1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dẫn nhập phân tích diễn ngôn

90 992 10
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 6,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều vấn để được đưa ra trong Phân tích diễn ngôn nói chung, trong đó đối với tình hình ở ta đáng nhắc đến trước hết - không phải do tầm quan trọng - là mối liên hệ của chúng với cá

Trang 2

i

Nxb Penguin English

Lời giới thiệu

Phân tích diễn ngôn với tử cách một bộ phận trong ngôn ngữ học ứng dụng và nghiên cứu ngôn ngữ đang được truyển

bá ngày càng rộng rãi trong công việc đạy và học tiếng trên thế giới Liệu nó có cơ hội để trở thành tên gọi đang được để ngỏ cho giai đoạn phát triển thứ hai của "ngôn ngữ học văn bản" như Ping Chen (1990) để nghị hay không, thì còn chờ dự

luận quốc tế trong lĩnh vực ngôn ngữ học Dẫu sao thực tiễn phát triển của nó cũng cho thấy nó kế thừa có phê phán và

sáng tạo giai đoạn "ngôn ngữ học văn bản" thứ nhất - giai đoạn

mà de Beaugrande (1990) mệnh danh là giai đoạn “Các ngữ pháp văn bản"

Tên gọi Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) dudc

Z Harris sử dụng lần đâu tiên năm 1952 Về bài viết của

Harris, M Coulthard (1977) nhận xét : "Bài báo của Harris,

mặc đù có cái nhan để đẩy hứa hẹn "Phân tích diễn ngồn"”,

thực ra nó làm (ta) thất vọng" Và chính Coulthard đã đưa ra

Một dẫn luận về phần tích diễn ngôn năm 1977 (và được in

lại đến năm 1990 là lần thứ sáu !) Cũng tác giả này cùng với

J Sinclair đã có Về một Phân tích điễn ngôn năm 1975

Chúng tôi chưa có tài liệu để nói chắc rằng năm 1975 đó là

cái mốc đầu tiên của giai đoạn hiện nay đối với cái gọi là

"Phân tích diễn ngôn" Chỉ rõ một điểu là từ đó đến nay đã

có khá nhiều tài liệu in thành sách có nhan để chung quanh

"Phân tích diễn ngôn" và "Diễn ngôn", mà đối tượng và

Chọn "Dẫn nhập phân tích diễn, ngôn" của D Nunan để địch giới thiệu cùng bạn đọc Việt Nam, chúng tôi nhằm vào

tinh dé hiểu và tính thực tiễn ; vá lại, đằng sau những tính chất

5

Trang 3

ấy là một cơ sở lí luận tin cậy và có sáng tạo Dung lượng sách

dày (mặc đù nội dung cũng khá phong phú)

Có nhiều vấn để được đưa ra trong Phân tích diễn ngôn nói

chung, trong đó đối với tình hình ở ta đáng nhắc đến trước hết -

không phải do tầm quan trọng - là mối liên hệ của chúng với

cái gọi là Ngữ pháp văn bản

Liên kết văn bản, một thời là đối tượng trực tiếp của Ngữ

pháp văn bản, nay không phải là đã mất đi, mà được "hội

nhập” cùng với những vấn để khác, trước hết là với tink mach

lạc, để làm một phần quan trọng trong nội dung của Phân tích

diễn ngôn Đớ cũng là một lí do để chúng ta cần tìm biết nội

dung chung của Phân tích diễn ngôn

Một số trường ngoại ngữ lớn ở Việt Nam trong mấy năm

- lại đây đã bắt đâu dạy môn học này Bản dịch Dẫn nhập phân

nhưng quan trọng hơn là bù đấp những thiệt thời về kiến thức

không chỉ đối với người học và làm công tác ngôn ngữ mà cả

đối với người học và làm công tác văn học ở Việt Nam đang

phải gánh chịu Qua đó có thể hi vọng rằng quyển sách này sẽ

hữu ích đối với đông đảo bạn đọc

Bản dịch có thể không tránh được các thiếu sót, rất mong

được quý vị và các bạn lượng thứ và chỉ giáo, góp ý kiến

Thay mặt những người địch

TRÚC THANH

Nha xuất bản Anh ngif Penguin

DAN NHAP PHAN TICH DIEN NGON

David Nunan là cộng tác viên của các Chương trình sau

đại học về Ngôn ngữ học và là Giám đốc của bộ phận Nghiên cứu và Phát triển tại Trung tâm Quốc gia Dạy và Nghiên cứu

tiếng Anh, Đại học Macquarie, Sydney, Úc Ông đã và đang là

giáo viên dạy tiếng và thuyết trình viên, là người đào tạo giáo

viên, người phát triển chương trình giảng dạy, người soạn tài liệu giáo khoa, nhà nghiên cứu và là cố vấn ở Vương quốc

Anh, Úc, Hoa Kì, Thái Lan, Singapore, Hồng Kông, Nhật và

Trung Đông Ông là tác giả của nhiều sách và bài báo về thiết

kế chương trình giảng đạy và giáo học pháp, về phân tích diễn ngôn, về đào tạo giáo viên và về những nghiên cứu lấy lớp học

làm cơ sở Những quan tâm về giảng dạy và-nghiên cứu của

ông bao gồm việc phát triển chương trình giảng dạy, thụ đắc

ngôn ngữ, phân tích diễn ngôn và các phương pháp nghiên cứu

David Nunan là người đồng biên khảo của bộ sách này

Ronald Carter là Giáo sư môn Anh ngữ Hiện đại Khoa

Tiếng Anh của Đại học Nottingham Ông là tác giả của nhiều sách về ngôn ngữ học ứng dụng và là cộng tác viên cấp quốc _

gia của dự án LINC (Ngôn ngữ trong Chương trình giảng dạy Quốc gia) từ năm 1989 đến năm 1992

Trang 4

Những tựa sách khác trong bộ sách này:

Bắn nhập ngôn ngữ hụt ng dung

Bắn nhập môn viết

Din nhập môn đgt

Bin nhập môn nghe

lẫn nhập Anh ngữ tiêu chuẩn

Ngôn ngữ chắc chắn là một hiện tượng phúc tạp đến mức mà con người đã từng mong muốn hiểu

cho được, và cho đến nay ngay cả chúng ia cũng

chưa đi đến kết thúc Chúng ta hãy còn trể nãi`

lực có tính kinh viện để thu hẹp tâm nhìn, hơn là

mở rộng nó Ngay khi người ta nhìn ra ngoài phạm

vi cau, người ta tự buộc mình phải ngưng đối phó

với những dữ liệu không tự nhiên được hư cấu nền

vốn để theo đuổi những mục đích của mình, và

thay vào đó là xem xét ngôn ngữ trong sử dụng

(Chafe 1990: 21)

Trang 5

Những hiểu biết sâu sắc do những công trình nghiên

cứu trong ngôn ngữ học ứng dụng đem lại có thể là nguồn hỗ

trợ đích thực đối với tất cả những giáo viên phải đối mặt với

nhiều yêu câu phức tạp trong việc học và dạy tiếng Bộ sách

Dẫn nhập Ngôn ngữ học Ứng dụng của Nhà xuất bản Anh ngữ

Penguin có mục đích cung cấp những chỉ dẫn ngắn gọn, rõ ràng

và có thể tiếp cận được về các để tài căn bản - giúp cho các

giáo viên theo kịp với lĩnh vực đang phát triển nhanh chóng

này bằng cách giải thuyết các nghiên cứu gần đây và tính cần

yếu của chúng đối với những vấn để khó khăn và đối với

những quan tâm chung Các sách này được soạn nhằm vào sự

sử dụng thực tế: chúng tập trung vào những ngữ cảnh trong lớp

học có thể nhận biết được, chúng nêu những cách tháo gỡ các

vấn để và chúng cũng bao gồm những hoạt động thực tiễn và

câu hồi để nghiên cứu thêm

Bộ sách Dẫn nhập Ngôn ngữ học Ứng dụng cho rằng

đang có một sự hội tụ các mối quan tâm ngày càng gia tăng

trong tất cả các giáo viên Anh ngữ và bộ sách mong trở thành

cần yếu cả đối với những giáo viên Anh ngữ với tư cách là

ngôn ngữ thứ hai hoặc ngoại ngữ lẫn những giáo`viên Anh ngữ

với tư cách là tiếng mẹ đẻ Bởi vì mối liên hệ giữa ngôn ngữ

- học và việc dạy tiếng đang tiếp tục phát triển, nên nhu cầu về

các sách giới thiệu lĩnh vực này tăng lên Bộ sách này đã được

phát triển để đáp ứng nhu cầu đó

Những từ in đậm được giải thuyết

ở bảng chú giải thuật ngữ

10

141 1.11 1.2 1.2.1 1.3 1.3.1 1.3.2

133

1.4

21 2.1.1 2.1.2 2.143 2.1.4 2.2 2.2.1 2.3 2.4 2.5

Mục lục

Lời dẫn

Phân tích diễn ngôn là gì?

Diễn ngôn là gì?

Phương thức tạo lập văn bản

Diễn ngôn đối văn bản

Ngữ cảnh

Ngôn ngữ nói đối ngôn ngữ viết

Ngữ pháp- Mật độ từ vựng

Tình huống Các kiểu loại diễn ngôn ` Yếu tố ngôn ngữ trong diễn ngôn

Đơn vị phân tích trong diễn ngôn

Tin “đã cho” và tin “mới”

Trang 6

Hiểu biết cơ sở _

Sử đụng hiểu biết cơ sở: cấp mệnh để

Sử dụng hiểu biết cơ sở: cấp chức năng

Chúng ta xử H diễn ngôn như thế nào?

Quá trình xử lí từ đưới lên

Quá trình xử lí từ trên xuống

Quá trình xử lí tương tác

Phân tích hội thoại

Thương lượng nghĩa

Giao tiếp liên văn hóa”

Phát triển năng lực diễn ngôn

Những năm đầu đời: năng lực khẩu ngữ

Quyển sách này được dự kiến là phần dẫn luận cơ bản

về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn Mục đích chính của tôi là

giới thiệu với các bạn, người đọc, vài khái niệm chủ yếu trong

lĩnh vực này, và tạo một cơ hội để các bạn khảo sát những khái

Quyển sách này gồm có ba bộ phận cơ bản Bộ phận

thứ nhất trình bày theo lối giới thiệu và thảo luận nội dung

hoặc để tài của quyển sách Ở đây, tôi sẽ trò chuyện với bạn,

người đọc, và cung cấp cho bạn cách hiểu của tôi về những khái niệm trung tâm có liên quan đến diễn ngôn và phân tích

diễn ngôn Bộ phận thứ hai là các văn bản - các ví dụ về ngôn

ngữ nói và ngôn ngữ viết được thu thập'từ nhiễu nguồn khác

nhau, những ví dụ này sẽ minh họa những điểm chính mà tôi

muốn tạo ra trong sách này Bộ phận cuối cùng là một số hoạt động thực tiễn và những để án qua đó mời bạn khảo sát diễn

ngôn và phân tích diễn ngôn trong ngữ cảnh riêng của bạn và

từ quan điểm riêng của bạn Tất nhiên, bạn không nhất thiết phải thực hiện tất cả hoặc thậm chí phần lớn những hoạt động thực tiễn này Dù thế nào chúng vẫn sẽ giúp bạn hiểu được những ý tưởng trong sách này một cách đây đủ hơn

13

Trang 7

1 Phân tích diễn ngôn là gì?

14 Diễn ngôn là gì?

Như chúng ta sẽ thấy, những tác giả khác nhau sử dụng thuật

ngữ tiễn ngôn theo một số cách khác nhau

HOẠT ĐỘNG THỰC TIÊN -

Để khảo sát vấn để trung tâm này, tôi mong muốn các bạn

xem xét ba văn bản sau đây Qua đó, bạn hãy xét xem đoạn

trích nào có nghĩa và đoạn trích nào không có nghĩa

BUJUMBURA - Điều đó được nói trong một phát biểu vào Chủ

- nhật rằng 135 người đã bị giết ở thủ đô Bujumbura và các vùng

phụ cận và thêm 137 người nữa bị giết ở các tỉnh phía Bắc

Citiboke va Bubanza Chính phủ nói rằng trật tự đã được vấn

hồi nhưng các lực lượng bảo an vẫn còn được đặt trong tình

trạng báo động đối với các cuộc tấn công từ phía những người

chống đối của đẳng Giải phóng của người Hutu Burundi nói

rằng 272 người đã bị giết trong những cuộc đụng độ giữa lực

lượng bảo an và những người chống đối nổ ra một tuần lễ trước

LIMA - Hôm thứ hai cảnh sát cho biết có ít nhất 20 thành viên

của tổ chúc chống đối Shining Path đã bị giết trong thời gian

` cuối tuần bởi các đội viên dân phòng nông thôn được Chính phủ

_ vũ trang Cảnh sát cũng nói rằng có hai người đã bị những kẻ

chống đối giết chết - một người chủ nông trại đã từ chối đưa

-14

tiền cho họ và một người khác bị buộc tội là người chỉ điểm

Những người chống đối nói rằng họ có kế hoạch để làm cho

được cái mà họ gọi là “cuộc đình công có vã trang” trong ngày

hôm qua và trong ngày hôm nay, để đánh dấu sinh nhật lần thứ

57 của cựu Giáo su dai hoc Abimael Guzman, người đã thành

lập tổ chức Shining Path — ˆ

Tin phóng sự cho biết, có it nhất 14 người chết hôm thứ bảy sau khi uống một loại thức uống có rượu rễ tiền, nâng tổng số người

bị chết vì ngộ độc thức uống trong vòng hai ngày qua Trận

động đất ảo được 5,7 độ rích-te và nhận biết được không bao

lâu trước 10 giờ 50 phút sáng (8 giờ 50 phút giờ GMT) Đài truyền thanh Bu-ca-re đã đưa ra lời tường thuật chính thức như

đã nêu Judge Neil Dennison đã nói rằng Robert Phee, 23 tuổi, một kĩ thuật viên của vở nhạc kịch hài nổi tiếng “Hoa hậu Sài

Gòn” đã bị “sững sờ vì sự hào hứng và tính kịch nghệ sân khấu”

của 8 vụ cướp lấy ải của anh ta 15.000 bằng Anh

Tất cả các câu trong các văn bản trên có cùng xuất xứ (báo

Quốc gia, Băng-cốc, Thứ tư ngày 4-12-1991) và ở cùng một cột

tin (Vòng quanh Thế giới) Tuy nhiên, các văn bẩn này rất

khác nhau về tính mạch lạc của chúng Trên thực tế, nhiều bạn đọc tranh luận rằng văn bản 1c chẳng phải là văn bản gì cả

Chúng ta cần những hiểu biết gì để làm cho những đoạn trích này có nghĩa Trước hết, chúng ta cần hiểu ngữ pháp và từ

vựng được dùng để kiến tạo các câu tạo nên mỗi văn bản Tuy nhiên, chúng ta cần nhiều hơn thế, bởi vì, mỗi câu lấy ra trong

-ba đoạn trích trên đều không có gì khác thường về mặt ngữ

pháp, vì thế, rõ ràng rằng không phải ngữ pháp là lời giải thuyết cho sự bất ổn của văn bản Đương nhiên, các câu tạo

15

Trang 8

thành văn bản cần phải đúng về mặt ngữ pháp, nhưng từng câu

đúng ngữ pháp sẽ không bảo đảm cho văn bản tự nó tạo lập

được nghĩa

Ngoài cấu trúc và ý nghĩa của các câu riêng lẻ, chúng ta

cần biết các câu có liên quan với nhau như thế nào Các câu

trong văn bản Ic không có vẻ gì là liên quan với nhau cả

Trong khi đó thì các câu của văn bản la lại có vẻ có Hên quan

nhau theo một cách nào đó, tuy sự bố trí có vẻ khá kì cục

Chẳng hạn, trong câu đầu tiên, hầu như không có cách nào xác

định được Điêu đó [It] chỉ về cái gì

1.1.1 - Phương thức tạo lập văn bản

Rõ rang là cùng với những hiểu biết ở cấp độ câu, người ‘doc

cũng cần có khả năng giải thuyết được các câu trong mối guan

hệ giữa chúng với nhau

HOAT ĐỘNG THỰC TIỄN

Để xem xét cụ thể hơn vấn để liên kết giữa hai hay nhiều cau

trong một sản phẩm diễn ngôn, bạn hãy xem các câu lấy của :

tác giả Hoey (1983) sau đây Các câu vốn trong nguyên bản đã ˆ

được ghép thành một đoạn văn mạch lạc, nhưng rồi chúng bị

xáo trộn đi Xem bạn có thể xác lập trật tự của nguyên bản hay

không

dd

(1) Ở nước Anh, tuy nhiên, các đầu đỉnh đóng cá bằng von-fram

Sẽ làm thủng mặt đường rải nhựa mỏng Thành từng mảng

ngay khi lớp tuyết hoặc bang bdo vé tan ra

(2) Các đội-bảo trì đường sá cố gắng làm giảm hiểm nạn trượt

ngã bằng cách rải cát lên mặt đường

16

(3) Do đỏ, chúng ta phải chấp nhận phương pháp được mô tả

trên, coi là điều ít tệ hai hơn trong hai điều phải chọn

(4) Các đâu định của chúng ghim chặt vào bề mặt đóng băng và

làm cho người lái ô tô quẹo cua an toàn ở nơi mà lốp xe

không có định sẽ gây ra tai hoa

(5) Trở ngại chính của nó là nếu có những trận mưa tuyết mới

tuyết cứ tiếp lục rơi, việc giáp cho lốp xe có cách để bám đường càng trở nên vô hiệu

(6) Những lốp xe này ngăn chặn trượt ngã và có hiệu quả trong

on đường sạch tuyết tơi xốp một cách đều đặn

ột biện pháp như thế nói chung là thỏa đáng đối với những

lơn mua tuyết ngắn ngủi của chúng ta

"bất cứ khi nào có tuyết ở Anh, một số con đường nông thôn

-ó thể có lớp băng mỏng trong suốt phủ trên mặt -

Ở Na- Uy, nơi có lẽ có tuyết và băng trong vòng gần bảy

Sy (10) Những người lái 6-16 tình cờ gặp phải những dải băng

mông có lẽ sẽ thấy mình bị trượi khỏi đường

i (Hoey 1983: 4)

Trật tự mà các câu này xuất hiện trong nguyên bắn là như sau:

Be nhiêu 2 Bạn hãy trổ lại với các câu lân nữa, và gạch dưới các

2-DNPTDN |

Trang 9

vào đó, khi có những sinh viên lại đưa ra một trật tự khác với

nguyên bắn, thì sự khác biệt chỉ giới hạn ở một số ít biến dạng

Cái gì trong các câu đem lại sự nhất trí cao này? Theo

Hoey, đó là sự có mặt của những phương thức tạo lập văn bản

nào đó.trong các câu: “ đa số các cầu trong điễn ngôn nối kết

một cách rõ ràng với những câu gần chúng theo một trong hai

cách Một số được nối kết bằng những phương tiện (loại như:

như thế, của nó, này) của phương thức hồi chiếu (tức là: tham

khảo lùi về phẩn đã qua), cách còn lại là việc lặp giản don.”

(Hoey 1983: 6)

Các phương thức tạo lập văn bản đó được liệt kê dưới đây

So sánh với những từ và tổ hợp từ mà bạn gạch dưới trong các”

câu nguyên bản, thì chúng khác nhau thế nào?

tầng sự khác biệt giữa những sản phẩm diễn ngôn có mạch lạc

(như 1b) và những câu không nối kết nhau (như 1c) là ở những từ

và tổ hợp từ nối kết mỗi câu vớr:một hoặc vài câu đi trước nó

Tuy nhiên, đó chưa phải hết chuyện Như chúng ta sẽ thấy,

ngoài cái mà chúng ta có thể gọi là “hiểu biết về ngôn ngữ”

(nghĩa là hiểu biết về các câu đã được tạo lập như thế nào xét

từ bên trong của chúng, và chúng tổ hợp với nhau như thế nào

xét từ bên ngoài của chúng, còn có những “hiểu biết phi ngôn ngữ” (nghĩa là, hiểu biết về chủ để hay nội dung của văn bản đang được bàn đến) Sau này, chúng ta sẽ xem xét đến dấu hiệu cho thấy rằng hiểu biết về chủ để đóng vai trò quan trong trong việc làm cho người đọc (hoặc người nghe) hiểu ra được văn bản Chúng ta cũng sẽ nhìn qua các quan điểm của một số nhà ngôn ngữ học, những người không tán thành ý kiến cho rằng

chính các từ và tổ hợp từ có tác dụng kết nối là những cái đã

tạo ra điễn ngôn

Từ những phần tôi đã trình bày, dường như có thể định -

nghĩa diễn ngôn như là một chuỗi ngôn ngữ gồm một số câu,

những câu này được nhận biết là có liên quan nhau theo một cách nào đó Trong những phần sau, chúng ta sẽ thấy rằng các câu có thể có liên quan nhau, không chỉ theo ý tưởng mà chúng cùng có, mà còn theo các công việc mà chúng thực hiện trong

diễn ngôn - nghĩa là, theo sáo phức năng của chúng

1.2 Diễn ngôn đối văn bản

Cho tới nay, tôi đã sử dụng các thuật ngữ “diễn ngôn” và “văn

bản” như thể chúng là các từ đồng nghĩa Đã đến lúc phải xem

xét các thuật ngữ này kỹ hơn một chút Bạn hãy xem các phát

biểu được trích từ một số nguồn khác nhau sau đây

ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh

19

Trang 10

thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, tranh luận

truyện vui hoặc truyện kể ” (Crystal 1992: 25)

nhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu biện bằng cử chỉ, được

nhận dạng vì những mục đích phân tích Nó thường là một -

chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác

định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp-phích ” (Crystal

1992: 72)

3 “Chúng ta sẽ sử dụng văn bản như một thuật ngữ chuyên

môn, để nói đến việc ghi lai bằng ngôn từ của một hành động

giao tiếp.” (Brown và Yule 1983a: 6)

4 “diễn ngôn: những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là có

nghĩa, thống nhất và có mục đích.” (Cook 1980: 156)

hình thức, bên ngoài ngữ cảnh.” (Cook 1989: 158)

Từ những đoạn trích này, ta có thể thấy rằng có sự bất

đồng ý kiến về ý nghĩa cửa hai thuật ngữ này Đối với một số

tác giả, các thuật ngữ này dường như được sử dụng một cách

gần như có thể thay thế cho nhau; đối với một số các tác giả

khác, diễn ngôn chỉ ngôn ngữ trong ngữ cảnh Tuysnhiên, tất cả

“dường như đồng ý rằng cả văn bắn lẫn dién ngôn đều cần được

xác định dựa vào mặt ý nghĩa, và rằng những văn bản mạch

lạc/những san phẩm diễn ngôn mạch lạc là những cái tạo nên

một tổng thể có nghĩa

Chúng ta cùng khảo sát vài khẳng định và giả định đã

được đưa ra

XÁC NHẬN: các thuật ngữ “văn bản” và “điễn ngôn” có thể

thay thế được cho nhau Trong khi một số nhà bình luận xem ra

20

sử dụng các thuật ngữ này theo kiểu có thể thay thế cho nhau

được, thì một số khác lại vạch ra sự khác biệt rõ rằng giữa chúng Một vài người ủng hộ ý kiến cho Tằng diễn ngôn là

ngôn ngữ đang hoạt động, trong khi văn bản là cái ghi bằng

chữ viết của sự tương tác đó Theo quan điểm này, thì điễn

ngôn tập hợp cả ngôn ngữ, cả những cá nhân"tạo ra ngôn ngữ,

và cả ngữ cảnh mà trong đó ngôn ngữ được sử dụng lại với

nhau Tuy vậy, các nhà ngôn ngữ học khác nói chung có xu © hướng tránh sử dụng thuật ngữ “diễn ngôn”, mà ưa chuộng hơn thuật ngữ “văn bản”, dành cho tất cả các trường hợp ghi lại

ngôn ngữ trong sử dụng

Trong sách này, tôi sẽ sử dụng thuật ngữ văn han dé chi

bất kì cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp Sự

kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (ví dụ: một

bài thuyết giáo, một cuộc thoại tình cờ, một cuộc giao địch mua bán) hoặc ngôn ngữ viết (ví dụ: một bài thơ, một quảng cáo trên báo, một áp-phích đán tường, một bản kê các thứ mua

sắm, một tiểu thuyết) Tôi sẽ để thuật ngữ diễn ngôn lại để chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh Trong sách

này, tôi sẽ bàn đến các phương diện của cả phân tích văn hẳn

lẫn phân tích diễn ngôn - nghĩa là, tôi sẽ giải quyết cả việc,

phân tích các văn bần về mặt ngôn ngữ và: việc giải thuyết các

văn bản này

XÁC NHẬN: phân tích diễn ngôn liên quan đến việc nghiên

cứu ngôn ngữ trong sử dụng Sự xác nhận ở đây là phân tích

diễn ngôn liên quan đến phân tích ngôn ngữ trong sử dụng - so sánh với sự phân tích các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng (mà Cook (1989), còn có những người khác nữa, xem như phân tích văn bản) Tất

cả các nhà ngôn ngữ học, từ nhà ngữ âm học, rồi đến nhà ngữ

21

Trang 11

pháp học, cho đến nhà phân tích diễn ngôn - đều quan tâm đến

việc nhận diện những cái đều đặn và những khuôn mẫu trong

ngôn ngữ Tuy nhiên, trong trường hợp của nhà phân tích diễn `

ngôn, mục đích cuối cùng của công việc phân tích này là vừa

chỉ ra, vừa giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó

với những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn

' ngôn

XÁC NHẬN: một văn bản hoặc một sẵn phẩm diễn ngôn

'gồm có-hơn một câu và các câu nối kết nhau để tạo thành một

tổng thể có nghĩa Ý tưởng cho rằng văn bản phải tạo ra một

“tổng thể có nghĩa”, có nghĩa là, phải truyền đạt một thông

_ điệp hoàn chỉnh - là lẽ thường, mặc dù không phải luôn dễ

dàng xác định được chỗ văn bản này kết thúc và văn bắn khác

_ bắt đầu Ý tưởng cho rằng văn bản phải gồm hơn một câu hoặc

phát ngôn thì còn có thể tranh cãi Ta xét những cái sau đây:

DUNGI, DI!, DOT!, OU Mi một phat ngôn này gồm có một từ

đơn Tuy nhiên, dẫu sao thì chúng vẫn là những văn bản hoàn

tất theo cách riêng của mỗi cá thể của chúng Mỗi một phát

ngôn truyền đạt một thông điệp mạch lạc, và do đó có thể nói

là chúng tạo được một tổng thể có nghĩa Tôi tin rằng khi được

gán cho một ngữ cảnh thích hợp thì nhiều từ có thể thực hiện

chức năng như những văn bản hoàn chỉnh

Từ những điều tôi đã nói ở phần trước, rõ ràng rằng ngữ cảnh,

là một khái niệm quan trọng trong phân tích điễn ngôn Ngữ

cảnh quy chiếu về tình huổng gây ra diễn ngôn và tình huống

trong đó diễn ngôn được gắn vào Có hai loại ngữ cảnh khác

nhau Kiểu thứ nhất là ngữ cảnh ngôn ngữ - ngôn ngữ bao

quanh hoặc đi kèm với sản phẩm diễn ngôn đang được phân

tích Loại thứ hai là ngữ cảnh phi ngôn ngữ hoặc ngữ cảnh

thuộc về kính nghiệm mà trong đó diễn ngôn xảy ra Các ngữ cảnh phi ngôn ngữ gồm có: kiểu loại của sự kiện giao tiếp (ví

thoại); để tài; mục đích của sự kiện; bối cảnh, bao gồm vị trí,

cho sự kiện giao tiếp

1.3 Ngôn ngữ nói đối ngôn ngữ viết

Mặc dù ngôn ngữ nói nay sinh trước ngôn ngữ viết, tuy nhiên, những văn bản ở dạng viết không chỉ đơn thuần là “cuộc nói

hiện trong các xã hội với tư cách là kết quả của những sự thay đổi về văn hóa, những sự thay đổi đã tạo ra các nhu cầu giao tiếp mới Ngôn ngữ nói đã không thể đáp ứng một cách dé đàng những nhu cầu này Nói một cách cụ thể là với sự xuất hiện những nền văn hóa lấy nông nghiệp làm gốc hớn là săn bắn và hái lượm thì con người đã cần đến những ghi chép giữ

hiện một dạng mới của ngôn ngữ - chữ viết ˆ Thực ra, ngôn ngữ viết thường hoàn thành một loạt các chức năng đại thể giống như các chức năng của ngôn ngữ nói - nghĩa là, nó được dùng để nhờ làm việc gì, để cung cấp thông tin và để giải trí Tuy nhiên, các ngữ cảnh để sử dụng ngôn ngữ viết rất khác với các ngữ cảnh mà trong đó ngôn ngữ nói được

sử dụng Chẳng hạn như trong trường hợp thông tin, ngôn ngữ

23

Trang 12

viết được dùng để giao tiếp với những người khác ở cách xa về

thời gian và không gian, hoặc cho các trường hợp đòi hỏi phải

lưu lại lâu đài hoặc có phần lâu đài Trong khi phần lớn người

ở các thanh phố hoặc ở các quốc gia đã có thể giao tiếp bằng

điện thoại, thì các kiểu loại thông điệp nào đó lại là thích hợp

hơn ở dạng viết - ví dụ như những lời thăm hỏi gia đình và bạn

bè ghi trên bưu thiếp

Halliday (1985b) nêu ra rằng ngôn ngữ viết thì được sử

dụng cho hoạt động (ví dụ các biển ở nơi công cộng, nhãn hiệu

sản phẩm, các sách hướng dẫn vô tuyến truyển hình và vô

tuyến truyền thanh, các hóa đơn, các thực đơn, các niên giám

điện thoại, các lá phiếu, các sách chỉ dẫn thực hành máy vi

tính); để thông tin (ví đụ các báo, các tạp chí thời sự, các quảng

cáo, các tập sách mỏng về chính tr); và để giải trí (ví dụ các

truyện tranh in trên báo, các quyển tiểu thuyết, thơ và kịch, các

chuyên để trên báo, phụ dé phim) Những mục đích khác nhau

sẽ được phản ánh ở những đặc điểm của chính văn bản: thư từ

có những đặc điểm khác với những bài xã luận trên báo, những

bài xã luận có những đặc điểm khác với thơ ca và v.v Như

chúng ta sẽ thấy khi xem xét khái niệm thể loại, những khác

biệt này có thể được quan sát trong câu ở cấp độ ngữ pháp, và

bên ngoài câu ở cấp độ cấu trúc văn bắn,

Những khác biệt giữa hai phương thức nói và viết là không

tuyệt đối, những đặc điểm mà chúng ta có xu hướng gắn với

ngôn ngữ viết thỉnh thoảng có thể xuất hiện trong ngôn ngữ nói

và ngược lại Điểu này có nghĩa là một số văn bản nói sẽ

-giống văn bẩn viết hơn các văn bản nói khác, đồng thời một số

văn bản viết sẽ giống văn bản nói hơn các văn bản viết khác

HOAT ĐỘNG THỰC TIỄN

Những gì lắm cho văn bản le khác với văn bản 1f?

1e Annie,

Đã đến của hàng để lấy sữa Quay lại ngay

Cứ vào và tự nhiên như Ở nhà

- Theơ (tên riêng - chú thích của ND)

(Dữ liệu của tác giả)

Đôi khi sự bận tâm của ai đó với mức trung bình có thể gây cho

người đó không còn nhìn thấy cái sự thật là phan lon trong, sô những quyết định thường ngày quan trọng nhất được dựa trên cơ

sở những cách xem xét phân bổ ở thái cực hơn là ở điểm giữa

(Dữ liệu của tác giả)

Hầu hết người bản xứ sẽ nhận ra rằng le gần với ngôn ngữ nói

hơn 1f, mặc dù le là văn bản viết, còn văn bản 1f có thể được

hình dung là được nói ra

Mặc dù có sự chồng chéo như vậy, ngôn ngữ viết có những nét

nào đấy mà nói chung ngôn ngữ nói không thể dự phan được

Về mặt ngôn ngữ học, ngôn ngữ viết có xu hướng gồm những mệnh để phức hợp từ bên trong, trong khi với ngôn ngữ nói,

tính phức hợp tổn tại ở những cách thức mà các mệnh để được

nối kết với nhau Điều này được minh họa trong các đoạn trích

sau đây - 1g là văn bản viết và 1h là văn bẩn nói

ig

Chausson có cùng như họ một sự sắp đặt mơ mộng, thậm chí

25

Trang 13

đây chất thơ vụ vơ, lộng lẫy nhưng chính xác, và một sinh lực

kín đáo hơn là hùng mạnh, khổ hạnh hơn là thúc bách

(Mordden 1980: 292)

1h

Sáng nay Phó Giáo sự Dean Wolfe sẽ nói về khoa học âm nhạc

vào lác 1] giờ 30, và chúng ta sẽ nghe một vài thứ hấp dẫn như

các nhạc sĩ chơi ngược dòng nhạc từ phía sau về trước nhưng đa

số nhạc sẽ được chơi thuận từ phía trước về sau

(Dữ liệu của tác giả) — ˆ

Chúng ta có thể thấy rằng văn bản viết, ig, dường như có

nhiều tin được gói ghém trong nó hơn Văn bản này chỉ gồm có

một mệnh để chính, trái với văn bản nói mà trong đó có vài

mệnh để được móc nối với nhau theo kiểu-phép cộng Trong

một ý nghĩa nào đó, ngôn ngữ nói thì “không được biên tập”

Nếu người nói trên đây có cơ hội để giới thiệu cùng một nội

đó như những dòng sau:

1i

Sáng nay vào lúc 11 giờ 30, Phó Giáo sự Dean Wolfe sé gidi

thiệu một chương trình nhan đề “Khoa học Âm nhạc”, trong đó

người nghe sẽ có được một số điều hấp dẫn, gỗm có âm nhạc

chơi ngược dòng từ phía sau về trước mặc dù hẳầu hết sẽ được

chơi thuận từ phía trước vỀ sau

Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cũng khác nhạu về tỉ lệ của

thực từ đối với các từ ngữ pháp hay từ chức năng (thực từ hay là

các từ từ vựng tính bao gồm các danh từ và các động từ, còn

các từ ngữ pháp gồm có những thứ như các giới từ, các đại từ

và các mạo từ.) Số lượng của từ mang ý nghĩa từ vựng hay

thực từ trên một mệnh để sẽ cho thấy mật độ từ vựng Trong ví

dụ sau, lấy từ Haliday (1985b), có mười hai thực từ trong một

mệnh để đơn, và do đó, nó có mật độ từ vựng là mười hai [xét ,

theo số thực từ tiếng Anh - ND]

Công dụng của phương pháp kiểm soát này, không còn nghỉ ngờ

gì nữa, là đưa đến những chuyến tàu hoạt động trong những

điều kiện thời tiết khắc nghiệt nhất mà vẫn an toàn hơn và

` rằng chúng sẽ có thể hoạt động an toàn và nhanh

hơn là chúng sẽ hoạt động theo cách thức khác ,

dù cho thời tiết có xấu đến đâu đi nữa Trong 1K, có mười thực từ (điệu khiển, các đoàn tàu, cách thức, chắc chắn, hoạt động, (một cách) an toàn, (một cách) nhanh chóng, xếu, thời tiết, có) được phân bố trong năm ruệnh dé,

mỗi mệnh để của văn bản có mật độ từ vựng là -hai, ˆ Mật độ của ngôn ngữ viết cũng được tăng cường do khuynh hướng tạo ra danh từ từ động từ Ví dụ về quá trình này

như sau:

Các nhà văn giỏi thường Sự suy xét là một đặc điểm

27

Trang 14

suy nghĩ sâu sắc về những

HaHiday (1985b) gọi quá trình chuyển các động từ

thành các danh từ này là phén ẩn dụ ngữ nhán Ông nêu ra rằng

các dạng nói, theo một cách hiểu nào đó, là căn bản hơn các

dạng viết và, trong văn viết, chúng ta đã biến đổi trạng thái

bình thường của các sự kiện bằng cách chuyển loại động từ

thành danh từ Nói cách khác, những quá trình hoặc những

chức năng mà trong hệ thống ngữ pháp của tiếng Anh lẽ ra

-_ được trình bầy như những động từ theo lối thông thường thì đã

bị chuyển đổi thành những “sự vật” và được trình bày như

những danh từ Chính sự chuyển đổi này đã dẫn Halliday đến

Những khác biệt về mặt ngôn ngữ này giữa ngôn ngữ nói

và ngôn ngữ viết là không tuyệt đối Như tôi đã lưu ý, một số

văn bản viết có nhiều đặc điểm của văn bản nói, và ngược lại

Suy cho cùng, dạng ngôn ngữ của văn bản sẽ được quyết định -

bởi một loạt các yếu tố có liên quan trước hết đến ngữ cảnh và

các mục đích mà vì nó văn bản đã được tạo lập ra

HOAT PONG THUC TIEN

Nghiên cứu văn bản viết sau đây Bạn có thể nhận dạng những

cách thức nào mà trong đó các đặc điểm ngôn ngữ của nó được

quyết định bởi ngữ cảnh và mục đích mà vì mục đích đó văn

_†heo kiểu phục vụ truyền thống”

Luôn luôn mua và bán

các sách đã dùng rồi có chất lượng:

Nghệ thuật, Văn học, Giáo trình

Đại học, phi tiểu thuyết các loại SÁCH CŨ CỒN TỐT

202 PHỐ CHÍNH BLACKWOOD

———>\\\\\\T NOODAY\A\\\\\IL TUẦNG

| {BLACKWOOD

PHỐ CHÍNH

ĐIỆN THOẠI số 278 8223 ngoài giờ gọi số 298 3358

Đóng cửa Thứ Hai và Thứ Ba

Thứ Tư, Thứ Năm và Chủ Nhật 11 giờ - 5 giờ 30

Thứ Sáu và Thứ Báy 1 giờ - 5 giờ 30

Trang 15

1.3.3 Tinh huống

Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cũng khác nhau về các yêu cầu

mà chúng đồi hỏi ở người nghe hoặc người đọc Với ngôn ngữ

viết, không có một tình huống chung như có trong tương tác

mặt đối mặt Do đó, tình huống phải được luận ra từ văn bản

Ngoài ra, tự bản thân các từ phải mang tất cả các sắc thái

nghĩa mà trong tương tác mặt đối mặt chúng được truyền tải

bằng hành vi phi ngôn từ Vả lại cũng không có cơ hội cho

người đọc ra hiệu rằng họ không hiểu Tác giả phải ước định

về tình trạng hiểu biết của người đọc Nếu các ước định sai, thì

giao tiếp có thể bị tổn hại nghiêm trọng Cuối cùng, như chúng

ta đã thấy, ngôn ngữ viết gói ghém được thông tin dày đặc hơn

ngôn ngữ nói Điều này có thể tạo ra những khó khăn đối với

người đọc chưa đủ trình độ hiểu biết, đối với các cá nhân học

tiếng nước ngoài hoặc ngôn ngữ thứ hai, hoặc đối với những

người đọc về những khái niệm xa lạ

HOẠT ĐỘNG THỰC TIÊN

Nghiên cứu cuộc thoại lấy từ tác giả Christie (1989: 51) sau

đây và xem bạn có thể giải thuyết được nó nói về cái gì hay

R Vâng, tôi gọi rắn là như vậy

J Được rồi, bạn có muốn dùng cái này không?

J Không nhất thiết là như vậy đâu

F Vâng, chắc chắn là nó ‹ O, bạn nói đúng, nó không rắn

R Vâng, bạn nói đúng, rồi xem, một phút nữa là ta sẽ biết

Đoạn trích này lấy từ một cuộc thoại kéo dài giữa ba người bạn đang luộc trứng ăn điểm tâm trong ngày nghỉ

HOẠT ĐỘNG THỰC TIỀN

Bây giờ hãy xem một bản ghi chép cuộc thoại Trong khi xem, bạn hãy ghi lại sự khác biệt giữa hai đoạn trích

1n

Frạn, Jim và Ros cùng nhau đi nghỉ cuối tuần nhân lễ Phục

sinh Đêm đầu họ nghỉ ở một ca-bin nghỉ mát mà họ đã thuê

Vào buổi sáng, sau khi đã ngủ ngon giấc, họ thức dậy và chuẩn

Ros và Jim, cả hai đã quyết định ăn trứng luộc, trong khi đó

Fran, không thích trứng luộc, mà dễ dàng chấp nhận với một

cái bánh Phục sinh nướng tròn nhỏ và cà phê Việc chuẩn bị

bữa sáng tiến hành rất thân mật, mặc dù có chút ít nhằm lẫn đã

xảy ra bởi chuyện Ros đặt hai quả trứng vào nước đang sôi ở

những thời điểm khác nhau Kết quả là cô ấy đã không thể nói

quả trứng nào đã ở trong nước lâu hơn, mặc dù cô ấy muốn dành riêng cho mình một quả trứng luộc rắn

Ros vớt trong nội luộc trứng ra một quả trúng, và đưa nó

cho Jim, người đã phát hiện rằng quả trứng đó đã khá rắn Rọs

đã kết luận rằng quả trứng còn lại chắc hẳn là cũng rắn, mặc

dù như Jim đã lưu ý rằng cô ấy không có lí gì để tin điều này,

31

Trang 16

bởi vì không có cách nào biết được quả trúng nào đã được cho

vào nước đầu tiên Vấn đề chỉ được giải quyết khi việc vớt quả

trứng thứ hai trong nước ra cho thấy rằng nó cũng rắn bằng quả

trứng đầu

Hai văn bản này minh họa một vài trong những sự khác biệt

giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết mà tôi đã để cập đến

Ngôn ngữ trong văn bản 1m có kèm một chuỗi các hoạt động

trong ngữ cảnh, trong khi văn bản In được viết cho độc giả

chưa biết, ở cách xa về thời gian và không gian Trong văn bản

1m, có nhiều chỗ quy chiếu đến những cái ở bên ngoài bản

thân văn bản Những quy chiếu này không được nhận dạng

một cách tường minh nhưng được quy chiếu bởi các từ và các

tổ hợp từ như điểu này, nó, điều đó, cái này, cái đó v.v Trong

văn bản In, vì tác giả phải xây dựng một ngữ cảnh để tương

tác, nên các đối tượng, người, hành động v.v đều được gọi

tên ra

Nhu cẩu cần phải được tường minh dẫn đến một khác biệt

lớn khác - đó là mật độ từ vung That vay, trong In có số thực

từ hơn gấp đôi so với trong 1m Bạn có thể kiểm tra điều này

bằng cách trở lại với văn bản ấy và gạch dưới các thực từ

“4.4 Cae kiểu loại diễn ngôn

Chúng ta có thể phân lớp các kiểu loại diễn ngôn theo công

việc giao tiếp mà chúng đang làm

HOẠT ĐỘNG THỰC TIỀN

Nghiên cứu các sản phẩm diễn ngôn sau và xem bạn có thể phân

hạng chúng tùy theo công việc mà chúng đang làm hay không

: Thì bạn đang đấy thôi

; Cái gì?

: Bạn đang đấy - bạn đang vào lúc tuổi già của mình đấy thôi

: Có lẽ tôi sống được mười năm nữa Là

; Cái gì hä? Cô ấy nói gì?

như anh đã trải qua một cuộc sống tĩnh tại và không nghiện:

ngập tượu hoặc thuốc lá-thì lẽ ra anh đã có thể nghĩ đến

chuyện nhận được một điện chúc mừng của Nữ Hoàng

- Bạn để thuốc tẩy và các thứ ở chỗ nào?, ‹

: Lối đi kế tiếp, Ở ngăn giữa ấy

-Ồ, vâng, tôi thấy rôi Có phải đây là cái bé nhất mà bạn có?

: Vang, ban can cái gì

: Ủm_m-m - nhãn hiệu Down Eapth giá đặc biệt đấy

: ÓK, được Lim-m-m ba đồng năm chín xu - không rẻ đâu

- Thế thôi, tôi e rằng đó lä cái bé nhất mà họ sẵn xuất

(Dữ liệu của tác giả)

Trang 17

tq

Tôi là bác sĩ Graham Lowe Chúng tôi sếp nghỉ cuối tuân,

nhưng nếu bạn muốn liên hệ với tôi ngoài giờ, bạn sẽ phải làm

hai việc sau Trước tiên, sau tiếng bíp bíp ở cuối lời nhắn của

tôi, bạn hãy để lại tên họ và số điện thoại Sau đó, bạn cân cúp

máy và quay lại số 017331923 là số làm cho máy nhắn tin của

lôi hoạt động, số này sẽ làm cho máy nhắn tin của tôi kêu bíp

bíp Đó là 017331923 Rãi thì tôi sẽ gọi thẳng đến tổng đài

càng sớm càng tốt để nhận lời nhắn của bạn và rồi tôi sẽ gọi

bạn Chúng tôi sẽ mở cửa vào sáng thứ hai lúc 8 giờ 45 như

A: ve ấy đã mắc bệnh ly a-míp ở Ấn Độ với và Phil cũng

C: Phil nao?

A: Phil Bryant

C: A-a-a

B: Ùm-m-m

bồ của cô ấy

Độ dành cho chuyến đi lớn lao này, và họ cùng mắc bệnh ly

a-mip đã trải qua một thời gian ở Ấn Độ bệnh hoạn - rồi

thì đã bay trở về Sydney ở đó cả hai vẫn còn bệnh nặng

nhưng Pauline đã đỡ hơn chút ít và bây giờ cô ấy tái phát và

cô ấy đã đến cô ấy đang đến đây hôm nay

: Thế đấy cũng kinh đấy

: Bạn thường chữa bệnh Íy a-mip : Vang

(Dữ liệu cửa tác giả)

Một cách theo đó có thể phân chia được các văn bản là chia 4

thành đối thoại và đơn thoại Một cách phân chia khác sẽ là

chia văn bản thành những văn bản đựa trên cơ sở giao dịch, và

những văn bẩn dựa trên cơ sở liên cá nhân Ngôn ngữ giao dịch

là ngôn ngữ diễn ra khi những người tham gia có quan tâm đến

sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ Ngôn ngữ liên cá nhân, mặt

khác, diễn ra khi những người nói ít quan tâm đến sự trao đổi

hàng hóa và dịch vụ hơn là làm cho có tính chất xã hội Nếu

chúng ta theo cách phân biệt này, chúng ta sẽ phân các văn

bản lo và 1r vào nhóm với nhau dưới tiêu để liên cá nhân, và

các văn bản lp và †g vào nhóm với nhau dưới tiêu để giao dịch Cách phân biệt này - giữa ngôn ngữ dùng để có đuợc hàng hóa và dịch vụ, và ngôn ngữ dùng để hoàn thành một

mục đích xã hội - là một việc thường thấy trong sách báo (xem

Brown và Yule 1983a làm ví dụ) Điều này không có nghĩa là một văn bản nào đó được xét sẽ chỉ biểu lộ một chức năng này hoặc một chức năng khác trong số các chức năng của nó

35

Trang 18

Nhiều tương tác vốn bản chất là giao dịch, cũng sẽ biểu lộ các

chức năng xã hội, đẳổng thời những tương tác chủ yếu là xã hội

vẫn có thể chứa những yếu tố giao dịch Điều này được bày tổ

trong cuộc thoại sau đây, trong đó có cả hai chức năng giao

B: Vâng Rohan đã đến chưa?

A: Dumno - Tôi vừa mới bắt đầu Như mọi lần chứ?

B: Cám ơn

(Dữ liệu của tác giả)

Hai phạm trù chức năng chủ đạo này không nói hết mọi khả

năng có thể xảy ra Hãy xem xét chức năng của văn bẩn sau

là cái không thể hiểu `

là cái không phải giải thuyết

Sự tự do của những người xa lạ

vậy mà ở tận thâm tâm

một đêm dày đặc sao trời

có gió nhẹ ấm áp khuấy cát bụi lên

như tấm chăn sâm mầu và khắp chung quanh

hoặc thẩm mĩ Chức năng thẩm mĩ này là mục đích chủ đạo thứ

ba đối với người sử dụng ngôn ngữ

ĐỂ ÁN `

Bạn hãy ghi âm và chép lại một cuộc thoại dài 5-10 phút giữa

: hai hoặc ba người Bạn có thể nói gì về những đặc điểm sau?

- để tài

- mục đích hoặc chức năng

- bối cảnh

- những người tham gia và mối quan.hệ giữa họ

- hình thức của thông điệp

- nội dung của thông điệp

TÓM TẮT

e Hai thuật ngữ then chốt trong sách này là “văn bản” và

“diễn ngôn” Văn bản chỉ các ghỉ chép hoặc ghi âm một sẵn

phẩm giao tiếp, trong khi đó diễn ngôn chỉ một sản phẩm

giao tiếp trong ngữ cảnh

se Phân tích văn bản là sự nghiên cứu các phương thức hình

thức của ngôn ngữ, chúng giúp phân biệt một văn bản với

e Cé&c nha phan tich dién ngén cũng¬qghiên cứu các phương

thức tạo thành văn bản như thế Tuy nhiên, họ làm việc đó

có tham khảo những mục đích và những chức năng mà vì chúng diễn ngôn đã được tạo lập, cũng như cái ngữ cảnh mà

37

Trang 19

38

trong đó diễn ngôn đã được tạo ra Mục tiêu cuối cùng của

họ là chỉ ra các yếu tố ngôn ngữ giúp cho người sử dụng

ngôn ngữ cách thức để có thể giao tiếp trong ngữ cảnh cụ

thé

Trong khi xem xét những mục đích mà vì chúng ngôn ngữ

được sử dụng, chúng ta có thể phân biệt giữa ngôn ngữ “có

tính chất giao dịch”, là ngôn ngữ được dùng để đạt được

hàng hóa và dịch vụ, và ngôn ngữ “liên cá nhân”' là ngôn

ngữ được dùng cho sự xã hội hóa

Sự phân biệt quan trọng khác là sự phân biệt giữa ngôn ngữ

nói và ngôn ngữ viết Cả hai phương thức này đã tiến hóa

để phục vụ những mục đích giao tiếp khác nhau, và những

mục đích giao tiếp khác nhau này được phản ánh trong bản

thân diễn ngôn

¿ Yếu tố ngôn ngữ trong diễn ngôn

2.1 Liên kết

ˆ Trong chương 1, chúng ta đã thấy rằng những văn bản mạch

lạc - nghĩa là, những chuỗi câu hoặc phát ngôn có vẻ như “mắc

vào nhau” - chứa đựng cái được gọi là các phương thức tạo thành văn bản Đây là những từ và tổ hợp từ làm cho người

viết hoặc người nói có thể thành lập các mối liên hệ xuyên qua

biên giới câu hoặc phát ngôn, và chúng giúp buộc các câu lại với nhau trong một văn bản Trong chương này, tôi sẽ xem xét các phương thức tạo thành văn bản này một cách chỉ tiết hơn

Sự mô tả và phân tích bao quát nhất về các phương thức

này được tìm thấy trong Halliday và Hasan (1976) Các tác giả

đó đã nhận đạng năm kiểu loại liên kết khác nhau: liên kết quy

_ chiếu, thế, tỉnh lược, nối và từ vựng Trong Halliday (1985a)

những loại liên kết này được gạn lọc thêm và năm phạm trù

được qui lai thănh bốn, theo lối phép thế được xem là một

24.4 Liên:kết quy chiếu

Nếu một.câu đơn bị lấy ra khỏi ngữ cảnh và được giới thiệu riêng, nó có thể chứa những thành tố khó hiểu, nếu không nói

là không thể nào hiểu được Bạn hãy xem khúc đoạn sau: Anh

ta đang quay gân đoạn cuối của Cape Fear, đang ở đằng trước

của một quây tạp phẩm ngay bên ngoài Fort Lauderdale,

Ai là nhân vật bí ẩn ở ngoại ô của Fort Lauderdale nay, ai

vẫn mang cảm giác tội lỗi về chuyên mặc quần jean đặt một

39

Trang 20

i

t

người thiết kế riêng? Cắc yếu:-tố anh dy la không thể giải

thuyết được Tuy nhiên, nếu chúng ta tiếp cận được với ngữ

cảnh mà trong đó câu này xuất hiện, vấn đề khá là dễ hiểu,

2a

Martin Scorsese dang giét thời gian trong khi đợi mặt trời di

qua sau một đám mây vì thế cânh quay tiếp theo sẽ là cảnh cuối

càng Anh ta đang quay gân đoạn cuối cilia Cape Fear, đang ở

đằng trước một quây tạp phẩm ngay bên ngoài Fort Lauderdale,

Juliette Lewis dang đồng vai một cặp vợ chéng cùng con gái của

họ chạy trốn khỏi một người loạn thần kinh Tay của Scorsese

hiếm khi rời cái túi bên hông quân jean đặt may của anh, chỗ

mà anh làm như dây đẳng hô của anh lễ xâu chuỗi gây phiền

phúc Anh ta thường iho Armani may: quan jean cho’ minh,

nhưng anh ta cằm thấy tội lỗi khi mặc chúng

Hồi chiếu và khứ chiếu,

Có hai cách khác nhau để các yếu tố quy chiếu có thể thực

hiện chức năng trong một văn bản Chúng có thể thu hiện

chức năng theo kiểu tham khảo ngược lại phân đã qua Hoặc

chúng có thể thực hiện chức năng theo kiểu tham khảo hưởng

tới phía sẽ đến Trong văn bản 2a các từ Martin Scorsese, anh

ta, (vái) anh 1a,'(của}' anh 1a, (của) anh ta, anh ta, (của) anh ta

cá nhân này được thiết lập ở câu mở đầu Các yếu tố tiếp

sáu đó chỉ có thể được giải thuyết với sự quy chiếu về tổ hợp từ

mở đầu của câu đầu tiền hãy Kiểu phương thức này được hiểu

fa hổi thiếu Hồi chiếu giúp cho người đọc hoặc người nghe

“lùi trổ lải”'với một thực thể, một quá trình hoặc sự thể đã

40

ược để cập trước đó Khứ chiếu giúp cho người đọc hoặc người

bán để nhận dạng các phần tử mà các yếu tố quy chiếu chiếu 4 an da ‘

tính, như trong đoạn trích sau đây:

b z A 9

Trong vòng năm phút hoặc mười phút, không hơn thế, ba trong

số những người khác đã gọi điện thoại cho cô dy dé hỏi cô xem

đã nói rằng cô ấy nghe thấy có điều gì xây ra Ở đó Bạn Mà

chuyển tiếp cùng một lời nhắn này tới vài người khác

(Wolfe 1979)

Quy chiếu chỉ ngôi, quy chiếu chỉ định và quy chiếu so sánh

quy chiếu - đó là quy chiếu chỉ ngôi, quy chiều chỉ ¢ mt a ay

người viết hoặc người nói có thể tạo thành những Ì ae

chiếu đến người và vật trong một văn bản Sau day là a

gạch dưới, phần thứ hai được in đậm.) ˆ QUY CHIẾU CHỈ NGÔI

Các đơn vị quy chiếu chỉ ngôi, như trong văn bản 2a, được “en

đạt bằng đại từ và từ hạn định Chúng dùng để nhận dạng c

41

Trang 21

Quy chiếu chỉ định được diễn tả bằng từ hạn định và trạng từ

Những yếu tố này có thể đại diện cho một từ đơn hoặc một tổ

hợp từ, hoặc những khúc đoạn dài hơn nhiễu của văn bản - kéo

Nhận thấy rằng đất nước mình phải thay đổi, Gorbachev lệ ra

nên là một nhà cách tân thận trọng theo kiểu Trung Quốc, khi

đưa ra những cải cách kinh tế và bảo trợ cho công nghệ mới vẫn

gửi vững không để thay đổi về chính trị Điều này đã không

diễn ra

QUY CHIẾU SO SÁNH

Quy chiếu so sánh được diễn đạt bằng tính từ và trạng từ và

dùng để so sánh những yếu tố trong một văn bản về tính đồng

nhất hoặc.tính tương tự

B: Không, thực tình, tôi muốn những chỗ ngôi khác cơ

HOAT DONG THUC TIEN

Có bao nhiêu trường hợp liên kết quy chiếu mà bạn có the 0m

“thay trong cuộc thoại sau đây?

42

: Cái chai kia trông hay quá

- Vâng, đúng thế, phải không nhỉ Nó đẹp Bia cũng ngon

: Ô, thật là kì, cái đó trông yêu quả Bạn đã mua cái đó Ở

O, cd mot cita hang nhé ban chai goi la Wine City Wines &

trong thành phố, Có lẽ chúng ta sẽ đến đó ngày mai và xem

Trong công trình nghiên cứu năm 1976 về liên kết, Halliday và

Hasan đã giải quyết hiện tượng thay thế và nh lược một cách

riêng rẽ, mac dt ho thường lưu ý rằng hai loại liên kết này

thực chất là giống nhau Tỉnh lược được mô tả như một đạng

của thay thế trong đó yếu tố gốc bị thay thế bằng 76-10 Trong

lẫn xuất bản sau Halliday (1985a) tổ hợp thay thế và tỉnh lược

Trang 22

THẾ CHO DANH TỪ

Có vài quả bóng ten-nít mới ở trong tái xách Mấy cái (quả) này

không còn nẩy nữa

THẾ CHO ĐỘNG TỪ _

Á: Annie nói rằng bạn uống quá nhiều

B: Bạn cũng thế!

THE CHO MENH DE

A: Trời sắp mưa phải không?

B: Tôi nghĩ thế

Trong mỗi ví dụ này, một phần của văn bản đi trước đã bị thay

thế bằng mấy cái, thế, thế một cách tương ứng Những từ này

chỉ có thể được hiểu đúng trong mối liên hệ với những cái đi

trước nó

Phép tỉnh lược

Tỉnh lược xảy ra khi một thành tố cấu trúc chủ yếu nào đó bị

bồ ra khỏi một câu hoặc một mệnh để và chỉ có thể được phục

hổi bằng cách chiếu về một thành tố trong văn bản đi trước

Hãy xem khúc đoạn điễn ngôn sau đây và xét câu hỏi để hiểu

Mary: Tôi thích cái màu xanh lá cây hơn

Câu hỏi: Hãy chọn câu: trả lời đúng: Mary thích cái mau

xanh lá cây hơn:

(a) mũ, (b) áo đầm, (c) đôi giày

44

Trong tình thế này, câu hỏi không thể nào trả lời được

Tuy nhiên, nếu chúng ta biết được cái gì đã được nói đến trước

đó thì câu trả lời trổ nên khá dễ dàng

Sylvia: Tôi thích cái mũ màu thiên thanh

Mary: Tôi thích cái màu xanh lá-cây hơn

Cũng như với thay thế, tỉnh lược có ba loại - danh từ, động

từ và mệnh để Sau đây là ví dụ về từng loại (Điểm mà ngữ

liệu đã bị lược bỏ khỏi câu thứ hai của mỗi văn bản sẽ được

đánh dấu bằng (0).) Trong mỗi trường hợp, xem bạn có thể

nhận dạng ngữ liệu đã bị rút bỏ hay không, TỈNH LƯỢC DANH TỪ

Mấy đứa trẻ nhà tôi chơi thể thao nhiều ghê gớm Cả hai (0) đều năng nỗ mội cách không thể tưởng được.'

Phép nối khác với quy chiếu, thay thế và nh lược ở chỗ nó

- không phải là cách để nhắc người đọc nhớ lại những thực thể,

hành động và sự thể đã được để cập trước đó Nói cách khác,

45

Trang 23

nó không phải là cái mà các nhà ngôn ngữ học gọi là sự liên

hệ hồi chiếu Tuy nhiên, nó là phương thức liên kết bởi vì nó

báo hiệu các mối quan hệ, mà những mối quan hệ này chỉ có

thể được hiểu một cách đầy đủ qua tham khảo các phân khác

của văn bản Có bốn kiểu loại nối - theo quan hệ thời gian,

nhân quả, bổ sung và nghịch đối Sau đây là ví dụ của mỗi

loại

NGHỊCH ĐỐI |

Tôi e rằng tôi sẽ về nhà muộn tối nay Tuy nhiên, tôi sẽ không

phải về muộn ngày mai

Tôi khá thích được tắn tình khi tôi đang ngôi ở quây uống Mặt

khác, tôi ghét nó nếu bạn biết đấy nếu anh chàng bắt đầu

làm cho chính anh ta phải khó xử

(Các mối quan hệ được báo hiệu bởi /uy nhiên và mặt khác đều

có tính chất nghịch đối, bởi vì tín ở câu thứ hai của mỗi văn

bán tiết chế hoặc bổ sung cho tin ở câu thứ nhất)

BO SUNG

Từ một quan điểm tiếp thị, báo khổ nhỏ thông dụng khuyến

_ khích người đọc đọc cả trang thay vì chọn lựa các câu chuyện

Và phải chăng đó là điêu mà nhà xuất bản nào cũng muốn?

(Ở đây và báo hiệu sự giới thiệu của tin bổ sung.)

'THỜI GIAN

Chè bánh là một loại hỗn hợp đã được nên thành bánh Chủ yếu

những nhóm người thiểu số ở Trung Quốc dùng nó Trước tiên

người ta nghiền nó thành bột Sau đó người ta thường nếu chín

(Trong kiểu nối này, mối quan hệ là quan hệ nguyên nhân và

kết quả.) :

Ở đây, tôi muốn vắn tắt nhắc đến một điểm mà sau này sẽ được giải quyết chỉ tiết hơn ở chương 3: các phương thức liên

kết tự chúng không tạo ra các mối quan hệ trong văn bản;

những gì chúng làm được là làm cho các mối quan hệ trở thành

tường minh Thực ra, phần lớn các mệnh để trong một văn bản

có thể quan hệ với một số mệnh để khác mà không cần đến

mối quan hệ được báo hiệu tường minh bằng phép nối cho người nghe hoặc người đọc biết Có một mối quan hệ về thời gian trong cả hai văn bản sau day (trich tiy Martin 1981a),

nhưng mối quan hệ này chỉ được đánh dấu tường minh ở vặn

bản thứ hai

1 John bước vào Anh ta ngôi xuống

2 John bước vào Rồi anh ta ngôi xuống

liên từ "then” (“rồi”) không tạo ra quan hệ biểu thị thời gian Để

cho một người nói tạo ra văn bản 1, và để cho người nghe hiểu được

nó, thì cái chính yếu là mối quan hệ thời gian được nhận biết Việc

đặt cạnh nhau đơn giản để đối chiếu các mệnh để trong 1 cũng đủ

để báo hiệu mối quan hệ đó Cái mà “then” trong văn bản 2 làm là

“đóng dấu” lên mối quan hệ đang bản, làm cho việc một hành động

4?

Trang 24

|

,

` đã xẩy ra sau một hành động khác trở thành tường minh đối với

người nghe (Marun 1981a: 1)

HOAT DONG THUC TIEN

Bạn có thể nhận dạng bao nhiêu mối quan hệ liên kết trong

văn bản sau đây?

2d

Miệt cách đặc thù, cây cối tổng hợp các hợp chất hữu cơ từ

những chất thô vô cơ đơn giản Trong cây xanh, năng lượng của

quá trình này là ánh sảng mặt trời Cây cối có thể sử dụng năng

lượng này bởi vì chúng có chất diệp lục chứa sắc tố xanh lá cây

Sự quang hợp hoặc “tổng hợp ánh sáng”, là một quá trình “tự

Động vật, mặt khác, phải lấy được các chất hữu cơ phúc

hợp bằng cách ăn cây cỏ và các con vật khác Lí do của việc

này là ở chỗ chúng không có chất điệp lục Giữa những “vật ăn

thức khác” hoặc những sinh vật dinh đưỡng thực bào này, có

những "vật ăn thức lỏng” hoặc là những vật dinh dưỡng thẩm

thấu Trong khi các sinh vật dưỡng thực bào hấp thu thực phẩm

đặc và thường là sống, thì các sinh vật dưỡng thẩm thấu ngấm

dần hoặc hút thức ăn lông Thực phẩm này thuong từ các sinh

(Pearson 1978)

Liên kết từ vựng xảy ra khi hai từ trong một văn bản có liên quan

nhau về mặt nghĩa theo một cách nào đó - nói cách khác, chúng

liên hệ nhau ở mặt nghĩa Trong Halliday và Hasan (976), hai

phạm trù chính của liên kết từ vựng 1à lặp và phối hợn

48

q #

Lặp (từ ngữ)

Phép lặp gồm có nhắc lại, (từ ngữ) đổng nghĩa hoặc gần nghĩa,

(từ ngữ) trên bậc và (từ ngữ) khái quát Sau đây là ví dụ của

mỗi loại Từ hoặc cụm từ thứ hai được gạch dưới trong mỗi văn

bần quy chiếu về cái thực thể đã được nhắc đến trước đó Phép lặp, do đó, hoàn thành một chức năng nghĩa tương tự với phép

quy chiếu của liên kết

NHẮC LẠI

có Nói vắn tắt, tờ báo “phổ thông” có lẽ là một vé số trúng

Căn bệnh này dễ dàng tấn công mọi người từ trẻ con đến người

Trang 25

Phối hợp (từ vựng)”

Phối hợp (từ vựng) có thể gây ra những khó khăn lớn cho phân

tích diễn ngôn bởi vì nó bao gồm tất cả các yếu tố có liên quan

về mặt nghĩa trong một văn bản Trong một số trường hợp, nó

làm cho khó quyết định để biết chắc là có tổn tại một mối quan

hệ liên kết hay không Trong đoạn trích 2d, chúng ta có thể nói

rằng các yếu tố sau đây là những ví dụ của phép phối hợp các

từ từ vựng tính bởi vì chúng thuộc về cùng một lãnh vực khoa

học của sinh vật học: cây cối tổng hợp hữu cơ vô cơ

cây xanh năng lượng ánh sáng mặt trời cây cối năng

lượng sắc tố xanh chất diệp luc quang hợp tổng hợp

ánh sáng tự cho ăn tự dưỡng `

Đa số các nhà ngôn ngữ học đã từng viết về liên kết đều chấp

nhận rằng phối hợp các từ từ vựng tính là một vấn để, và vì lí

do này, một số từ chối không bàn đến nó Martin (1981b: 1) lưu

ý rằng, trong khi còn có những vấn để trong việc xác định sự

phối hợp, thì “đóng góp của nó vào tính mạch lạc trong văn

bản có tâm quan trọng đến mức người ta không thể bổ qua nó.”

Các khó khăn nảy sinh bởi vì phối hợp được diễn đạt bằng các

yếu tố thuộc lớp mở hơn là thuộc lớp đóng Các yếu tố từ vựng

“đóng” gồm có tất cả các từ ngữ pháp tính như đại từ, liên từ

và giới từ - số thành viên của chúng là hữu tận Ngược lại,

không có giới hạn cho những yếu tố có thể được đùng vào việc

diễn đạt phép phối hợp Điều này có nghĩa là khó thiết lập các

từ và tổ hợp từ cùng đồng thời xuất hiện (đồng hiện) một cách

Một khó khăn thêm nữa là hiện tượng có nhiều mối quan

, hệ fừ vựng bị ràng buộc vào van bản cũng như bị rằng buộc vào ngữ cảnh Điều này có nghĩa là những từ và tổ hợp từ có lên quan nhau trong một văn bản này có thể không liên quan nhau

trong một văn bản khác Ví dụ các từ người hàng xóm và tên vô

lai 1a không có liên quan nhau gì cả Tuy nhiên, chúng là từ -_ đồng nghĩa trong văn bản sau đây,

Người hàng xóm của tôi vừa để cho một trong số cây của hắn

Và tên vô lại này từ chối trả tiền thiệt hại mà hắn đã gây ra

Xét về bản chất bị rằng buộc vào văn bản như vậy của nhiều mối quan hệ từ vựng, thì không thể phát triển một danh

sách hữu tận của những yếu tố từ vựng có thể có liên quan nhau trong tiếng Anh Tuy nhiên, mặc dù bẩn chất nó có vấn

để, liên kết từ vựng, về nhiều phương diện, là điều thú vị nhất

của tất cả các phạm trù liên kết Hiểu biết cư sở của người đọc

hoặc người nghe đóng một vai trò rõ rệt trong việc nhận thức

các mối quan hệ từ vựng hơn trong việc nhận thức các kiểu

loại liên kết khác Các khuôn mẫu phối hợp từ vựng chẳng

hạn, sẽ chỉ được lĩnh hội bởi những ai biết đôi điều về để tài sắp xảy ra Cái bản chất bị ràng buộc vào văn bản của nhiều

quan hệ từ vựng, và vai trò của người sử dụng ngôn ngữ trong

việc lĩnh hội chúng, làm thành vấn để đối với nhà ngôn ngữ

học quan tâm tới việc cung cấp một bản kê mặt nghĩa của liên

kết từ vựng

Một vấn để nảy sinh trong việc phân tích những quan hệ

này trong văn bản có liên quan đến việc một yếu tố có thể

cách xa bao nhiêu “bước” trong một lớp từ và vẫn còn đóng góp được vào liên kết Ví dụ, hoa hồng và hoa có về có quan

Si

Trang 26

hệ gần hơn hoa hông và cây ; và mặc dù người ta sẽ chấp nhận

mối quan hệ giữa muỗi và côn íràng, nhưng người ta lại nghỉ

vấn về trường hợp muỗi và động vật Có phải những yếu tố nói

đến sau này tách rời nhau quá nhiều bước trong một lớp để có

thể liên quan với nhau?

Như tôi đã nêu, các lớp từ tự do đối với văn bản hoặc ngữ

cảnh có thể chỉ tự do được phần nào, và việc kiểm tra liệu

nhiều yếu tế có liên kết với nhau hay không, sẽ được xác định

bởi cái văn bản riêng biệt mà trong đó chúng xuất hiện Thêm

vào đó, khẩ năng nhận dạng các mối quan hệ phối hợp từ vựng

của chúng ta trong một văn bản sẽ phụ thuộc vào hiểu biết cơ

sở của chúng ta - tức là, phụ thuộc vào sự quen thuộc của

chúng ta đối với nội dung của văn bản

Hoey (1991) biện luận rằng liên kết từ vựng là đạng liên

kết quan trọng duy nhất, là lời giải thuyết cho những cái gì đó

như là bốn mươi phần trăm của các mối dây liên kết trong các

văn bản Công trình của.ông quá phức tạp không thể bàn thêm

chi tiết.ở đây Tuy nhiên, ý tưởng chính của ông đáng để ta

Xem qua

Hoey ủng hộ ý kiến cho rằng những mối quan hệ từ vựng

khác loại nhau giữa các câu khác nhau tạo thành một văn bản

cung cấp một thước đo cho tính liên kết của văn bản Tính

trọng tâm và tâm quan trọng đối với văn bản của bất kì một

câu riêng biệt nào bên trong văn bản đều sẽ được xác định bởi

số các nối kết từ vựng mà câu đó có được-đối với các câu khác

trong văn bản đó Ông minh họa điểm này bằng cách phân tích

văn bản sau

GẤU LỚN BẮC MĨ SAY THUỐC

Theo một bài tường thuật trong Thời báo NewYork, một loại ma túy được biết là tạo ra những phần ứng mạnh Ở con người, đã

được dùng để làm dịu những con gấu lớn Bắc Mĩ Ursus arctos Ở

Montana, Hoa Kì Sau vụ một con gấu được biết là một con vật

hiền lành, đã giết chết và ăn thịt một người cắm trại trong một

cuộc tấn công không do khiêu khích, các nhà khoa học đã phát hiện rằng trước đó nó đã bị gây mê 11 lần bằng phencyclidine

cho người dàng một cảm giác mất hết lí trí của sức mạnh phá

phách Nhiều gấu hoang đã trở thành "những kẻ nghiện ma túy

rác rưởi” kiếm ăn từ những đống rác quanh những khu định cự

của con người Để tránh những đụng độ có khả năng gây nguy

hiểm giữa chúng và con người, các nhà khoa học đang cố gắng

phục hồi cho những con vật này bằng cách gây mê và thả chúng

vào những khu vực không có người ở Mặc dù một số nhà sinh vật học phủ nhận việc chất ma túy làm thay đổi tâm tính này

phải chịu trách nhiệm đối với hành vi không phải là đặc tính

của chú gấu riêng biệt này, cho đến nay chưa có một cuộc

nghiên cứu nào được tiến hành đối với các tác dụng của việc

cung cấp cho gấu Bắc Mĩ hoặc các động vật có vú khác những liều phencyclidine nhắc lại

(Chương trình Động vật hoang đã, BBC, 1984, 2, 3: 160)

Trước hết, phân tích của Hoey gồm việc đếm số các nối kết

bằng phép lặp giữa các câu khác nhau trong văn bản, Câu ] có

bốn nối kết với các câu 2, 3, 4 và 5 Những nối kết này được

liệt kê dưới đây:

trong nguyên ban: “angel dust” - ND,

° 33

Trang 27

1, tạo ra COn người (đã) dàng

việc làm dịu gấu lớn Bắc Mĩ

việc Hêm thuốc an thân

các con vật

(Lưu ý rằng tuy được biết xuất hiện ở cả hai câu 1 và 2, chúng

không được xem là phép lặp vì chúng nhắc đến những hiện

tượng khác nhau.)

Sử dụng thủ tục này, thì có thể bắt đầu nhận dạng một số nối kết giữa từng câu trong một văn bản,

Các kiểu loại liên kết khác nhau được thảo luận trong

phần này được sắp xếp lại trong hình ở trang sau

Điều quan trọng là các giáo viên ngoại ngữ cân có một số

hiểu biết về liên kết và các cách thức mà liên kết làm cho các

mối quan hệ trong văn bần trở nên tường minh Như chúng ta

sẽ thấy ở chương 4, việc học đọc và học viết cớ liên quan đến

việc phát triển tính làm chủ các phương thức khác nhau này, và

cũng đã rõ là có thể có lợi cho trẻ em qua việc chỉ dẫn rõ rang

- cách sử dụng các phương thức này

2.2 Dấu trúc tin

Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét các cách thức mà tin

được tổ chức bên trong và bên ngoài câu Chúng ta sẽ thấy

rằng cách thức mà tin được bố trí bên trong một câu sẽ chịu

ảnh hưởng bởi khuôn mẫu các câu trong toàn văn bắn,

Trang 28

2.2.1 Don vị phân tích trong diễn ngân

Bên ngoài giới hạn câu

Có một số cách tiếp cận khác nhau đối với việc phân tích diễn

tên các khuôn mẫu xuất hiện trở đi trở lại một cách đều

trong diễn ngôn Về một vài phương diện nào đó, phương p

đã dùng, mục đích của họ là thành lập các quy tắc để miê

các câu của một ngôn ngữ thông qua các thành tố bắt buộc đối

Với câu và các thành tế tùy chọn Ví dụ, xem mẩu câu Sau đây

(NP = tổ hợp danh từ tính, VP = tổ hợp động từ tính, AdvP =

tổ hợp trạng từ tính):

siêu đặt đặn háp

câu uta

Câu =NP+VP NP+ [AdvP]

khuôn mẫu này qui định rin

lêu biểu của mẩu

Nôm qua tôi đã thưởng thức bộ phim ấy

_ Ngày mái cô Ấy có một cuộc phỏng vấn

Tối nay họ sẽ đến thăm Chúng tôi

Vào tuần sau họ: có thể tham gia cing ching ta.”

56

thủ tục phân tích được các nhà ngữ pháp câu sử dụng, “Cane

này, một câu hỏi về, ờ, này, vài câu hồi sẽ về chính trị, và

vài câu hỏi sẽ về, ờ, về cái gì?

Sy Thay cé thé ding [không nghe they rõ " ta oo td ng

lời, và các em đã có câu hỏi đó

%y _ Dạ vâng

nhưng những câu hỏi ngữ

37

Trang 29

Gy Thậi thế! Tôi sẽ phải đến chỗ một giáo su và nhờ ông ay

đặt các câu hỏi cho lớp này Các câu hỏi ngữ pháp mà

Azzam không thể trả lời được

Đà sao đi nữa, vậy là ừm, thứ năm vâng, thứ năm À,

nhưng hôm nay, ờ, chúng ta sẽ làm cái gì khác

Gy hém nay, ờ, chúng ta sé lam diéu 8ì đó mà chúng ta, ờ,

nghe một cuộc thoại - ờ, thật ra, chúng ta sẽ không nghe

một cuộc thoại Chúng ta sẽ nghe bao nhiêu cuộc thoại

nhỉ?

(Nunan 1989)

Cuộc tương tác cụ thể này dường như được tạo thành bởi một

loạt các khuôn mẫu trở đi trở lại Giáo viên khởi động cuộc

tương tác, thường bằng cách đặt câu hỏi mà mình biết câu trả

lời, một hoặc vài sinh viên trả lời, rồi giáo viên đưa ra một

mức đánh giá nào đó đối xới câu trả lời

nhau, vì thể) ờ, này, một câu hỏi về, ờ, này,

vài câu hồi sẽ về chính trị, và vài câu hỏi sé

PANHGIA Gv Ngữ pháp thì được, vâng, ve

Lượt Lượt L\ Lượt Lợt Lượt kượt Lượt Lượt Lượt Lượt Lượt

lờ lời lời lời lời lời lời ời lời Oi ời

TT AT A NA

no nn nn oni nn nn an an nn nn an pn an an an nm ono An nh on nf mn no nn

Sinclair va Coulthard m6 ta mô hình này đẫu tiên (1975) Hai

-tác giả đã nhận thấy rằng các tương tác trong lớp học tuân theo

một cách điển hình cái khuôn mẫu khá cứng nhắc này - không

kể đến môn học được dạy hoặc độ tuổi của học sinh trong lớp

Sinclair và Coulthard gọi cấu trúc ba phần này là một trao đáp (exchange) Các tác giả gọi ba thành tố tạo nên trao đáp là các lượt lời (moves), các lượt lời lại được tạo thành từ các hành

động ngôn ngữ (hđnn) (speech acts) Ho thấy rằng các bài

giảng trọn vẹn gồm có các xuyên thoại (transactions), các xuyên thoại này được tạo thành bởi các trao đáp ba phần này

7 Xuyên thoại tạm dùng để dịch từ transaction của nguyên bản Từ

đành chỉ một kiểu loại diễn ngôn - ND :

Trang 30

Mỗi xuyên thoại trong bài giảng được báo hiệu một cách tường

mỉnh bởi một lượt lời "đóng khung”, gồm một từ ngữ kiểu OK,

được, vậy thì, bây giờ Do đó, các bài giảng được trình bày

bằng lược đỗ như đã nêu trên kia

Sau nữa, khối kiến trúc cơ sở của bài giảng là hành động |

ngôn ngữ, đó là một phát ngôn được mô tả theo chức năng của

nó Sinclair và Coulthard đã nhận dạng một số hành động ngôn

ngữ như sau:

HOẠT ĐỘNG THỰC TIỀN

Bạn có nghĩ rằng mô hình mà Sinclair và Coulthard phát triển

sẽ thích hợp cho việc phân tích các kiểu loại tương tác khác hay không? Hãy nghiên cứu cuộc thoại sau và phát triển một

hoc sinh

-trả lời của học sinh

Thua tha yl

Sinclair và Coulthard đã sử dụng mô hình này để thảo ra

“các quy tắc của diễn ngôn”, các quy tắc định rõ các thành tố

bắt buộc và tùy chọn trong một trao dap da cho Do đó, phương

pháp này tương tự với phương pháp của các nhà ngữ pháp câu

đã được mô tả ở phần trước

Sinclair và Coulthard chưa hẳn đã quan tâm đến các lớp

học với tư cách là những thế giới của tương tác theo cách riêng

của chúng Mục đích chính của các tác giả này là ở việc phát

triển một phương pháp dành cho phân tích điễn ngôn Các lớp ˆ

học bỗng dưng trở thành những nơi tiện lợi để bắt đầu Trước

tiên, chúng là những môi trường qui thức trong đó có những

quy tắc tương đối rõ ràng cho một qui trình Hơn nữa, vai trò,

chức năng và các mối quan hệ về quyền hạn giữa những người

Số 13 đại lộ Pinch, East Ryde

Đó là nhà riêng hay căn hộ q2

Hiện giờ ông đã chuẩn bị xong chưa ạ?

Xin vui lòng cho xe đến lúc 2giờ 30 chiều

Chúng tôi sẽ cho một xe đến chỗ ông càng

sát giờ ấy càng tốt ạ

Cảm ơn

61

Trang 31

HOAT BONG THUC TIEN `

Quy tắc này khớp với tương tác sau đây đến mức nào?

2h —

cái thuyén budm & Noosa va đặt chúng trên bãi biển

và cho thuê chúng và suốt thời gian chỉ nghỉ ngơi ở

Mọi người (cười)

.Bronwyn:ừm-m không rồi xem dù cho tôi có trúng lô-tô, tôi

vẫn phải đi làm - Tôi không thể chịu thế được

Bronwyn: tdi còn - không, tôi cần tiếp Xúc với mọi người

hết mọi khoản nợ và nếu trong đầu tôi không còn

chuyện ấy nữa - tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn - ừm nhưng rỗi tôi lại nghĩ rằng tôi muốn làm việc bán

thời gian

Gary; 6, 161 - toi khéng biét duoc

đã không thích ứng riêng cho việc phân tích cuộc trao đổi bằng

điện thoại giữa điện thoại viên điều hành taxi và khách hàng,

nhưng bạn thấy rằng bạn đã có thể phát triển một quy tắc để

mô tả kiểu loại tương tác này, hoặc ít nhất có thể nhận dạng khuôn mẫu câu.hỗi/câu trả lời cơ sở mà xem ra gui tắc này đặt

nên tầng trên đó Nhân thể, đáng lưu ý rằng trong bảy phát ngôn được thiết kế để tìm kiếm các câu trả lời trong một mẩu

tương tác, chỉ có ba phát ngôn là có dạng thức cú pháp của một

câu hỏi Điều này nhấn mạnh rằng không có mối quan hệ một

đối một giữa hình thức và chức năng trong điễn ngôn Chắc hẳn bạn cũng đã thấy rằng những sự đều đặn thấy rõ trong 2g

khác với trong 2h

Có thể tìm thấy các kiểu loại tương tác khác trong đó các

khuôn mẫu cơ sở nhận ra được' một cách tương đối dễ dang

Các ví dụ có thể gồm các cuộc giao dịch mua bán giản đơn, một số đoạn trong trình tự nghí thức ở phòng xử án, những nghỉ

ig đám cưới và vân vân Khi đến với hội thoại không được chuẩn bị trước, thì nghĩ ra các quy tắc để nắm bắt những hiện

tượng đều đặn trong tương tác trở nên khó khăn hơn nhiều

Điều này không có nghĩa là không có những quy tắc và những biện tượng đều đặn, mà chỉ có nghĩa là chúng khó được nhận

đạng hơn nhiều /

Khó khăn trong việc cố gắng sử dụng câu đúng ngữ pháp

như một phép ẩn dụ để phân tích diễn ngôn là ở chỗ, cũng như

bất kì phép ẩn dụ nào, khi được áp dụng một cách quá cứng

nhắc, nó bắt đầu bất lực Tôi xin minh họa điều này bằng việc

trở lại với khuôn mẫu của câu mà tôi đã sử dụng 6 phan đầu của phần này Tôi đã nêu ra rằng các câu như câu Tôi đã lầm

bữa tiệc hôm qua có thể được mô tả theo một “quy tắc” - NP +

Trang 32

VP + NP + [AdvP (phan đầu điểm 2.2.1 này - ND) - quy tắc

định rõ các thành tố tùy chọn và các thành tố bắt bude can

thiết để câu được xem là được cấu tạo tốt (nghĩa là đúng ngữ

pháp) Dĩ nhiên, chúng ta có thể phân tích xa hơn thế nữa,

bằng cách định rõ rằng thành tố tùy chọn cũng có thể xuất hiện

ở đầu câu cũng như ở cuối câu, cho phép có các câu như câu

Hôm qua, tôi đã làm bữa tiệc Chúng ta cũng sẽ cần nêu những

hạn chế cho các thành tố NP (tổ hợp danh từ tính) và VP (tổ

hợp động từ tính) để làm cho quy tắc của chúng ta chính xác

hơn Ví dụ, chúng ta cần định rõ rằng động từ chính trong VP

phải là ngoại động từ, do vậy không cho phép có các câu mà

không đồi hỏi hoặc không cho phép một NP theo sau VP (ví

dụ, Tom chết Annie cười)

Trong trường hợp điễn ngôn, giả sử chúng ta chọn kiểu

loại phân tích trên cấp độ câu này, chúng ta cần phát triển một

“ngữ pháp diễn ngôn” định rõ những phát ngôn hoặc những

câu nào là tùy chọn và những phát ngôn hoặc những câu nào là

bắt buộc trong một diễn ngôn cho trước Trong một ý nghĩa nào

đó, đây là điều mà Sinclair và Coulthard (1975) đã cố gắng

làm Tuy nhiên, việc định rõ một cách chặt chẽ cái gì là cho

phép có hoặc không cho phép có bên trên cấp độ của một phát

ngôn giản đơn, là điều hầu như không thể làm được Ví dụ, hãy

xem xét một trao đổi sau đây trong một lớp học tiếng Pháp như

một ngoại ngữ

2i

Các sinh viên đang nêu ý kiến bàn bạc các động từ mà họ có

thể có tối hôm ấy

_§: ` Vâng (MC viết từ “courir” lên bằng.)

MC: Quá khứ là “courw” Từ tiếng Anh nào có liên quan tới “courir” mà có nghĩa là “chạy”? Nước đang trôi

là gì?

Š: — Connecticut (nhắc đến sông Connecticut, con sông

tách rời Vermont khỏi New Hampshire)

$:- ĐỒNG CHAY

MC: Dòng chảy, đúng không?

một phụ nữ - người đưa thư thì sao? Từ gì cho

MC: "Courir” là động từ chạy và “couru” là quá khú

‘(Freeman 1992: 67)

Nhà nghiên cứu, người đã quan sát và ghi lại tương tác này,

bình luận:

{giáo viên] điểu khiển thực hành [từ vựng] để rèn luyện sự làm chủ

về nội dung của mình Các câu hồi hoặc các gợi ý đòi hỏi những câu

trả lời bằng một từ ở những học -sinh với tư cách một nhóm, thường tạo ra lời đoán (xem các đòng 5, 7, 12, 17) Thông qua sự trao đáp, người ta xây dựng được một cái khung từ điều mà học sinh biết, để

chứa ngữ liệu mới Sự năng nổ trong những tương tác như thế là khá

cao: cả nhóm cùng nhau làm việc theo kiểu cho - và - nhận với giáo

viên, cách làm việc này gợi lại hình ảnh quả đập bóng ten-nít (xem

các dòng 4-5, 6-7, 10-12, 15-17) Điểu này làm thay đổi cấu trúc tiêu chuẩn Dò hỏi - Trả lời - Đánh giá được thấy trong hầu hết

Trang 33

điễn ngôn trong lớp học, thay vào đó, là sự tập trung vào trao đáp

Đò hỏi va Tra Idi (Freeman 1992: 67)

Chúng ta thấy ở đây nổi lên các khó khăn khi ta cố

gắng dự đoán những sự đều đặn về cấu trúc trong diễn

ngôn Nếu chúng ta chuyển ra ngoài lớp học đến với các

cuộc gặp gỡ bất ngờ ít được cấu trúc hóa hơn như tiệc tùng

hoặc những lễ sinh nhật trong gia đình, sự tiên đoán lại

Các cặp kế cận

Một giải pháp cho khó khăn trong việc nhận dạng các khuôn

mẫu trong diễn ngôn từ trước tới nay vẫn là từ bỏ việc cố gắng

cung cấp những đặc điểm cho những diễn ngôn trọn vẹn, và

thay vào đó là cô lập các khuôn mẫu trở đi trở lại một cách

đều đặn trong tương tác Điều này đã dẫn đến sự nhận dạng

các tặp kế cận, là những cặp phát ngôn thường cùng xuất hiện

Các ví dụ về các cặp kế cận gồm có câu hỏi - lời đáp, giới

thiệu - chào và vân vân Tuy nhiên, ngay cả ở đây cũng có,

những khó khăn trong việc tiên đoán điều gì sé xảy ra trong

diễn ngôn Hãy xét cặp kế cận sau:

Cặp kế cận này được lấy từ một tương tác thật sự phức tạp

hon nhiều so với một chuỗi giần đơn câu hỏi - câu trả lời Bản

ghi được trình bày như văn bản 2j dưới đây

A: Cai dé bao nhiêu tiên?

-A: — Mội bảng Anh à?

'B- — Một bảng năm mươi xu

(Dữ liệu của tác giả)

Ở đây chúng ta thấy cặp kế cận bị tách rời bởi một số câu phát

ngôn chen vào, các phát ngôn này tạo thành cái được gọi là

một chuỗi lồng ghép Những chuỗi lổng ghép như thế rất phổ

biến trong tất cả các đạng tương tác, và làm cho sự định rõ các

thành tố lựa chọn.và bắt buộc trong điễn ngôn trở nên cực kì

khó khăn TC

Một khó khăn nữa đối với quan điểm “siêu câu” về diễn

ngôn là người ta không thể ghị lại tất cả các chỗ xoắn xuýt

quanh co luôn luôn tiểm tàng khả năng xảy ra, mà chỉ ghi được

những cái có tính công thức nhất của các tương tác Hãy xem hai văn bản trong Tớp học sau đây (Trong văn bản 21 một vài

cá nhân học sinh đang tương tác.)

tiếng Trung Quốc

Trang 34

2I

Gy: Ô, đến chỗ bà của em à

la, um, tai nan (Diéu bé)

(Nunan 1989)

Ở đây chúng ta thấy hai kiểu loại tương tác rất khác nhau xây

ra trong vòng vài phút Tương tác thứ nhất tương tự với khuôn

mẫu tương tác điển hình trong lớp học mà chúng ta đã thảo

luận Tương tác thứ hai giống tương tác không phải trong lớp

học nhiều hơn Khuôn mẫu khác của tương tác điễn ra khi giáo

viên ngừng hỏi những câu hỏi “bộc lộ tính chất lớp học” - tức

là, các câu hỏi mà bà giáo đã biết câu trả lời - và đã bắt đầu

hởi những câu hỏi đích thực, đôi khi được nhắc đến như các

câu hỏi “tham khảo” - tức là, các câu hỏi mà bà giáo không

biết câu trả lời (Chúng ta sẽ theo đuổi vấn để về những động

lực tương tác này trong chương tiếp theo.)

2.3 Tin “đã cho” và tin “mới”

Trong tiếng Anh, có một trật tự từ “tiêu chuẩn” của chủ ngữ +

động từ + bổ ngữ Cùng với việc phân tích của các nhà ngữ pháp học, cờn có một vài bằng chứng về ngôn ngữ học tâm li

để cập rằng người học ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ nắm được trật tự từ tiêu chuẩn này trước khi họ nắm được những

Johnston 1987) Ý niệm về một trật tự từ “tiêu chuẩn” do vậy

mà có phần hợp lí về mặt ngôn ngữ học tâm lí cũng như về mặt

ngữ pháp

Chúng ta hãy xét một câu thường được quy cho là của các

` tác giả của các sách học vần vỡ lòng: Cơn mèo đã ăn con chuột cống Câu này biểu lộ cấu trúc tiêu chuẩn Chủ ngữ + Động từ

+ Bổ ngữ Tuy nhiên, có nhiều cách khác nữa trong đó nội dung ngữ nghĩa của câu đó cũng có thể điễn đạt được Ví dụ:

‘(dich theo cách diễn đạt của tiếng Anh - ND)_

Con chuột cống đã-bị ăn bởi con mèo

Đó là con mèo đã ăn con chuột cống

Đó là con chuột cống mà còn:mèo đã ấn

Cái mà con mèo đã làm là ăn con chuột cống `

Ấn con chuột cổng, con mèo đã làm

Con mèo, nó đã ăn con chuột cổng

_Người viết hoặc người nói chọn lựa câu nào trong, số những câu này sẽ phụ thuộc vào ngữ cảnh mà ‘phat ngôn hoặc

câu xảy ra và phụ thuộc vào cương vị của tin trong điễn ngôn

69

Trang 35

Một điều quan trọng cân suy xét là: hoặc là tin đã được đưa

vào diễn ngôn, hoặc là nó được coi là đã biết đối với người đọc

hoặc người nghe Tin.như thế được gọi là tin đã cho Nó đối lập

với tin được đưa vào lần đầu và được hiểu là tin mới Khi xem

xét vấn để tin đã cho và tin mới trong diễn ngôn, cần nhớ rằng

chính người nói/người viết là người quyết định tin nào sẽ được

xem là đã cho hoặc mới Theo một quy tắc đại khái kiểu kinh

nghiệm, tin mới trong một câu hoặc phát ngôn trong tiếng Anh

thường đi sau cùng, Trong lời trình bày con mèo đã ăn cơn

chuột cổng, hiểu biết đã nấm được là con mèo đã ăn cái gì đó

còn tin mới là con chuột cống đã bị ăn thị

Chúng ta có thể thấy mối quan hệ gần gũi giữa những sự

suy xét như trên trong diễn ngôn và việc tạo lập cấu trúc ngữ

pháp ở mối quan hệ với tin đã cho và tin mới nếu chúng ta đưa

ra được những câu hỏi mà đối với chúng thì những lời trình bày

trên kia có thể là những câu trả lời thích hợp

TRẢ LỜI: _ Nó đã ăn con chuột cống [Hoặc, Con mèo, nó đã ăn

con chuột cống.]

CÂU HỘI: Diéu gì đã xảy đến với con chuột cống?

- TRÃ LỜI: _ Nó đã bị con mèo ăn thịt

CÂU HỎI: _ Có phải con chó đã ăn con chuột cống?

TRẢ LỜI: _ Không, đó là con mèo đã ăn con chuột cổng

CÂU HỎI: _ Có phải con mèo đã ăn con chuột nhắt?

Lưu ý rằng tin đã cho được nhắc đến bằng ‹ các c đại từ khi nó

xuất hiện trong ngữ cảnh “Trong cặp câu hỏi - câu trả lời đầu

tiên trên đây, tin đã cho (rằng con mèo đã làm diéu gì đó) dẫn

70

con mèo Ở trong câu trả lời

2.4 Để và Thuyết

Một xem xét khác về sự bố trí của tin trong một câu hoặc phát ngôn sẽ là cái nổi bật hoặc là điều quan trọng mà người nói hoặc người viết mong muốn đem đến cho các mẩu tin khác nhau Bể là một phạm trù ngữ pháp có tính hình thức, nói đến một thành tế khởi đầu trong một mệnh để Đó là thành tố mà xung quanh nó câu được tạo dựng nên, và là thành tố mà người viết muốn làm cho nổi bật Mọi thứ theo sau để được hiểu là

thuyết

Trong phan trước, chúng ta đã thấy rằng cùng một tin có thể được tổ chức theo những cách "khác nhau trong cấu Trong các câu sau đây, cùng một tin mà được trình bày:

Con mèo đã ăn con chuột cống

Con chuột cống đã bị ăn thịt bởi con mèo (Theo tiếng Việt:

Tuy nhiên, về mặt để thì hai câu này khác nhau Trong cầu thứ nhất, phần để là con mèo Con mèo và việc mà con mèo làm là điểu được quan tâm trước tiên, và điều đó tạo thành xuất phát điểm của câu Trong câu thứ hai, số š phận của con chuột là điều

Trong trường phái ngôn ngữ học được hiểu là ngôn ngữ học chức năng, ba loại để được nhận dạng là - để để tài, để liên cá nhân và để thuộc về văn bản Các để dé tài có quan hệ - với tin được truyền đạt trong diễn ngôn Trong các ví dụ nêu trên, các phần để con mèo và con chuột là những đề để tài, Các

Trang 36

*

người nói hoặc người đọc Cuối cùng, các phần để thuộc văn

bản nối kết một mệnh để với phần còn lại của diễn ngôn Các

loại để khác nhau này được minh họa trong các câu dưới đây;

các câu này cũng chỉ ra rằng một câu có thể có hơn một phần

đề:

tiên bạc

Tuy nhiên bạn phải hiểu nó và phải tưi

quyết định

(bE VAN BAN) (DE DE TÀI)

Khi chuyén ra ngoài câu để đến với diễn ngôn, vấn để

để hóa trở nên đặc biệt quan trọng bởi vì người viết phải sắp

xếp tin theo cái đã cho/mới, và cũng theo cả cái nổi bật muốn

lấy lam dé Tam quan trong của việc lap cấu trúc đề/thuyết

được minh họa trong những đoạn trích sau đây Đoạn trích thứ

nhất, lấy từ chương mở đầu của Peter Pan, được đọc như tác

giả I.M Barrie của nó đã dự định Thế nhưng trong cách diễn

đạt thứ hai thì cấu trúc để đã bị thay đổi làm cho điễn ngôn có

cái ấn tượng phân n nào sai vị trí

Tất cả những đứa trẻ sẽ lớn lên, trừ một cậu bé con kì lạ, vào

một ngày kia Còn Wendi đã biết rằng mình sẽ phải lớn lên khi

cộ bé chỉ mới được hai tuổi Cô bé đang chời trong vườn và nhặt

một cdi hoa cho mẹ Bà Darling nhìn thấy đứa con gái dang

_ chạy về phía mình và bà mm cười bởi vì Wendi trông thích mắt

thế Bà khóc, “6d, tai sao con không cứ thế này mãi mã(!”

Ợ.M Barrie Peter Pan)

Một ngày kia, tất cả những đứa trẻ lớn lên, trừ một cậu bé kà lạ

Chính là Wehdi, biết rằng mình sẽ phải lớn lên khi cô bé chỉ mới lên hai Chuyện đã xảy ra là cô bé đang chơi trong vườn, và một cái hoa đã được cô bé-nhặt đưa cho mẹ Wendi trông đáng yêu, và mẹ cô bé đã mừm cười, bởi vì Wendi trông đáng yêu thế lúc đang chạy về phía bà Bà khóc, “Cứ như thế này mãi mãi, sào lại không hở con?”

Trong bản đã bị biến đổi, người viết xem ra đang trả lời những

câu hồi chưa được hỏi, và đang tiền giả định những hiểu biết ở

phía những người đọc, những hiểu biết mà họ không thể hòng

có được

HOẠT ĐỘNG THỰC TIEN

Nghiên cứu câu (a) dưới đây, va quyết định câu (b) hay (c) tiếp

theo sau

(a) Những cầu thủ chiến thẳng đã bước ra khỏi máy bay

_(b) Những người hâm mộ hò reo lập tức bao trim họ

(c) Họ lập túc bị bao trùm bởi những người hâm mộ hò reo

Bạn thích câu nào hơn nếu lựa chọn giữa câu (d) hoặc (e)

(d) Họ lập tức bị gió đẩy mạnh

(e) Gió lập tức đẩy mạnh họ -

Cuối cùng, bạn hãy quyết định chọn lựa cầu não giữa các câu

(Ð hoặc (g) : —

(Ð Tất cả các nhà báo lập túc được họ mÌm cười với:

(g) Họ lập túc mÌm cười với tất cä các nhà báo

Ñếu lựa chọn giữa (b) hoặc (c) để làm câu nối tiếp, hậu hết

Trang 37

chiến thắng với tư cách phần để của điễn ngôn đang hiện ra

Cũng cùng lí do đó, trong trường hợp của (đ) và (e), su lựa

chon tự nhiên có vẻ là (đ), và (g) được ưa chuộng hơn trong

trường hợp cua (f) va (g) (Xem Brown va Yule 1983a dé thấy

việc bàn chỉ tiết hơn về điểm này.)

2.5 Thể loại

- Thuật ngữ “thể loại” đã được sử dụng nhiều năm nay để

chỉ những phong cách khác nhau của diễn ngôn văn học như

những bài thơ xo-nê, những bi kịch và những tiểu thuyết lãng

mạn Nó nêu bật hiện tượng các kiểu loại diễn ngôn khác nhau

có thể được nhận dạng nhờ cách thể hiện chung hoặc cấu trúc

thể loại của chúng Trong thời gian gần đây, thuật ngữ này đã

được các nhà ngôn ngữ học chức năng phỏng theo để chỉ các

thể loại khác nhau của các sự kiện giao tiếp (Martin 1984;

Swales 1990), Họ biện luận rằng ngôn ngữ tổn tại để hoàn

thành các chức năng nào đó và rằng các chức năng này sẽ

quyết định cách thể hiện chung hoặc cấu trúc “thể loại” của

diễn ngôn Cấu trúc này hiện ra khi người ta giao tiếp với nhau

- nghĩa là, nó sẽ có những giai đoạn tiên đoán được nào đấy

Mục đích của giao tiếp cũng sẽ được phản ánh trong những

khối kiến trúc cơ sở của diễn ngôn - nghĩa là, bắn thân các từ

và cấu trúc ngữ pháp Nói cách khác, các kiểu loại khác nhau

của các sự kiện giao tiếp đưa đến các kiểu loại điễn ngôn khác

nhau, và mỗi kiểu loại này sẽ có những đặc trưng khu biệt

riêng của nó Một số sự kiện giao tiếp đừa đến kết quả là

những bài thuyết giáo, một số-sự kiện khác là những bài nói về

chính trị, còn một số khác nữa là những cuộc trò chuyện tình

cờ Một khi mỗi bài thuyết giáo, bài diễn văn chính trị và trò

74

chuyện tinh cờ là khác nhau, thì mỗi kiểu loại diễn ngôn sẽ có

chung những đặc điểm nhất định giúp tách nó với các kiểu loại

diễn ngôn khác

HOAT DONG THUC TIEN

Nghiên cứu các văn bản sau Chúng khác nhau theo những

cách nào? Những điểm khác biệt có thể giải thuyết được theo

các chức năng của các văn bản hay không?

‘MON CA-RI CA HOAC TOM

Chu-chi pla hodc goong

9 quả ớt khô lớn (hoặc tầy khẩu vị)

1 thìa cà phê tôm quết

3 tách nước cði dita

3 thìa xúp nước mắm

1 thìa xúp đường cọ

1 tách tôm đã bóc vỏ và rút chỉ +

Ới chê sợi và lá chanh ca-phia thái nhỏ, để bày _ Si

Trên lẫn hoặc nghiền nhuyễn ớt, hẹ tây, sà chanh, riéng nếp,

tôm quết và 1⁄2 thìa cà phê muối thành bột nhão Đun nóng một

tách nước cốt dừa trong một cái nôi lớn, nặng hoặc một cái

chảo sâu, sau đó thêm hỗn hợp nhão trén vao va dun cho đến khi đặc lại và dậy mùi Cho săn hơn cho đến khi lớp dẫu ri ra

khôi đồ rán Nêm nước mắm và đường tày khẩu vị Thêm phân

75

Trang 38

nước cốt dừa còn lại và dun cho đến khi đặc và săn lại Thêm

tôm hoặc cá vào, khuấy nhẹ và ninh nhỏ lầa cho đến khi vừa

chín tới (Làm cách khác, có thể chiên cá ngập trong dẫu trước

đó Rồi rưới nước sốt lên.) Bày ới sợi và lá chanh thái mông lên

Cho 3-4 người ăn

(Dựa theo một công thức nấu ăn gốc)

A; _ Các cháu đã làm gi đêm qua?

Marg để ngủ, và Sarah không muốn đi ngủ, về em nó

muốn gọi điện cho mẹ, và Marg đã nói là em không thể,

và-vì thế em nó khóc, và vì thế Marg chải tóc cho nó, và

rồi nó ngủ Nó thật là hự

(Dữ liệu của tác giả) „

mạng sống của ông ta

Điều phát hiện được là đêm qua bốn lá thư đo

các thành viên Hội thẩm

đoàn ở phiên tòa kháng

nghị để cho Ryan khỏi bị treo cổ đã chẳng bao giờ

Bê bối trong vụ treo cổ bị phơi bày

Bài cia GEOFF EASDOWN, MIKE EDMONDS

va BARRY MacFADYN

được gởi lên Nội các bang Victoria, nơi quyết định xử

tử người này

Và một thành viên của Nội [`

các bang Victoria, người đã

bỏ phiếu thuận 11-4 đối với

RuperL Hamer, nói rằng

những thỉnh cầu ân xá của

bốn thành viên Hội thẩm đoàn lẽ ra đã có thể cứu

một kiểu loại văn bản có tính chất thủ tục và có cấu trúc thể

loại sau đây:

- Đầu để

- Bắng kê các thành phần

- Thủ tục

77

Trang 39

dẫn được viết ở thức mệnh lệnh Những yếu tố rườm rà như

mạo từ và giới từ đều bị loại bổ, dẫn đến những tổ hợp từ đặc

trưng kiểu như: nghiên ớt đun nóng 1 tách nước cốt dita

Thêm phần nước dừa còn lại vào v.v

Đoạn trích thứ hai, 2p, được lấy từ một cuộc thoại giữa một

bé gái và bà của cô bé và có việc thuậi lại chỉ tiết Theo các

nhà ngôn ngữ học chức năng, việc thuật lại chi tiết gồm một

chuỗi sự kiện được bắt đầu bằng một lời dẫn nhập và định

hướng, và kết thúc bằng một lời bình luận hoặc kết luận

Chúng ta có thể thấy rằng, trừ kết luận ra, việc thuật lại chỉ tiết

này nhất quán với cấu trúc thể loại đã được để xuất Về mặt

ngữ pháp mà nói, các bản thuật chỉ tiết được đặc trưng bằng thì

quá khứ đơn, và việc sử dụng quy chiếu đặc thù đến người và

địa điểm Chúng ta có thể thấy rằng việc tường thuật chỉ tiết

này, ngoài cấu trúc thể loại của nó, cũng chứa đựng những yếu

tổ ngữ pháp của thì quá khứ đơn và sự quy chiếu đặc thù

PHẦN ĐỊNH HƯỚNG _ vì thế chúng chau sang buông Marg

để ngủ,

-trích từ một bài xã luận chính yếu trong một tờ báo Cấu trúc

- Đầu đề

- (Các) tác giả

- Địa điểm

- Luận để

- Chỉ tiết làm chỗ dựa (luận cứ)

- Chỉ tiết làm chỗ dựa quận cứ)

về mặt ngôn ngữ học, mẩu tin đó có chứa một dạng thức bị động vo tac thé It was revealed (Diéu phái hiện được ) Nó

cũng chứa những từ chứa đựng tình cảm như sensation (giật

gân), bungle (bê bối), merey (ân xá), plea (thỉnh câu) Về cách

bố trí và bể ngoài vật lí của nó, văn bản này chứa đựng một

đấu để lớn bắt mắt Các cột và sự phân công mỗi câu vào một

đoạn văn riêng đều đã được định liệu làm cho mẩu tin dé doc

Ba van ban nay minh hoa một số cách thức trong đó cấu trúc, tổng thể, cái vẻ bên ngoài và các thành tố ngữ pháp phản ánh những mục đích mà vì chúng các văn bản đã được tạo ra

Mối quan hệ hệ thống giữa cấu trúc và chức năng của ¿ ngôn ngữ được Halliday mỡ tả như sau:

Mỗi văn bản - nghĩa là, mọi thứ được nói hoặc viết ra - bộc lộ

trong ngữ cảnh sử dụng; hơn thế nữa, chính việc sử dụng ngôn

ngữ, trải qua hàng vạn thế hệ, đã hình thành hệ thống Ngôn -

ngữ đã tiến hóa để thỏa mãn những nhu cầu của con người; và

nó được tổ chức theo lối chức năng có tính đến những nhu cầu

đó - nó không võ đoán Ngữ pháp chức năng thực chất là một -ngữ pháp “tự nhiên”, hiểu là suy cho cùng mọi thứ trong đó

đều có thể được giải thuyết bằng cách qui về việc ngôn ngữ

được sử dụng như thế nào (Halliday 1985a: xii)

79

Trang 40

2.5.1 Những khuôn mẫu thuậc hùng biện

Hoey (1983) biện luận rằng việc xếp thứ tự tin trong diễn ngôn

có thể phản ánh những mối quan hệ hùng biện nào đó nhự

nguyên nhân - hậu quả, vấn để - giải pháp Ông sử dụng bốn

câu sau để minh họa những cách thức mà các mối quan hệ này

thực hiện chức năng diễn ngôn,

ar

Tôi đã nổ súng

Tôi đang (phiên) gác

Tôi đã đánh bật cuộc tấn công

(và) Tôi đã thấy quân địch tiến đến

Bốn câu này có thể được nối tiếp nhau thành chuỗi theo hai

mươi bốn cách khác nhau Tuy nhiên, không phải tất cả các

chuỗi này đều được chấp nhận là diễn ngôn mạch lạc - chẳng

hạn như Tôi đã đánh bật cuộc tấn công Tôi đã nổ súng Tôi đã

thấy quân địch tiến đến Tôi đang (phiên) gác Thực ra, có lẽ

hai mươi bốn dạng khác nhau có thể được xếp hạng theo một

đãy liên tục từ chuỗi hoàn toàn không thể chấp nhận được đến

chuỗi hoàn toàn chấp nhận được Theo Hoey, chỉ một chuỗi

chấp nhận được hoàn toàn là: 7ô¿ đang (phiên) gác Tôi đã thấy

quân địch tiến đến Tôi đã nổ súng Tôi đã đánh bật cuộc tấn

công

HOAT DONG THUC TIEN

Cho rằng bạn đồng ý với điều xác nhận của Hoey, vậy thì điều gì

làm cho chuỗi riêng biệt này chấp nhận được? Bạn có thể nghĩ ra

được những phương thức ngữ pháp nào có thể được sử đụng để làm

thay đổi cách sắp chuỗi các tin trong văn bản này không?

này Trong văn bản 2r có hai kiểu quan hệ đặc trưng: nguyên

Tôi đang (phiên) gác NGUYÊN NHÂN -> Tôi đã thấy quân địch tiến đến - —> HẬU QUẢ

—> Tôi đã nổ siúng

CÔNG CỤ -> Tôi đã nổ súng —> THÀNH TỰU —> Tôi đã đánh bật cuộc tấn công

Thực tế có các phương thức ngữ pháp có thể được sử dụng để thay đổi cách sắp chuỗi các tin trong văn bản theo các cách thức chấp nhận: được Chúng gồm có: tạo quan hệ phụ thuộc

(Trong khi tội đang (phiên) gác, tôi đã nổ súng, bởi vì tôi đã

thấy quân địch tiến đến Tôi (do đó) đã đánh bật cuộc tấn công.) và nối (Tôi đã nổ súng bởi vì tôi đã thấy quân địch tiến

“ đến khi tôi đang phiên gác Bằng cách đó tôi đã đánh bật cuộc

tấn công

2.6 Phân lích mệnh để

Ngoài công trình nghiên cứu do các nhà ngôn ngữ học tiến hành, có một phân ngành tâm lí học nhận thức cũng xem xét những cách thức chúng ta tạo lập diễn ngôn và tìm hiểu cho

diễn ngôn về mặt nghĩa Các nhà tâm lí học này chủ yếu quan

tâm đến việc trí tuệ con người xử lí ngôn ngữ như thế nào, và việc cấu trúc và nội dung của điễn ngôn tác động như thế nào

đến những cái đã được xử lí và được ghi nhớ Họ quan tâm đến việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào để giao tiếp ít hơn là

quan tâm đến cấu trúc nghĩa của các câu và của các văn bản

Ngày đăng: 04/05/2017, 22:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN