1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích diễn ngôn xã luận trên báo Nhân dân năm 1975

113 916 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài Phân tích diễn ngôn Discourse Analysis là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu diễn ngôn/ văn bản từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN XÃ LUẬN

TRÊN BÁO NHÂN DÂN NĂM 1975

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

NỘI DUNG 9

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Đặt vấn đề 9

1.2 Lược sử vấn đề 10

1.3 Một số khái niệm liên quan 13

1.3.1 Khái niệm “diễn ngôn” 13

1.3.2 Khái niệm “phân tích diễn ngôn” 16

1.3.3 Diễn ngôn thuộc phong cách chính luận trong mối quan hệ với các thể loại diễn ngôn khác 19

1.3.4 Khái niệm “diễn ngôn xã luận” 22

1.4 Vài nét về báo Nhân Dân và đặc điểm của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân năm 1975 25

1.4.1 Vài nét về báo Nhân Dân 25

1.4.2 Vài nét về đặc điểm của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân năm 1975 26

1.4.3 Mô hình giao tiếp của diễn ngôn xã luận (báo Nhân Dân, 1975) 27

* Tiểu kết 30

CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG THỨC NGÔN NGỮ ĐẶC THÙ ĐẢM NHIỆM CHỨC NĂNG THÔNG TIN CỦA DIỄN NGÔN XÃ LUẬN TRÊN BÁO NHÂN DÂN NĂM 1975 32

2.1 Mô tả cấu trúc tổng thể của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân năm 1975 32

2.1.1 Một vài đặc điểm chung của cấu trúc văn bản báo chí 32

2.1.2 Mô tả cấu trúc tổng thể của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân 1975 34

2.2 Miêu tả đặc điểm cấu trúc từng phần 35

2.2.1 Đặc điểm cấu trúc phần tiêu đề 35

Trang 4

2.2.1.1 Phân loại tiêu đề theo chủ đề 35

2.2.1.2 Về cấu trúc cú pháp của tiêu đề 38

2.2.1.3 Các yếu tố từ vựng biểu thị sự đánh giá hoặc thái độ biểu cảm của tiêu đề 41

2.2.2 Đặc điểm cấu trúc phần nội dung chính 43

2.2.2.1 Đặc điểm cấu trúc phần nêu vấn đề 50

2.2.2.2 Đặc điểm cấu trúc phần giải quyết vấn đề (chính văn) 53

2.2.2.3 Đặc điểm cấu trúc phần kết luận 65

2.3 Liên kết trong diễn ngôn xã luận 70

2.3.1 Phép nối 71

2.3.2 Phép liên kết từ vựng 74

2.3.2.1 Phép lặp từ vựng 75

2.3.2.2 Phép phối hợp từ ngữ 76

2.4 Những yếu tố ngôn ngữ thể hiện đặc thù của ngữ cảnh 81

2.4.1 Những yếu tố ngôn ngữ chỉ thời gian đặc thù 81

2.4.2 Những yếu tố ngôn ngữ chỉ không gian đặc thù 82

* Tiểu kết 84

CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ NGÔN NGỮ TẠO HIỆU QUẢ TÁC ĐỘNG (CHỨC NĂNG LIÊN NHÂN) TRONG DIỄN NGÔN XÃ LUẬN TRÊN BÁO NHÂN DÂN NĂM 1975 86

3.1 Cách sử dụng từ xưng hô mang tính điển hình 87

3.2 Các phương thức biểu thị tình thái 92

3.2.1 Sử dụng câu cầu khiến 92

3.2.2 Sử dụng câu mang tính chất khẩu hiệu 99

3.2.3 Sử dụng câu cảm thán 101

* Tiểu kết 106

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 111

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Bảng số lượng và tỉ lệ các loại chủ đề của tiêu đề 37

Bảng 2.2: Bảng số lượng và tỉ lệ các kiểu cấu trúc cú pháp của tiêu đề 39

Bảng 2.3: Bảng số lượng và tỉ lệ các cách nêu vấn đề 51

Bảng 2.4: Bảng tỉ lệ các dạng kết cấu thông tin 64

Bảng 2.5: Bảng số lượng và tỉ lệ các cách kết luận 70

Bảng 3.1: Bảng tỉ lệ xuất hiện của các phó từ biểu thị ý nghĩa cầu khiến trực tiếp 95

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) là đường hướng tiếp cận

tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/ văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc) [2, tr.158]

Trong thời gian gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cố gắng nghiên cứu sự khác biệt giữa văn bản và diễn ngôn, giữa phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn Theo Diệp Quang Ban, điểm khác biệt lớn nhất của phân tích diễn ngôn với phân tích văn bản truyền thống là ở chỗ: Nếu như phân tích văn bản chỉ tập trung làm rõ những đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa nội tại của văn bản và chỉ trong văn bản ấy mà thôi, thì phân tích diễn ngôn lại hướng tới tìm hiểu diễn ngôn (bao gồm cả dạng thức tồn tại dưới dạng văn tự và âm thanh) trong mối quan hệ rộng hơn, không chỉ là các yếu tố trong văn bản mà cả các yếu tố ngoài văn bản chi phối sự tồn tại của nó như bối cảnh, người tạo lập, người tiếp nhận, mục đích, hiệu quả tác động… Như vậy diễn ngôn được nhìn nhận, đánh giá trong quá trình hành chức và hành chức tạo ra giá trị ý nghĩa Đó mới là ý nghĩa tồn tại đích thực của diễn ngôn

Phân tích diễn ngôn chỉ mới xuất hiện và phát triển trong mấy thập niên gần đây Trên thế giới, có thể kể tới những tên tuổi lớn như Z Harris, David Nunan, Brown và Yule, Crytal… Ở Việt Nam, sau khi lí thuyết phân tích diễn ngôn được giới thiệu, đã có không ít công trình áp dụng lí thuyết này vào nghiên cứu một số kiểu loại diễn ngôn cụ thể như diễn ngôn bản tin, diễn ngôn phóng sự, diễn ngôn lời kêu gọi, diễn ngôn ký,… Tuy vậy, có thể nói, phân tích diễn ngôn xã luận với tư cách là một loại hình mang tính điển hình

Trang 7

của diễn ngôn chính luận chưa được chú ý một cách thích đáng Đó chính là lí

do chúng tôi quyết định chọn “phân tích diễn ngôn xã luận trên báo Nhân

Dân” làm đề tài cho luận văn của mình Hy vọng, kết quả nghiên cứu sẽ góp

thêm một tiếng nói có ý nghĩa cho ngành khoa học còn tương đối mới mẻ này

ở Việt Nam

2 Mục đích, ý nghĩa của luận văn

Mục đích chính của luận văn là sẽ áp dụng lý thuyết và thao tác của phân tích diễn ngôn vào phân tích thể loại diễn ngôn xã luận, một loại diễn ngôn rất điển hình của phong cách chính luận nhằm tìm hiểu những đặc điểm

cơ bản về cấu trúc và tổ chức ý nghĩa của kiểu loại diễn ngôn này trên cơ sở hai chức năng cơ bản nhất là chức năng giao tiếp (liên giao) và chức năng liên

nhân của chúng

Luận văn hướng tới giá trị về phương diện lý luận khi muốn áp dụng lý thuyết và các phương pháp phân tích diễn ngôn vào một dạng văn bản điển hình thuộc phong cách báo chí - chính luận, góp phần vào những kết quả của lĩnh vực phân tích diễn ngôn hiện nay

Về phương diện thực tiễn, những kết quả của luận văn sẽ góp phần vào công tác giảng dạy, học tập môn ngữ văn ở nhà trường đối với thể loại báo chí chính luận, đồng thời vào công tác biên tập tại các tòa báo

3 Phạm vi tư liệu

Để đạt được mục đích trên, chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên mẫu phân tích là 120 diễn ngôn trên tổng số 362 diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân năm 1975, một năm mà số lượng bài xã luận đạt đến con số kỉ lục do yêu cầu thực tế của đời sống chính trị, xã hội đất nước

4 Phương pháp xử lí đề tài

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, bên cạnh phương pháp phân tích diễn ngôn, phương pháp cơ bản nhất được sử dụng một cách triệt để, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp và thủ pháp như sau:

Trang 8

- Phương pháp miêu tả

- Phương pháp so sánh

- Thủ pháp thống kê

- Thủ pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu tạo thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Các phương thức ngôn ngữ đặc thù đảm nhiệm chức năng thông tin của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân (năm 1975)

Chương 3: Các yếu tố ngôn ngữ tạo hiệu quả tác động (chức năng liên nhân) của diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân (năm 1975)

Trang 9

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Đặt vấn đề

Báo chí Cách mạng Việt Nam là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và các

tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, là diễn đàn tin cậy của nhân dân Trong suốt những năm kháng chiến của dân tộc, đặc biệt là từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, báo chí cách mạng được Đảng trao cho sứ mệnh là người tiên phong trong việc tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phản ánh thực tiễn xây dựng và bảo vệ tổ quốc với quan điểm xuyên suốt: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; là vũ khí sắc bén chống lại mọi biểu hiện phản động, tiêu cực đi ngược lại với quyền lợi của nhân dân, của đất nước; báo chí là công cụ đấu tranh xã hội, đấu tranh dân tộc

và đấu tranh giai cấp Đây là mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, đồng thời là môi trường phát triển của báo chí nước nhà

Với những tờ báo lớn của báo chí cách mạng Việt Nam, các thể loại chính luận như bài phản ánh, bài bình luận, xã luận, tiểu luận, phê bình và giới thiệu tác phẩm, điểm báo… chiếm số lượng nhiều nhất và giữ vị trí quan trọng nhất tạo nên linh hồn của tờ báo Trong đó, xã luận là thể loại điển hình

Xã luận là một loại hình thuộc phong cách chính luận, đặc biệt phổ biến trong các tờ báo chí có tính chính trị cao Trong luận văn này, chúng tôi chọn các bài xã luận trong một tờ báo có tính chính trị cao nhất của Việt Nam hiện nay là báo Nhân Dân với thời điểm phát hành hạn chế ở năm 1975 Trong suốt những năm chiến tranh, đặc biệt là năm 1975, xã luận đã phát huy một cách tối đa tác dụng của mình trong việc truyển tải thông tin thời sự, những chủ trương đường lối của Đảng, đồng thời cổ vũ động viên, lôi cuốn nhân dân thực hiện những phương hướng ấy để hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng đất nước Dường như mỗi một bài xã luận đã trở thành kim chỉ nam, định hướng tư

Trang 10

tưởng, suy nghĩ, hành động, tình cảm của cả dân tộc lúc bấy giờ với một mục đích cao nhất là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước

Để có thể tạo ra những hiệu ứng mạnh mẽ, to lớn như vậy đòi hỏi mỗi bài xã luận phải là một tác phẩm chính luận mẫu mực, nội dung rõ ràng, lập luận sắc bén, ngôn từ trong sáng, giản dị nhưng vẫn đầy tính nghệ thuật… Nói cách khác, xã luận phải tác động được tới người tiếp nhận cả về mặt lí trí lẫn tình cảm thì mới có thể thuyết phục được họ nghe và làm theo những gì

mà Đảng đã đặt ra Chỉ khi ấy, một bài xã luận mới làm tròn sứ mệnh của mình, đồng nghĩa tiếng nói của Đảng đã đến được với nhân dân và tạo nên sự đồng thuận giữa nhân dân với Đảng

Với mục đích nhìn rõ những đặc điểm cơ bản, trong đó tập trung chủ yếu vào hai chức năng chính là liên giao và liên nhân của diễn ngôn xã luận, chúng tôi sẽ áp dụng lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của phân tích diễn ngôn Có thể xem đây là một phương thức để đánh giá một cách khách quan, toàn diện nhất về nhiệm vụ, chức năng, vai trò, hiệu quả tác động của thể loại này

1.2 Lƣợc sử vấn đề

Phân tích diễn ngôn trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay vẫn còn là một ngành khoa học rất mới mẻ và đang trong quá trình phấn đấu để được thừa nhận là một ngành khoa học độc lập Ra đời từ khoảng những năm

60 của thế kỷ trước, theo Diệp Quang Ban, cho đến nay Phân tích diễn ngôn

đã phát triển qua 3 giai đoạn với những tên gọi khác nhau phản ánh những nhận thức, xu hướng nghiên cứu khác nhau ở mỗi thời kỳ

- Giai đoạn 1, phân tích diễn ngôn có tên gọi là “Ngôn ngữ học văn bản” (Text Linguistics), bắt đầu hình thành từ những năm 60 và kéo dài tới

giữa những năm 70 thế kỷ XX, lấy văn bản mà cụ thể là văn bản viết làm đối

tượng nghiên cứu

Ở giai đoạn này, phân tích diễn ngôn hay ngôn ngữ học văn bản tập trung chú ý tới cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu, nên xuất hiện những tên gọi

Trang 11

khác như: “cú pháp văn bản” (Dressler,1972), “ngữ pháp liên câu” (Enkvist, 1973), “chỉnh thể cú pháp trên câu” (một số nhà nghiên cứu Nga, vào những năm 80) Khi nghiên cứu văn bản, các nhà nghiên cứu chủ yếu thao tác với “liên kết” Người ta đã thấy ở Liên Xô cũ, Anh hay Việt Nam đã có một loạt các công trình

nghiên cứu theo xu hướng này như: “Liên kết – Cohension” (Halliday và Hasan,

1976), “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” của Trần Ngọc Thêm (1985)

Tên gọi “văn bản” và “diễn ngôn” thời kỳ này cũng chưa được đặt thành vấn đề nên tên gọi “ngữ pháp văn bản” được sử dụng rộng rãi Người

đầu tiên đề cập và đưa ra cái tên gọi Phân tích diễn ngôn là Z Harris vào năm

1952 Người thứ hai được biết đến nhiều hơn trong lĩnh vực này là T.F.Michell Còn người có công truyền bá phân tích diễn ngôn trên bình diện thế giới là Van Dijk [2, tr.148-156]

Tuy nhiên, giai đoạn này, các nhà ngôn ngữ học vẫn chưa xác định được chính xác, rõ ràng đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của phân tích diễn ngôn Điều này thể hiện ở chỗ: bậc ngôn ngữ và bậc diễn ngôn vẫn chưa được phân biệt một cách rạch ròi, những gì được sử dụng làm lí luận, phương pháp nghiên cứu cho phân tích diễn ngôn vẫn là lí luận, phương pháp của nghiên cứu câu Như vậy, thực chất giai đoạn này vẫn là giai đoạn tìm đường để tiếp cận phân tích diễn ngôn

- Giai đoạn 2 của phân tích diễn ngôn là vào những năm 80-90 thế kỷ

XX Sau khi việc áp dụng các phương pháp và phương tiện nghiên cứu câu vào nghiên cứu văn bản không thành công, nghiên cứu diễn ngôn đã chính thức thoát ra khỏi “ngữ pháp văn bản” Một vấn đề đặt ra lúc này là cần có một cái tên mới cho nghiên cứu diễn ngôn trong giai đoạn tiếp theo Có hai cái tên được đề xuất là “xuyên ngôn ngữ học - translinguistque” theo cách dùng của Barthes (1970) và “ngôn ngữ học văn bản tính – textuallity linguistic” theo cách dùng của De Beaugrande (1990) Tuy nhiên, tên gọi

“phân tích diễn ngôn” vẫn được nhiều người dùng làm nhan đề cho các công

Trang 12

trình nghiên cứu của họ, không kể tên các bài viết, chỉ kể tên sách với tên gọi trực tiếp có thể kể ra một vài ví dụ như: “Towards an Analysis of Discourse: The English Used by Teachers and Pupils” của Sinclair, J McH And Coulthard, R.M (1975); “An Introduction to Discourse Analysis” của Coulthard, M;

“Discourse Analysis: The Sociolinguistic Analysis of Natural Language” của Stubb, M (1983) và “Discourse Analysis” của Brown G and Yule G (1983)

Trong số các công trình đã công bố giai đoạn này, có thể nói công trình nghiên cứu của của Brown and Yule là đáng chú ý nhất với phạm vi bao quát, phương pháp nghiên cứu cụ thể Và cũng từ đây, tên gọi “phân tích diễn ngôn” được thừa nhận một cách rộng rãi như tên gọi chính thức cho giai đoạn tiếp theo của giai đoạn “ngữ pháp văn bản”

Phân tích diễn ngôn thời kỳ này có rất nhiều đường hướng tiếp cận khác nhau như: đường hướng dụng học với hai nhánh chính là dựa trên lí thuyết hành động nói (Austin, Sir) và dựa trên tư tưởng triết học của Grice về phân biệt các loại ý nghĩa khác nhau; đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác; đường hướng dân tộc học giao tiếp Tất cả các đường hướng trên đều có mục tiêu là phân tích diễn ngôn để làm rõ những mối quan hệ của nội dung câu nói và hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ để tạo ra những cách diễn đạt đúng và đạt hiệu quả giao tiếp cao, hoặc làm bộc lộ các ý sâu chứa đựng trong văn bản khép kín Điều này có nghĩa là ngôn ngữ học văn bản giai đoạn này nghiên cứu cả văn bản viết và văn bản nói (diễn ngôn)

- Giai đoạn 3, chính là giai đoạn hiện nay, phân tích diễn ngôn phát triển hết sức mạnh mẽ và đang cố gắng để được công nhận là một ngành khoa học thực sự Đối tượng nghiện cứu chính của phân tích diễn ngôn là diễn ngôn, tức là hướng nhiều hơn tới ngôn ngữ tồn tại ở dạng nói Nhưng thực tế hiện nay người ta sử dụng khái niệm diễn ngôn để chỉ sản phẩm ngôn ngữ tồn tại dưới cả 2 dạng âm thanh (văn bản nói) và chữ viết (văn bản viết)

Như vậy, phân tích diễn ngôn thực chất là giai đoạn phát triển thứ 3 của ngôn ngữ học văn bản Và đối tượng nghiên cứu của nó thiên về văn bản nói

Trang 13

– ngôn ngữ trong sử dụng, trong hành chức hơn là văn bản viết – ngôn ngữ tồn tại ở dạng tĩnh

Ở Việt Nam, từ thập niên 80 của thế kỉ XX cho đến nay cũng có rất nhiều tác giả quan tâm tới phân tích diễn ngôn như: Đỗ Hữu Châu (1985), Trần Ngọc Thêm (1985), Diệp Quang Ban (2002), Nguyễn Hòa (2003) Các tác giả trên đã

đề cập đến những vấn đề như chiếu vật, chỉ xuất, lý thuyết hành động ngôn từ, lý thuyết hội thoại, ý nghĩa tường minh và ý nghĩa hàm ngôn

1.3 Một số khái niệm liên quan

1.3.1 Khái niệm “diễn ngôn”

Diễn ngôn là đối tượng của phân tích diễn ngôn thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào được coi là hoàn chỉnh nhất cho khái niệm này Với mỗi giai đoạn phát triển của phân tích diễn ngôn, với mỗi nhà nghiên cứu khác nhau tùy thuộc vào việc xác định đối tượng, mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, góc độ tiếp cận mà xây dựng hay lựa chọn cho mình một định nghĩa có tính chất để làm việc

Xét từ góc độ lịch sử vấn đề, người đầu tiên đề xuất khái niệm “diễn ngôn” là Z Harris Trong công trình “Discourse analisio – Phân tích diễn ngôn” xuất bản năm 1952, ông đã đưa ra khái niệm diễn ngôn với cách hiểu

là văn bản liên kết ở cấp độ cao hơn câu [17, tr.15] Mặc dù phân tích diễn

ngôn của Z Harris thời đó rất khác với phân tích diễn ngôn giai đoạn hiện nay

về quan điểm và phương pháp nghiên cứu nhưng dẫu sao ông cũng là một trong những người đầu tiên đặt những viên gạch tạo nền móng cho sự phát triển của ngành ngôn ngữ học non trẻ này về sau

Liên quan mật thiết với khái niệm diễn ngôn (discourse) là khái niệm văn bản (text) Thực tế trong quá trình nghiên cứu các nhà ngôn ngữ học đã tốn không ít thời gian, công sức để hiểu về hai khái niệm cơ bản này tuy nhiên kết quả đưa ra vẫn có nhiều điểm không giống nhau Có khi chúng được hiểu là hai khái niệm có thể được dùng để thay thế cho nhau; có khi

Trang 14

chúng là hai thực thể có cấu trúc xác định thuộc hai quá trình khác nhau; hay cũng có khi, đơn giản chỉ là phân biệt nhau ở phạm vi sử dụng diễn ngôn là tên gọi mang tính khoa học còn văn bản là tên gọi mang tính chất đời thường Chúng tôi có thể điểm qua một số ý kiến nổi bật về sự phân biệt hai khái niệm trên và từ đó cũng giúp cho chúng ta có cái nhìn rõ hơn về diễn ngôn

Ở thời kỳ đầu, các tác giả như Barthes (1970), Ballert (1971), Halliday

và Hassan đều có chung quan niệm diễn ngôn trùng với văn bản Chúng tôi

xin dẫn ra đây ý kiến của Halliday và Hassan làm minh chứng: “văn bản có

thể là bất kỳ một đơn vị nào, nói hay viết, dù dài hay ngắn tạo nên một chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh”

Bên cạnh những nhà nghiên cứu có quan niệm trên là những người cố gắng để phân biệt diễn ngôn với văn bản Ví dụ như: Brown.G và Yule.G

(1983) coi: “Văn bản là sự thể hiện ngôn từ của một hành động giao tiếp” hay

“văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn” Khi xử lí, diễn ngôn như là “sản phẩm” hay “tiến trình”, thì các tác giả khẳng định “diễn ngôn – như – một tiến

trình”; Cook (1989) định nghĩa: “Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lí giải được

ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh” và “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” Tác giả

đã xác định sự khác nhau giữa diễn ngôn và văn bản dựa trên sự đối lập giữa nội dung và hình thức Diễn ngôn thể hiện tính chức năng của ngôn ngữ trong khi văn bản thể hiện mặt hình thức của ngôn ngữ hành chức; David Nunan

(1993) cho rằng “Diễn ngôn chỉ việc hiểu một sự kiện giao tiếp trong ngữ

cảnh” còn văn bản để chỉ “sự ghi lại (thể hiện) bằng ngôn ngữ viết một sự kiện giao tiếp” [2, tr.203-211]

Ở Việt Nam, các tác giả nghiên cứu về phân tích diễn ngôn cũng đã rất tích cực đưa ra quan điểm của mình về diễn ngôn và văn bản Và một kết quả tất yếu là cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau

Trang 15

Năm 2008, trong công trình “Giáo trình ngôn ngữ học”, tác giả Nguyễn

Thiện Giáp viết: “Diễn ngôn (discourse) là bất cứ một ngôn phẩm nói hoặc

viết nào Và theo ông hai khái niệm này coi như đồng nhất, có thể thay thế

cho nhau

Ngược lại với quan điểm trên là quan điểm của Nguyễn Hòa, một tác giả đã dành khá nhiều sự quan tâm cho phân tích diễn ngôn trong thời gian gần đây Tác giả thể hiện rõ quan điểm cần phải phân biệt rạch ròi hai khái

niệm “diễn ngôn” và “văn bản”: “Văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi

nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể”, còn “Diễn ngôn như là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích, không giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” Trong cách định nghĩa trên,

Nguyễn Hòa đã cho thấy, diễn ngôn và văn bản được phân biệt nhau ở góc độ sản phẩm/ quá trình nhưng tác giả cũng thừa nhận chúng không phải là hai thực thể độc lập, hoàn toàn tách biệt nhau mà chỉ là những biểu hiện khác nhau của ngôn ngữ hành chức trong những điều kiện ngữ cảnh giao tiếp cụ thể Trên thực tế để phân biệt một cách rạch ròi hai khái niệm này là vô cùng khó khăn Bởi trong diễn ngôn tồn tại những đặc trưng, thuộc tính của văn bản và ngược lại Chính vì vậy, việc sử dụng khái niệm nào là phụ thuộc vào góc độ, mục đích tiếp cận của nhà nghiên cứu

Dung hòa hai quan niệm trên là tác giả Diệp Quang Ban Trong các công trình nghiên cứu của mình, ông đã chỉ ra các giai đoạn trong nhận thức

về mối quan hệ của hai khái niệm này: Một là, văn bản được dùng để chỉ chung các sản phẩm của ngôn ngữ (product) viết và nói có mạch lạc và liên kết; Hai là, có sự đối lập giữa diễn ngôn và văn bản: sử dụng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết và diễn ngôn để chỉ sản phẩm của ngôn ngữ nói; Ba

là, diễn ngôn được dùng như văn bản ở ý nghĩa trong giai đoạn một Bên cạnh

đó, tác giả đã nhận thấy sự khó khăn trong việc phân biệt rạch ròi hai khái

Trang 16

niệm này nên việc thể hiện ra cũng rất khiêm tốn Ông đã dựa vào một định

nghĩa văn bản có sẵn và đưa ra cách hiểu về văn bản như sau: “Văn bản là

một loại đơn vị được hình thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài , như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường ”, đồng thời cũng nói rõ định nghĩa này có

thể dùng chung cho cả diễn ngôn khi chưa cần có sự phân biệt Như vậy là theo cách hiểu này, văn bản và diễn ngôn là những chỉnh thể có cấu trúc xác định, nội dung hoàn chỉnh tồn tại dưới cả hai dạng nói hoặc viết

Trên đây, chúng tôi đã điểm lại những quan niệm nổi bật về diễn ngôn nói riêng cũng như diễn ngôn trong mối quan hệ với văn bản nói chung Một điều dễ nhận thấy là trong mỗi quan điểm đều có những nhân tố hợp lí dù ở góc độ này hay góc độ khác Dù vậy, trong luận văn này, để tiện cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn cho mình định nghĩa diễn ngôn của tác giả Diệp Quang Ban Lựa chọn này mang tính chất để làm việc chứ không nhằm mục đích bác bỏ những định nghĩa khác

1.3.2 Khái niệm “phân tích diễn ngôn”

Ở phần này, chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập đến khái niệm “phân tích diễn ngôn” trên cơ sở khái niệm “diễn ngôn” như đã trình bày mục trên

Harris (1952) là người đầu tiên nói về phương pháp phân tích diễn

ngôn áp dụng cho các chuỗi câu liên kết, coi phân tích diễn ngôn như là một

hệ phương pháp hình thức phân tích văn bản thành các đơn vị nhỏ hơn.[17,

tr.26] Đồng thời ông cũng rất chú ý tới việc đối lập giữa các tập hợp câu là diễn ngôn với cái gọi là một tập hợp ngẫu nhiên không có tính mạch lạc

Theo sau Harris - một đại biểu của đường hướng cấu trúc luận trong phân tích diễn ngôn, các nhà nghiên cứu theo đường hướng chức năng luận cũng thể hiện quan điểm của mình về phân tích diễn ngôn Fasold (1990) nói

“nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu mọi khía cạnh sử dụng của ngôn ngữ”;

Brown.G và Yule.G, hai tác giả tiêu biểu coi “diễn ngôn như là một quá

Trang 17

trình” cho rằng: Phân tích diễn ngôn nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức Nhà phân tích diễn ngôn, vì thế, quan tâm đến chức năng hay mục đích của một mẫu dữ liệu ngôn ngữ và cách thức dữ liệu đó được người phát cũng như người nhận xử lí [5, tr.49] Nói một cách cụ thể hơn, nhà nghiên cứu cần tìm hiểu xem, nội dung thông điệp được thể hiện bằng chất liệu ngôn ngữ đã được người nói/viết tạo ra theo cách thức nào để đạt được mục đích, ý đồ tác động của mình tới người tiếp nhận trong bối cảnh giao tiếp thực tế, xác định… và đồng thời, nội dung thông điệp đó được người nghe/đọc tiếp nhận theo cách nào, với tâm lí ra sao… Từ việc mô tả đó mới khái quát lên thành những quy tắc trong ngôn ngữ mà người giao tiếp đã sử dụng để đạt được mục đích, ý đồ giao tiếp

Đồng quan điểm với hai tác giả trên, David Nunan (1998) cũng đã phân biệt phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn Phân tích văn bản là xem xét các đặc điểm nội dung và hình thức của văn bản tách rời ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ, còn phân tích diễn ngôn sẽ quan tâm tới mặt chức năng tức là liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (ngôn ngữ hành chức) Ông chỉ rõ giống như các nhà ngữ âm học, ngữ pháp học, nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan tâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những cái khuôn mẫu trong ngôn ngữ Tuy nhiên, không chỉ có vậy, nhà phân tích diễn ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn cả là đạt đến mục đích cuối cùng của công việc phân tích: vừa chỉ ra, vừa giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn

Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu là một trong những người đầu tiên và nghiên cứu khá nhiều về dụng học Tác giả này cũng đã thể hiện quan niệm của mình như sau: Phân tích diễn ngôn là phân tích cả những yếu tố hình thức của diễn ngôn, bao gồm các yếu tố ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ tạo nên diễn ngôn Các yếu tố kèm lời, phi lời

Trang 18

cũng được xem là các yếu tố thuộc về hình thức của diễn ngôn Về nội dung, nhà nghiên cứu cho rằng diễn ngôn bao gồm nội dung thông tin và nội dung miêu tả Hai thành tố nội dung này có thể hiện tường minh qua các yếu tố ngôn ngữ hình thức của diễn ngôn, hoặc cũng có thể tồn tại một cách khiếm diện trong đích giao tiếp của đối phương Như vậy, theo

Đỗ Hữu Châu, phân tích diễn ngôn đầy đủ là phải phân tích cả hai mặt nội dung và hình thức của diễn ngôn

Bên cạnh đó, Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Giáo trình ngôn ngữ học” cũng đã dành một số trang viết để nói về phân tích diễn ngôn Theo ông, phân tích diễn ngôn (discourse analysis) là một cách tiếp cận việc nghiên cứu diễn ngôn dựa trên những khái niệm và thuật ngữ của ngữ pháp truyền thống Phân tích diễn ngôn có nhiệm vụ phân tích bằng một bộ phức hợp khái niệm

và thuật ngữ ngữ pháp quen thuộc với bất kỳ nhà nghiên cứu ngữ pháp nào và

cố gắng nhận ra xem những khái niệm đó cần thiết trong sự cấu trúc diễn ngôn như thế nào Phân tích diễn ngôn cố gắng mở rộng sự phân tích cấu trúc câu đến đơn vị lớn hơn câu, nó thường bắt đầu bằng sự cố gắng nhận diện những đơn vị tối thiểu của ngôn ngữ, sau đó, tìm kiếm những quy luật chi phối những đơn vị tối thiểu đó cùng nhau kết hợp thành chuỗi để tạo nên diễn ngôn như thế nào [12, tr.441-442]

Trong cuốn “Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản” của Diệp

Quang Ban có trình bày: “Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài

liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/ văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc)” [2, tr.158] Như vậy, định nghĩa này chú trọng tới ba yếu tố đối tượng

khảo sát (tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu), đối tượng nghiên cứu

Trang 19

(tính đa diện hiện thực của tài liệu ngôn ngữ khảo sát) và phương pháp tiếp cận là phương pháp phân tích (phân tích ngôn ngữ trong sử dụng)

Với tác giả Nguyễn Hòa, phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản không phải là hai bộ môn khác nhau mà chỉ là “hai mặt của phân tích ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội.”

Còn theo quan điểm của chúng tôi như đã trình bày ở mục 1.3.1, không coi diễn ngôn và văn bản là hai khái niệm đồng nhất nên phân tích diễn ngôn cũng sẽ khác với phân tích văn bản Bởi vì, phân tích diễn ngôn ngoài phần giao với phân tích văn bản là tìm hiểu về cấu trúc nội tại, chủ đề, liên kết… của sản phẩm ngôn ngữ còn phải quan tâm tới nhiều thông số khác như ngữ cảnh, mối quan hệ giữa người tạo lập và tiếp nhận, hiệu quả tác động… của sản phẩm ngôn ngữ ấy Nói một cách ngắn ngọn, phân tích diễn ngôn không chỉ phân tích những đặc điểm liên giao tiếp mà còn để phân tích những đặc điểm liên nhân của đối tượng nghiên cứu

1.3.3 Diễn ngôn thuộc phong cách chính luận trong mối quan hệ với các thể loại diễn ngôn khác

Các thể loại diễn ngôn hết sức đa dạng Để hiểu hơn về đối tượng ngôn ngữ này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân loại chúng Có nhiều cách phân loại theo những tiêu chí khác nhau như theo phương thức biểu đạt, thể thức cấu tạo, theo mức độ phức tạp về hình thức và nội dung Chức năng làm công cụ giao tiếp là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ Khi thực hiện chức năng này, thích ứng với mỗi lĩnh vực và mục đích giao tiếp cụ thể, ngôn ngữ tồn tại theo một kiểu diễn đạt nhất định Mỗi kiểu diễn đạt đó được gọi là phong cách chức năng ngôn ngữ

Có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại diễn ngôn Nếu dựa vào phương thức biểu đạt, có thể phân chia thành diễn ngôn nói và diễn ngôn viết

Sự phân biệt này đã được nêu lên từ lâu và có tầm quan trọng nhất định đối với quan điểm sư phạm như việc dạy đọc, dạy viết, dạy nói Một hướng phân

Trang 20

loại khái quát khác là phân biệt diễn ngôn đối thoại với diễn ngôn đơn thoại Cách phân loại này liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sinh hoạt hằng ngày và cả ngôn ngữ trong văn học Tuy nhiên, theo tác giả Hausenblas [32, tr.175] thì muốn có sự phân loại có hệ thống và thoả đáng thì phải cần đến sự hợp tác của cả hai bộ phận cùng quan tâm đến việc miêu tả ngôn ngữ

Đó là ngữ pháp và phong cách học Từ đó, tác giả đưa ra các cách phân loại

diễn ngôn như sau:

a) Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc

* Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc nội tại:

Dựa vào những tiêu chuẩn: tính đơn giản/tính phức tạp trong cấu trúc của các diễn ngôn, tính độc lập/ tính lệ thuộc của các diễn ngôn, tính liên tục/ tính gián đoạn của các diễn ngôn, tác giả tiến hành phân loại các diễn ngôn:

- Các diễn ngôn có độ phức tạp khác nhau trong cấu trúc

- Các diễn ngôn tự do và các diễn ngôn lệ thuộc

- Diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn

Cách phân loại này đến nay vẫn còn giá trị thực tiễn đối với việc dạy học ở nhà trường Bởi cách phân loại này gợi ý về một số hướng dạy và rèn luyện học sinh tạo lập diễn ngôn, sự phân bố các bộ phận trong diễn ngôn, dạy học sinh cách đọc…

* Về khuôn hình văn bản:

Do tính chất quá phức tạp của diễn ngôn và tính quá đa dạng của các diễn ngôn cụ thể, cho nên để khái quát được người ta chỉ có thể chia tất cả các diễn ngôn thành hai nhóm lớn:

- Thuộc nhóm thứ nhất là các diễn ngôn xây dựng theo những khuôn hình cứng nhắc, đã được định sẵn: các văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ và một số văn bản pháp lý thuộc lĩnh vực khoa học - kỹ thuật

- Thuộc nhóm thứ hai là các diễn ngôn xây dựng theo những khuôn hình mềm dẻo, bao gồm:

Trang 21

+ Nhóm nhỏ có khuôn hình thông dụng: các văn bản khoa học (bài báo, luận án khoa học) và một số văn bản báo chí

+ Nhóm nhỏ có khuôn hình tự do: các tác phẩm văn chương

b) Phân loại diễn ngôn theo phong cách học

Một lĩnh vực chú ý nhiều đến sự khác biệt trong các kiểu loại diễn ngôn khác nhau là phong cách học nhất là phong cách chức năng

Ngay từ năm 1984, tác giả Morohovski [32, tr.86] đã đưa ra bảng phân loại diễn ngôn với các tiêu chí riêng

Trước hết, tác giả phân định phong cách học thành ba bậc lớn từ trừu tượng đến cụ thể:

Từ đó, tác giả đưa ra các loại hình diễn ngôn tương ứng:

- Ở bậc phong cách học ngôn ngữ có 2 kiểu lớn:

+ Ngôn ngữ phi nghệ thuật;

Trang 22

+ Hội thoại đời thường;

- Ở bậc phong cách học lời nói: liên quan trực tiếp đến các văn bản cụ thể, có sự phân định các lớp văn bản từ chung đến riêng theo trình tự sau:

+ Phong cách công vụ

+ Phong cách khoa học

+ Phong cách công luận

Ở Việt Nam, theo tác giả Hữu Đạt, tiếng Việt có 6 phong cách chức năng khác nhau, đó là:

- Phong cách sinh hoạt hằng ngày

- Phong cách hành chính công vụ

- Phong cách khoa học

- Phong cách chính luận

- Phong cách báo chí và phong cách văn học nghệ thuật

Mỗi loại phong cách có các thể loại diễn ngôn khác nhau

1.3.4 Khái niệm “diễn ngôn xã luận”

Về phong cách chính luận, Cù Đình Tú cho rằng: Phong cách chính luận có hai chức năng: Chức năng truyền đạt các loại tin tức (thông báo, thông tin) và chức tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên (tác động) Hai chức năng này có mối quan hệ gắn bó với nhau và được thực hiện nhờ các phương tiện ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ” [32, tr.151]

Theo Vũ Quang Hào [15, tr.62-63], diễn ngôn phong cách chính luận khác với các thể loại diễn ngôn khác ở một số phương diện sau:

- Về phương diện từ vựng: Đặc điểm nổi bật là việc sử dụng lớp từ ngữ chính trị Nội dung lớp từ này luôn thể hiện lập trường, quan đểm cách mạng

về từng vấn đề cụ thể của đời sống xã hội nhằm tuyên truyền, giải thích chủ trương, chính sách, đường lối của tầng lớp lãnh đạo chính quyền Do vậy phong cách này đòi hỏi người viết luôn tỏ rõ lập trường, quan điểm và tình cảm cách mạng …cũng như biểu thị rõ ràng thái độ đối với sự kiện hay vấn

Trang 23

đề được đề cập Theo Lê Xuân Thại [15, tr.62], xã luận không chỉ đem đến cho người đọc, người nghe cái sự thật mà còn mang đến thái độ, tâm huyết của tác giả

- Về phương diện ngữ pháp: Cho phép viết những câu có độ dài lớn, cho phép có mặt những câu nghi vấn, câu cảm thán nhằm tăng sức lập luận hoặc giảng giải

- Về phương diện diễn đạt: diễn ngôn thuộc phong cách chính luận phải

có lập luận chắc chắn, rõ ràng, chặt chẽ, logic Tuy vậy do đối tượng của diễn ngôn chính luận là quần chúng thuộc mọi đối tượng nên phải diễn đạt sao cho

có sức truyền cảm, dễ hiểu, giản dị, chân thật, phải diễn đạt những khái niệm phức tạp bằng những hình thức đơn giản

Diễn ngôn xã luận là một loại diễn ngôn chính luận đồng thời cũng là một thể loại báo chí Chính vì vậy, bên cạnh những đặc điểm của diễn ngôn

xã luận như đã trình bày ở trên, xã luận còn thể hiện tính chất cập nhật và gắn

bó chặt chẽ với ngữ cảnh

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do giáo sư Hoàng Phê

chủ biên, “xã luận” được hiểu như sau:

“Xã luận Bài chính trình bày quan điểm của tờ báo về một vấn đề thời

sự quan trọng thường đăng ở trang nhất.”

Trường Chinh trong bài giảng tại lớp đào tạo người làm báo đã viết:

“Xã luận là một bài báo quan trọng nhất trong một số báo, nêu lập trường,

quan điểm của một tờ báo (tức là của chính đảng hay của đoàn thể mà tờ báo

đó là cơ quan ngôn luận) về một vấn đề quan trọng nào đó Riêng đối với báo hằng ngày, xã luận có khi là một bài tóm tắt những việc lớn trong 24 tiếng đồng hồ hoặc trong một tuần và có bình luận.” [26, tr.155]

Một số giảng viên ngành báo chí thì quan niệm: xã luận là một bài bình

luận tập thể của Bộ biên tập báo, đài về một vấn đề quan trọng Đồng thời họ cũng cho rằng xã luận là bài báo quan trọng nhất của một tờ báo, thực hiện

Trang 24

nhiệm vụ quán triệt tư tưởng trung tâm và nêu lên nhiệm vụ cần kíp phải làm ngay Xã luận là ngọn cờ chỉ đạo, là pháp lệnh chính trị [26, tr.155-156]

Có thể nói khái quát nhiệm vụ của xã luận là phản ánh đường lối chính trị của cơ quan báo chí, trình bày chính kiến của cơ quan đó về những vấn đề quan trọng nhất ở trong thời điểm hiện tại

Chức năng của diễn ngôn xã luận là kịp thời phản ứng trước những vấn

đề thời sự, giúp độc giả định hướng đúng trong tình huống đó Đối với những nhiệm vụ trước mắt, bài xã luận sẽ giải thích điều gì là cơ bản, chủ yếu trong lĩnh vực này hay lĩnh vực khác của đời sống chính trị, của công tác tư tưởng trong từng lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng đất nước; đưa ra những hướng dẫn, phương hướng và vạch ra đường lối hành động Tóm lại, xã luận có hai nhiệm vụ chính là thông tin và tuyên truyền cổ động

Đặc điểm của các tác phẩm này là rõ ràng về đề tài, sâu sắc và rành mạch trong khi phân tích các vấn đề chính trị, độ chính xác và biểu cảm cao trong cách đánh giá, sắc bén khi bút chiến, phong phú về cảm xúc, chuẩn mực

về ngôn từ và cô đọng trong cách trình bày Cũng chính nhờ những đặc điểm trên mà xã luận có thể tác động tới người tiếp nhận cả về lí trí và tình cảm, từ

đó đạt được mục đích định hướng, cổ vũ lôi cuốn… và cuối cùng là thuyết phục được người tiếp nhận biến những chủ trương, đường lối, lời kêu gọi đó thành hành động

Từ những cách định nghĩa như trên có thể khái quát về diễn ngôn xã luận với một số tiêu chí như sau:

- Là một thể loại báo chí thuộc phong cách chính luận;

- Là bài báo quan trọng nhất của một tờ báo (thường đăng ở trang nhất),

có một số chức năng cơ bản: Trình bày, đưa thông tin về một vấn đề mang tính thời sự cấp thiết hoặc giải thích cho một chủ trương, đường lối mới của Đảng, nhà nước; Đưa ra những bàn luận tổng quát, thể hiện quan điểm của tòa soạn (cơ quan ngôn luận của một tổ chức chính trị, xã hội nào đó) về một vấn

Trang 25

đề thời sự nhất định đang được xã hội quan tâm; Mục tiêu của xã luận là định hướng nhận thức cho công chúng, đồng thời đề xuất nhiệm vụ trước mắt, phương hướng hành động theo nhận thức được quán triệt

Trong hai cuộc kháng chiến trong Pháp và đặc biệt là chống Mỹ, do đặc thù về thể loại và mục đích sử dụng, diễn ngôn xã luận đã phát huy tối đa chức năng và hiệu quả trong cuộc sống Tuy nhiên, nếu xét về mặt lượng, trong khoảng 10 năm gần đây, xã luận với tư cách là một loại hình báo chí chính luận ít xuất hiện hơn Ngoài hai tờ báo lớn là Nhân dân và Quân đội Nhân dân, còn hầu hết tại các tờ báo khác, sự xuất hiện của xã luận là không đáng kể Thậm chí theo thống kê của Vũ Thị Thúy Hồng (Khoa Báo chí, trường ĐHKHXH&NV), năm 1998, báo Bưu điện Việt Nam chỉ có 3 bài, đến năm 1999 chỉ có duy nhất 1 bài xã luận [15, tr.60]

1.4 Vài nét về báo Nhân Dân và đặc điểm của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân năm 1975

1.4.1 Vài nét về báo Nhân Dân

Báo Nhân Dân là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản

Việt Nam, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, ra số đầu tiên ngày 11-3-1951 tại chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống

thực dân Pháp Báo Nhân Dân là ấn phẩm tiếp nối của báo Thanh Niên do

Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 21-6-1925, tiếp theo tiếp tục được phát hành dưới các tên: Tranh Đấu, Dân Chúng, Cờ Giải Phóng, Sự Thật Trong hệ thống báo chí hiện nay, báo Nhân Dân là tờ báo có lượng phát hành lớn nhất, đăng tải các chủ trương chính sách, các sự kiện chính trị, xã hội, văn hóa lớn trong nước và quốc tế theo quan điểm, lập trường chính thức của Đảng, Nhà nước Việt Nam

Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc vĩ đại, thống nhất đất nước và trong cả công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” từ Đại hội VI năm

Trang 26

1986 cho đến nay, báo Nhân Dân luôn có mặt trên những trận tuyến nóng bỏng để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, tuyên truyền, cổ vũ việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phản ánh tâm tư nguyện vọng, sáng kiến và ý chí của các tầng lớp nhân dân, tham gia tổng kết thực tiến, hoàn thiện đường lối Đổi mới

Hiện nay, báo Nhân Dân có 5 ấn phẩm gồm: Nhân Dân hằng ngày, Nhân Dân cuối tuần, Nhân Dân hằng tháng, Nhân Dân điện tử tiếng Việt, Nhân Dân điện tử tiếng Anh Số ấn phẩm phát ra mỗi ngày là khoảng 220.000 bản Như vậy, báo Nhân Dân đã chuyển tải kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin thời sự liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước cũng như quốc tế cho nhân dân

1.4.2 Vài nét về đặc điểm của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân năm 1975

Ở tờ báo Nhân Dân, trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ, diễn ngôn xã luận xuất hiện hầu như đều đặn mỗi ngày một bài (một số/một ngày), rất ít số không có, thậm chí có những số còn có đến hai bài do đòi hỏi của hiện thực đời sống chính trị, xã hội Khoảng 10 năm trở lại đây, số lượng diễn ngôn xã luận xuất hiện trên mặt báo là ít hơn nhiều so với những giai đoạn trước

Chúng tôi lựa chọn khảo sát các diễn ngôn trên báo Nhân Dân năm

1975 vì:

- Thứ nhất, đây là một năm rất quan trọng của lịch sử Việt Nam Nhiệm

vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước rồi sau đó là khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng kinh tế, … đòi hỏi chúng ta phải tập trung mọi tinh thần

và lực lượng ở mức độ cao nhất Trong hoàn cảnh ấy, nhân dân rất cần có những thông tin chính xác, kịp thời từ mọi mặt trận (chính trị, quân sự, xã hội,…), những lời tổng động viên, kêu gọi, hướng dẫn của Đảng và Nhà nước Đáp ứng yêu cầu trên, Ban biên tập báo Nhân Dân đã liên tục đăng

Trang 27

những bài xã luận trên trang nhất, coi đây là kênh giao tiếp chính thống kết nối Đảng, Nhà nước với Nhân Dân

- Thứ hai, đây là năm xã luận (trên báo Nhân Dân) xuất hiện với tần xuất dày đặc Có lẽ ít có năm nào số lượng xã luận lại nhiều đến như vậy Qua khảo sát, chúng tôi tìm thấy 362 diễn ngôn xã luận trong suốt năm 1975; rất ít

số báo không đăng xã luận, thông thường là mỗi số một bài, bên cạnh đó cũng

có những số đăng hai bài

Như vậy, nếu khảo sát, chắc chắn chúng tôi sẽ thu nhận được những đặc điểm của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân thời kì này

Do khuôn khổ hạn hẹp của một luận văn nên chúng tôi lựa chọn 120/362 bài làm đối tượng khảo sát Nguồn tư liệu lấy từ Thư viện quốc gia Việt Nam Trong số 120 diễn ngôn khảo sát có 49 diễn ngôn thuộc chủ đề chính trị, 27 diễn ngôn thuộc chủ đề quân sự, 24 diễn ngôn thuộc chủ đề kinh

tế và 20 diễn ngôn thuộc chủ đề văn hóa – xã hội Còn nếu phân loại theo thời gian thì chúng tôi lựa chọn mốc thời gian là 30/4 Từ đầu năm đến 30/4, có 60 diễn ngôn và từ 30/4 đến hết năm 1975 cũng là 60 diễn ngôn Mặc dù thời gian giai đoạn 1 ngắn hơn giai đoạn hai nhưng số lượng diễn ngôn được lựa chọn khảo sát lại bằng vì đây là thời điểm xã luận phát huy được tối đa vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình Tất cả các diễn ngôn này đều là của

tập thể Ban biên tập tờ báo Nhân Dân và được kí tên chung là Nhân Dân

1.4.3 Mô hình giao tiếp của diễn ngôn xã luận (báo Nhân Dân, 1975)

Mỗi thể loại diễn ngôn đề mang những đặc điểm riêng Đặc điểm này

bị quy định bởi nhiều yếu tố, từ nhân tố người viết, người đọc đến nhân tố ngữ cảnh quy định hoàn cảnh ra đời của sản phẩm ngôn ngữ đồng thời cũng là

cơ sở để quy chiếu các thông tin chưa tường minh trong diễn ngôn và một số nhân tố khác Sau đây, chúng tôi sử dụng mô hình giao tiếp của R.Jakobson

để phân tích kỹ hơn đặc điểm của diễn ngôn xã luận khi thực hiện hai chức năng cơ bản là chức năng thông tin (liên giao) và chức năng liên nhân

Trang 28

tố cá nhân của người viết bị lu mờ và xã luận trở thành loại văn bản mang tính chất phi cá thể Biểu hiện hình thức đầu tiên, rõ nét của đặc điểm này chính là tên tác giả của các xã luận luôn được kí là NHÂN DÂN

- Người đọc hay đối tượng mà xã luận hướng tới các tầng lớp nhân dân trong cả nước Đối tượng hướng tới của xã luận không được thể hiện hiển ngôn trong diễn ngôn giống như Lời kêu gọi, một loại hình khác của diễn ngôn xã luận Một bài xã luận, dù đề cập đến chủ đề nào cũng hướng tới tất cả mọi người, thuộc mọi tầng lớp xã hội Người đọc tùy thuộc vào mức độ quan tâm đến chủ đề để quyết định chọn đọc hoặc không Tuy vậy, các bài xã luận

đề cập đến các vấn đề chính trị, xã hội, quân sự, quốc tế lớn thường thu hút sự quan tâm của hầu hết người dân

Trang 29

- Ngữ cảnh: Ngữ cảnh để các diễn ngôn xã luận này ra đời chính là bối cảnh lịch sử, xã hội thế giới và đặc biệt là tình hình chính trị, xã hội nước ta ở thời điểm 1975 Có thể thấy, 1975 là một năm khá đặc biệt: Trên thế giới, hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh với những thành tích về kinh tế, chính trị, xã hội Đồng thời với đó là sự thất thế, khủng hoảng của chủ nghĩa Tư bản, chủ nghĩa Đế quốc mà tiêu biểu là đế quốc Mỹ ở nhiều nơi Trong nước, tình hình chính trị, xã hội tạm chia thành hai giai đoạn, trước và sau thời điểm 30/4 Từ đầu năm đến 30 tháng 4 là những ngày tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ Miền Nam nói riêng, cả nước nói chung đang phải tập trung tất cả tinh thần, lực lượng và sức mạnh để chống lại những âm mưu, hành động tàn ác của Ngụy quyền Sài Gòn mà sau lưng chính là bàn tay tiếp sức của đế quốc Mỹ Nhân dân miền Nam anh hùng đã chiến đấu, giành được thắng lợi, giải phóng ở nhiều vùng như Phú Yên, Tuy Hòa, Tây Nguyên….Mỗi chiến dịch, diễn biến của mỗi trận đáng, thắng lợi của quân ta, thất bại của quân Mỹ Ngụy đều là những thông tin chính trong những bài xã luận của giai đoạn này Trong điều kiện đó, đồng bào và nhân dân cả nước với nhiều tầng lớp, giai cấp tích cực thi đua lao động, sản xuất để chi viện cho chiến trường miền Nam…

Sau 30 tháng 4, cả nước, đặc biệt là miền Nam bước vào công cuộc khôi phục kinh tế, chính trị, xã hội và khắc phục hậu quả chiến tranh: nhiều chính sách đền ơn đáp nghĩa được thi hành đối với các thương binh, liệt sĩ, các gia đình có công; phát triển toàn diện các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, giáo dục, y tế… Trước những sự kiện, tình hình, biến động lớn trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, thời khắc chuyển giao lịch sử,… như trên, đều có sự hiện diện kịp thời của các diễn ngôn xã luận trước, trong và sau khi sự kiện diễn ra Ngữ cảnh với sự kiện, tình hình, không gian, thời gian chính là cơ sở để giải thích nội dung của các diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân 1975

Trang 30

- Kênh tiếp xúc của xã luận là đường kênh báo chí và mối quan hệ tâm

lí giữa người viết và người đọc đều đồng nhất, cùng quan điểm, tâm huyết trước các vấn đề chính trị, xã hội diễn ra trong suốt năm 1975

- Mã hay chính là thứ ngôn ngữ mà xã luận sử dụng để giao tiếp trong trường hợp này là tiếng Việt – Tiếng mẹ đẻ của mỗi người dân Việt Nam Nếu đi sâu hơn nữa xã luận thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận, một phong cách ngôn ngữ đặc thù, thích hợp để trình bày và nêu quan điểm trước các vấn đề chính trị, thời sự của đất nước

Đặc điểm mô hình giao tiếp của diễn ngôn xã luận như trên chính là cơ

sở để người viết tạo lập và người đọc hiểu nội dung xã luận Và cũng từ đó, chúng tôi nghiên cứu tìm ra đặc điểm cấu trúc, cách thức triển khai thông tin, phương thức liên kết, các phương tiện ngôn ngữ đặc thù để đạt được mục đích

và hiệu quả tác động của diễn ngôn xã luận

* Tiểu kết

Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày một số cơ sở lý luận cơ bản liên quan trực tiếp đến việc triển khai đề tài như: lược sử của đường hướng Phân tích diễn ngôn với 3 giai đoạn phát triển tính từ những năm 60 của thế kỉ XX cho đến nay (giai đoạn 1, chủ yếu tập trung vào sản phẩm ngôn ngữ dưới dạng viết dưới tên gọi ngữ pháp văn bản; giai đoạn 2, khái niệm phân tích diễn ngôn bắt đầu được sử dụng nhưng đối tượng nghiên cứu vẫn bao gồm cả văn bản – dạng viết khác với diễn ngôn – dạng nói; giai đoạn 3, chủ yếu tập trung nghiên cứu dạng thức nói, dưới tên gọi phân tích diễn ngôn); làm rõ những khái niệm cần yếu liên quan như: diễn ngôn trong sự phân biệt với văn bản (quá trình và sản phẩm), phân tích diễn ngôn (giai đoạn sau của phân tích văn bản), diễn ngôn xã luận với tư cách vừa là một thể loại diễn ngôn chính luận vừa là một thể loại thuộc phong cách báo chí (mang đặc điểm vừa chặt chẽ trong lập luận, thuyết phục trong cách diễn đạt vừa cập nhật và luôn gắn

bó chặt chẽ với ngữ cảnh); đồng thời làm rõ những nét khái quát nhất về diễn

Trang 31

ngôn xã luận trên báo Nhân Dân (1975) và mô hình giao tiếp cụ thể của chúng với các thông số người viết, người đọc, ngữ cảnh, kênh, mã ngôn ngữ

Những gì đã trình bày sẽ là cơ sở lí thuyết để chúng tôi đạt được mục đích nghiên cứu là tìm ra những đặc điểm liên giao tiếp và liên nhân của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân (1975) – một thể loại diễn ngôn chính luận điển hình Từ đó, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm một tiếng nói có ý nghĩa cho ngành khoa học còn khá non trẻ này ở Việt Nam

Trang 32

CHƯƠNG 2:

CÁC PHƯƠNG THỨC NGÔN NGỮ ĐẶC THÙ ĐẢM NHIỆM CHỨC NĂNG THÔNG TIN CỦA DIỄN NGÔN XÃ LUẬN

TRÊN BÁO NHÂN DÂN NĂM 1975

2.1 Mô tả cấu trúc tổng thể của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân

Dân năm 1975

2.1.1 Một vài đặc điểm chung của cấu trúc văn bản báo chí

Trong một số cuốn sách ngôn ngữ học hay văn học, chúng ta thường bắt gặp hai khái niệm mà cách hiểu và cách sử dụng chúng tương đối giống nhau, do vậy không ít người đã sử dụng lẫn lộn thậm chí đánh đồng chúng, đó

là bố cục và cấu trúc Chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của các khái niệm này:

Bố cục là cách “tổ chức sắp xếp các phần trong một bài viết hoặc một

Trang 33

Một văn bản báo chí thường bao gồm ba phần: tiêu đề, sapo và nội dung chính

+ Phần tiêu đề (hay còn gọi là tít bài): thường có cấu trúc là một ngữ (danh ngữ hoặc động ngữ) hoặc mệnh đề, nêu khái quát nội dung cơ bản của bài hoặc tiêu điểm nội dung của bài viết

+ Phần Sapo: là đoạn văn bản đứng sau tiêu đề và đứng trước nội dung chính của bài báo Về dung lượng, sapo có thể là một đoạn gồm vài câu hoặc cũng có thể chỉ là một câu Về nội dung, nó có thể là phần tóm tắt nội dung chính của bài báo, có thể là một đoạn có nội dung quan trọng, gây được ấn tượng mạnh được trích ra từ bài báo, hoặc đôi khi cũng chỉ có tác dụng đưa đẩy thu hút sự chú ý của người đọc

+ Phần nội dung chính: là phần quan trọng nhất của bài báo Nó trình bày nội dung vấn đề, thể hiện quan điểm tư tưởng của người viết, của tòa soạn trước vấn đề được đề cập Phần này thường được trình bày thành nhiều phần, đoạn khác nhau một cách rõ ràng theo ý đồ của tác giả để vừa đạt được mục đích khi tạo lập văn bản vừa để người đọc tiện theo dõi Ở phần nội dung chính có thể có thêm các tiêu đề phụ phản ánh các chủ đề nhỏ trong quá trình triển khai chủ đề lớn

Cuối một văn bản báo chí thường là tên của tác giả

Dựa theo phong cách chức năng của văn bản để phân tích cấu trúc và xếp chúng vào các khuôn hình văn bản như quan điểm của Đinh Trọng Lạc thì các văn bản báo chí thuộc vào nhóm có mô hình thông dụng của kiểu khuôn hình mềm dẻo Thực tế đã chứng minh các văn bản báo chí trong quá trình tạo lập không phải tuân thủ theo những nguyên tắc, khuôn mẫu cứng nhắc như các văn bản hành chính nhưng cũng không được phép quá tự do như các văn bản văn học nghệ thuật

Trang 34

2.1.2 Mô tả cấu trúc tổng thể của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân 1975

Các diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân 1975 là những tác phẩm hoàn chỉnh về cấu trúc Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy cấu trúc của các diễn ngôn xã luận thường tuân theo trình tự các phần như sau:

Phần tiêu đề: Diễn ngôn xã luận chỉ có một tiêu đề duy nhất bao trùm

toàn bộ nội dung bài viết

Phần nội dung chính: Gồm: + Nêu vấn đề

+ Giải quyết vấn đề + Kết luận

Tên tác giả: Nhân Dân

Như vậy, mô hình cấu trúc của các diễn ngôn xã luận vừa có những điểm chung vừa có những điểm riêng so với cấu trúc của những thể loại báo chí khác Ví dụ như, nếu so sánh với thể loại phóng sự thì xã luận vẫn đảm bảo những bộ phận chính, những bộ phận không thể thiếu là tiêu đề, phần nội dung chính và sau cùng là tên tác giả bài viết; Nhưng khác ở chỗ xã luận không có phần sapo, không có tiêu đề phụ (vì tiêu đề chính đã thể hiện được toàn bộ nội dung chính của tác phẩm); Và đặc biệt tác giả diễn ngôn xã luận

luôn luôn kí tên Nhân Dân trong khi tác giả của những bài báo thuộc thể loại

báo chí khác luôn được thể hiện một cách rõ ràng ở cuối bài viết

Một nhận xét nữa có thể đưa ra là các diễn ngôn xã luận có cấu trúc thuộc khuôn hình mềm dẻo với mô hình thông dụng Khẳng định được như vậy là bởi cấu trúc của chúng tương đối ổn định với các phần như đã trình bày ở trên Nó không quá nghiêm ngặt đến độ thành khuôn mẫu như văn bản hành chính (giấy khai sinh, giấy mời họp, các mẫu đơn…) nhưng cũng lại không được phép quá

tự do sáng tạo theo tài năng, sở thích của cá nhân người viết như với các văn bản văn học nghệ thuật (Ví dụ: một văn bản thơ, về hình thức có thể trình bày theo thể lục bát, thất ngôn, tự do, thậm chí có tác giả đã tạo nên sự phá cách bằng cách trình bày các câu trong bài thơ theo hình thoi, hình thang…)

Trang 35

2.2 Miêu tả đặc điểm cấu trúc từng phần

2.2.1 Đặc điểm cấu trúc phần tiêu đề

Tiêu đề hay còn gọi là tít (title) – một thuật ngữ mà báo chí hiện đại ưa dùng có chức năng vô cùng quan trọng, gần như quyết định đối với số mệnh của một bài báo Sở dĩ tiêu đề có vai trò quan trọng như vậy là bởi nó đảm nhận ba chức năng: chức năng thu hút sự chú ý của độc giả khi họ lướt xem tờ báo lần đầu tiên, chức năng phân biệt bài báo nào cần quan tâm hơn, giúp độc giả lựa chọn vì nó nêu được chủ đề, chỉ ra được cái mới cái hay của bài, từ đó độc giả sẽ quyết định lựa chọn đọc hay không đọc bài báo đó tùy theo nhu cầu

Tiêu đề là một bộ phận khá đặc biệt trong cấu trúc chung của một bài báo Đặc biệt ở chỗ nó vừa là một bộ phận có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết, không thể tách rời với phần nội dung chính, nhưng cũng chính nó lại có khả năng tồn tại tương đối độc lập Một tiêu đề hoàn chỉnh, đạt yêu cầu vừa phải thực hiện được chức năng chung của bài báo và vừa thực hiện được những chức năng riêng của nó

Chính vì những yêu cầu, chức năng như trên mà tiêu đề của các diễn ngôn xã luận có các đặc điểm như sau:

2.2.1.1 Phân loại tiêu đề theo chủ đề

Qua khảo sát 120 tiêu đề xã luận (1975), chúng tôi nhận thấy nội dung của chúng thường hướng vào các chủ đề sau:

- Chủ đề chính trị: Thất bại chưa từng có trong chính sách xâm lược và

can thiệp của Mỹ (số 7650, 14/4/1975), Chế độ Lon Non đang giãy chết (số

7616, 11/3/1975), Quốc hội của thời kỳ xây dựng đất nước (Số 7698, 3/6/1975), Mỹ đang phá hoại hoạt động và định ước Pa-ri (Số 7606, 1/3/1975), Cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Cam-pu-chia nhất định

hoàn toàn thắng lợi ( Số 7628, 23/3/1975), Thắng lợi vĩ đại của tình đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương (Số 7661, 25/4/1975), Cuộc đấu tranh anh hùng 30 năm (7669, 3/5/1975), Điện Biên Phủ - Hồ Chí Minh (Số 7673,

7/5/1975), Đoàn kết xây dựng đất nước phồn vinh (Số 7683, 18/5/1975 )…

Trang 36

- Chủ đề quân sự: Tỉnh Phú Yên và thị xã Tuy Hòa hoàn toàn giành

quyền làm chủ (số 7639, 3/4/1975), Thắng lợi rất to lớn (số 7626, 21/3/1975), Thừa Thiên – Huế đã hoàn toàn giải phóng! (Số 7632, 27/3/1975), Thắng lợi mới rất to lớn: Tỉnh Khánh Hòa và thành phố Nha Trang hoàn toàn giải phóng! (Số 7641, 5/4/1975), Chào mừng tỉnh Bình Thuận và thị xã Phan Thiết hoàn toàn giải phóng (Số 7657, 21/4/1975)…

- Chủ đề kinh tế: Đưa công tác kế hoạch hóa kinh tế quốc dân tiến lên

bước mới (số 7825, 8/10/1975), 1975 – Một năm lao động sản xuất có tiến bộ

(số 7896, 18/12/1975), Thực hiện những biện pháp thiết thực, cụ thể đưa sản

xuất tiến lên (Số 7647, 11/4/1975), Đẩy mạnh xuất khẩu (Số 7596, 19/2/1975),

Mở rộng gieo trồng cây công nghiệp (Số 7599, 22/2/1975), Thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của nhân dân về hàng tiêu dùng (Số 7602, 25/2/1975) Hãy dấy lên phong trào lao động sôi nổi (Số 7688, 23/5/1975),…

- Chủ đề văn hóa – xã hội: Một công tác lớn sau chiến tranh (số 7905, 27/12/1975), Đẩy mạnh hoạt động thể dục – thể thao thành một phong trào

quần chúng sâu rộng (số 7734, 8/7/1975), Phát triển sự nghiệp y tế ở nông thôn (Số 7604, 27/2/1975), Tiến hành tốt việc tuyển sinh vào các trường đại học và trung học chuyên nghiệp (Số 7660, 24/4/1975), …

Như vậy, nội dung của xã luận đã đề cập tới hầu hết các lĩnh vực của đời sống đất nước từ chính trị, quân sự, kinh tế đến văn hóa - xã hội (giáo dục, y tế, thể dục thể thao…) Nó cho thấy tờ báo cũng như Đảng, Nhà nước luôn thông tin kịp thời tất cả những vấn đề quan trọng cho nhân dân được biết như: tình hình ở các mặt trận Tây Nguyên, Nam Bộ… với các chiến thắng của quân và dân ta; sự suy yếu của Mỹ ở chiến trường 3 nước Đông Dương; sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa; tình hình phát triển kinh tế của đất nước; các chính sách cho vùng mới giải phóng, chính sách để phát triển y tế, giáo dục… Cùng với việc thông tin, tờ báo cũng đưa ra những ý kiến chỉ đạo sát sao nhằm định hướng dư luận, kêu gọi quân và dân thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để tiến tới đạt được mục tiêu chung: giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa đất nước thoát khỏi vô vàn những khó khăn trong thời kì hậu chiến…

Trang 37

Đồng thời chúng tôi cũng thu được kết quả tỉ lệ phân bố của từng loại chủ đề thể như sau:

Bảng 2.1: Bảng số lượng và tỉ lệ các loại chủ đề của tiêu đề

Quan tâm tới tất cả các lĩnh vực, nhưng xã luận chủ yếu đề cập đến vấn đề chính trị (40,8%), kinh tế (28,3%) Đây là điều dễ hiểu bởi vì 1975 là một năm rất đặc biệt, năm mà chúng ta phải thực hiện tới hai nhiệm vụ vô cùng to lớn: hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước và khôi phục kinh

tế, khắc phục hậu quả chiến tranh Trong bối cảnh đó, thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời tình hình chính trị, kinh tế cho nhân dân được biết là một yêu cầu thiết yếu, góp phần định hướng dư luận, chỉ đạo, kêu gọi, động viên, khích lệ quân và dân ta tiến lên giành thêm nhiều thắng lợi mới trên hai mặt trận này

Xã luận đề cập đến các vấn đề quân sự, văn hóa – xã hội tuy chiếm tỉ lệ

ít hơn nhưng sự xuất hiện cũng khá thường xuyên, đều đặn bởi quan điểm của Đảng và Nhà nước ta rất rõ ràng: muốn giành thắng lợi trên mặt trận chính trị, kinh tế thì phải quan tâm, phát huy được sức mạnh tổng lực của toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

Cũng từ khảo sát, chúng tôi nhận ra: hầu hết các tiêu đề xã luận đều thể hiện trực tiếp chủ đề, tức là diễn đạt một cách tường minh chủ đề, nội dung

mà văn bản muốn truyền tải Đọc tiêu đề, người đọc có thể hình dung ra bài

xã luận đó sẽ nói về vấn đề gì Điều này phù hợp với chức năng chung của bài

xã luận là thông tin, tuyên truyền, chỉ đạo, cổ vũ, động viên, kêu gọi…

Chúng ta có thể nhận thấy sự bám sát nội dung vấn đề trình bày ở bài viết với tiêu đề của bài viết đó qua ví dụ sau:

Trang 38

- Tiêu đề: 1975 – Một năm lao động sản xuất có nhiều tiến bộ (số 7896,

18/12/1975)

- Nội dung bài viết:

+ Phần nêu vấn đề: Khẳng định 1975 là một năm lao động sản xuất có nhiều tiến bộ; Đưa thêm thông tin bổ sung

+ Phần giải quyết vấn đề:

.> Đưa ra những con số cụ thể chứng minh cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực sản xuất: trong nông nghiệp, khối lượng vận tải hàng hóa, xây dựng, mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ …

 Phân tích về ý nghĩa của những thành tựu đó

 Chỉ rõ bên cạnh những thành tích đã đạt được, còn có những thiếu sót và nhược điểm

 Các ngành, các cơ sở đang rút kinh nghiệm việc thực hiện kế hoạch để tìm ra phương hướng hành động và những biện pháp cụ thể để tiến lên + Kết luận: Bình luận chung về những thành tựu đã đạt được trong năm

là những thành tựu rất to lớn, quan trọng; Biểu thị niềm lạc quan, tin tưởng vào sự tiến lên của đất nước

Vậy nhìn vào tiêu đề người đọc có thể nhận diện ra ngay đó là một bài

xã luận chứ không phải một phóng sự, một bài phỏng vấn hay một tiểu phẩm… bên cạnh những dấu hiệu hình thức khác như: bài được đặt ở trang nhất của tờ báo và được đặt trang trọng trong khung

2.2.1.2 Về cấu trúc cú pháp của tiêu đề

Tiêu đề là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời nhưng cũng có tính độc lập tương đối với phần nội dung chính của bài báo nên yêu cầu chung cho một tiêu đề là vừa phải đảm bảo truyền tải được nội dung chính của bài viết đồng thời lại phải hấp dẫn để thu hút được người đọc Tiêu đề của xã luận không phải là một ngoại lệ Để thực hiện yêu cầu, chức năng đó, tiêu đề của

xã luận có đặc điểm về mặt cú pháp như sau:

Trang 39

Cấu trúc cú pháp của các tiêu đề xã luận được khảo sát không có kiểu cấu trúc là một từ, chỉ có kiểu cấu trúc là ngữ bao gồm danh ngữ, động ngữ và kiểu cấu trúc mệnh đề Cụ thể chúng tôi có bảng số liệu sau:

Bảng 2.2: Bảng số lượng và tỉ lệ các kiểu cấu trúc cú pháp của tiêu đề

Có thể thấy, tỉ lệ xuất hiện của 3 kiểu cấu trúc trên ở tiêu đề là khá đồng đều, sự chênh lệch là không đáng kể Trong đó:

- Kiểu tiêu đề có kết cấu động ngữ chiếm tỉ lệ cao nhất: 35% Thông thường do yêu cầu là tiêu đề của bài báo nên kiểu cấu trúc danh ngữ mới là kiểu cấu trúc đắc dụng cho việc đặt tiêu đề của tất cả các thể loại báo chí, nhưng với thể loại xã loại thì cấu trúc động ngữ lại được ưu tiên hàng đầu trong quá trình sử dụng Chúng tôi có thể dẫn ra đây rất nhiều tiêu đề có cấu trúc dạng này như:

Phát triển lực lượng công nhân kĩ thuật trong thời kì mới

(Số 7684, 19/5/1975)

Cố gắng góp phần giảm bớt khó khăn của các gia đình thương binh, liệt sĩ

(Số 7692, 27/5/1975)

Trang 40

Những tiêu đề xã luận có kết cấu động ngữ nhấn mạnh vào sự kiện, hành động, công việc, nhiệm vụ trung tâm mà Đảng và Nhà nước kêu gọi quân, dân và các tổ chức xã hội thực hiện Từ đó tác động trực tiếp tới cảm quan, nhận thức và hành động của người đọc, khơi dậy sự đồng thuận của toàn xã hội trước những quan điểm, chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Điều này hoàn toàn phù hợp với mục đích kêu gọi hành động của xã luận

- Kiểu tiêu đề có kết cấu danh ngữ chiếm tỉ lệ cao thứ hai: 33,3% Tiêu

đề thuộc dạng này có giá trị nêu chủ đề/đề tài hoặc mô tả, định danh sự kiện

- Kiểu tiêu đề có kết cấu mệnh đề:

Ví dụ:

Chế độ Lon Non đang giãy chết (số 7616, 11/3/1975)

Đồng bào và chiến sỹ miền Nam nhất định xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy ngụy quyền Sài Gòn, hoàn thành triệt để sự nghiệp giải phóng thiêng liêng của mình (số 7663, 27/4/1975)

Quảng Ngãi thắng lợi hoàn toàn (Số 7633, 26/3/1975)

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban 1996, Ngữ pháp tiếng Việt (II), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (II)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Diệp Quang Ban 2009, Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
3. Diệp Quang Ban 1998, Về mạch lạc trong văn bản, T/c Ngôn ngữ số 2, tr.20-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mạch lạc trong văn bản
4. Diệp Quang Ban 2007, Tìm hiểu phân tích diễn ngôn phê bình, T/c Ngôn ngữ số 8, tr.45-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phân tích diễn ngôn phê bình
7. Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Nguyễn Thị Ngọc Diệu 1996, Giáo trình giản yếu về ngữ pháp văn bản (in lần thứ 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giản yếu về ngữ pháp văn bản (in lần thứ 2)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Nguyễn Đức Dân 1998, Ngữ dụng học (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học (tập 1)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Hữu Đạt 1999, Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Nhà XB: Nxb KHXH
10. Hà Minh Đức (chủ biên) 1995, Báo chí những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lí luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Giáo Dục
11. Moskanskaja, Ngữ pháp văn bản (Bản dịch tiếng Việt năm 1996, Nxb Giáo dục) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp văn bản
Nhà XB: Nxb Giáo dục)
12. Nguyễn Thiện Giáp 1998, Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb KHXH
13. Nguyễn Thiện Giáp 2000, Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
14. M.A.K. Halliday 1994. An Introduction to Functional Grammar. Edward Arnold. (Bản dịch tiếng Việt: Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Hoàng Văn Vân, 2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Introduction to Functional Grammar". Edward Arnold. (Bản dịch tiếng Việt: "Dẫn luận ngữ pháp chức năng
15. Vũ Quang Hào 2009, Ngôn ngữ báo chí, Nxb Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Nhà XB: Nxb Thông tấn
16. Cao Xuân Hạo 1991, Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng - quyển 1, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng - quyển 1
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
17. Nguyễn Hòa 2003, Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lí luận và phương pháp, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lí luận và phương pháp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
18. Nguyễn Hòa 2006, Phân tích diễn ngôn phê phán: Llí luận và Phương pháp, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn phê phán: Llí luận và Phương pháp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
19. Bùi Mạnh Hùng, Bàn thêm về vấn đề phân loại câu theo mục đích phát ngôn, T/c Ngôn ngữ số 2, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về vấn đề phân loại câu theo mục đích phát ngôn
20. Đào Thanh Lan 2010, Ngữ pháp ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
21. Đào Thanh Lan, Ứng dụng quan điểm ngữ pháp chức năng vào khảo sát lại nhóm từ: Hãy, Đừng, Chớ, Tạp chí khoa học, ĐHQGHN, số 3, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng quan điểm ngữ pháp chức năng vào khảo sát lại nhóm từ: Hãy, Đừng, Chớ
22. Hạ Thị Mến, Phân tích diễn ngôn phóng sự (trên cứ liệu báo Tiền phong tháng 10, 11, 12/ 2009), Khóa luận tốt nghiệp, Khóa 2006 – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn phóng sự (trên cứ liệu báo Tiền phong tháng 10, 11, 12/ 2009)

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Bảng số lượng và tỉ lệ các loại chủ đề của tiêu đề - Phân tích diễn ngôn xã luận trên báo Nhân dân năm 1975
Bảng 2.1 Bảng số lượng và tỉ lệ các loại chủ đề của tiêu đề (Trang 37)
Bảng 2.3: Bảng số lượng và tỉ lệ các cách nêu vấn đề - Phân tích diễn ngôn xã luận trên báo Nhân dân năm 1975
Bảng 2.3 Bảng số lượng và tỉ lệ các cách nêu vấn đề (Trang 51)
Bảng 2.4: Bảng tỉ lệ các dạng kết cấu thông tin - Phân tích diễn ngôn xã luận trên báo Nhân dân năm 1975
Bảng 2.4 Bảng tỉ lệ các dạng kết cấu thông tin (Trang 64)
Bảng 2.5: Bảng số lượng và tỉ lệ các cách kết luận - Phân tích diễn ngôn xã luận trên báo Nhân dân năm 1975
Bảng 2.5 Bảng số lượng và tỉ lệ các cách kết luận (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w