1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Dị tật lỗ tiểu thấp

6 538 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỊCH SỬ - Lỗ tiểu thấp đã được nhận biết từ thế kỷ II sau công nguyên , người đầu tiên ghi nhận lỗ tiểu thấp là Galen130-199, một thầy thuốc của các đấu sĩ ở Roma, ông viết : những người

Trang 1

DỊ TẬT LỖ TIỂU THẤP

Lỗ tiểu thấp (hypospadias) hay miệng niệu đạo đĩng thấp là dị dạng bẩm sinh do sự phát triển không hoàn toàn niệu đạo trước Tỷ lệ thường gặp 1/300-1/500 Bệnh có 3 đặc điểm chính là : lổ tiểu đổ thấp ở bụng dương vật và dương vật bị cong ở các mức độ khác nhau, có thể thiếu da mặt bụng dượng vật

I LỊCH SỬ

- Lỗ tiểu thấp đã được nhận biết từ thế kỷ II sau công nguyên , người đầu tiên ghi nhận lỗ tiểu thấp là Galen(130-199), một thầy thuốc của các đấu sĩ ở

Roma, ông viết : những người đàn ông bị lỗ tiểu thấp không có khả năng có con do miệng sáo lệch khỏi đỉnh dương vật và do dương vật bị cong làm cho tinh trùng không được phóng ra theo đường bình thường chứ không phải là do không có tinh trùng

- Ambrose Pare (1510-1590) đã mô tả cong dương vật và tình trạng mơ hồ giới tính kết hợp với lỗ tiểu thấp

- Các kỹ thuật tạo hình niệu đạo xuất hiện và bùng nổ vào giữa thế kỷ XIX Có thể chia các kỹ thuật này theo chất liệu sử dụng:

+ Dùng da hoặc niêm mạc tại chỗ cuộn ống : năm 1874, Duplay lần đầu tiên khâu mép hai vạt da dọc hai bên máng niệu đạo với nhau tạo ống niệu đạo Những cải tiến từ kỹ thuật Duplay (kỹ thuật Cecil, Leveuf, Denis Brown, Snodgrass)

+ Dùng vạt da có cuống mạch nuôi dưỡng : thường là niêm mạc quy đầu để cuộn ống và xoay xuống bụng dương vật để nối với miệng sáo Broadbent và Des Prez là những người đầu tiên dùng dùng thuật ngữ vạt hình đảo (Island flap) năm 1961 Kỹ thuật này được Duckett phát triển đỉnh cao năm 80 Các phương pháp dùng vạt da bụng dương vật có chân nuôi lật ngược của Mathieu hoặc dùng vạt da cuốn ống lật ngược của Mustard cũng đã giới thiệu áp dụng + Tạo hình niệu đạo bằng vạt da hoặc niêm mạc tự do : Tạo hình niệu đạo bằng vạt niêm mạc bao quy đầu tự do được Nove Joserand tiến hành từ năm

1897 và được Devine, Horton phát triển những năm 60 Tạo hình niệu đạo bằng niêm mạc bàng quang tự do được Memmelaar sử dụng năm 1947, sau đó

Marshall(1955), Molland (1983)

+ Gỉai phóng và kéo niệu đạo qua một đường hầm qua đầu niệu đạo được Beck tiến hành năm 1898 và được Bpaderock(1950), Mc Gowan Magpi(1969) tiếp tục phát triển

Trang 2

+ Dùng vạt da bìu tạo hình niệu đạo được Bouisson bắt đầu năm 1860 và tiếp tục phát triển bởi Moutet(1870), Woood(1875), Landerer(1891)

II.SINH BỆNH HỌC

Dưới ảnh hưởng của Testosterone, dương vật và rãnh niệu sinh dục cùng phát triển ra trước Rãnh niệu sinh dục khép lại sẽ thành phần lớn niệu đạo Đoạn niệu đạo quy đầu được hình thành sau khi một ống nguồn gốc ngoại bì nối tiếp với niệu đạo dương vật

Khi rãnh niệu sinh dục không khép lại hoàn toàn tật lỗ tiếu thấp xuất hiện, kèm theo cong dương vật nếu có lá xơ dưới dương vật Ngoài ra dương vật có có thể bị xoay theo một góc độ nhẹ và da dương vật có những nếp gấp bất thường Các dị tật kèm theo bao gồm :

1 Một số dị tật tiết niệu : tinh hoàn ẩn, thoát vị bẹn, thận lạc chỗ, niệu quản đội, niệu qủan phình to

2 Các dị tật phức tạp : lưỡng tính giã, loạn sản tuyến sinh dục

Androgen có vai trò kích thích dương vật phát triển vì vậy chắc chắn các yếu tố khác phải thông qua sự tác động của Androgen Cơ chế sinh bệnh có thể là do kh6ng đủ yếu tố kích thích dương vật phát triển hoặc do tổ chức dương vật không đáp ứng với kích thích

III PHÂN LOẠI

Duckett phân chia lỗ tiểu thấp dựa vào vị trí của lỗ sáo sau khi dựng thẳng dương vật bao gồm ba nhóm lớn và 9 thể chi tiết [1]

Trang 3

Phân chia lỗ tiểu thấp Duckett[4]

Dựa trên vị trí lỗ tiểu trước khi phẫu thuật, có thể phân chia thành:

- Thể quy đầu

- Thể dương vật

- Thể gốc dương vật

- Thể bìu

- Thể tầng sinh môn

IV KHÁM , ĐÁNH GIÁ, CHẨN ĐOÁN TÌNH TRẠNG BỆNH NHÂN TRƯỚC MỔ

Mặc dù trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ ít có triệu chứng liên quan đến lỗ tiểu thấp, nhưng trẻ lớn và người lớn ưa phàn nanø về tia nước tiểu, cách đi tiểu Cong dương vật gây gập bụng dương vật, cản trở giao hợp Thể bìu dương vật hoặc thể tầng sinh môn phải tiểu ngồi và có thể gây vô sinh Phàn nàn của hầu hết

Trang 4

bệnh nhân là hình dáng bất thường của dương vật do thiếu hoặc không có da bụng dương vật Lỗ tiểu thấp có thể bị hẹp , nên được kiểm tra và xác định mức độ hẹp (nếu hẹp nên nong mở rộng ) Có sự gia tăng tinh hoàn ẩn ở những trẻ lỗ tiểu thấp, cho nên cần thăm khám bìu xác định tinh hoàn

Trẻ thể bìu dương vật hoặc thể tầng sinh môn thường có bìu trẻ đôi và không rõ giới tính nên xét nghiêm nhiễm sắc thể đồ Soi niệu đạo và soi bàng quang đánh giá cơ quan sinh dục bên trong phát triển bình thường UIV nên thực hiện nhằm phát hiện bất thường bẩm sinh của thận, niệu quản

Bệnh nhân cần đánh giá chính xác vị trí và kích thước miệng sáo, mức độ cong dương vật, kích thước dương vật, tình trạng niêm mạc quy đầu và da ở lưng dương vật, trục của dương vật, niêm mạc của máng niệu đạo

Khám toàn thân để phát hiện các dị tật phối hợp : tinh hoàn không xuống bìu, túi thừa tuyến tiền liệt, thoát vị bẹn, thận lạc chỗ, niệu quản đội, niệu qủan phình to, lưỡng tính giã, loạn sản tuyến sinh dục

V.ĐIỀU TRỊ

Đạt được 2 mục đích : chuyển vị lỗ sáo ra đỉnh dương vật và dựng thẳng đứng dương vật

Xu hướng hiện nay là mổ sớm , ở tuổi mổ thích hợp là tuổi trước khi đến trường (từ 2-5 tuổi)

Dựa vào kết quả nghiên cứu đã tiến hành tại Viện Nhi quốc gia , việc lựa chọn kỹ thuật mổ như sau :

- Thể quy đầu, vành quy đầu không có cong dương vật

+ Kỹ thuật MAGPI (Mateal advancement and glanduloplasty)

+ Kỹ thuật Mathieu

+ Kỹ thuật tịnh tiến niệu đạo

- Thể dương vật

+ Kỹ thuật vạt úp (nếu dương vật không cong) (Kỹ thuật vạt úp Duckett)

+ Kỹ thuật vạt cuộn ống (nếu dương vật cong )

- Thể bìu dương vật

+ Kỹ thuật vạt cuộn ống ( nếu chiều dài niệu đạo không bị thiếu hụt quá lớn) (kỹ thuật Duckett cuộn ống theo chiều ngang, kỹ thuật Devine Horton)

+ Kỹ thuật vạt da bìu để cuộn ống tại chỗ phối hợp với vạt cuộn ống

từ da niêm mạc lưng dương vật (nếu chiều dài niệu đạo bị thiếu hụt quá lớn) (kỹ thuật Hodgson, Perovic theo trục dọc)

Trang 5

- Thể tầng sinh môn

+ Kỹ thuật vạt da tại chỗ để cuộn ống phối hợp với vạt cuộn ống từ

da niêm mạc lưng dương vật hoặc vạt niêm mạc từ bao quy đầu tự do

- BIẾN CHỨNG SAU MỔ :

+ Thường gặp là tắc ống dẫn lưu nước tiểu do đầu ống tì sát vào bàng quang

do bàng quang co bóp mạnh

+ Tụt ống thông là biến chứng nghiêm trọng, cho nên phải cố định cẩn thận vào quy đầu bằng mũi khâu lấy sâu vào quy đầu

+ Dò

+ Hẹp niệu đạo

+ Hẹp miệng lỗ tiểu

+ Túi thừa niệu đạo

+ Dư da

+ Vẫn còn cong dương vật hoặc còn lỗ tiểu thấp

VII.TÀI LIỆU THAM KHẢO

1) Duckett JW (1992) Hypospadias Campell’s urology Philadelphia:

Saunder company :1893-1910

2) Jack w McAninch (1991) Disordes of the penis, and male urethra.

Smith’s General Urology ,thirteenth edition, page 598-600

3) Lê Anh Tuấn, Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Xuân Thu(1997)ï Phân tích kết quả điều trị 190 trường hợp lỗ đái lệch thấp Y hoc thục hành – Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học Viên BVSKTE : 225-228

4) Nguyễn Thanh Liêm (2002) Dị tật lỗ tiểu lệch thấp Phẫu thuật tiết niệu

trẻ em NXB Y Học-Hà Nội, trang 172-194

5) Nguyễn Bửu Triều, Lê Ngọc Từ (2003) Tật lõ đái thấp Bệnh học tiết

niệu NXB Y Học-Hà Nội, trang 634-641

6) Trần Ngọc Sinh (2004) Lỗ tiểu đóng thấp Sổ tay tiết niệu học lâm sàng.

NXB Y Học- Chi nhánh TP.HCM, trang 129-131

Ngày đăng: 07/05/2017, 22:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w