1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tiểu luận về Ngân hàng

31 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 182,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhận tiền gửi và phát hành các khoản nợ khác .Sau đó ngân hàng sử dụng số vốnnày để mua các tài sản như chứng khoán và cung cấp các khoản cho vay với lãisuất cao hơn.Bảng 1: Tổng kết tài

Trang 1

- Ngân hàng là kết nối giữa khách hàng có thâm hụt vốn và khách hàng có thặng

dư vốn

1.2.Vai trò

- Ngân hàng có một vai trò quan trọng tạo ra kênh dẫn vốn cho những người đi vay

có cơ hội đầu tư sản xuất,kinh doanh và người thừa vốn thì gửi tiết kiệm

- Ngân hàng có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo hệ thống tài chính cũng nhưnền kinh tế được hoạt động vận hành một cách trôi chảy và có hiệu quả

2.BẢNG TỔNG KẾT TÀI SẢN CỦA NGÂN HÀNG

- Bảng tổng kết tài sản đây là một danh mục ghi các tài sản và khoản nợ của ngânhàng.Danh mục của bản tổng kết tài sản được thiết kế dựa trên phương trình kếtoán cơ bản :

2.1 Các khoản nợ

- Theo phương trình kế toán thì ta biết được nguồn vốn bao gồm các khoản ghi bênphải của phương trình kế toán, còn cách sử dụng nguồn vốn các khoản tiền chi đểmua tài sản thì nằm bên trái phương trình.Ngân hàng nhận được vốn bằng cách

Tổng các tài sản = Tổng các khoản nợ + Vốn sở hữu

Trang 2

nhận tiền gửi và phát hành các khoản nợ khác Sau đó ngân hàng sử dụng số vốnnày để mua các tài sản như chứng khoán và cung cấp các khoản cho vay với lãisuất cao hơn.

Bảng 1: Tổng kết tài sản của tất cả các ngân hàng thương mại

2.1.1 Tiền gửi viết séc

- Tiền gửi viết séc là tài khoản ngân hàng cho phép chủ tài khoản viết séc để trảtiền cho người thứ ba.Nó bao gồm tất cả các tài khoản mà người ta có thể viết sécnhư: tài khoản viết séc không sinh lãi (tiền gửi rút theo yêu cầu),các tài khoản sinhlãi NOW và MMDA

- MMDA có các thược tính tương tự quỹ tương trợ trên thị trường tiền tệ và đượcsắp xếp vào tiền gửi viết séc, không chụi tỉ lệ dữ trự bắt buộc và không được đưavào định nghĩa M Tiền viết séc chiếm 9% các khoản nợ của ngân hàng

-Tiền viết séc và các tài khoản tiền gửi trên thị trường tiền tệ được thanh toán theonhu cầu.Nghĩa là,nếu người gửi tiền ra ngân hàng và yêu cầu rút tiền ,ngân hàngphải trả tiền Tương tự ,nếu một người nhận được tấm séc vào tài khoản ở mộtngân hàng và đưa tấm séc cho ngân hàng thì ngân hàng phải trả tiền

Trang 3

Tiền gửi viết séc là tài sản của người gửi ,nên đây là khoản nợ của ngân hàng.Nó lànguồn vốn có chi phí thấp nhất của ngân hàng do người gửi tiền sản sàng bỏ quamột ít lợi ích để tiếp cận với tài sản có tính thanh khoản cao.Trong những năm gầnđây ,lãi suất cho tiền gửi viết séc chiếm 25% tổng chi phí kinh doanh của ngânhàng,trong kinh chi phí phục vụ cho các tài khoản (tiền lương, thuê nhà,…)bằngxấp xỉ 50% chi phí kinh doanh.

2.1.2 Tiền gửi phi giao dịch

- Tiền gửi phi giao dịch là nguồn vốn chủ yếu của ngan hàng ( chiếm 59% tổng cáckhoản nợ của ngân hàng),lãi suất cảu tiền gửi phi giao dịch cao hơn so với viếtséc.Tiền gửi phi giao dịch có hai dạng cơ bản là tào khoản tiết kiệm và tiền gửi có

kì hạn

+Tài khoản tiết kiệm: Chủ tài khoản có thể bổ sung vốn hoặc rút vốn bất kỳ lúcnào,các giao dịch và thanh toán lãi suất được ghi trong bản tổng kết hàng thánghoặc trong sỗ tiết kiệm mà chủ tài khoản giữ

+Tiền gửi có kỳ hạn (Chứng chỉ tiền gửi KH:CD):có thời gian đáo hạn cố định,cóthể từ nhiều tháng tới 5 năm và bao gồm các mức phạt lớn cho những người muốnrút ra sớm (phạt có thể bằng lãi suất của nhiều tháng)

• Các khoản tiền có kỳ hạn nhỏ (dưới 100.000 USD) có tín thanh khoản đốivới người gửi tiền thấp hơn sổ tiết kiệm,kiếm được lĩa suất cao hơn vànguồn vốn đắt hơn đói với ngân hàng

• Các có kỳ hạn lớn (Trên 100.000 USD):Được công ty và ngân hàng khácmua ,các CD lớn là tiền gửi có thể thương lượng.Giống như trái phiếu chúng

ta có thể bán trên thị trường thứ cấp trước khi đáo hạn.CD lớn là tiền gửi cóthể thương lượng và trở thành nguồn vốn quan trọng của ngân hàng(14%)

2.1.3.Vay nợ

- Các ngân hàng có thể tìm kiếm vốn bằng cách vay nợ từ hệ thống dự trữ liênbang, Ngân hàng cho vay ở nhà nước liên bang,ngân hàng khác và công ty.Hoạtđộng vay nợ của Fed được gọi là vay mợ chiết khấu (còn gọi là ứng trước ).Cácngân hàng cũng có thể vay dữ trữ qua đêm từ các ngân hàng và định chế tài chính

Mỹ trên thị trường vốn liên bang.Họ vay vốn qua đem để có thể đủ tiền gửi tại Quỹ

dự trữ liên bang nhằm đáp ứng tỉ lệ dự trữ bắt buộc

Trang 4

- Các nguồn vốn khác là tiền vay từ công ty mẹ (tức công ty nắm giữ ngânhàng),khế ước vay ký với các công ty(chẳng hạn như hợp đồng mua lại )và vay nợbằng đòng tiền châu âu.Hoạt động vay nợ trở thành nguồn vốn quan trọng củangân hangfc chiếm 28% các khoản nợ của ngân hàng.

2.1.4 Vốn sỡ hữu của ngân hàng

Nhóm cuối cùng ở bên nợ của BTKTC là vốn của chủ sỡ ngân hàng.Nó chính làgiá trị ròng của ngân hàng và bằng mức chênh lệnh giữa tổng tài sản và tổng cáckhoản nợ (7% tổng TS ngân hàng).Vốn sỡ hữu được thi hút bằng cách bán cổphiếu mới hoặc giữ lại thu nhập.Vốn sở hữu ngân hàng có tác dụng như phần đệmcho giá trị tài sản của nó và có thể đẩy ngân hàng vào tình trạng mất khả năng trảnợ.Khi vốn sở hữu mang dấu âm thì ngân hàng thể buộc giải thể

2.2 Tài sản

Tài sản là kết quả của việc sử dụng vốn và các khoản thanh toán lãi suất thu được

từ chúng là yếu tố tạo điều kiện cho ngân hàng kiếm lợi nhuận

2.2.1 Dữ trữ

- Tất cả các ngân hàng đều nắm giữ một phần vốn bằng cách thu hút dưới dạng tiềngửi trong một tài sản ở Fed.Dữ trữ là khái niệm được dùng đẻ chỉ số tiền gửi nàycộng với số tiền mặt dưới dạng hiện vật được giữ ở ngân hàng.Mặt dù các khoản

dự trữ này không đem lại lãi suất,song ngân hàng giữ chúng vì:

+Dự trữ bắt buộc (yêu cầu của Fed): yêu cầu này hàm ý rằng một tỷ lệ nhất đinhcủa mỗi đô la tiền gửi viết séc tại ngân hàng phải được giữ làm dự trữ

+Ngoài ra ngân hàng cũng giữ thêm dự trữ (dự trữ dôi ra ):là tài sản có tính thanhkhoản cao nhất trong tài sản cuả ngân hàng và có thể sử dụng để đáp ứng nghĩa vụngân khi được rút vốn ra

2.2.2 Tiền mặt thu hồi

Giả sử một tấm sec được viết vào tài khoản tại một ngân hàng khác,sau đó gửi vàongân hàng bạn,nhưng bạn chưa nhận được số vốn làm cơ sở cho tấm séc từ ngânhàng khác.Khi đó,tấm séc được phân loại thành tài san tiền nặt trong quá trình thuhồi và nó là tài sản cuả ngân hàng=>vì nó trái quyền đối với ngân hàng khác về sốvốn trả trong 1 vài ngày

Trang 5

2.2.3 Tiền gửi ở ngân hàng khác

- Nhiều ngân hàng nhỏ nắm giữ tiền gửi ở ngân hàng lớn hơn để trao đòi nhiềudịch vụ khác nhau,bao gồm thu hồi séc,giao dịch ngoại tệ và trợ giúp trong việcmua chứng khoán.Đây là một phương diện của hệ thống được gọi là ngân hàng liênlạc

- Các khoản dự trữ,tài khoản tiền mặt trong quá trình thu hồi và tiền gửi tại cácngân hàng khác thương tổng hợp lại một mục các khoản dự trữ và tiền mặt(Chiếm5% tổng tài sản và tầm quan trọng của chúng ngày càng giảm)

2.2.4 Chứng khoán

- Khối lượng chứng khoán mà các ngân hàng nắm giữ là tài sản quản trọng đem lạithu nhập cho họ.Do ngân hàng không được nắm giữ cổ phiếu, nên toàn bộ chứngkhoán mà các ngân hàng nắm giữ là các công cụ nợ Chúng chiếm 25% tổng tàisản nhóm :

+ Chứng khoán của chính phủ và các cơ quan chính phủ Mỹ:là chưng khoán cótính thanh khoản cai nhất do chúng dễ dàng mua bán và chuyển đỏi thành tiền mặtvới chi phí giao dịch thấp.Do thanh khoản nên các chứng khoán ngăn hạn của Mỹđược coi là dữ trữ thứ cấp

+Chứng khoán của chính quyền liên bang và địa phương (gọi tắc là trái phiếuthành phố ) được các ngân hàng sẵn sàng nắm giữ trước hết là vì chính quyền liênbang và địa phương có khả năng làm ăn với ngân hàng giữ chứng khoán củamình.Chứng khoán có tính thanh khoản thấp và có mứcđộ rủi ro cao

Trang 6

- Các ngân hàng thương mại cũng cho người tiêu dung vay và cho vay lẫn nhau.

- Phần lớn các ngân hàng cho vay liên ngân hàng là cho vay qua đêm trên thịtrường vốn liên bang

2.2.6 Các tài sản khác

- Các tài sản khác :tư vật ,hiện vật (tòa nhà làm ngân hàng,máy tính và các trangthiết bị khác) mà ngân hàng được đưa vào nhóm này

3.CÁC NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG CƠ BẢN

• Quá trình chuyển đổi TS:

- NH kiếm lợi nhuận bằng cách bán các khoản nợ có một tập hợp các đặc tính(tính thanh khoản, rủi ro, quy mô và lợi tức) và sử dụng số tiền thu được muacác TS với tập hợp các đặc tính khác

- Có thể hiểu quá trình trên theo cách dễ dàng là NH phát hành các cổ phiếu đểthu hút vốn và mua lại các trái phiếu hoặc cho vay để sinh lợi

- Ví dụ: khoản tiền gửi tiết kiệm do một cá nhân nắm giữ có thể cung cấp vốncho ngân hàng để thực hiện một khoản cho vay cầm cố cho một người khác.Trên thực tế, NH đã chuyển đổi tiền gửi tiết kiệm (tài sản do người gửi tiền nắmgiữ) thành khoản cho vay cầm cố (tài sản do NH nằm giữ)

- Quá trình chuyển đổi TS và cung cấp tập hợp dịch vụ giống quá trình sản xuấttrong doanh nghiệp Nếu dịch vụ của NH tốt với chi phí thấp và có thu nhập cao

từ các TS của mình, NH sẽ có lợi nhuận Ngược lại, NH sẽ bị lỗ vốn

• Sự tăng thêm và mất dự trữ của NH:

- Dự trữ của NH tăng lên một lượng đúng bằng mức tăng của tiền gửi viết séc.Khi một tấm séc được viết vào tài khoản ở một NH được gửi vào NH khác thìbằng số tiền ghi trong tấm séc, còn dự trữ (tại Fed) của NH có séc viết vào bịgiảm một lượng đúng bằng số tiền ghi trong séc

- NH nhận thêm 1 khoản tiền gửi thì dự trữ sẽ tăng (vd: nhận gửi tiết kiệm,pháthành cổ phiếu v.v )

Trang 7

- Ngược lại NH bị mất tiền gửi dẫn đến dự trữ giảm (vd: cho vay, mua các tàisản khác…)

• Lợi nhuận của NH khi có sự thay đổi trong tiền gửi:

- Do việc dự trữ không đem lại lãi suất nên NH không có thêm thu nhập từ việc

có thêm tiền gửi

- Không chỉ vậy NH còn bị lỗ do bỏ ra chi phí phục vụ tiền gửi và các khoản chiphí phát sinh khác liên quan đến dịch vụ nhận tiền

Vì vậy NH cần phải chuyển tất cả hoặc một phần dự trữ dôi ra vào mục đíchsinh lời

4.NGUYÊN TẮC CHUNG ĐỂ QUẢN LÝ NGÂN HÀNG

4.1.Quản lý thanh khoản và vai trò của dự trữ:

4.1.1 Quản lý thanh khoản:

• Là nguyên tắc cực kì quan trọng vì NH luôn phải có đủ dự trữ để cung cấpkhi có dòng tiền chảy ra, nhưng lại không được dự trữ tất cả mà không đemđầu tư hoặc cho vay để sinh lời Ngược lại NH cũng không được đem tất cả

vì mục đích sinh lời mà luôn có một khoản để dự trữ Hai điều này phải cânđối với nhau

• Để có đủ tiền mặt: mua được những TS có tính thanh khoản đủ cao để đápứng nghĩa vụ với người gửi tiền

4.1.2 Vai trò của dự trữ: Dự trữ dôi ra là phương tiện đảm bảo cho NH không

phải chịu các khoản phí gắn với dòng tiền gửi chảy ra Chi phí gắn với dòngtiền chảy ra càng cao, mức dự trữ dôi ra NH muốn nắm giữ càng lớn

4.2 Quản lý tài sản:

- NH cũng như tất cả DN nào muốn hoạt động tốt thì phải quản lý được tài sảntốt

- NH theo đuổi mức rủi ro thấp đến mức chấp nhận được bằng cách mua các TS

có tỷ lệ vợ nợ thấp và đa dạng hóa TS nắm giữ

Trang 8

- Để tối đa hóa lợi nhuận, NH có 3 mục tiêu:

+ Tìm kiếm lợi tức cao nhất từ các khoản cho vay và CK NH phải phát hiện rangười đi vay sẵn sàng trả lãi suất cao và không bị vỡ nợ

+ NH phải mua được những chứng khoán đem lại lợi tức cao và có mức rủi rothấp

+ Đảm bảo tính thanh khoản bằng cách nắm giữ các TS có tính thanh khoản cao

4.3 Quản lý nợ của ngân hàng

- Là thu hút được vốn với chi phí thấp (lãi suất của tiền gửi tiết kiệm thấp hơn

so với các ngân hàng khác)

- NH không còn coi nguồn vốn (các khoản nợ) là cố định

- NH chủ động đặt ra mục tiêu gia tăng TS và tìm cách thu hút vốn (thông quaviệc phát hành các chứng chỉ nợ) khi cần

4.4 Quản lý tính thích hợp của vốn

- Là quyết định lượng vốn mà NH cần duy trì, sau đó thu hút được số vốn cầnthiết

- Việc NH quyết định lượng vốn cần nắm giữ vì:

+ VSH của NH góp phần phòng ngừa sự sụp đổ của NH (VSH càng cao thìmức rủi ro càng thấp)

+ Lượng vốn ảnh hưởng đến lợi tức của các cổ đông

+ Yêu cầu về vốn của NH

Trang 9

- Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó rấtkhó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Rủi ro tín dụng nếukhông được phát hiện và sử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác.

- Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng bắt nguồn từ những nguyên nhân kháchquan và chủ quan ở hai phía là người đi vay và ngân hàng

+ Nguyên nhân từ phía Ngân hàng:

• Ngay hàng đưa ra chính sách tín dụng không phù hợp với nền kinh tế vàthể lệ cho vay còn sơ hở để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của Ngânhàng

• Do cán bộ Ngân hàng chưa chấp hành đúng quy trình cho vay như: khôngđánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống,thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt tỷ lệ an toàn Đồng thời cán bộ Ngânhàng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tình hình sử dụng vốn vay củakhách hàng

• Do trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn nên việc đánh giá các dự

án, hồ sơ xin vay còn chưa tốt, còn xảy ra tình trạng dự án thiếu tính khảthi mà vẫn cho vay

• Cán bộ Ngân hàng còn thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức kinhdoanh như: thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, xâm tiêukhi giải ngân hay thu nợ, đôi khi còn nể nang trong quan hệ khách hàng

• Ngân hàng đôi khi quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có lợinhuân cao hơn những khoản vay lành mạnh

• Do áp lực cạnh tranh với các Ngân hàng khác

• Do tình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn ra trong nội bộ Ngân hàng

+ Nguyên nhân từ phía khách hàng:

• Người vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích, sử dụng vào các hoạt động

có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho Ngân hàng

• Do trình độ kinh doanh yếu kếm, khả năng tổ chức điều hành sản xuấtkinh doanh của lãnh đạo còn hạn chế

• Doanh nghiệp vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản lưu động và cố định

• Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thiếu sự linh hoạt, không cải tiến quytrình công nghệ, không trang bị máy móc hiện đại, không thay đổi mẫu

mã hoặc nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm dẫn tới sản phẩm sản

Trang 10

xuất ra thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trên thị trường khiến cho doanhnghiệp không có khả năng thu hồi vốn trả nợ cho Ngân hàng.

• Do bản thân doanh nghiệp có chủ ý lừa gạt, chiếm dụng vốn của Ngânhàng, dùng một loại tài sản thế chấp đi vay nhiều nơi, không đủ năng lựcpháp nhân

+ Nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro tín dụng:

• Thông tin bất cân xứng luôn hiện diện trên thị trường cho vay bởi vìngười cho vay luôn có ít thông tin hơn về cơ hội đầu tư và hoạt động củangười đi vay hơn người đi vay dẫn tới yều cầu sàng lọc và giám sát Ví

dụ như một người đi vay muốn vay một số tiền lớn từ ngân hàng để đầu

tư, người cho vay cần phải biết được thông tin về lợi tức tiềm ẩn và rủi rokèm theo với dự án đầu từ mà người này muốn tiến hành Việc thiếuthông tin sẽ dẫn đến những lựa chọn tiêu cực và gặp phải sự suy giảmđạo đức trong tín dụng

• Sự lựa chọn tiêu cực trên thị trường cho vay xảy ra do thông tin bất cânxứng tạo ra trước khi thực hiện giao dịch Vì những người có rủi ro tíndụng cao (những người có nhiều khả năng không hoàn trả được khoảnvay của mình) luôn tìm mọi cách để đi vay tiền nên có nhiều khả năng họđược lựa chọn cho vay Việc lựa chọn tiêu cực có thể dẫn đến khả năngnhững khoản cho vay được thực hiện gặp rủi ro tín dụng cao và khả năngtrả nợ thấp Mặc khác người cho vay đã bỏ qua những khoản cho vay córủi ro tính dụng thấp đem lợi lợi nhuận

* Ví dụ cụ thể như: có 2 nhà kinh doanh A và B cùng muốn vay tiền Trong 2nhà kinh doanh này:

• Người A là người luôn thận trọng, chỉ vay tiền đầu tư khi chắc chắn sẽđem lại kết quả

• Người B là người có tính mạo hiểm, tham gia đầu tư có rủi ro cao nhưng

có lợi nhuận lớn

• Vì vậy, mà B là người sẽ tích cực muốn vay tiền vì nếu thành công B sẽkiếm được nhiều tiền hơn Nếu không gặp phải vấn đề thông tin bất cânxứng – tức ta biết rõ về thông tin của cả A và B thì việc lựa chọn cho vaychắc chắn dễ dàng hơn và chắc chắn sẽ cho A vay mà không chọn B vì tathấy rõ rằng B có khả năng trả nợ thấp hơn A Nhưng vấn đề gặp phải làngười cho vay không biết rõ về A và B thì rất có thể người cho vay sẽ lựachọn cho B vay và từ chối A - sự lựa chọn tiêu cực Điều này sẽ làm tăngrủi ro cho khoản vay của người cho vay Hoặc nếu cho A vay và từ chốicho B vay hay từ chối cho vay A và B người cho vay lại bỏ qua cơ hội

Trang 11

kiếm lợi nhuận Vì vậy mà người cho vay cần cân nhắc và thực hiện cơchế cho vay giảm rủi ro tín dụng một cách hiệu quả nhất.

• Suy giảm đạo đức trên thị trường do thông tin bất cân xứng tạo ra sau khithực hiện giao dịch cho vay Người đi vay có thể có những động cơ thamgia vào các hoạt động không mong muốn theo quan điểm của người chovay bởi vì hoạt động này khiến khả năng trả nợ thấp đi dẫn đến rủi roc hongười cho vay Ví dụ như ông X đi vay ngân hàng 200 triệu đồng để pháttriển sản xuất theo hợp đồng tín dụng đã kí kết với ngân hàng Nhưng saukhi nhận tiền ông X nảy ra ý định dùng 200 triệu đi mua cố phiếu, nếuthu được lợi nhuận thì vừa đêm trả được nợ vừa có một số tiền lớn cònnếu thua lỗ thì ông sẽ khất nợ hoặc bỏ trốn - ngân hàng gặp rủi ro Nếungân hàng biết được ý định của ông X- thông tin đã đầy đủ thì ngân hàng

sẽ ngăn chặn ý định của ông X hoặc thu hồi số tiền cho ông X vay Vìvậy, nếu thiếu thông tin do suy giảm đạo đức sẽ làm ngân hàng gặp mứcrủi ro cao khi cho vay

• Mức rủi ro cao là do người đi vay ít có khả năng trả nợ Để giảm rủi rotín dụng xuống mức thấp nhất, mỗi ngân hàng luôn có những giải pháp

cơ chế quản lí rủi ro một cách có hiệu quả

5.1 Sàng lọc và giám sát

- Vấn đề thông tin không cân xứng trên thị trường cho vay do người cho vay có

ít thông tin về cơ hội đầu tư và hoạt động của người đi vay dẫn đến sàng lọc vàgiám sát

- Quá trình sang lọc và giám sát được là giai đoạn đầu của công tác quản lí rủi

ro Đây là bước mở đầu cũng là bước có vai trò hết sức quan trọng, nếu làm tốtviệc thu thập và phân tích được thông tin cho quá trình sang lọc và giám sát thìrủi ro tín dụng sẽ dc quản lí tốt hơn

- Chuyên môn hóa trong hoạt động cho vay : ngân hàng thương xuyên chuyênmôn hóa vào việc cho vay đối với những doanh nghiệp ở một địa phương hoặcnhững doanh nghiệp trong ngành nhất định

- Giám sát và thực thi các điều khoản hạn chế:

+ Người đi vay có động cơ tham gia vào các hoạt động mạo hiểm, làm giảmkhả năng trả tiền vay Người cho vay cần đưa ra các điều khoản hạn chế vàohợp đồng cho vay nhằm ngăn ngừa khả năng người đi vay tham gia các hoạtđộng mạo hiểm

+ Thông qua việc giám sát hoạt động của người đi vay để xem người đi vay cótuân thủ không

-Sàng lọc:

Trang 12

+ Sự lựa chọn tiêu cực trên thị trường cho vay yêu cầu người đi vay phải biếtlựa chọn đúng người cần cho vay, tức là sàng lọc những người có rủi ro tínhdụng cao ra khỏi những người có rủi ro tín dụng thấp từ đó cho vay có lãi.+ Người cho vay sử dụng các thông tin như: tài chính cá nhân, tiền lương, cáckhoản dư tài sản, các khoản nợ của người đi vay để từ đó đánh giá xem kháchhàng này có rủi ro tín dụng cao hay thấp thông qua việc tính “điểm tín dụng”.Ðiểm tín dụng là sự tường trình ngắn gọn về lý lịch tín dụng của bạn tại thờiđiểm lúc đó Nó thay đổi thường xuyên mỗi lần công ty tín dụng báo cáo vềcác chi tiêu tín dụng của bạn (Ða số các công ty cấp tín dụng cứ cách 30 ngàynộp bản báo cáo.) Mỗi công thức tính điểm tín dụng cộng và trừ điểm dựa vàocác dữ kiện trong bản báo cáo tín dụng của bạn Điểm tín dụng của bạn càngcao thì mức lãi suất khi đi vay của bạn càng thấp Nhưng hiện nay việc tínhđiểm tín dụng vẫn còn chưa phổ biến trong các ngân hàng ở Việt Nam.

+Người cho vay phải đánh giá được khả năng thành công của doanh nghiệptrong tương lai Vì vậy, người cho vay phải biết được kế hoạch tương lai củadoanh nghiệp

5.2 Mối quan hệ lâu dài với khách hàng

- Mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và ngân hàng là một cơ sở để đánh giámức độ rủi ro tín dụng của người đây vay Đồng thời việc tạo mối quan hệ lâubền với ngân hàng cũng là một thuận lợi của người đi vay, giúp người đi vay

có thể vay với lãi suất thấp

- Nếu người đi vay đã có tài khoản séc, tài khoản tiết kiệm với ngân hàngtrong thời gian dài Nhân viên cho vay có thể nhìn vào hoạt động trong quákhứ của người đi vay bằng cách xem xét các tài khoản và biết được khá nhiều

về hoạt động tài chính của người đi vay Số dư trong tài khoản nó cho ngânhàng biết người đi vay cần tiền đến mức nào

- Mối quan hệ dài hạn với khách hàng giúp ngân hàng giảm chi phí thu thậpthông tin làm cho quá trình sàng lọc người có rủi ro tín dụng cao dễ dàng hơn.Bởi vậy, chi phí giám sát khách hàng cũ thấp hơn chi phí giám sát khách hàngmới

Từ mối quan hệ này mà đặt ra cho người đi vay một câu hỏi “ Muốn duy trìmối quan hệ dài hạn với ngân hàng để vay tiền với lãi suất thấp người đi vaynên làm thế nào?” Câu trả lời đem lại mức lãi suất thấp là “ Người đi vay cóđộng cơ tránh các hoạt động mạo hiểm, tránh làm cho ngân hàng buồn” Điềunày không chỉ mang lại lợi ích cho riêng người đi vay mà cũng góp phần giúpngân hàng chọn được đúng đối tượng cho vay để sinh lãi và hạn chế rủi ro tíndụng cũng như giảm chi phí cho hoạt động tín dụng của ngân hàng

Trang 13

5.3 Cam kết cho vay

- Cam kết tín dụng là hình thức cho vay giữa ngân hàng và các khách hàngthương mại Cam kết này cho ngân hàng cho các doanh nghiệp vay đến mộtgiới hạn nhất định với lãi suất được gắn với lãi suất của một thị trường nào đó

- Cam kết cho vay đem lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng đi vay Đốivới khách hàng đi vay (doanh nghiệp) cam kết này đảm bảo cho họ có đượcnguồn tính dụng khi cần Đối với ngân hàng, cam kết cho vay giúp thúc đẩymối quan hệ lâu dài từ đó tạo điều kiện thuận tiện cho việc thu thập thông tin

từ khách hàng

- Ngoài ra, hợp đồng cam kết cho vay còn có các điều khoản yêu cầu doanhnghiệp cung cấp thông tin về thu nhập, tài sản, các khoản nợ và tình hình kinhdoanh của mình Từ đó, ta thấy rằng cam kết cho vay là công cụ mạnh mẽ đểcắt giảm chi phí sàng lọc và thông tin của ngân hàng

- Cam kết cho vay đem lại lợi ích cho cả 2 phía

5.4 Thế chấp và bù trừ

- Thế chấp là tài sản được dùng để hứa sẽ bù cho người cho vay khi người đivay vở nợ Nó giảm bớt hậu quả của sự lựa chọn tiêu cực thông qua việc giảmtổn thất của người cho vay trong tình huống người đi vay không có khả năngtrả nợ khi đến hạn Những tài sản trở thể tài sản thế chấp của người đi vayphải là những tài sản hợp pháp theo qui định của pháp luật như: nhà,đất,quyền sử dụng đất, công trình xây dung,v.v…Ví dụ: Khi cho vay tiêudùng, người đi vay sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc sở hữucủa mình để làm tài sản thế chấp khi đi vay Thông thường, ngân hàng sẽkiểm tra xác minh chính xác tài sản đó có thuộc quyền sở hữu của người đivay không sau đó định mực giá trị cho tài sản thế chấp Căn cứ vào đó màngân hàng cho vay với khoản vay thông thường bằng 30→ 40% giá trị tài sảnthế chấp

- Một dạng đặc biệt của thế chấp mà ngân hàng thường đòi hỏi khi cho vay là

số dư bù trừ Số dư bù trừ là khoản tiền tối thiểu trong tài khoản séc mà người

đi vay bắt buộc phải có tại ngân hàng khi ngân hàng thực hiện cho vay.Ví dụ:Một công ty muốn vay 20 triệu đô la thì phải có ít nhất 2 triệu đô la tại tàikhoản séc của ngân hàng 2 triệu đô la dưới dạng bù trừ này có thể bị ngânhàng tịch thu để bù lại một phần tổn thất khi người đi vay này vỡ nợ

5.5 Hạn chế tín dụng

Trang 14

- Hạn chế tín dụng là: Giới hạn loại khách hàng không được cho vay hoặc không được cho vay với điều kiện ưu đãi và giới hạn mức cho vay tối đa đối với các loại khách hàng.

- Hạn chế tín dụng là biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng mà tổ chức tín dụng có nghĩa vụ phải thực hiện.Phạm vi hạn chế được Nhà nước quy định tùy thuộc vào điều kiện như: độ an toàn trong kinh doanh của hệ thống các tổ chức tín dụng, mức độ ổn định của nền tài chính quốc gia; khả năng kiểm soát hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng.

- Hình thức hạn chế tín dụng

+ Những trường hợp không được cho vay

Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng.

Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định cho vay;

Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc).

Việc quy định như vậy là nhằm bảo đảm tránh sự ưu ái đối đặc biệt của

tổ chức tín dụng với khách hàng là các đối tượng trên, bảo đảm sự công bằng cho tất cả các khách hàng khi tham gia vào hoạt động vay vốn, cũng nhằm tránh việc những đối tượng trên có ý định lợi dụng chức vụ quyền hạn nhằm trục lợi từ hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng.

+ Hạn chế cho vay: Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với những đối tượng sau đây

Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chức tín dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho vay; Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay;

Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng;

Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.

Trang 15

6 QUẢN LÝ RỦI RO LÃI SUẤT

-Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh khi có sự biến động của chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay của ngân hàng với lãi suất phải trả cho việc đi vay, dẫn đến làm giảm thu nhập của ngân hàng.

-Rủi ro này là hậu quả của những thay đổi lãi suất Trong nền kinh tế, lãi suất là yếu tố rất nhạy cảm đối với biến động của nền kinh tế; hơn nữa, nó

là công cụ trong việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.

Vì vậy, rủi ro lãi suất là rủi ro xuất hiện thường xuyên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

Như vậy, rủi ro lãi suất là những tác động do biến động lãi suất đối với

hoạt động của ngân hàng Rủi ro lãi suất bắt nguồn từ mối quan hệ qua lại của tài sản Có, tài sản Nợ.

Bảng 2: Tổng kết tài sản ngân hàng quốc gia

Khoản nợ có lãi suất cố định:

50tr USD

-Tiền gửi viết séc -Tiền gửi tiết kiệm -Các CD dài hạn -Vốn sở hữu

- Các nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất:

+ Sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn vốn và tài sản

Ngày đăng: 07/05/2017, 22:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tổng kết tài sản của tất cả các ngân hàng thương mại - Tiểu luận về Ngân hàng
Bảng 1 Tổng kết tài sản của tất cả các ngân hàng thương mại (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w