PHẦN 1: NGÂN SÁCH Y TẾ - TÀI CHÍNH Y TẾMục tiêu: Sau buổi học, sinh viên có thể: • Trình bày được các khái niệm: ngân sách y tế, tài chính y tế TCYT, nguồn TCYT, quản lý TCYT • Trình bày
Trang 1PHẦN 1: NGÂN SÁCH Y TẾ - TÀI CHÍNH Y TẾ
Mục tiêu: Sau buổi học, sinh viên có thể:
• Trình bày được các khái niệm: ngân sách y tế, tài chính y tế (TCYT), nguồn TCYT, quản lý TCYT
• Trình bày được cơ chế hoạt động của hệ thống TCYT, mục tiêu, nguyên lý quản lý TCYT
• Trình bày được các phương pháp và các bước quản lý TCYT
• Lập được kế hoạch tài chính cho hoạt động y tế
1 NGÂN SÁCH Y TẾ
- Ngân sách y tế là khoản chi cho y tế từ ngân sách nhà nước (NSNN) đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước về y tế
- Theo số liệu ước tính thực hiện chi NSNN năm 2012 của Bộ Tài chính, tỷ lệ chi NSNN cho y tế so với tổng chi thường xuyên NSNN đạt 8,28% Tỷ lệ này hầu như không thay đổi so với mức 8,21% năm 2011 Tuy nhiên, đây là mức tăng khá cao so với mức 4,92% năm 2008
- Hàng năm, căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch tài chính do Chính phủ (hoặc Bộ Tài chính được uỷ quyền) thông báo Bộ Y tế và các Bộ, cơ quan Trung ương chịu trách nhiệm phân phối và quản lý Ngân sách đối với các đơn vị trực thuộc
Các khoản chi trong ngân sách y tế bao gồm:
+ Chi thường xuyên: là những khoản chi xảy ra nhiều lần, lặp đi lặp lại trong một năm hoặc nhiều năm Ví dụ: chi lương, thưởng, phụ cấp cho cán bộ; chi duy tu bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị; mua phụ tùng, vật tư thay thế, thuốc men…
+ Chi đầu tư phát triển: là những mục chi thông thường phải trả một lần, ngay từ khi bắt đầu một dự án hay một can thiệp y tế Đó thường là các khoản chi phí lớn, và có giá trị sử dụng trên một năm Ví dụ: chi phí đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định: xe cộ, máy móc, trang thiết bị khác
+ Chi Chương trình mục tiêu y tế quốc gia Ví dụ: chi cho chương trình phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống lao, HIV/AIDS
2 TÀI CHÍNH Y TẾ
2.1 Khái niệm
Tài chính y tế là một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia dành cho lĩnh vực y
tế, bao gồm
- Nguồn kinh phí để chi trả cho các hoạt động y tế
- Kinh phí đã có phân bổ cho các cơ sở y tế khác nhau của hệ thống y tế
- Tiền công, tiền lương lao động trả cho các cá nhân tham gia vào hệ thống chăm sóc sức khỏe
Trang 2Khái niệm tài chính y tế ở nơi này hay nơi khác chưa được thống nhất, cả ba nội dung tập hợp lại thành tài chính y tế hay mỗi một nội dung nói trên đều có thể được hiểu là tài chính y tế
2.2 Các nguồn tài chính y tế
Các nguồn lực tài chính sử dụng cho hoạt động cung cấp dịch vụ y tế gọi là nguồn tài chính y tế Có bốn nguồn chính: chi trả trực tiếp, bảo hiểm y tế (BHYT) tư nhân, BHYT
xã hội và thuế
- Chi trả trực tiếp: Chi trả trực tiếp bao gồm các chi trả mà người sử dụng phải lấy tiền túi của mình để mua dịch vụ y tế Người sử dụng có thể phải chi trả toàn bộ chi phí phải trả hay đồng chi trả với BHYT Các chi trả này xảy ra ngay khi sử dụng dịch vụ
Ví dụ: một bệnh nhân nội trú khi ra viện, nếu không có BHYT sẽ phải trả toàn bộ phí khám, chữa bệnh, nếu có BHYT sẽ chi trả một tỷ lệ nào đó, hoặc chi trả thêm những phần thuốc không có trong danh mục của BHYT
- Bảo hiểm y tế tư nhân: Người sử dụng dịch vụ y tế mua BHYT tư nhân theo mệnh giá nhất định Mệnh giá - được quyết định tuỳ theo nguy cơ mắc bệnh của người mua bảo hiểm Với mệnh giá này họ sẽ được cung cấp gói dịch vụ như đã thoả thuận với công ty BHYT tư nhân Công ty bảo hiểm tư nhân là loại công ty hoạt động có lợi nhuận Ví dụ: một người 70 tuổi nghiện thuốc lá sẽ phải mua BHYT của công ty BHYT tư nhân với mệnh giá cao hơn người 25 tuổi không có bệnh và không có nguy cơ gì Tuy nhiên, công ty bảo hiểm tư nhân cũng có thể ban hành mệnh giá bảo hiểm chung, áp dụng cho mọi người ở một cộng đồng nào đó khi xác định được tỷ lệ mắc bệnh của cộng đồng
đó Ví dụ: ACE Life, Vietlife, công ty tư vấn bảo hiểm AoN Việt Nam
- Bảo hiểm xã hội (bảo hiểm y tế xã hội): Mọi người đều đóng BHYT xã hội dựa trên thu nhập, không kể người đó có sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ hay không
- Thuế: Có thể dưới hai hình thức :
+ Trực thu: theo thu nhập cá nhân, thông thường mức đóng thuế trực tiếp này theo luỹ tiến, tức là thu nhập càng cao thì tỷ lệ thuế phải đóng càng nhiều
+ Gián thu: theo mức tiêu thụ Thuế gián thu là loại thuế được cộng vào giá, là một
bộ phận cấu thành của giá cả hàng hoá Thuế gián thu là hình thức thuế gián tiếp qua một đơn vị trung gian (thường là các doanh nghiệp) để đánh vào người tiêu dùng Thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một Chẳng hạn, chính phủ đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng
3 HỆ THỐNG TÀI CHÍNH Y TẾ VIỆT NAM
3.1 Cơ chế hoạt động của hệ thống tài chính y tế
Hệ thống tài chính y tế gồm có 4 phần cơ bản: người cung cấp dịch vụ, người sử dụng dịch vụ, người thanh toán trung gian và Chính phủ giữ vai trò hạt nhân của hệ thống
Cơ chế hoạt động của hệ thống tài chính y tế do nhà nước đề ra và đồng thời triển khai thực hiện:
- Chính phủ: Giữ vai trò ban hành luật pháp, giám sát và điều chỉnh tài chính thông qua chính sách thuế, nội dung chi của ngân sách quốc gia và các quy định về thanh toán
Trang 3tiền tệ trong hệ thống tài chính y tế Chính phủ cũng có thể điều chỉnh cơ chế hoạt động của hệ thống tài chính y tế trong những trường hợp cần thiết
- Người cung cấp dịch vụ giữ vai trò đảm bảo các dịch vụ y tế cho nhân dân và nhận tiền
từ người sử dụng dịch vụ hay người thanh toán trung gian
- Người sử dụng dịch vụ y tế giữ vai trò nhận (hưởng) các dịch vụ và thanh toán trực tiếp hoặc gián tiếp cho người cung cấp dịch vụ y tế Người sử dụng dịch vụ y tế có thể thanh toán một phần hoặc toàn bộ giá thành của các dịch vụ, phần còn lại có thể do chính phủ, người thanh toán trung gian hoặc một quỹ nào đó khác thanh toán tùy theo quy định
- Người thanh toán trung gian: nhận tiền từ người sử dụng dịch vụ y tế hay từ chính phủ
để thanh toán cho người cung cấp dịch vụ y tế
Sơ đồ 1: Hệ thống và cơ chế hoạt động của hệ thống tài chính y tế
3.2 Mục tiêu của hệ thống tài chính y tế
Hệ thống tài chính y tế là một bộ phận quan trọng của hệ thống y tế, có 4 mục tiêu chính:
- Huy động các nguồn tài chính y tế một cách thích hợp;
- Quản lý và phân bổ nguồn tài chính;
- Khuyến khích việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và phát triển kỹ thuật y tế;
Trang 4- Bảo vệ người dân trước các rủi ro do các chi phí y tế quá lớn gây ra để họ không bị nghèo hoá
Đọc thêm: Để đạt được các mục tiêu trên, hệ thống tài chính y tế phải thực hiện 3 chức năng cơ bản sau đây:
- Huy động các nguồn tài chính thông qua hệ thống thu thuế của nhà nước, hệ thống thu phí bảo hiểm, và các cơ chế khác, như thu thuế hoặc phí đánh vào việc sử dụng thuốc
lá, rượu, phương tiện giao thông, v.v , để có nguồn tài chính đủ lớn và được huy động một cách công bằng cho chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
- Tích lũy/tập trung thành quỹ/quản lý quỹ tài chính (quản lý tốt, tránh thất thoát, đảm bảo đủ tài chính cho các ưu tiên sức khỏe của xã hội và chia sẻ rủi ro giữa các thành viên trong cộng đồng)
- Chi trả/ mua dịch vụ hoặc phân bổ cho đơn vị cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu sức khỏe của người dân với chi phí thấp nhất, giúp người dân, đặc biệt là người nghèo tránh các rủi ro về tài chính
Trong các chức năng nêu ở trên, chức năng tập trung quỹ là chức năng quan trọng nhất để đảm bảo mục tiêu chia sẻ rủi ro và bảo vệ tài chính hộ gia đình Để thực hiện được chức năng này, người lao động, doanh nghiệp, hộ gia đình phải có những khoản đóng góp trước (trả trước), khi chưa bị đau ốm, chưa sử dụng dịch vụ Các đóng góp từ hộ gia đình, doanh nghiệp, ví dụ thông qua hệ thống thu thuế (sau đó một phần thuế thu được sẽ được phân bổ cho y tế), hoặc thu phí BHYT xã hội (chỉ chi cho mục tiêu y tế), đều là các khoản trả trước (pre-payment) Việc trả trước sẽ tạo điều kiện để một đơn vị tài chính trung gian đứng ra thu phí, tích lũy (accumulation) và tập trung quỹ (pooling) Khi đơn vị quản lý quỹ đứng ra thanh toán cho đơn vị cung ứng dịch vụ, cũng có nghĩa là chi phí tài chính của một người được trả bởi quỹ chung do nhiều người đóng góp Điều đó cũng có nghĩa rủi ro được chia sẻ (risk sharing) Mức độ chi trả trước, khả năng tập trung quỹ là hai yếu tố cơ bản đảm bảo sự chia sẻ rủi ro và bảo vệ người dân trước các rủi ro tài chính
Ngược lại, khi bị đau ốm, bệnh nhân tự trả toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, cũng
có nghĩa là không hề có tập trung quỹ, cũng không có chia sẻ rủi ro Khi đơn vị giữ quỹ thanh toán (mua) dịch vụ một cách chiến lược, đại diện cho nhóm dân số khá lớn, cũng có nghĩa đơn vị giữ quỹ có một quyền lực nhất định để thương lượng với bên cung cấp dịch
vụ, về số lượng, chất lượng, và giá cả dịch vụ Điều này sẽ không làm được nếu từng hộ gia đình đứng ra tự thanh toán cho mình
4 QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Y TẾ
4.1 Khái niệm
- Quản lý tài chính y tế là việc quản lý toàn bộ các nguồn vốn (vốn do Chính phủ cấp, vốn viện trợ, vốn vay và các nguồn vốn khác), tài sản, vật tư của đơn vị để phục vụ công tác phòng bệnh, khám chữa bệnh, chăm sóc y tế ban đầu và truyền thông, huấn luyện
4.2 Nguyên lý quản lý tài chính
Có bốn nguyên lý cơ bản cần áp dụng để có được một khả năng tài chính bền vững gồm: tăng thu, giảm chi, giảm các nguy cơ rủi ro, và quản lý tốt các khoản tiền mặt
Trang 5Đọc thêm: Cụ thể, để quản lý tài chính có hiệu quả, người quản lý tài chính ở bất
kỳ cơ sở y tế nào cũng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Tạo nguồn kinh phí cho các hoạt động từ nhiều nguồn khác nhau Ngoài Ngân sách nhà nước cấp là nguồn kinh phí chính phục vụ cho các hoạt động của cơ sở y tế công, còn
có các nguồn khác có thể tạo ra được như từ viện phí, huy động tham gia bảo hiểm y tế, các khoản viện trợ, tài trợ, đóng góp, v.v
- Phân bổ hợp lý cho các khoản chi tiêu, tập trung nguồn kinh phí cho các nội dung hoạt động chính và hoạt động ưu tiên Trong một cơ sở y tế công, có rất nhiều lĩnh vực hoạt động cần chi như chi cho sự nghiệp y tế, chi cho hành chính, quản lý, chi cho đào tạo, chi cho nghiên cứu khoa học Cần ưu tiên chi cho các hoạt động trực tiếp phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, giảm các khoản chi hành chính, quản lý Nguồn lực, đặc biệt là nguồn tài chính của cơ sở y tế công luôn hạn chế, cần phân bổ hợp lý chi tiêu để đảm bảo các hoạt động chăm sóc sức khỏe đều có khoản kinh phí nhất định thích hợp duy trì hoạt động đó một cách hiệu quả
- Trong từng hoạt động y tế phải chú ý tới các mặt hiệu quả Hiệu quả cần được hiểu là hiệu quả về mặt y học (sức khỏe), hiệu quả về kinh tế (tiết kiệm được chi phí) và hiệu quả về mặt xã hội (đem lại nhiều lợi ích cho xã hội)
- Phải mềm dẻo trong sử dụng các nguồn tài chính Thông thường khi sử dụng các khoản kinh phí cho các hoạt động phải theo kế hoạch đã lập trước đó và theo chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức tài chính của nhà nước và theo pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế không nên cứng nhắc máy móc, trong nhiều trường hợp cần thiết phải thay đổi
và cân đối lại kinh phí cho từng hoạt động để đảm bảo hiệu quả Quan trọng nhất là với nguồn tài chính có hạn, làm thế nào để đảm bảo được mọi hoạt động y tế, đảm bảo sức khoẻ của nhân dân không ngừng được cải thiện
4.3 Phương pháp quản lý tài chính y tế
- Trong công tác quản lý tài chính hiện nay có ba phương pháp, mỗi cơ sở đơn vị có thể căn cứ vào điều kiện cụ thể để lựa chọn một phương pháp cho phù hợp
4.3.1 Phương pháp quản lý theo chế độ thu đủ chi đủ
- Thu đủ nghĩa là tất cả các khoản thu được từ bất kỳ nguồn nào đều phải nộp vào ngân sách Nhà nước Muốn giữ lại phải được phép của cơ quan nhà nước cấp trên và cơ quan tài chính
- Chi đủ là đơn vị cần bao nhiêu theo chế độ định mức và khả năng tài chính cho phép sẽ được Nhà nước cấp để chi
- Phương pháp này thường được thực hiện ở các đơn vị sự nghiệp, đơn vị không có nguồn thu hoặc nguồn thu không đáng kể
4.3.2 Phương pháp quản lý theo chế độ gán thu bù chi
- Gán thu bù chi là phương pháp dùng các khoản thu để chi, còn lại thiếu bao nhiêu sẽ được nhà nước cấp
- Phương pháp này được áp dụng ở những nơi có khoản thu vừa phải, nơi vừa làm nhiệm
vụ phục vụ đào tạo hoặc vừa nghiên cứu khoa học
- Nếu áp dụng phương pháp này phải tính và được duyệt kế hoạch thu và kế hoạch chi
- Phương pháp này hạn chế được một phần hành chính bao cấp
Trang 64.3.3 Phương pháp hạch toán kinh tế
- Hình thức hạch toán quản lý kinh tế : Nhà nước có thể cấp một số vốn cố định và vốn lưu động ban đầu Hoặc đơn vị sau khi được phép thành lập, đơn vị tự lo liệu hoặc vay mượn để chủ động tổ chức sản xuất, kinh doanh, nếu có lãi sẽ nộp ngân sách theo một
tỷ lệ quy định Nếu lỗ sẽ tự chịu, chỉ trừ trường hợp đặc biệt thực hiện kế hoạch sẽ được nhà nước cấp bù
- Phương pháp này được thực hiện ở các cơ sở sản xuất kinh doanh và một số đơn vị sự nghiệp có nguồn thu lớn và thường xuyên
- Phương pháp này sẽ tránh được tình trạng bao cấp và khuyến khích được cơ sở/đơn vị hoạt động và tích luỹ được cho nhà nước
Vai trò của Nhà nước
Chế độ thu đủ chi đủ
Chế độ gán thu bù chi
Hạch toán kinh tế
Sự tham gia của thành viên
Năng lực quản lý tài chính của cơ sở y tế
4.4 Các bước quản lý tài chính trong một cơ sở y tế
Quản lý tài chính trong một cơ sở y tế tốt sẽ góp phần đạt được mục tiêu chung của công tác quản lý kinh tế và tài chính y tế Quản lý tài chính y tế là sử dụng các nguồn lực đầu tư cho hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân một cách công bằng và hiệu quả Công tác quản lý tài chính ở một cơ sở y tế công có các bước sau:
Trang 7Dự toán thu chi
Thực hiện
dự toán
Quyết toán
và đánh giá Thanh tra và kiểm tra
Sơ đồ 2: Chu trình quản lý tài chính
Quản lý tài chính gồm:
- Dự toán thu chi/Lập kế hoạch ngân sách
- Thực hiện dự toán
- Quyết toán và đánh giá
- Thanh tra và kiểm tra
4.4.1 Dự toán thu chi:
- Tính toán, ước lượng những khoản thu chi cần thiết trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
4.4.2 Thực hiện dự toán
- Sau khi đã được Nhà nước và cơ quan tài chính xem xét thông báo và phân bổ ngân sách cho từng đơn vị, đơn vị sẽ thực hiện thu nhận ngân sách từ các nguồn theo kế hoạch và quyền hạn
- Tổ chức thực hiện các khoản chi theo:
+ Chế độ, tiêu chuẩn, định mức Nhà nước đã quy định
+ Kế hoạch hoạt động và dự toán thu chi
- Ngoài hình thức chi bằng tiền mặt, các đơn vị có thể chi qua kho bạc Nhà nước Nguyên tắc chi qua kho bạc Nhà nước là phương thức thanh toán gồm 3 bên:
+ Đơn vị sử dụng ngân sách
+ Kho bạc nhà nước
+ Đơn vị thụ hưởng
- Trong chi tiêu để thực hiện dự án cần lưu ý:
+ Chi theo dự toán: Nếu không có dự toán mà cần chi thì phải có quyết định đặc biệt của thủ trưởng
+ Có thứ tự ưu tiên việc gì trước việc gì sau
Ví dụ: Thực hiện dự toán ở một trung tâm phòng bệnh phải chú ý đầu tư ưu tiên cho các khoản:
+ Thuốc men, hóa chất, xét nghiệm
+ Trang thiết bị và phương tiện đi lại
Trang 8+ Lương và phụ cấp, đặc biệt là phụ cấp đi công tác phòng chống dịch, chống sốt rét + Cơ số dự trữ chống dịch
+ Chăm lo đến nơi làm việc của trung tâm có hệ thống nước, khu vệ sinh, nước thải, màu sắc môi trường thoáng đãng để làm mẫu
4.4.3 Quyết toán và đánh giá
• Quyết toán
- Trình bày tình hình thu, chi của từng hoạt động theo biểu mẫu và tổng hợp thành báo cáo tài chính
- Quy trình quyết toán
+ Khóa sổ thu chi: xác định số dư dự toán chưa chi, số dư tài khoản tiền gửi, tiền mặt tồn quỹ, các khoản phải thu phải trả…
+ Chỉnh lý số liệu cuối năm: hạch toán tiếp các khoản chi trước ngày 31/12, đối chiếu sai sót quá trình hạch toán…
+ Lập báo cáo quyết toán: Báo cáo tổng hợp tình hình tài sản, tiếp nhận và sử dụng ngân sách, được tổng hợp từ các số liệu của sổ kế toán
- Báo cáo quý sau 15 ngày và báo cáo năm sau 45 ngày theo quy định của Nhà nước
• Đánh giá
- Sau sáu tháng hoặc một năm cần căn cứ vào những công việc đã tổ chức thực hiện đối chiếu với kế hoạch đầu năm, sau đó đánh giá lại những việc gì đạt hiệu quả, những việc
gì không đạt gây lãng phí để tuyên dương những đơn vị, những bộ phận làm việc tốt, nhắc nhở những việc làm chưa tốt để rút kinh nghiệm
- Khi quyết toán phải lập bảng báo cáo kết quả việc quản lý sử dụng vốn bằng số liệu cụ thể, trên cơ sở số liệu đó đánh giá hiệu quả của đơn vị, đánh giá ưu khuyết điểm của từng bộ phận
- Muốn đánh giá phải:
+ Tổ chức bộ máy kế toán theo quy định
+ Mở sổ sách theo dõi đầy đủ và đúng quy định
+ Ghi chép cập nhật, phản ánh kịp thời và chính xác
+ Đối chiếu kiểm tra thường xuyên
4.4.4 Thanh tra và kiểm tra
- Công tác thanh tra, kiểm tra và tự kiểm tra phải được thường xuyên chú ý để phát hiện những sai sót, uốn nắn và đưa công tác đi vào nề nếp
- Mỗi tháng đơn vị tự kiểm tra một lần, ba tháng cấp trên xuống kiểm tra một lần, có thể kiểm tra đột xuất hoặc thông báo trước
ĐỌC THÊM
Ứng dụng của môn Kinh tế y tế
Y tế công cộng hay phát triển cộng đồng đòi hỏi phải nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế Nhưng cộng đồng nghèo không với tới những dịch vụ y tế có chi phí cao,
họ chỉ có thể chi trả những cái mà họ có khả năng trả được Vậy thì cần tìm ra những dịch vụ/kỹ thuật/liệu pháp nào đem lại một kết quả chăm sóc sức khỏe tương đương mà giá thành thì rẻ đến mức người nghèo có thể tiếp cận được dịch vụ y tế
Sự thay thế đó phải dựa vào y sinh học (liệu pháp điều trị), quản trị học (tổ chức hệ thống), tài chính…
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bài giảng Quản lý tài chính vật tư y tế – Đại học Y Hà Nội
2 Kinh tế y tế 2012 – Bộ Y tế - Nhà xuất bản Y học
3 Báo cáo chung Tổng quan ngành y tế năm 2008 (JAHR - Joint Annual Health Review) – Bộ Y tế
4 Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2013 - Bộ Y tế
PHẦN 2: LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH Y TẾ
1 LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH LÀ GÌ?
- Lập kế hoạch tài chính y tế (hay dự toán, dự trù ngân sách/kinh phí) là tính toán, ước lượng những khoản thu chi cần thiết của một chương trình/dự án y tế, hoặc của một cơ
sở y tế trong một khoảng thời gian nhất định
2 TẠI SAO CẦN LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH?
- Mọi thành viên: biết phải làm gì, chi tiêu bao nhiêu
- Người quản lý: Kế hoạch tài chính là một công cụ quản lý Dựa vào đó, người quản lý
có thể:
+ Xác định được nguồn lực và các chi phí để thực hiện các hoạt động Kế hoạch tài chính là một công cụ để thu hút được các nguồn tài trợ từ nước ngoài
+ Theo dõi chi tiêu: trong các cơ quan nhà nước, mọi chi tiêu chỉ được phép giới hạn trong ngân sách đã được duyệt
+ Điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết Dựa vào kế hoạch ngân sách, người quản lý có thể nhận biết được những mục chi tiêu vượt quá kế hoạch hoặc chi chưa hết, đưa ra những hành động điều chỉnh kế hoạch cho thích hợp
3 AI CÓ TRÁCH NHIỆM LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH?
Kế hoạch tài chính y tế phải do tất cả thành viên cùng tham gia xây dựng Người quản lý tài chính có trách nhiệm tổ chức và huy động sự tham gia của các thành viên vào việc lập kế họach Các thành viên phải cùng ngồi để xây dựng kế hoạch chung Tuyệt đối tránh trường hợp người quản lý tự mình xây dựng kế hoạch rồi đưa ra cho thành viên thông qua trong cuộc họp Làm như vậy chắc chắn sẽ dẫn tới thất bại Dù cho bề ngòai mọi người
có vẻ nhất trí với kế hoạch nhưng họ không cảm thấy mình có trách nhiệm gì và chỉ sau vài tuần là họ quên hết
4 NGUYÊN TẮC LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH
Lập kế hoạch tài chính đòi hỏi kịp thời, sát thực tế và toàn diện cần chú ý:
- Về tính kịp thời: đảm bảo yêu cầu về thời gian, nghĩa là dự toán phải hoàn thành trước khi triển khai các hoạt động y tế
- Về tính toàn diện: đòi hỏi tất cả các cá nhân, các khoa, phòng, các bộ phận nhỏ trong đơn vị xây dựng lên để đơn vị tổng hợp thành nhu cầu của đơn vị
- Về tính chính xác: cần có những dự toán xuất phát từ những yêu cầu cụ thể về kinh phí của từng việc làm cụ thể
Trang 105 CÁC PHƯƠNG PHÁP LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH Y TẾ
Có 2 cách lập kế hoạch tài chính
o Lập kế hoạch tài chính từ đầu
- Là lập 1 bản ngân sách hoàn toàn mới, không phụ thuộc vào ngân sách năm trước
- Dựa trên kế hoạch về các hoạt động trong năm và ước tính nguồn lực cần thiết
- Ưu điểm: phát huy được tính chủ động của người lập ngân sách trong việc lập và phân
bổ ngân sách
- Khuyết điểm: nếu người lập ngân sách không có kinh nghiệm, bản ngân sách lập từ đầu có thể sẽ không chính xác /không sát với thực tế
o Lập kế hoạch tài chính theo phương pháp gia tăng
- Dựa vào bản kế hoạch và ngân sách của những năm trước, ước tính những thay đổi trong công việc/hoạt động năm tới và điều chỉnh dựa trên những thay đổi đó
- Ví dụ: theo kế hoạch dự kiến sẽ tăng số bệnh nhân đến khám cho năm tới, cần điều chỉnh để tăng tỷ lệ chi mua thuốc phù hợp Ngoài ra, nếu số bệnh nhân dự kiến tăng đòi hỏi phải tăng thêm cán bộ hay tăng thêm giờ làm dẫn đến tăng thêm chi lương và phụ cấp…
- Ưu điểm: thuận tiện, tốn ít thời gian và công sức hơn, được nhiều người sử dụng
- Khuyết điểm: dễ làm mất tính chủ động trong việc phân bổ nguồn lực khi lập ngân sách Nếu ngân sách những năm trước phân bổ không hiệu quả, dễ xảy ra tình trạng
“theo vết bánh xe đổ” dẫn đến việc thực hiện công việc kém hiệu quả ở những năm tiếp theo
6 QUI TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH
Sau đây là 3 giai đoạn lập kế hoạch tài chính
6.1 Trường hợp lập kế hoạch tài chính cho dự án y tế, xin tài trợ từ cơ quan nước ngoài
6.1.1 Trước khi lập kế hoạch tài chính
- Xem xét/Tham khảo tài liệu: kế hoạch tài chính, báo cáo tài chính những năm trước,
dự án trước đây, các văn bản hướng dẫn về tài chính, thông báo về kinh phí của cơ quan tài trợ Dựa trên các văn bản của cơ quan tài trợ, cần làm rõ các định mức chi tiêu, tính linh hoạt của các hạng mục chi
- Lập kế hoạch dự án
Kế hoạch của dự án nên có các thành phần sau đây:
- Người dân đang có những vấn đề gì về sức khỏe cần được giải quyết? (Tình hình)
- Kế hoạch này muốn đạt tới những kết quả thay đổi nào? (Mục tiêu kế hoạch)
- Để có những thay đổi đó thì dự án phải làm những công việc/hoạt động gì? (Biện pháp thực hiện)
- Để biết là có đạt tới những thay đổi đó hay không thì cần có những thước đo nào? (Chỉ số đo lường)
- Cuối cùng là lên lịch làm việc trong đó ghi rõ ai sẽ làm việc gì với ai, ở đâu và chừng nào thì xong (Lịch làm việc)
Các thành phần của kế họach
• Tình hình hiện tại
• Mục tiêu kế hoạch
• Biện pháp thực hiện
• Chỉ số đo lường
• Lịch làm việc