Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học là hệ thống những quan điểm, quan niệm chung nhất của con người về thế giới xung quanh, về các quá trình vật chất và tỉnh thần
Trang 1TS VƯƠNG TẤT ĐẠT - NGUYỄN THỊ VÂN HÀ
50 CAU HOI CHON LOC VA TRA LOI
MÔN
TRIẾT HỌC
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HÀ NỘI ~ 2000
Trang 2sĩ Vương Tất Đạt và Nguyễn Thị Vân Hà biên soạn
Các câu hỏi và trả lời được sắp xếp theo trình tự của chương trình môn học Khi biên soạn, các tác giả chú ý đảm bảo tính hệ thống, bám sát nội dung của giáo trình triết học Mác - Lênin do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác — Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã ấn hành năm 1999,
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc
Tháng 3 năm 2000 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 3Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
triết học là hệ thống những quan điểm, quan niệm chung
nhất của con người về thế giới xung quanh, về các quá
trình vật chất và tỉnh thần cùng mối liên hệ giữa chúng,
về nhận thức và cải biến thế giới
Triết học với tính cách là một trong những hình
thái ý thức xã hội và, xét cho cùng, đều bị các quan hệ
kinh tế của xã hội quy định Sự ra đời của triết học gắn liền với quá trình phân công lao động xã hội - tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay trong xã hội chiếm
hữu nô lệ với những nền văn minh của Hy Lạp, La Mã,
Ấn Độ, Trung Quốc, Ai Cập - Babilon cổ đại Với tính
cách là một khoa học, triết học ra đời từ hai nguồn gốc
chủ yếu:
Nguồn gốc nhận thức: Cho đến thời cổ đại, các trị ` thức của con người về thế giối xung quanh đã tích lũy được một khối lượng rất lớn, nhu cầu được khám phá bản chất thế giới, hiểu biết thế giới cũng như vị trí của con
người trong thế giới là những vấn để luôn luôn được
đặt ra Để trả lời những câu hỏi ấy, triết học đã ra đời
Trang 4Nguồn gốc xã hội: Do sản xuất xã hội đã phát triển,
tạo ra sản phẩm thặng dư, kèm theo cuộc cách mạng
trong phân công lao động, nhờ đó đã hình thành một lớp
người chuyên lao động trí óc, trong đó có các nhà triết học Chính họ đã khái quát những trì thức mà loài người
đã tích lũy được thành một hệ thống những quan điểm,
quan niệm có tính chất chỉnh thể về thế giới và mối quan
hệ của con người trong đó - tức là những tri thức triết
học
Ban đầu triết học như là một khoa học tổng hợp các
tri thức của con người về hiện thực xung qưanh và bản thân mình Sau đó, do sự phát triển của thực tiễn xã hội
và của quá trình tích lũy tri thức, đã diễn ra quá trình
tách các khoa học ra khỏi triết học thành các khoa học
độc lập Tuy vậy, dù ở:xã hội nào, triết học cũng bao gồm hai yếu tố: yếu tố nhận thức - sự hiểu biết về thế giới trong đó có con người; yếu tố nhận định - đánh giá về mặt đạo lý để có thái độ và hành động phù hợp
Là một hình thái ý thức xã hội, song triết học lại có
những độc điểm khác với các hình thái khác và cả các
khoa học khác, đó là tính hệ thống và tính thế giới quan
Tính hệ thống: Triết học bao giờ cũng là một hệ l thống tương đối hoàn chỉnh về các vấn đề chung nhất của
thế giới Nó được hình thành do sự khái quát hóa của các
nhà tư tưởng xem xét thế giới trong một chỉnh thể để nhận thức bản chất, quá trình phát triển cùng những
Trang 5quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; những con
đường, phương tiện nhận thức và biến đổi thế gidi,
Tính thế giới quan: Muốn tôn tại và phát triển, bất
kỳ một giai cấp hay lực lượng xã hội nào cũng đều phải lấy một hệ thống triết học nhất định làm cơ sở thế giới quan, làm ngọn cở lý luận hạt nhân tư tưởng phù hợp với lợi ích giai cấp của mình
Ăngghen, vấn để cơ bản lớn của triết học là vấn đề về
mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tổn tại và tư duy Việc giải quyết vấn đề cơ bản trên đây sẽ quy định hướng giải quyết các vấn đề khác trong triết học
N
Vấn đề cơ bản của triết học gồm hai mặt:
Một là: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái
nào có sau; cái nào quyết định cái nào ?
Hai là: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không ?
Trang 6Trong khi giải quyết mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học, có hai cách trả lời khác nhau dẫn đến hai trường phái cơ bản đối lập nhau:
Những quan điểm khẳng định: vật chất có trước, ý
thức có sau, vật chất sinh ra và quyết định ý thức - hợp
thành chủ nghĩa duy vật Trong lịch sử tư tưởng triết học chủ nghĩa dụy vật đã phát triển qua ba giai đoạn với
ba hình thức cơ bản là:
- Chủ nghĩa dụy vật thô sơ, mộc mạc thời cổ đại
(đại biểu là Lão Tử, Đêmôcrít, Hêraclít, Epiquya )
Chủ nghĩa duy vật siêu hình thời Phục hưng và thế
ky XVII — XVIII (dai biéu Ja Bêcơn, Hốpxơ, Điđrô Hônbách )
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng (đại biểu là Mác, Ăngghen, Lênin )
Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm lại cho rằng: Ý thức
có trước, ý thức sinh ra và quyết định vật chất Chủ
nghĩa duy tầm được thể hiện qua hai hình thức chính:
_— Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu:
Platôn, Hêghen Họ cho rang, một thực thể tỉnh thần
thuần túy như Thượng đế, ý niệm và tự nó tồn tại đến lúc nào đó mới sinh ra toàn bộ thế giới xung quanh mà ta
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì cho rằng, có một
"cđi tôi" toàn năng, ý thức của chủ thể có trước và sinh ra
thế giới Chủ nghĩa duy tâm chủ quan với các đại biểu
10
Trang 7BécơÌ, Hium dù là duy tâm chủ, quan, suy đến cùng
cũng đi tìm một Thượng đế mà thôi
Ngoài hai trường phái cơ bản trên còn có quan điểm
nhị nguyên luận (đại biểu là Đểcác, Cantơ, ) Họ cho
rằng, cả vật chất và ý thức đều là những nguyên bản đầu
tiên của thế giới, chúng tổn tại không phụ thuộc vào nhau, nhưng rốt cuộc các nhà nhị nguyên cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm
Đối với mặt thứ hai, khi giải quyết, phần lớn các
nhà triết học duy vật cho rằng: con người có khả năng nhận thức được thế giới và, do mặt thứ nhất quy định,
nên sự nhận thức đó là sự phần ánh thế giới vào óc con
người Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con
người có khả năng nhận thức thế giới, nhưng đó lại là sự
tự nhận thức của.tinh thần, tư duy
- Phấn lớn các nhà triết học duy tâm và một số nhà triết học duy vật có khuynh hướng không thừa nhận vai
trò của nhận thức khoa học trong đời sống xã hội
"Tuy nhiên, vấn để cơ bản của triết học không chỉ
được thể hiện trong các quan niệm có tính chất bản thể
luận mà còn biểu hiện trong các quan niệm chính trị — xã
hội, đạo đức và tôn giáo, nhất là ở triết học phương Đông
Lich su triét hoc da chứng mình những cuộc đấu
tranh xuyên suốt quá trình phát triển tri thức triết học
xung quanh hai mặt của vấn để cơ bản nêu trên Không
chỉ vậy, còn có cuộc đấu tranh về phương pháp nhận thức
11
Trang 8khi giải quyết vấn để bản chất của thế giới: Thế giới có
vận động và phát triển hay không ? Nếu vận động và phát triển thì do những nguyên nhân nào và theo khuynh hướng nào ?
Phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức
sự vật và hiện tượng trong mối liên hệ, tác động qua lại,
chuyển hóa lẫn nhau, vận động và phát triển theo những
quy luật nhất định Ngược lại, phương pháp siêu hình
xem xét sự vật, hiện tượng trong sự tách rời, không vận động, không phát triển
Từ khi ra đời đến nay, phương pháp biện chứng đã tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: phép biện
chứng tự phát ngây thơ, phép biện chứng duy tâm khách
quan và phép biện chứng duy vật, và chỉ đến hình thức
này phương pháp biện chứng mới thực sự trở thành
phương pháp triết học khoa học Phương pháp nay giup cho con người có khả năng nhận thức một cách đúng đắn, khách quan về giới tự nhiên, xã hội và tư duy, giúp cho con người đạt được hiệu quả cao trong hoạt động thực
4
tiên
12
Trang 9CÂU HỎI 3
Trình bày những đặc điểm chủ yếu của triết học
Ấn Độ, Trung Hoa cổ, trung đại ?
Trả lời:
Ấn Độ và Trung Hoa là những chiếc nôi của nền văn mìinh nhân loại Nơi đây đã xuất hiện triết học từ rất
sớm Triết học của Ấn Độ và Trung Hoa cổ, trung đải có
những đặc điểm sau đây:
- Triết học Ấn Độ và Trung Hoa cổ, trung đại đi sâu
vào vấn đề về sự thống nhất giữa con người và vũ trụ, tuy sự biểu hiện có khác nhau
Nền sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu trong
xã hội, con người và tự nhiên hòa quyện với nhau Cơ sở
ban đầu đó dần dân được khái quát thành tư tưởng
"thiên nhân hợp nhất", con người là một tiểu vũ trụ
Người Trung Hoa cổ, trung đại quan niệm rằng,
trong con người chửa đựng tất cả tính chất, những điều huyền diệu của vũ trụ, vạn vật Họ coi trời đất với con
người cùng sinh, vạn vật với con người là một, vạn vật đầy đủ trong con người Người Ấn Độ lại gắn cá nhân vào
vũ trụ Họ coi linh hồn con người là linh hồn vũ trụ trú ngụ trong thể xác con người Như vậy, triết học Ấn Độ,
Trung Hoa cổ, trung đại lấy con người làm đối tượng
nghiên cứu chủ yếu Vấn để nghiên cứu về thế giới cũng chỉ nhằm làm rõ bản thân con người
13
Trang 10- Những quan điểm, tư tưởng triết học Ấn Độ và Trung Hoa cổ, trung đại thường được trộn lẫn trong
những vấn đề về chính trị - xã hội, đạo đức, tôn giáo,
chứ ít khi được trình bày độc lập thuần túy triết học
Điều đó có nghĩa là An giấu dưới bóng của các khoa học
— Triết học Ấn Độ và Trung Hoa cổ, trung đại ít thấy những bước phát triển nhảy vọt Các học thuyết
triết học phát triển về sau chỉ đi sâu vào từng chỉ tiết,
từng bộ phận trong đó có sự cải biến cái cũ cho phù hợp
với điều kiện lịch sử mới, Các học thuyết triết học ra đời
sau đều là sự tiếp tục triết học trước đó, mặc dù có những thay đổi về nội dung
- Các học thuyết triết học thường có cả yếu tố duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm không thật quyết liệt, gay g0
— Triết học Ấn Độ và Trung Hoa cổ, trung đại
thường sử dụng châm ngôn, ngụ ngôn, ẩn ngữ có tính
hình tượng, ẩn dụ để diễn đạt tư tưởng Vì thế, sự diễn
đạt các tư tưởng không thật khúc chiết mạch lạc Song,
sự diễn đạt đó lại mang sức mạnh tiểm ẩn và gợi ý sâu
xa, thâm thúy, mở ra sự suy ngẫm sâu sắc và rộng mở
Trang 11Trẻ lời:
Hy Lạp là một trong những chiếc nôi của nền văn
minh nhân loại Ở đó triết học xuất hiện rất sớm và đạt
được những thành tựu rực rỡ Triết học Hy Lạp cổ đại có những đặc điểm sau:
- Triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan và
ý ; thức hệ của giai cấp chủ nô thống trị Nó là công cụ lý luận của chủ nô nhằm duy trì trật tự xã hội theo kiểu
chiếm hữu nô lệ, bảo vệ sự thống trị của giai cấp chủ nô Các học thuyết triết học thể hiện rõ tính giai cấp ở mỗi
trào lưu, quan niệm triết học, như "quan niệm của
Đêmôcrít" và "quan niém cua Platén"
— Triét hoc Hy Lap cé dai đã để cập đến lĩnh vực thế
giới quan của cơn người như tồn tại là gì ? Nguồn gốc và
bản chất của thế giới'ra sao ? Cuộc đời và số phận của
con người như thế nào ? Việc lý giải các vấn đề đó do cuộc sống và nhu cầu hiểu biết của con người đặt ra và được coi là nhiệm vụ cơ bản của triết học Nhưng do sự
đối lập giữa lao động trí óc và lao động chân tay quá lớn, nên nhìn chung các quan niệm triết học Hy Lạp cổ đại mang nặng tính tư biện
— Triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn để con:
người Triết học coi con người là tỉnh hoa cao quý nhất
của tạo hóa Con người là thước đo của tất thây mọi vật (Pitago) hay triết học là sự tự ý thức của con người về chính bản thân mình (Xôcrát) Bắt đầu từ đó những vấn
đề thiết thực của cuộc sống con người trở thành một
15
Trang 12trong những dé tài của triết học Tuy vậy, con người thời
kỳ này được xem xét dưới dạng cá thể và giá trị của con
người chủ yếu được đề cập đến theo khía cạnh đạo đức, giao tiếp, nhận thức
- Triết học Hy Lạp cổ đại có tính biện chứng sơ
khai Phép biện chứng được hiểu là nghệ thuật tranh luận Triết học được phân ra nhiều khuynh hướng, trong
đó có duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình Triết
học tìm cách giải thích thế giới như một c"ỉnh thể thống
nhất, trong đó các sự vật, hiện tượng vận động,và biến đổi không ngừng Đồng thời, triết học cũng quan tâm đến
mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình phat ,trién, cua: su vật, hiện tượng; nhưng do điều kiện lịch sử thời kỳ này, triết học chưa tìm được nguyên nhân
thực sự làm cho sự vật, hiện tượng vận động và phát
16
Trang 13ve
vs
day trong nhà trường Tây Âu Đặc điểm chủ yếu nhất của triết học này là phục tùng thần học, theo chủ nghĩa duy tâm, phương pháp suy luận hình thức, chủ nghĩa tín ngưỡng đối lập với tư tưởng khoa học, với tri thức thực
nghiệm và với tư tưởng triết học tự do
Vấn đề được các nhà kinh viện quan tâm là mối quan hệ giữa lý chí và niềm tin tôn giáo Xuất phát từ
quan điểm đó, họ giải quyết các vấn đề triết học liên
quan, trong đó quan trọng nhất là vấn đề về mối quan hệ
giữa "cát chung" và "cái riêng": cái nào có trước, cái nào
có sạu; cái nào tồn tại thực, cái nào không tồn tại thực Xung quanh vấn đề này diễn ra cuộc đấu tranh kéo
dài suốt nhiều thế kỷ giữa phái duy danh và phái duy
Phái duy thực khẳng định rằng, "cái chung", "cái phổ biến", "khái niệm chung" là tổn tại thực Đó là thực thể tỉnh thần có trước sự vật Cơ sơ lý luận của phái duy thực là triết học Platôn và sau đó còn có lý thuyết về
"hình dạng" của Arixtốt
Phái duy danh lại nhấn mạnh rằng, chỉ có sự vật,
hiện tượng đơn nhất, "cái riêng" là tổn tại thực, còn "cái
phổ biến", "cái chung" chỉ là những tên gọi đơn giản do -eon người sáng tạo ra
Cuộc tranh luận giữa phái duy thực và phái duy danh vừa có tầm quan trọng về mặt nhận thức, vừa ẩn giấu cuộc đấu tranh giữa khuynh hướng duy vật và
khuynh hướng duy tâm, vừa khẳng định sự tổn tại hay
Trang 14sự không tổn tại của Thượng đế Về mặt nhận thức, sự vật, hiện tượng tổn tại khách quan có thể nhận thức được bằng cảm giác có trước tư tưởng hay ngược lại, tư tưởng
có trước sự vật, hiện tượng; sự nhận thức của con người
bắt đầu từ cảm giác đến khái niệm, hay từ khái niệm đến
sự vật, hiện tượng Phái duy danh có xu hướng duy vật, còn phái duy thực là biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm
Ý Các cuộc cách mạng tư sản làm nảy nở nhiều trào lưu
tư tưởng, tiến bộ, đặc biệt là trong triết học và xã hội học
Triết học Tây Âu có những đặc điểm chủ yếu sau:
~ Su phat-trién mạnh mẽ của chủ nghĩa duy vật và
vô thản Giai cấp tư sản cần phát triển khoa học kỹ thuật để phát triển nền sản xuất,tư bản chủ nghĩa
Nhưng sự phát triển khoa học kỹ thuật gặp phải cần trở lớn là chủ nghĩa duy tâm tôn giáo và chủ nghĩa kinh viện Do đó, giai cấp tư sản phải đấu tranh chống tôn
18
Trang 15cỡ lý luận và tư tưởng của phong trào cách mạng tư sản
Tính chiến đấu và vô thần ngày càng thể hiện rõ rệt
trong triết học duy vật
- Thành tựu của các khoa học đã.phân ngành là cơ
sở vững chắc cho triết học duy vật ở thế kỷ XVII — XVIIL
Do đó, triết học này khác về chất với triết học duy vật thời cổ đại:
Triết học duy vật thế kỷ XVII - XVIIT được các
thành tựu rực rỡ của các khoa học tự nhiên chứng minh, chứ không phải chỉ là những phỏng đoán thiên tài Đồng
thời triết học đó là triết học duy vật siêu hình do chịu
ảnh hưởng của phương pháp tư duy siêu hình thống trị
trong các khoa học "
- Triết học thời kỳ này nhìn chủng vẫn là quan
niệm duy, tâm về xã hội, tuy quan niệm duy vật về tự nhiên có nhiều tiến bộ Các nhà triết học mới chỉ nhìn
thấy những quan hệ tư tưởng, chứ chưa thấy vai trò quyết định của những quan hệ vật chất trong đời sống xã hội Do đó, các nhà triết học chủ trương "khai sáng" cho
mọi người tử kẻ cầm quyền tới người nghèo khổ bằng tri thức khoa học và bang giáo dục
19
Trang 16nước Tây Âu đã tiến hành cách mạng công nghiệp và
cách mạng tư sản Giai cấp tư sản nhỏ bé về số lượng, yếu kém về kinh tế và chính trị, đã không dám thực hiện
cách mạng trong thực tiễn, mà chỉ tiến hành cách mạng
trong tư tưởng Đồng thời, trong thời kỳ này khoa học đã
có những bước phát triển mạnh mẽ ở Tây Âu đòi hỏi phải
có cách nhìn mới về bản chất của các hiện tượng tự
nhiên, cũng như tiến trình lịch sử nhân loại, cần có quan
niệm mới về khả năng và vai trò của con người Vì vậy,
đã quy định những đặc điểm của triết học cổ điển Đức
- Triết học cổ điển Đức chứa đựng một nội dung
cách mạng dưới hình thức duy tâm, bảo thủ và cực kỳ rắc rối Đặc điểm này thể hiện rất rõ ràng trong triết học của Hêghen _ một triết học chứa đựng nội dung cách mạng sâu sắc, đó là phép biện chứng, nhưng hình thức cực kỳ
duy tâm, phức tạp và ởi tới những kết luận chính trị phản tiến bộ
- Triết học cổ điển Đức đề cao vai trò tích cực của
hoạt động con người, coi con người là một thực thể hoạt
20
Trang 17động, nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn đề triết
học Triết học đó khẳng định: con người vừa là chủ thể,
vừa là sản phẩm hoạt động của chính mình; tư duy của
con người chỉ có thể phát triển trong quá trình con người
nhận thức và cải tạo thế giới; lịch sử phát triển của nhân
loại là một quá trình biện chứng Nhưng triết học đó lại
đề cao quá mức trí tuệ và sức mạnh của con người
- Triết học cổ điển Đức đã xây dựng phép biện
- chứng trở thành phương pháp luận triết học trong việc
nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
Việc phát hiện ra phép biện chứng với những nguyên lý, quy luật và phạm trù cơ bản đã làm cho phép biện chứng
mang ý nghĩa cách mạng trong triết học
1 Điều kiện kinh tế - xã hội
~ Những năm 30 và 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư
bản đã phát triển và đi vào giai đoạn mới Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh và trở thành lực lượng kinh tế thống trị ở các nước tư bản
21
Trang 18- Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa đã làm bộc lộ những mâu thuẫn bên trong vốn
có của nó và biểu hiện về mặt'xã hội là các cuộc đấu
tranh của giai cấp công nhân chống các nhà tư bản
- Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong các
nước tư bản phát triển đã đặt ra nhu cầu khách quan
phải có vũ khí lý luận sắc bén để phản ánh một cách
khoa học quá trình vận động cách mạng của giai cấp
công nhân, chuyển cuộc đấu tranh mang tính tự phát của
gia1 cấp công nhân sang tính tự giác
2 Tiền đề lý luận
Triết học cổ điển Đức, chủ nghĩa xã hội không tưởng
Pháp, kinh tế chính trị học Anh là những tiền đề lý luận trực tiếp của triết học Mác
+ Triết học cổ điển Đức, tiêu biểu là Hêghen và
Phoiơbắc; có ảnh hưởng to lớn và rất quan trọng về mặt
lý luận đến sự hình thành và phát triển thế giới quan,
phương pháp luận biện chứng, duy vật của Mác và Ăngghen
Hai ông'phê phán quyết liệt chủ nghĩa duy tâm của
Hêghen, nhưng giải phóng phép biện chứng của Hêghen
khỏi tính chất thần bí và xây dựng phép biện chứng duy
vật
Hai ông kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, phê phán
triết học của Phoiơbắc, bỏ đi tính chất duy tâm, siêu hình
trong triết học Phoiơbắc khi xem xét đời sống xã hội
22
Trang 19+ Tiếp thu có phê phán những quan điểm của
A.Xmít và Ð Ricácđô, Mác và Angghen da khắc phục tính chất duy tâm trong các quạn niệm về xã hội của chủ nghĩa duy vật trước Mác và xây dựng các quan điểm duy
vật về lịch sử
+ Nghiên cứu có phê phán những tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa không tưởng của
Xanh Ximông, Phuriê và Ôoen giúp cho Mác và Ăngghen
hiểu một cách duy vật biện chứng về đời sống xã hội, dự
báo sự phát triển tương lai của hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa
3 Tiền đề khoa học tự nhiên
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, sự phát triển
của khoa học tự nhiện đã chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn phát triển khoa học tự nhiên - lý luận Khoa -học này đồi hỏi phải chuyển phương pháp nghiên cứu từ
siêu hình, máy móc sang phương pháp biện chứng Ba
phát minh khoa học lớn: Quy luật bảo toàn và chuyển ˆ
hóa năng lượng vạch ra mối liên hệ thống nhất giữa các
Hình thức vận động khác nhau của vật chất; Học thuyết
tế bào chứng minh cho sự thống nhất, sự phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của sinh vật -
"Thuyết tiến hóa của Đácuyn giải thích tính chất biện chứng của sự phát triển phong phú, đa dạng của các giống loài trong giới hữu cơ
Sự ra đời của triết học Mác là sự suy tự mang tầm
vóc đúc kết và khái quát lịch sử thời đại
23
Trang 20Sự hình thành thế giới quan khoa học của Mác và
Ăngghen không tách rời lập trường chính trị với quan
điểm triết học, mà trái lại, chúng gắn bó chặt chẽ với nhau Sự hình thành thế giới quan khoa học đó và sự ra
đời của triết học Mác hợp quy luật khách quan của lịch
su
Mac va Angghen da két hop chat ché hoat dong ly
luận với hoạt động thực tiễn cách mạng Chính vì thế,
hai ông đã chuyển từ triết học duy tâm sang triết học duy vật biện chứng, từ lập trường chính trị dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản
Sự hình thành thế giới quan duy vật biện chứng của
Mác và Angghen dựa trên cơ sở khái quát kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, kế thừa có
phê phán những tỉnh hoa trong di sản lý luận của nhân
loại, nghiên cứu, tiếp thu những thành tựu của khoa học
Quá trình hình thành triết học duy vật biện chứng của Mác và Ăngghen là sự gắn bó tình cảm sâu sắc của
hai ông đối với những người lao động bị áp bức, bóc lột và
phong trào cách mạng của họ, nhất là phong trào cách mạng của giai cấp công nhân Những tình cảm đó là
nhân tố quan trọng không chỉ cho sự hình thành thế giới
24
Trang 21quan duy vật biện chứng mà còn là sự hình thành chủ nghĩa nhân đạo cao cả - chủ nghĩa nhân đạo cộng sản chủ nghĩa của hai ông
Sự ra đời của triết học duy vật biện chứng do Mác
và Ăngghen tạo ra là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử
tư tưởng của nhân loại, là một tất yếu phù hợp với quy luật phát triển nhận thức của nhân loại
Sự ra đời của triết học Mác đã tạo nên sự biến đổi
có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử phát triển triết học
của nhân loại
Kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của
tư duy nhân loại, Mác và Ăngghen sáng tạo nên chủ nghĩa
duy vật triết học triệt để, đã khắc phục sự tách rời giữa
thế giới quan và phép biện chứng trong sự phát triển của lịch sử tư tưởng triết học Mác và Ăngghen xác lấp chủ nghĩa duy vật biện chứng bằng một hệ thống lý luận khoa học chặt chẽ, thống nhất và hoàn chỉnh Hai ông đã cải tạo
cả chủ nghĩa duy vật mang tính siêu hình, lẫn phép biện
25
Trang 22chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng triết học duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật lịch sử do Mác sáng lập là thành
tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Đó là một cuộc
cách mạng thực sự trong triết học về xã hội, yếu tố chủ
yếu của bước ngoặt cách mạng do Mác và Ăngghen thực
hiện trong triết học -
Triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà chủ
yếu là công cụ cải tạo thế giới Nó là công cụ nhận thức khoa học để cải tạo thế giới bằng thực tiễn cách mạng
Vai trò xã hội của triết học và vị trí của triết học
trong hệ thống tri thức khoa học đã biến đổi từ khi triết
học Mác ra đời Triết học Mác trở thành thế giới quan
khoa học và phương pháp luận thiết yếu cho nhận thức
khoa học để phát triển tiếp tục khoa học và cải tạo thực
x
tiên
Triết học Mác là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân, giai cấp tiên tiến và cách mạng nhất trong thời đại ngày nay, một giai cấp có lợi ích phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân lao động và sự phát triển của ˆ
xã hội Nó là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống lại hệ
tư tưởng tư sản, chủ nghĩa xét lại, giáo điều, cơ hội, Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học
Mác nói riêng đã tạo nên sự chuyển biến về chất cho phong trào cách mạng của công nhân, chuyển phong trào
đó từ tự phát lên tự giác
26
Trang 23Sự vận động, biến đổi mạnh mẽ của thế giới và su
phát triển như vũ bão của khoa học là minh chứng hùng
hồn cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng
Lénin da van dung sang tao hoc thuyét của Mác vào
quá trình giải quyết những nhiệm vụ của cách mạng vô
sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và bước đầu xây
dựng chủ nghĩa xã hội Trong quá trình vận dụng đó,
Lênin đã bảo vệ và phát triển chủ nghĩa ] Mác nói chung
và triết học Mác nói riêng
Lênin đã bảo vệ chủ nghĩa Mác khỏi sự xuyên tạc
của những người dân túy ở Nga khi phê phán những
quan điểm duy tâm về lịch sử của họ Ông đã làm phong
phú thêm những quan điểm duy vật về lịch sử, đặc biệt
là học thuyết về hình thái Kinh tế - xã hội của Mác
Đứng trước sự tăng cường ảnh hưởng của chủ nghĩa
Makho - một hoc thuyết duy tâm chủ quan nhằm xuyên tạc triết học Mác, Lênin đã phê phán quyết liệt những quan điểm của những người theo phái Makhd Trong quá
trình phê phán và dựa vào thành tựu khoa học lớn lao
Trang 24
27-thoi ky nay, Lénin da phat triển và bổ sung cho chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Định nghĩa về vật chất của Lênin và sự vận dụng
phép biện chứng tài tình của Người đã làm sâu sắc thêm
nhiều vấn đề cơ bản của lý luận nhận thức mácxít
Phương pháp biện chứng trong việc phân tích "Cuộc
khủng hoảng vật lý" đã góp phần to lớn vào việc thúc day
su phát triển của khoa học tự nhiên suốt từ đó đến nay
Lênin quan tâm sâu sắc tới lý luận về phép biện
chứng, đặc biệt là tư tưởng biện chứng trong triết học
Heghen "Những hạt nhân hợp lý" trong triết học Hêghen
đã được Lênin khai thác để làm giàu thêm phép biện chứng, nhất là quy luật về sự thống nhất và đấu tranh
của các mặt đối lập
Lênin đã có những đóng góp to lớn và quan trọng
vào kho tàng lý luận về triết học xã hội: vấn để Nhà nước
và cách mạng, chuyên chính vô sản, lý luận về đảng kiểu mới Dựa trên sự phân tích quy luật phát triển
không đều của chủ nghĩa tư bản, Lênin đã khẳng định
khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một số nước,
thậm chí ở một nước riêng lẻ Luận điểm đó của Lênin có
ảnh hưởng to lớn đến phong trào cách mạng thế giới
Với tỉnh thần cách mạng và sáng tạo của lý luận biện chứng duy vật, coi chân lý là cụ thể, khi cần thiết Lênin chấp nhận thay đổi một cách căn bản một quan
niệm nào đó về chủ nghĩa xã hội, không chấp nhận mọi
thứ biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều hay bảo thủ
28
Trang 25Chính những điều nêu ra trên đây đã đưa chủ nghĩa
Mác nói chung, triết học Mác nói riêng lên một giai đoạn mới gắn với tên tuổi của Lênin và được gọi là triết học Mác - Lênin nói riêng và chủ nghĩa Mác ~ Lénin néi
| Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vat va chi nghia
kinh nghiệm phê phán, V.I Lênin đã định nghĩa: "Vật
chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác,
được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh
wl
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"!
Với định nghĩa này, Lênin đã chỉ rõ:
"Vật chất là một phạm trù triết học" ~ xác định góc
độ của việc xem xét một phạm trù rộng và khái quát
nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực.khoa học cụ thể
hoặc đời sống, sinh hoạt hàng ngày
1 V,I Lênin: Toờn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980,t 18, tr.151
29
Trang 26Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là "thực tại khách quan", "tổn tại không lệ thuộc vào cảm sgiác" Vật
chất là vô cùng, vô tận, nó có vô vàn những thuộc tính khác nhau, song mọi dạng, mọi đối tượng của vật chất
đều có thuộc tính ấy Đó cũng chính là tiêu chuẩn để
phân biệt cái gì thuộc về vật chất và cái gì không thuộc
về vật chất, cả trong tự nhiên và đời sống xã hội Vì vậy, tất cả những gì tổn tại độc lập với ý thức của con người
đều là những dạng khác nhau của vật chất Như thế,
những quy luật kinh tế ~ xã hội, những quan hệ sản xuất
của xã hội tuy không tổn tại dưới dạng vật thể, cũng không có khối lượng năng lượng, có cấu trúc lý — "hóa
nhưng chúng tồn tại khách quan không lệ thuộc vào ý muốn, vào cảm giác của con người Do dé chúng là loại vật chất ở dạng xã hội
Vat chat "được đem lại cho con "người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản
ánh lại" Thế giới vật chất tuy tổn tại độc lập với ý thức
của con hgười nhưng sự tổn tại đó không phải là trừu
tượng, mà là sự tổn tại hiện thực, cụ thể, cảm tính Khi
một dạng vật chất nào đó tác động đến con người sé gay
ra những cảm giác và đem lại cho con người sự nhận
thức, sự phản ánh về chúng Như vậy, dù thế giới vật
chất vô cùng và đa dạng nhưng chỉ có cái con người chưa
nhận thức được chứ không thể không nhận thức được
Vật chất "được đem lại cho con người trong cảm
giác" nó là nguồn gốc của cảm giác, của ý thức, có trước ý
thức và thực sự vật chất phải là tính thứ nhất, ý thức,
cảm giác là tính thứ hai,
30
Trang 27Định nghĩa cua Lénin vé vật chất đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mang lại ý nghĩa lớn lao về mặt nhận thức khoa học cũng như thực
tiễn
Định nghĩa vật chất của Lênin đã khắc phục được
tính trực quan, siêu hình, máy móc cũng như biến tướng
của nó trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ, của các nhà tư tưởng tư sản hiện đại Do đó, làm cho chủ nghĩa duy vật phát triển lên một trình độ mới, tạo cơ sở khoa học cho sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Cùng với việc làm cơ sở khoa học và vũ khí lý luận
để đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tầm, thuyết không
thể biết: định nghĩa của Lênin về: vật chất đảm bảo sự
thuyết phục của chủ nghĩa duy vật biện chứng trước sự
phát triển không ngừng của: khoa học tự nhiên
Đã gần hai thế kỷ, khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và đã tiến những bước rất dài, nhưng
định nghĩa vật chất của Lênin vẫn còn nguyên ý nghĩa Cho nên, dù giá trị của định nghĩa có được thừa nhận ở mọi nơi hay không thì nó cũng đã và đang trang bị một
thế g1ới quan và phương pháp luận cho các nhà khoa học,
cổ vũ họ đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, làm phong
phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại
31
Trang 28CÂU HỎI 15
Quan điểm của triết học Mác - Lênin uề phương thức tồn tại của uật chất ? Có đứng im tuyệt đối hay không ?
Trẻ lời:
Ăngghen viết: "Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật
chất, là một thuộc tính cố hữu của vật :hất, - thì bao
gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra
trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy"! Như vậy, theo nghĩa chung nhất, vận động là mọi biến đổi nói chung
Vận động là phương thức tổn tại của vật chất:
Thế giới vật chất vô cùng và vô tận, nhưng không ở
đâu mà vật chất không vận động Mọi sự vật, hiện tượng
dù vô cùng lớn hay vô cùng nhỏ, dù vô sinh hay hữu sinh,
dù thuộc thế giới nào cũng tổn tại trong trạng thái vận
động, biến đổi không ngừng
Mỗi sự vật, hiện tượng vật chất là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận, nhiều yếu tố khác nhau được sắp xếp theo một tổ chức nhất định và chứng luôn liên hệ chặt
chẽ, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau Chính điều này đã
Trang 29tạo nên sự vận động, biến đổi không ngừng của sự vật,
được khoa học tự nhiên chứng minh, khẳng định bằng
quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
Vận động là vận động của vật chất: Chủ nghĩa duy
tâm và tôn giáo cho rằng có những lực lượng phi vật chất vận động bên ngoài thế giới vật chất, tức là có vận động
mà không có vật chất Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện
chứng khẳng định rằng, không thể có vận động không
vật chất, vận động là vận động của vật chất
Vậy tri thức, tình cảm, tư tưởng (ý thức) có vận động không ? Đương nhiên là có, nhưng sự vận động ấy
chính là kết quả của sự phản ánh vật chất đang vận
động Cho nên, không thể nói ý thức vận động bên ngoài
và độc lập với vận động của vật chất Vận động bao giờ cũng gắn liền với vật chất Tuy nhiên, sự vận động tuyệt
đối của vật chất không hề loại trừ mà còn bao hàm cả sự
đứng im Nhưng sự đứng im ấy không phải ở trạng thái chết, cố định, nguyên xi, vĩnh viễn
Đứng im không mâu thuẫn với vận động mà như là
trường hợp riêng của vận động, là tiền để của sự vận động Vật chất tổn tại thông qua các dạng cụ thể của nó,
3-50CHCL
33
Trang 30do dé trong su tén tai của vật chất tất yếu phải có sự
đứng im Tuy nhiên, đứng im chỉ là tương đối bởi:
~ Đứng im chỉ xảy ra trong mối quan hệ với một hệ thống này, nhưng trên thực tế lại nằm trong trạng thái vận động của mối quan hệ với hệ thống khác
- Đứng 1m chỉ là một trạng thái đặc thù của vận động trong cân bằng, trong sự ổn định tương đối, tức sự vận động vẫn còn trong giới hạn, trong sự bảo toàn cấu trúc và chất của sự vật Trạng thái ấy cũng chỉ là tạm thời, nó chỉ xuất hiện trong một thời gian và không gian
nhất định, sự vận động tuyệt đối sẽ làm cho sự vật biến
đổi chuyển thành cái khác
CÂU HỎI 14 :
Phân tích nguồn gốc va bản chết của ý thức Ý
nghĩa phương pháp luận ?
Trả lời:
Nếu như chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có
trước và sinh ra vật chất, chỉ phối sự vận động của thế
giới vật chất thì chủ nghĩa duy vật tầm thường lại coi ý
thức cũng là một dạng vật chất và mọi sự vật đều có ý
thức Những quan điểm này đều phản khoa học Chủ
nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên
và lịch sử - xã hội
34
Trang 31
Nguồn gốc tự nhiên:
Mọi dạng vật chất đều có thuộc tính chung là phản ánh tức là năng lực giữ lại, tái hiện của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng
Thế giới vật chất luôn luôn vận động và phát triển, thuộc tính phản ánh của chúng cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp: phản ánh của giới vô
cơ, phản ánh của giới hữu cơ, tính kích thích, tính cảm
ứng, tâm lý, ý thức Phản ánh ý thức của con người là
hình thức phản ánh cao nhất :
Ý thức là phạm trù triết học, một thuộc tính của
dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não người; là sự phản
ánh thế giới khách quan vào bộ óe người
Bộ não người - cơ quan phản ánh thế giới xung
quanh cùng sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Nguồn gốc xã hội:
“Nguồn gốc xã hội thể hiện rõ nét vai trò của lao động và ngôn ngữ trong sự hình thành, phát triển của ý
thức
Sự ra đời của bộ não người cũng như sự hình thành
con người và xã hội loài người là nhờ hoạt động lao động
và giao tiếp xã hội bằng ngôn ngữ Lao động là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người khác hẳn với
các động vật khác
35
Trang 32Trong lao động, con người biết chế tạo ra các công
cụ và sử dụng nó tác động vào thế giới để tạo ra của cải vật chất, tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người
Trong lao động, bộ não người được phát triển, quá
trình lao động đã làm biến đổi và hoàn thiện chính bản
thân con người, khả năng tư duy trừu tượng ngày càng
tăng, năng lực nhận thức và phản ánh sáng tạo thế giới
cũng sâu rộng hơn
Hoạt động lao động sản xuất còn là cơ sở của sự
hình thành và phát triển ngôn ngữ Trong lao động, con
người tất yếu có những quan hệ với nhau, cần phải trao
đổi kinh nghiệm, thông tin với nhau Từ đó ngôn ngữ ra
đời và phát triển cùng với lao động
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái "vo vat
chất" của tư duy, là phương tiện để con người giao tiếp
trong xã hội, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trao đổi chúng giữa các thế hệ, các khu vực
Với tư cách là hoạt động phản ánh, sáng tạo - ý thức sẽ không thể có được ở bên ngoài quá trình lao động
- và ngôn ngữ - phương tiện vật chất không thể thiếu được
của sự phản ánh khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức của
quá trình hình thành vả phát triển ý thức
| Lao động và ngôn ngữ là "bơi sức bích thích chủ
yếu" biến bộ não con vật thành não người, phản ánh tâm
lý động vật thành phản ánh ý thức và đó chính là nguồn
gốc xã hội quyết định sự hình thành và phát triển ý thức
36
Trang 33
Theo quan diém cua chu nghia duy vat biện chứng,
bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan, là sự phản ánh tích cực, chủ động sáng tạo
thế giới khách quan
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
quan, nghĩa là ý thức lấy cái khách quan làm tiền để; nội
dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, hình ảnh tỉnh thần
chứ không phải là hình ảnh vật lý Vì vậy, sự phản ánh
ấy là sáng tạo, chủ động tích cực về thế giới vật chất và
mang tính mục đích
Mặt khác, phản ánh ý thức là sáng tạo, bởi con: người vì cuộc sống của mình mà tự giác và chủ động tác
động vào thế giới khách quan, cũng nhờ thế sự phản ánh
của ý thức không bị phụ thuộc hoàn toàn vào các đối
tượng phản ánh Sự phản ánh của ý thức bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn, do nhu cầu thực tiễn quy định Ý thức con người chỉ có khi con người sống trong cộng đồng xã hội, vì vậy ý thức mang tính xã hội - lịch
sử, mang bản chất xã hội Đây là sự khác biệt rất cơ bản của ý thức con người so với tâm lý động vật
Ý nghĩa phương pháp luận:
Vì ý thức của con người là sản phẩm của quá trình
phát triển tự nhiên, xã hội - lịch sử Nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là thực tiễn
xã hội Ý thức là một hiện thực xã hội Đó là cơ sở lý luận
37
Trang 34khoa học để chúng ta bác bỏ tính phản khoa học, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa nghĩa duy vật siêu
hình về ý thức
Do ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
quan, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải
xuất phát từ thực tế khách quan; không được áp đặt ý chí
chủ quan cho sự vật, hiện tượng
Do ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo hiện thực nên phải tích cực hoạt động trong thực tiễn, chống
tư tưởng thụ động và trông chờ, giáo điều, lạc hậu - xa
@&) CÂU HỎI 15
Mốt quan hệ biện chứng giữa uật chất va ý thúc
trong hoạt động thực tiễn ?
Trẻ lời:
1 Phạm trù vật chất và phạm trù ý thức
Lịch sử của triết học cũng là lịch sử của những cuộc
đấu tranh xung quanh vấn đề cơ bản của triết học với hai
phạm trù lớn: vật chất và ý thức Song, để đi đến được
những quan niệm, định nghĩa khoa học và tương đối
hoàn chỉnh về chúng cũng phải đến một giai đoạn lịch sử nhất định với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa duy
vật biện chứng
38
Trang 35
Vật chất, theo Lênin, "là một phạm trù triết học
dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lạt cho con người trong cảm giác, được cỉm giác của chúng ta chép lại, chụp lai, phan anh va tôn tại không lệ thuộc 0uào cảm giác"'
Vật chất tổn tại bằng cách vận động và thông qua vận
động để thể hiện sự tổn tại của mình Không thể có vật chất không vận động và không có vận động ở ngoài vật chất Đồng thời vật chất vận động trong không gian và thời gian Không
gian và thời gian là hình thức tổn tại của vật chất, là thuộc
tính chung vốn có của các dạng vật chất cụ thể
Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử - xã hội Bản chất, của ý thức là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo thế giới khách quan
vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn Chính vì
vậy, không thể xem xét hai phạm trù này tách rời cứng nhắc, càng không thể coi ý thức (bao gồm cảm xúc, ý chí,
tri thức ) là cái có trước, cái sinh ra và quyết định sự
tổn tại, phát triển của thế giới vật chất
2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Trang 36Nguồn gốc của ý thức chính là vật chất: Bộ não
người - cơ quan phản ánh thế giới xung quanh, sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não người, tạo thành nguồn gốc tự nhiên
Lao động và ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) trong
hoạt động thực tiễn cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết
định sự hình thành, tổn tại và phát triển của ý thức
Mặt khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan Vật chất là đối tượng, khách thể của ý thức,
nó quy định nội dung, hình thức, khả năng và quá trình vận động của ý thức
tiễn của con người
Dựa trên các tri thức về quy luật khách quan, con
người đề ra mục tiêu, phương hướng, xác định phương
pháp, dùng ý chí để thực hiện mục tiêu ấy Vì vậy, ý thức
tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu: Nếu ý thức phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất, hoàn cảnh
khách quan thì sẽ thúc đẩy hoặc tạo sự thuận lợi cho sự
phát triển của đối tượng vật chất Ngược lại, nếu ý thức
phan ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con
40
Trang 37
người không phù hợp với quy luật khách quan, do đó, sẽ kìm hãm sự phát triển của vật chất
Tuy vậy, sự tác động của ý thức đối với vật chất
cũng chỉ với một mức độ nhất định chứ nó không thể sinh
ra hoặc tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất
được Và suy cho cùng, dù ở mức độ nào nó vẫn phải dựa
trên cơ sở sự phản ánh thế giới vat chat
Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giữa tổn tại xã hội và ý
thức xã hội, trong đó tổn tại xã hội quyết định ý thức xã
hội, đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và
tác động trở lại tổn tại xã hội
Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn
la co sở để nghiên cứu, xem xét các mối quan hệ khác
như: lý luận và thực tiễn, khách thể và chủ thể, vấn đề
chân lý
Ý nghĩa phương pháp luận:
Do vật chất là nguồn gốc và là cái quyết định đối với
ý thức, cho nên để nhận thức đúng đắn sự vật, hiện
tượng, trước hết phải xem xét nguyên nhân vật chất, tồn
tại xã hội - để giải quyết tận gốc vấn dé chứ không phải
tìm nguồn gốc, nguyên nhan tw những nguyên nhân tỉnh
thần nào đấy "Tính khách quan của sự xem Xét" chính là
ở chỗ đó
Mặt khác, ý thức có tính độc lập tương đối, tác động
trở lại đối với vật chất, cho nên trong nhận thức phải có
41
Trang 38tính toàn diện, phải xét đến vai trò của nhân tố tinh
thần
Trong hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ những điều kiện khách quan và giải quyết những nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra trên cơ sở tôn trọng sự thật Đồng thời
cũng phải nâng cao nhận thức, sử dụng và phát huy vai trò năng động của các nhân tố tỉnh thần, tạo thành.sức
mạnh tổng hợp giúp cho hoạt động của con người đạt hiệu qua cao - |
Không chỉ có vậy, việc giải quyết đúng đắn mối
quan hệ trên khắc phục thái độ tiêu cực thụ động, chờ
đợi, bó tay trước hoàn cảnh hoặc chủ quan, duy ý chí do tach rdi và thổi phổng vai trò của từng yếu tố vật chất
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong hai
nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chi su tác động, liên
hệ, ràng buộc và chuyển hóa lân nhau giữa các mặt, các
42
Trang 39
yếu tố trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật,
hiện tượng với nhau
Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong những mối
liên hệ, tác động và không loại trừ một lĩnh vực nào Nhờ
có mối liên hệ mà có sự vận động và do đó, mới có sự tổn
tại của vật chất, hay nói cách khác, mối liên hệ là phổ
biến, là hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, thể hiện tính khách quan, tính thống nhất vật
chất của thế giới
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất rất đa
dạng nên mối liên hệ giữa chủng cũng đa dạng, phổ biến nhưng đều mang tính khách quan chứ không phải thần
linh, thượng đế hay "ý niệm tuyệt đối" nào sinh ra cả, có mối liên hệ giữa các hiện tượng vật chất, các hiện tượng tinh thần và giữa các hiện tượng vật chất với -hiện tượng tỉnh thần, song những mối liên hệ tỉnh thần chỉ là sự
phan anh va là sản phẩm của các mối liên hệ vật chất Trong thế giới vô cùng, vô tận này không có bất cứ một sự vật, hiện tượng nào tồn tại bên ngoài mối liên hệ với sự vật, hiện tượng khác Các mối liên hệ đó, căn cứ
vào tính chất phạm vi, trình độ có thể phân biệt thành các loại như sau: Liên hệ bên trong và bên ngoài, chung
và riêng, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu,
không gian và thời gian, trực tiếp và gián tiếp Tuy
nhiên, sự phân loại này là tương đối vì mối liên hệ đó chỉ
là bộ phận trong toàn bộ mối liên hệ phổ biến nói chung
Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ
43
Trang 40chung nhất và phổ biến nhất của thế giới khách quan
Còn những hình thức cụ thể, riêng biệt là đối tượng của
các ngành khoa học cụ thể khác nhau
Ý nghĩa phương pháp luận:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải có guan điểm
toàn diện Khi xem xét sự vật, hiện tượng, quá trình phải
xem xét tất cả các mối liên hệ giữa chúng với các sự vật,
hiện tượng khác, đặt chúng trong những điều kiện không
gian và thời gian nhất định
Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chống lại cách xem xét phiến diện, một chiều, siêu hình, chỉ thấy cây mä không thấy rừng Tuy nhiên, xem xét toàn diện không có nghĩa
là đồng loạt, bình quân mà phải đánh giá đúng vị trí, vai
trò của từng mối liên hệ, có như thế mới nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng, sự việc và giải quyết vấn đề thấu đáo, đúng đắn, toàn diện và có hiệu quả cao
Đó cũng chính là hoạt động theo quan điểm lịch sử - cụ
thé
€Ò CÂU HỎI 17
Phân tích nội dung nguyên lý về sự phát triển
Uò ý nghĩa phương phúp luận ?
44