu ứng về chính sách
Trang 40lãi suất của NHTW đến lãi suất trên thị trường Do đó thị trường liên ngân hàngphải thực sự hoạt động một cách hiệu quả cùng với thị trường mở và các công cụCSTT khác
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay tương tự như nền kinh tế Trung Quốc cáchđây vài năm có mức tăng trưởng kinh tế tương đối cao, đồng thời lạm phát cũngtăng cao Trong khi lãi suất huy động và cho vay của TCTD đã được tự do hóa hoàntoàn, việc kiểm soát tín dụng để kiểm soát lạm phát thông qua công cụ lãi suất làkhó khăn Tuy thị trường cho vay lẫn nhau giữa các ngân hàng chưa thực sự hoạtđộng có hiệu quả, tính hữu hiệu của lãi suất chỉ đạo của NHNN chưa cao, nhưngcác giao dịch vay mượn lẫn nhau và mua, bán GTCG có xu hướng mở rộng và sôiđộng hơn Đây là điều kiện thuận lợi để NHNN nghiên cứu, xem xét lựa chọn lãisuất thị trường liên ngân hàng làm lãi suất chuẩn cho điều hành CSTT và xác địnhlãi suất kinh doanh của các TCTD
Như vậy, có thể thấy rằng: NHTW mỗi nước lựa chọn và sử dụng cơ chếđiều hành lãi suất phù hợp với mục tiêu CSTT của mình và điều kiện thị trường tiền
tệ, không có mô hình chung áp dụng cho các NHTW các nước Thông thường, ở cácnước phát triển, NHTW sử dụng lãi suất chính thức là lãi suất cho vay qua đêmhoặc lãi suất định hướng liên ngân hàng được xác lập chủ yếu trên OMO, còn cácnước đang phát triển sử dụng lãi suất cho vay ngắn hạn (tái cấp vốn) kết hợp lãi suấtchiết khấu
Sự thay đổi lãi suất chính thức phụ thuộc vào sự lựa chọn mục tiêu củaCSTT và diễn biến kinh tế vĩ mô, tình trạng vốn khả dụng của NHTM; lãi suấtchính thức cần phải phản ánh vai trò của NHTW là người cho vay cuối cùng trên thịtrường liên ngân hàng
Việc công bố lãi suất chủ đạo của NHTW tác động đến nền kinh tế theonhiều kênh khác nhau và không gây nên xáo trộn về lãi suất và giá tài sản tài chínhtrên thị trường vốn và tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối, tạo điều kiện cho cáctrung gian tài chính kinh doanh thuận lợi, có hiệu quả