TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN QUANG HUY DIỄN NGÔN VỀ THÂN PHẬN VÀ VỊ THẾ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM: MỘT PHÂN TÍCH VỀ MÂU THUẪN GIỮA DIỄN NGÔN CHÍNH THỐNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN QUANG HUY
DIỄN NGÔN VỀ THÂN PHẬN VÀ VỊ THẾ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM: MỘT PHÂN TÍCH VỀ MÂU THUẪN GIỮA DIỄN NGÔN CHÍNH THỐNG VÀ
NHẬN THỨC CỦA CÔNG NHÂN (NGHIÊN CỨU TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NHÂN HỌC
MÃ SỐ: 60.31.03.02
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN QUANG HUY
DIỄN NGÔN VỀ THÂN PHẬN VÀ VỊ THẾ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM: MỘT PHÂN TÍCH VỀ MÂU THUẪN GIỮA DIỄN NGÔN CHÍNH THỐNG
VÀ NHẬN THỨC CỦA CÔNG NHÂN (NGHIÊN CỨU TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
Trang 3và vị thế của giai cấp công nhân Việt Nam: Một phân tích về mâu thuẫn giữa diễn ngôn chính thống và nhận thức của công nhân (Nghiên cứu tại các khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương) là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Đức Lộc
Các tư liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Huy
Trang 4phận và vị thế của giai cấp công nhân Việt Nam: Một phân tích về mâu thuẫn giữa diễn ngôn chính thống và nhận thức của công nhân (Nghiên cứu tại các khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương), tác giả đã trải qua nhiều khó khăn Tuy vậy,
nhờ sự động viên, giúp đỡ tận tình từ nhiều phía mà đến nay, tác giả đã hoàn thành công trình này Qua đây, tác giả xin gửi những lời tri ân đến những đơn vị và cá nhân đã giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn - PGS TS
Nguyễn Đức Lộc, người đã giúp tác giả rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện
luận văn Nhờ có sự hướng dẫn tận tình về mặt chuyên môn cũng như sự động viên, khuyến khích không ngừng của Thầy mà tác giả mới có thể hoàn thành luận văn, cũng như có thêm nhiều động lực để hoàn thiện bản thân hơn trên con đường giảng dạy và nghiên cứu khoa học sau này
Bên cạnh đó, tác giả xin phép gửi lời cảm ơn đến các Thầy Cô trong Khoa Nhân học - những người đã truyền dạy cho tác giả những kiến thức quý báu đầu tiên, là nền tảng vững chắc cho luận văn này Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô, đồng nghiệp trong Khoa đã luôn động viên tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các công nhâ đã tham gia trả lời các cuộc phỏng vấn sâu trong đề tài Cảm ơn các bạn bè đã giúp đỡ, giới thiệu các mẫu phỏng vấn để tác giả có đầy đủ cơ sở dữ liệu cần thiết để thực hiện luận văn
Tác giả luận văn Nguyễn Quang Huy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8
7 Bố cục luận văn 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 12
1.1 Các khái niệm liên quan 12
1.2 Các lối tiếp cận lý thuyết của đề tài 19
1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 21
1.3.1 Sự hình thành các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương 21
1.3.2 Đặc điểm công nhân tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương 21
CHƯƠNG 2 DIỄN NGÔN CỦA NHÀ NƯỚC VÀ NHẬN THỨC CỦA CÔNG NHÂN VỀ NGHỀ NGHIỆP VÀ VỊ THẾ XÃ HỘI 30
2.1 Diễn ngôn của nhà nước về vai trò của giai cấp công nhân 30
2.2 Nhận thức về nghề nghiệp của công nhân 35
2.3 Nhận thức về vị thế xã hội của công nhân 49
CHƯƠNG 3 DIỄN NGÔN CỦA NHỮNG NGƯỜI YẾU THẾ VÀ SỰ THIẾU VẮNG TIẾNG NÓI ĐỐI THOẠI 58
Trang 63.1 Diễn ngôn của những người yếu thế 58
3.2 Sự thiếu vắng tiếng nói đối thoại 67
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
I Tài liệu tham khảo của các tác giả trong nước 79
II Tài liệu tham khảo của các tác giả nước ngoài 80
III Tài liệu tham khảo trên Internet 82
PHỤ LỤC 84
PHỤ LỤC 1 84
PHỤ LỤC 2 118
PHỤ LỤC 3 156
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giai cấp công nhân Việt Nam xuất hiện trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam
đang chịu sự cai trị của thực dân Pháp (Dương Xuân Ngọc, 2014, Luận bàn về giai
cấp công nhân Việt Nam hiện đại – đặc điểm và sứ mệnh lịch sử của nó) Kể từ khi
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã xác định vai trò chủ đạo của giai cấp công nhân
trong cuộc kháng chiến chống xâm lược (Trần Phú, 1930, Dự thảo luận cương
chính trị) Sau giai đoạn hoàn thành cuộc cách mạng Việt Nam thống nhất đất nước,
vai trò của giai cấp công nhân tiếp tục được khẳng định trong diễn ngôn chính thống
là giai cấp lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa
mà trước hết là quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa Hình ảnh của giai cấp công nhân được xác định là lực lượng lao động tiên phong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước (Nghị quyết 20 – NQ/TW, 28/1/2008, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X)
Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây lại cho thấy giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay phần lớn xuất thân từ những vùng quê nghèo khó và cuộc sống của
họ ở các khu công nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro về kinh tế và xã hội (Nguyễn Đức Lộc, 2013) Ngoài những bất ổn về mặt vật chất, bản thân công nhân còn được nhận diện như là những người có đời sống tinh thần đơn điệu, thiếu cơ hội mở rộng mạng lưới xã hội và hình thành vốn xã hội (Nguyễn Minh Hòa, 2005: 86) Trên thực tế, thân phận của công nhân vẫn bị xem là thân phận của những người nhập cư vào các
đô thị dù cho những đóng góp tích cực của họ vào nền kinh tế ở các khu đô thị lớn Theo số liệu thống kê, giai cấp công nhân là lực lượng đóng góp nhiều nhất vào ngân sách nhà nước Hàng năm giai cấp công nhân đóng góp hơn 60% tổng sản phẩm xã hội và 70% ngân sách nhà nước (Đặng Ngọc Tùng, 2010: 47)
Những dẫn chứng trên cho thấy đang tồn tại một khoảng cách giữa quan niệm về vị thế của giai cấp công nhân từ phía nhà nước và đời sống thực tại của công nhân Chính ở điểm xuất phát này mà luận văn đã đặt trọng tâm vào việc tìm hiểu về các diễn ngôn của công nhân Việt Nam đương đại khi nói về bản thân mình:
Trang 8họ là ai, họ đến từ đâu và họ nhận thức như thế nào về nghề nghiệp và vị thế xã hội của bản thân mình
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn này nhằm mục đích tìm hiểu và phân tích nhận thức về nghề nghiệp và vị thế của giai cấp công nhân Việt Nam thông qua việc nghiên cứu về những diễn ngôn của một bộ phận công nhân di cư đang sinh sống và làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Với mục đích trên, luận văn hướng đến bốn mục tiêu cụ thể:
- Mô tả nghề nghiệp và vị thế xã hội của một bộ phận công nhân di cư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương qua nhận thức của công nhân
- Phân tích nhận thức về nghề nghiệp và vị thế xã hội của công nhân trong tương quan với diễn ngôn mang tính lịch sử của nhà nước
- Giải thích sự khác biệt giữa nhận thức về nghề nghiệp và vị thế xã hội của công nhân với diễn ngôn của nhà nước
- Lý giải sự khác biệt giữa nhận thức về nghề nghiệp và vị thế xã hội của công nhân với diễn ngôn của nhà nướctrên cơ sở lý thuyết diễn ngôn của James Scott
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bàn về mâu thuẫn giai cấp trong xã hội, Karl Marx (1844) trên lập trường duy vật biện chứng đã nhấn mạnh về sự tha hóa của giai cấp công nhân xét theo hai phương diện (1) công nhân là những người lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng những sản phẩm do họ làm ra lại thuộc sở hữu của chủ tư bản (2) lao động của công nhân là lao động bị bóc lột về mặt thể xác lẫn tinh thần, do đó giá trị lao động của họ không đủ tạo nên sự tái sản xuất sức lao động Giai cấp vô sản là những người lao động trong các nhà máy, xí nghiệp và trong tương lai, họ sẽ trở thành lực lượng tiên phong, lãnh đạo cuộc cách mạng chống lại giai cấp tư sản Như vậy, theo quan điểm của Marx, giai cấp công nhân là giai cấp bị tha hóa nhiều nhất
Trang 9trong xã hội và chính vì vậy, giai cấp công nhân sẽ nắm giữ vài trò trung tâm trong
các cuộc cách mạng tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa (Marx, 1844, Bản thảo kinh tế
học - triết học)
Cùng với quan điểm của Marx về mâu thuẫn xã hội giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, Engels (1845) đã đi sâu vào mô tả đời sống của tầng lớp di cư ở Anh trong những năm giữa của thế kỷ XIX Theo Engels, tầng lớp công nhân là đại diện tiêu biểu đầu tiên của sự bần cùng và nghèo đói ở đô thị Sự nghèo nàn cả về vật chất lẫn tinh thần của giai cấp công nhân sẽ sớm dẫn đến những cuộc bạo động
và nổi dậy chống lại sự áp bức, bóc lột của chính giai cấp công nhân mà Engels gọi
là con đẻ của chủ nghĩa tư bản phương Tây
Những nghiên cứu của Marx và Engels đã tạo nên dòng phân tích đầu tiên về
vị thế xã hội - chính trị của giai cấp công nhân Giai cấp công nhân trong quan điểm của Marx và Engels đã được đẩy lên vị trí cao nhất trong các tầng lớp xã hội Từ quan điểm của Marx và Engels đã tạo nên diễn ngôn về quyền lực của giai cấp công nhân và đã ảnh hưởng đến các nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa
Ở Việt Nam, thông qua sự tiếp thu chủ nghĩa Marx, quan niệm về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân dần trở thành diễn ngôn chính thống Điều này được thể hiện qua các tác phẩm và những công trình nghiên cứu của các tác giả Việt
Nam Như công trình nghiên cứu “Xu hướng biến đổi giai cấp công nhân Việt Nam
trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do Dương
Xuân Ngọc làm chủ nhiệm đề tài, năm 2005; đề tài“Thực trạng của đội ngũ công
nhân thành phố Hồ Chí Minh và giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ này trong giai đoạn hiện nay” do Nguyễn Đăng Thành làm chủ nhiệm, năm 2007; “Sự biến đổi của cơ cấu giai cấp xã hội ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Luận án tiến sĩ triết học của Quản
Văn Trung, năm 1999; “Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay” của
Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Thị Tuyết Hoa, năm 2008 Phần lớn tập trung vào việc phân tích giai cấp công nhân dưới hai góc độ (1) đặc điểm lịch sử của giai cấp công nhân (2) vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong cách mạng Việt Nam
Trang 10Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về công nhân với những cách tiếp cận mới Giai cấp công nhân đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa và hình ảnh công nhân được mô tả như là những người lao động di cư vào các khu đô thị lớn Có thể kể đến các nghiên cứu về di dân của các nhóm xã hội (Đặng Nguyên Anh 2008, Nghiêm Liên Hương 2010), đời sống xã hội và tâm lý của công nhân ở thành thị (Lã Thị Thu Thủy 2011, Phạm Thanh Thôi 2013), mạng lưới xã hội, vốn
xã hội, hệ thống phúc lợi xã hội (y tế, giáo dục, nhà ở v.v…) và chiến lược ứng phó với các rủi ro (Nguyễn Đức Lộc 2011 - 2013), các cuộc đình công tập thể để bảo vệ quyền lợi của công nhân (Trần Tử Vân Anh 2009, Angie N Tran 2007, 2012 và
2013, S Clarke 2006, Đỗ Quỳnh Chi 2008, Lee Chang Hee, 2006) Hướng nghiên cứu chính của các đề tài này là tập trung vào việc mô tả hiện thực đời sống và phân tích những khó khăn và những chiến lược ứng phó với các rủi ro trong cuộ sống hàng ngày của giai cấp công nhân Sự đa dạng và phong phú trong cách tiếp cận về giai cấp công nhân của các công trình nghiên cứu mới cho thấy sự thay đổi trong cách nhìn nhận về vị trí của giai cấp công nhân trong xã hội
Mặc dù các đề tài nghiên cứu ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã cho thấy sự đa dạng trong các cách tiếp cận về công nhân, tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tiếp cận về đời sống kinh tế, xã hội của công nhân
mà chưa có những phân tích cụ thể về thân phận và vị thế của công nhân trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay Hơn nữa, các đề tài này chủ yếu dựa vào thống kê thông qua những số liệu mà chưa khai thác sâu ở góc độ ngôn từ của công nhân khi nói về vị trí của mình trong xã hội Luận văn này sẽ bổ sung thêm góc nhìn mới vào mảng đề tài công nhân thông qua việc phân tích về nhận thức của công nhân khi nói
về vị thế và vai trò của họ trong xã hội dưới góc độ diễn ngôn
Trang 114 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là diễn ngôn về thân phận và vị thế
xã hội của những công nhân nhập cư vào tỉnh Bình Dương từ các vùng miền khác nhau
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Không gian thực hiện đề tài tập trung ở bốn địa bàn chính là: thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An, huyện Bến Cát và huyện Tân Uyên Sở dĩ, chúng tôi chọn địa bàn nghiên cứu như vậy vì mỗi địa bàn kể trên có những đặc điểm riêng và mang tính đại diện cho loại hình các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Dương (xét cả hai chiều kích không gian phân bố và quá trình hình thành) Việc tiến hành khảo sát cùng lúc bốn địa bàn giúp chúng tôi có được cái nhìn so sánh, đối chiếu, đồng thời từ đó có thể khái quát được bức tranh chung về hiện trạng đời sống công nhân tỉnh Bình Dương
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ năm 2011 đến năm 2013
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Bên cạnh đó, luận văn góp phần là một trong những nghiên cứu về giai cấp công nhân – một trong những lực lượng lao động được xem là quan trọng nhất
Trang 12trong xã hội hiện nay Ngoài ra, luận văn cũng là cơ sở để chúng tôi thực hiện các nghiên cứu nâng cao có liên quan trong tương lai
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Nguồn dữ liệu: Luận văn này sử dụng hai nguồn dữ liệu chính: nguồn dữ liệu thứ cấp (các cương lĩnh, văn bản, nghị quyết, văn kiện trung ương Đảng hoặc sách, báo và các tạp chí viết về giai cấp công nhân qua các giai đoạn lịch sử) và nguồn dữ liệu sơ cấp1 (phỏng vấn sâu các chủ thể nghiên cứu và các dữ liệu
được thu thập thông qua bảng hỏi anket)
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn này kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính
Chọn mẫu trong nghiên cứu định lượng: Nguyên tắc chọn mẫu định lượng trong cuộc khảo sát của chúng tôi là chọn mẫu cụm theo nhiều giai đoạn Tổng số mẫu khảo sát định lượng bao gồm 800 đơn vị mẫu được phân bổ đồng đều giữa bốn địa bàn nghiên cứu tập trung đông đảo công nhân đang sinh sống và làm việc tại các doanh nghiệp, trong đó: thị xã Dĩ An (200 đơn
Trang 13vị mẫu), thị xã Thuận An (200 đơn vị mẫu), huyện Bến Cát (200 đơn vị mẫu)
và huyện Tân Uyên (200 đơn vị mẫu) Tiếp đó, tại mỗi thị xã/huyện chúng tôi lại chọn hai xã/thị trấn, một nằm gần trung tâm khu công nghiệp, một nằm ở ngoại vi khu công nghiệp Ở cấp xã/thị trấn chúng tôi lại tiếp tục chọn hai khu phố/ấp, mỗi phố/ấp sẽ chọn ra 50 công nhân trong tổng số công nhân đang có trên địa bàn bằng cách tiến hành chọn mẫu theo nguyên tắc ngẫu nhiên có hệ thống theo danh sách công nhân tạm trú được các địa phương và chủ nhà trọ cung cấp
Chọn mẫu trong nghiên cứu định tính: Nghiên cứu định tính trong cuộc khảo sát của chúng tôi được tiến hành bằng các cuộc phỏng vấn sâu kết hợp với quan sát - tham dự vào trong cuộc sống của công nhân Mẫu phỏng vấn sâu khoảng 30 đơn vị mẫu được chọn từ các mẫu khảo sát định lượng Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu điển hình (case study) từ các nhóm công nhân khác nhau (vùng miền, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn v.v…) Ngoài ra, còn khoảng 10 cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng là chủ nhà trọ, đại diện các cơ quan quản lý trên địa bàn tỉnh Bình Dương như Liên đoàn Lao động, hội Phụ nữ, ban quản lý nhà trọ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương chính như sau: Chương 1: Những tiền đề lý thuyết và tổng quan về địa bàn nghiên cứu Chương đầu tiên của luận văn chủ yếu làm rõ một số khái niệm và thuật ngữ
cơ bản liên quan đến đề tài; những hướng tiếp cận lý thuyết và phương pháp làm nền tảng cho toàn bộ vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó, chương này sẽ khái quát về địa bàn nghiên cứu bao gồm sự hình thành các khu công nghiệp; đặc điểm của đội ngũ công nhân ở Bình Dương hiện nay
Chương 2: Diễn ngôn của nhà nước và nhận thức của công nhân về nghề nghiệp và vị thế xã hội
Trang 14Chương thứ hai của luận văn sẽ tập trung vào việc mô tả và phân tích nhận thức của công nhân về thân phận, nghề nghiệp và vị thế xã hội trong mối tương quan với diễn ngôn của nhà nước Trái ngược với diễn ngôn đánh giá rất cao về vai trò của giai cấp công nhân của nhà nước vốn dựa trên những hệ tư tưởng mang tính lịch sử, những kết quả khảo sát trên thực tế cho thấy bản thân công nhân không đánh giá cao về nghề nghiệp và vị thế xã hội của mình Các ngôn từ mà công nhân
sử dụng để nói về bản thân mình như: cây cỏ, cây rau, cỗ máy v.v… hay về nghề nghiệp và vị thế xã hội như: trung bình, lao động chân tay, bán sức khỏe v.v… đã phản ánh một phần nào hình ảnh thực tại về một bộ phận công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay Nguyên nhân dẫn đến sự tương phản giữa những diễn ngôn của nhà nước với những nhận thức của công nhân xuất phát từ việc các diễn ngôn của nhà nước đã bị mã hóa trong một khung tư duy kinh tế - chính trị vốn
bị chi phối bởi những hệ giá trị lịch sử và vì thế, đã đóng khung công nhân vào trong những vai trò và vị thế xã hội nhất định Hệ quả là các diễn ngôn trên đã bỏ lỡ tiếng nói của công nhân xuất phát từ hoàn cảnh sống trên thực tế của họ
Chương 3: Diễn ngôn của những người yếu thế và sự thiếu vắng tiếng nói đối thoại
Chương thứ ba sẽ đi vào phân tích những diễn ngôn của công nhân về những mâu thuẫn, xung đột trong các tương tác xã hội mà họ phải đối diện trong cuộc sống hàng ngày Qua những tương tác xã hội đã phản ánh nhận thức về thân phận yếu thế của công nhân khi tiếng nói của họ hiếm khi được lắng nghe một cách đầy đủ ở trong các cuộc đối thoại giữa công nhân và tổ chức xã hội của nhà nước Sự thiếu vắng tiếng nói đối thoại là nguyên nhân khiến cho bản thân công nhân không dám công khai những suy nghĩ và ý kiến của mình một cách trực tiếp ở những nơi công cộng Mặc dù vậy, bản thân công nhân không tỏ ra thụ động trong việc chấp nhận
sự mặc định sẵn về vị thế xã hội cho mình từ bên ngoài mà trái lại, họ cũng có khả năng tự định vị, lựa chọn những giá trị cho riêng mình dựa trên những hoàn cảnh thực tế Điều này chỉ được bộc lộ trong những nơi chốn an toàn và kín đáo ở hậu trường qua sự chủ động xây dựng những diễn ngôn và những chiến lược để đối phó
Trang 15với những xung đột về mặt quyền lợi và kiểm soát những rủi ro mỗi khi xảy ra những va chạm, mà bản thân họ thường là những người phải gánh chịu những thiệt thòi, trong các tương tác xã hội hàng ngày
Trang 16CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT
1.1 Các khái niệm liên quan
Đầu tiên, nhằm làm rõ và tạo tiền đề cơ sở lý luận cho luận văn, chúng tôi sẽ tiến hành thao tác hóa khái niệm chính của đề tài, gồm các khái niệm chính là "giai cấp công nhân", "vị thế xã hội và nghề nghiệp", "diễn ngôn":
- Giai cấp công nhân: Khi đề cập đến giai cấp công nhân, người ta thường
nhắc đến Karl Marx và những học thuyết của ông Karl Marx là người đã cống hiến
cả sự nghiệp để đi tìm con đường giải phóng giai cấp, đặc biệt là giai cấp công nhân Con đường giải phóng giai cấp mà Marx đề cập chính là con đường đấu tranh giai cấp, mà sứ mệnh giải phóng này thuộc về giai cấp vô sản và cụ thể là giai cấp công nhân (L.Kolakowski, 1978) Chính vì thế thuật ngữ “giai cấp” (class) được xem là thuật ngữ then chốt trong lý thuyết của Marx Khái niệm Giai cấp trong bối cảnh chế độ tư bản được Marx dùng để đề cấp đến hai “cực đối lập” - giai cấp tư bản và giai cấp công nhân Ông cho rằng khi tư bản phát triển thì trong xã hội càng ngày càng phân chia thành hai nhóm người kịch liệt chống đối nhau, thành hai giai cấp lớn trực tiếp đối mặt với nhau-giai cấp tư bản và giai cấp lao động
Marx phân biệt giai cấp trung lưu hay giai cấp tư bản chính là những người chủ sở hữu hệ thống sản xuất hay chính là những người thu được lợi nhuận từ việc bán hàng hóa hữu hình Còn người lao động hay giai cấp lao động là những người không sở hữu tư bản Họ bị ép trao đổi sức lao động của họ vì đồng lương được những ông chủ tư bản trả Sự mâu thuẫn lợi ích của hai giai cấp này đã dẫn đến sự xung đột giai cấp Để tăng tối đa lợi nhuận của mình, giai cấp tư bản mở rộng sự kiểm soát của họ lên cơ cấu kinh tế xã hội và đẩy mức lương của những người lao động xuống thấp nhất có thể Mặt khác, giai cấp lao động từ chối quyền sở hữu và
sự kiểm soát những sản phẩm từ chính sức lao động của họ, giai cấp này trở nên bị tha hóa khỏi toàn bộ quá trình sản xuất (James D Orcutt, 1983: 312 - 319)
Trang 17Ông đặc biệt lưu ý đến sự mâu thuẫn giữa bản chất con người và những điều kiện dành cho lao động trong chủ nghĩa tư bản Ông lý luận rằng dưới chế độ của chủ nghĩa tư bản, lao động bị bán như một món hàng hay nói cách khác con người
đã bị hàng hóa hóa trong chế độ tư bản chủ nghĩa Từ đây dẫn đến sự tha hóa (alienation) khỏi mọi thứ người công nhân, từ hành động sản xuất, đến các sản phẩm, v.v Sự tha hóa này thể hiện qua sự sùng bái những hàng hóa vốn che giấu cho mối quan hệ mâu thuẫn giữa tầng lớp trên (những người thu lợi nhuận) và tầng lớp lao động (những người cung cấp sức lao động để tạo ra lợi nhuận) Theo mạch
tư duy của mình, Marx cho rằng sự mâu thuẫn giữa hai tầng lớp này sẽ sản sinh ra một cuộc khủng hoảng kinh tế, nơi đó hệ thống tư bản sẽ thất bại (hoặc bởi tự thân
nó hoặc thông qua sự nhận thức giai cấp và cuối cùng đưa đến cuộc cách mạng và
hệ thống tư bản) sẽ bị thay thế bởi chủ nghĩa xã hội Vì vậy, ông đã mong chờ một
xã hội cộng sản thay thế cho xã hội đầy rẫy sự áp bức và xung đột này
Những nghiên cứu của Marx về mối quan hệ mâu thuẫn giữa những người chủ lao động và những người lao động trong xã hội tư bản đã được F Engels tiếp nối bằng cách khái quát những đặc điểm của giai cấp vô sản hay còn gọi là giai cấp công nhân Ông đưa ra định nghĩa như sau:
“Họ[những công nhân] là giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán sức lao động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống của họ đều phụ thuộc vào số cầu người lao động, tức là vào tình hình chuyển hướng tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không có gì ngăn nổi” (Karl Marx và F Engels, 1994: 4)”
Theo Engels, giai cấp công nhân là những người vô sản đã đạt tới một trình
độ cao và do vậy, giai cấp công nhân được lựa chọn để tiến hành vai trò lịch sử trong việc loại bỏ hệ thống tư bản Điều này buộc “người công nhân phải phát triển một ý thức giai cấp hay ý thức tập thể về lợi ích khách quan của họ xét như một giai cấp cách mạng” (James D Orcutt, 1983: 312 - 319) Ý thức nói trên được hiểu rằng
Trang 18giai cấp công nhân không chỉ đấu tranh vì mức lương èo uột được ông chủ tư bản trả mà họ cần phải ý thức mình là những chủ thể đối với nhận thức sai lạc của ý thức hệ tư bản (James D Orcutt, 1983: 312 - 319) Vì giai cấp tư bản kiểm soát nền tảng kinh tế của đời sống xã hội, cho nên giai cấp này cũng thống trị Thượng tầng cấu trúc (superstructure) ở chiều kích văn hóa và chính trị của xã hội tư bản Marx cho rằng “trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là ở những tư tưởng thống trị (ruling ideas)” (James D Orcutt, 1983: 312 - 319) Như vậy, toàn bộ các thành phần của xã hội, bao gồm cả những người công nhân đều chịu sự ảnh hưởng văn hóa của một ý thức hệ vốn biện hộ và hỗ trợ cho lợi ích của giai cấp tư bản
Ở Việt Nam, giai cấp công nhân xuất hiện trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam đang chịu sự cai trị của thực dân Pháp (Tony Bilton, Kevin Bonnett, Philip Jones, Ken Sheard, Michelle Stanworth và Andrew Webster, 1985: 132) Đặc biệt,
kể từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã xác định vai trò chủ đạo của giai cấp công nhân trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, đặt trong bối cảnh đấu tranh giải phóng dân tộc (Tony Bilton, Kevin Bonnett, Philip Jones, Ken Sheard, Michelle Stanworth và Andrew Webster, 1985: 132) Giai cấp cấp công nhân, cùng với giai cấp nông dân được xem là lực lượng nòng cốt của cách mạng dân tộc Sau giai đoạn hoàn thành cuộc cách mạng Việt Nam thống nhất đất nước, vai trò của giai cấp công nhân vẫn tiếp tục duy trì diễn ngôn trong các văn bản chính thống là giai cấp lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa mà trước hết là quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa Tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã định nghĩa về giai cấp công nhân như sau:
“Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Ðảng Cộng
sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt
Trang 19trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng.” 2
Với khái niệm trên giai cấp công nhân được xác định như là một nhóm những cá nhân có cùng các phẩm chất ưu tú về mặt chính trị (lãnh đạo), kinh tế (phương thức sản xuất tiên tiến), vị trí xã hội (đội tiền phong, giai cấp tiên phong, lực lượng đi đầu) và qua đó nó cũng mặc định sẵn một vị thế xã hội dành cho giai cấp công nhân giữa các tầng lớp khác trong xã hội
- Vị thế xã hội và nghề nghiệp: Vị thế xã hội (social status) là khái niệm
dùng để chỉ vị trí hoặc thứ bậc, được xác định kèm với danh dự hoặc sự tôn kính, của một cá nhân hay của một nhóm trong xã hội (Thye và Witkowski, 2005: 795) Nhà xã hội học, R Linton định nghĩa khái niệm vị thế như là vị trí trong xã hội, chẳng hạn như đứa trẻ hoặc cha mẹ Theo ông, vị thế là cái để xác định cá nhân là
ai, trong khi một khái niệm khác là vai trò (role) lại nhấn mạnh đến những hành vi được mong đợi của một cá nhân trong một vị thế (R Linton, 1936) Trong những xã hội hiện đại, nghề nghiệp là một yếu tố quyết định đến vị thế của một cá nhân bên cạnh những yếu tố khác như là thành viên của một nhóm như: nhóm tộc người, tôn
giáo, giới, tự nguyện, sở thích v.v…
Quay ngược lại với lịch sử của khái niệm vị thế, văn bản đầu tiên mang tính
hệ thống về khái niệm này là của triết gia người Hy Lạp Aristotle, người cho rằng vị thế (status), phẩm chất (merit) hoặc sự ưu tú (excellence) là một trong những nền tảng cơ bản để phân phối những phần thưởng xã hội Sang đến thế kỷ XX, nhà xã hội học người Đức Max Weber đã mở rộng khái niệm vị thế khi cho rằng các nhóm
xã hội (ví dụ như nhóm công nhân cổ trắng và nhóm công nhân cổ xanh) đều chia
sẻ lối sống chung như nhà cửa, quần áo và những hoạt động lúc rỗi rãi Đối với Weber, vị thế là một chiều kích quan trọng của sự phân tầng về mặt xã hội Ông cho rằng sự phân tầng về mặt xã hội là kết quả của sự tương tác giữa của cải (giai cấp),
2 Nghị quyết 20 – NQ/TW, 28/1/2008, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X
Trang 20uy tín vị thế và quyền lực (đảng phái) (Tony & Dagmar Walters, 2015) Ngoài khái niệm về sự phân tầng xã hội, Max Weber đã phát triển thêm khái niệm nhóm vị thế vốn dựa trên ý tưởng cho rằng lối sống và danh dự của một nhóm có thể được xác nhận và được mang lại bởi những người khác Nhóm vị thế có thể bao gồm các nhóm nghề nghiệp, nhóm tộc người, nhóm chúng tộc, hoặc những nhóm khác có cùng một hình mẫu (Weber, 1946)
Cùng xuất phát trên quan điểm về sự phân tầng xã hội như Max Weber nhưng nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu lại chú trọng đến sự phân tầng xã hội dựa trên ý tưởng về thị hiếu thẩm mỹ Bourdieu cho rằng cách mà một cá nhân lựa chọn để giới thiệu không gian xã hội của bản thân trước thế giới, những sự sắp đặt thẩm mỹ của một cá nhân đều mô tả vị thế của cá nhân đó Những sự sắp đặt này đã được nội tâm hóa ngay từ khi còn nhỏ thông qua việc giáo dục để hướng đến
vị trí xã hội phù hợp cho tuổi trưởng thành, hướng đến cách cư xử thích hợp và một
sự ác cảm đối với những lối sống khác Bourdieu tin rằng “sự phân biệt về xã hội và những sự ưu tiên được biểu hiện nhiều nhất trong những lựa chọn thông thường trong cuộc sống hàng ngày như đồ dùng gia đình, quần áo, cách nấu nướng mà qua
đó chúng bộc lộ một cách cụ thể những sự sắp đặt ăn sâu và bền vững v.v…” (Bourdieu, 1984: 77)
Từ những quan điểm lý thuyết trên, khái niệm vị thế xã hội có thể được hiểu như là vị thế của một cá nhân hay của một nhóm xã hội Vị thế xã hội có thể do một
cá nhân đạt được trong suốt cuộc đời như là một kết quả của sự rèn luyện về mặt tri thức, khả năng hay là các kỹ năng hoặc do những sự mặc định của xã hội thông qua việc cá nhân nội tâm hóa các giá trị xã hội Xuất phát từ vị thế xã hội mà cá nhân sẽ xây dựng cho mình những căn cước xã hội (social identity) và thực hiện những hành vi ứng xử phù hợp với vị thế xã hội mà mình đang nắm giữ
Dưới quan điểm của lý thuyết vị thế xã hội, có thể thấy sự hình thành vị thế
xã hội luôn gắn chặt với các phẩm chất và giá trị nhất định Từ đó nó xác định vị trí của một cá nhân hay một nhóm người trong hệ thống thang bậc của xã hội Tuy
Trang 21nhiên, một số nhà nghiên cứu theo trường phái hậu cấu trúc (Foucault, Lacan, Giddens, Goffman) lại tỏ ra nghi ngờ các phẩm chất hay giá trị này Họ đặt lại nguồn gốc xuất phát của các phẩm chất hay giá trị này Đối với họ, vị thế xã hội có thể trở thành đối tượng của mối quan hệ quyền lực và được biểu hiện ra bên ngoài thông qua các văn bản hay các phát ngôn đã được hợp thức hóa Các hình thức này
đã được các nhà hậu cấu trúc gọi là các diễn ngôn
- Diễn ngôn: Diễn ngôn (discourse) là một khái niệm quan trọng và mang
nhiều nội hàm khác nhau trong những phân tích của nhà nghiên cứu theo trường phái hậu cấu trúc Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội, dấu vết của diễn ngôn có thể được tìm thấy từ những tác phẩm đầu tiên của nhà nhân học người Pháp Claude Levi Strauss (1958) khi ông sử dụng lý thuyết cấu trúc để lý giải văn hóa có
sự tương đồng thực sự với ngôn ngữ mà qua đó những thành tố mang tính cấu trúc
có thể được phát hiện thông qua việc phân tích hệ thống về những đơn vị văn hóa thống nhất hay những huyền thoại (ví dụ như huyền thoại Oedipus) (Charles Lemert, 2007: 204) Tuy nhiên, ngay lập tức các nhà hậu cấu trúc, theo nhiều cách khác nhau, đã bác bỏ những đặc trưng mang tính khách quan trong phương pháp của Levi Strauss Đáng chú ý nhất là Jacques Derrida với tác phẩm “Cấu trúc, Ký hiệu và Trò chơi trong Diễn ngôn của các ngành Khoa học Nhân văn” (1966) và tác phẩm này được xem như là tuyên ngôn của các nhà hậu cấu trúc Sau đó, khái niệm diễn ngôn đã được Michel Foucault giới thiệu trong những phân tích mang tính khảo cổ (archaeological) của ông về tri thức và quyền lực Đối với ông, khái niệm diễn ngôn không chỉ đơn thuần được định nghĩa như là một tập hợp đặc thù của những phát ngôn được nói hay được viết ra mà là “những hệ thống tư tưởng được tập hợp từ những ý kiến (ideas), những thái độ (attitudes), những hành động (actions), những niềm tin (beliefs) và những thực hành (pratices) định hình một cách tự động những chủ thể và những thế giới mà họ phát ngôn” (Iara Lessa, 2006)
Sự cấu thành của một diễn ngôn theo Foucault bắt nguồn từ một số lượng giới hạn những phát ngôn mà một nhóm những điều kiện cho sự hiện hữu [diễn ngôn] có thể được định nghĩa Hiểu theo nghĩa này, diễn ngôn không phải là một ý
Trang 22niệm (ideal), một mô thức phi thời gian v.v… mà nó có tính lịch sử, hay nói đúng hơn là một phần của lịch sử qua đó [diễn ngôn] thiết lập những giới hạn, những sự phân chia, những sự chuyển hóa, những hình mẫu đặc thù mang tính tạm thời (Foucault, 1972: 117) Như vậy, diễn ngôn là một tập hợp những phát ngôn được cấu tạo từ những hệ giá trị mang tính lịch sử và được thể hiện thông qua những thực tiễn xã hội (social pratices) khác nhau
Dựa trên những đặc trưng của diễn ngôn, Foucault đã phát triển khái niệm diễn ngôn tập trung vào “những quy tắc của cấu hình” mang tính ngẫu nhiên và biến thiên theo lịch sử, vốn là điều kiện để sản xuất ra những phát ngôn trong sự sắp đặt đặc thù “Những quy tắc của cấu hình” kiểm soát cái có thể được nói đến, cách mọi người thảo luận về một vấn đề, cá nhân nào được phép phát biểu và cách mà những phát ngôn có thể được kết hợp trong một sự tinh lọc mang tính chiến lược về diễn ngôn Những quy tắc này không hiện hữu một cách độc lập mà được khắc vào trong những mô thức đã được trầm tích của những diễn ngôn mà nó đang kiểm soát Do
đó, những điều kiện khả thể của diễn ngôn luôn luôn được thâm nhập qua những thực tại (Stewart & Mark: 2009: 112)
Mặc dù những phân tích về diễn ngôn của Foucault cho thấy cách mà những giá trị mang tính quyền lực được thiết lập và thẩm thấu vào trong suy nghĩ và cách ứng xử của các cá nhân, tuy nhiên, trên thực tế các cá nhân không chỉ thụ động tiếp nhận các diễn ngôn được áp đặt từ bên ngoài vào mà bản thân họ cũng có những diễn ngôn của riêng mình Những diễn ngôn này có thể không được biểu hiện một cách công khai ở những nơi công cộng nhưng nó có thể được biểu hiện thông qua những hành vi như: lời đồn, những chuyện phiếm, những sự che đậy, những mẹo ngôn ngữ, những ẩn dụ, những uyển ngữ, những câu chuyện dân gian, những cử chỉ mang tính lễ nghi, sự nặc danh (James Scott, 1985: 137) và chỉ được tiếp cận thông qua việc quan sát và lắng nghe những động thái và tiếng nói trong cuộc sống hàng ngày của họ
Ở trong luận văn này, chúng tôi sẽ dành sự ưu tiên cho việc phân tích những diễn ngôn của công nhân về thân phận, vị thế và nghề nghiệp của họ dựa trên quan
Trang 23điểm của James Scott Những diễn ngôn vốn chưa được “mã hóa” bởi những cấu trúc hay những khung giá trị về hình ảnh của giai cấp công nhân và được thể hiện thông qua những hành động như: sự không đồng thuận, những lối nói ẩn dụ, những
sự so sánh, những tự sự minh họa về bản thân v.v…
1.2 Các lối tiếp cận lý thuyết của đề tài
Lý thuyết nghiên cứu chính trong luận văn này là lý thuyết hậu cấu trúc (post structuralism) Mặc dù đã có nhiều những tranh luận về nguồn gốc xuất phát của lý thuyết hậu cấu trúc, tuy nhiên những quan điểm chính yếu của lý thuyết này có thể được tìm thấy trong các tác phẩm của một nhà tư tưởng lớn như: Roland Barthes, Gilles Deleuze, Jacques Derrida, Michel Foucault, Julia Kristeva hay Richard Rorty v.v… Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, trường phái lý thuyết hậu cấu trúc thường được xem như là một sự phản ứng, mở rộng và phê phán lý thuyết cấu trúc vốn được biết đến với những đại diện tiêu biểu như: Ferdinand Saussure trong lĩnh vực ngôn ngữ học, Claude Levi Strauss trong những nghiên cứu dân tộc học, Sigmund Freud trong nghiên cứu về phân tâm học hay thậm chí là các nhà nghiên cứu theo trường phái Marxist (Murphy, 2007: 590)
Đối với các nhà nghiên cứu theo quan điểm cấu trúc luận, họ thường tập trung vào những khung cấu trúc nằm ẩn sâu bên dưới xã hội mà họ tin rằng chi phối tới các nền tảng của xã hội cũng như hành động của con người Chẳng hạn như Karl Marx đã nhấn mạnh vào những cấu trúc kinh tế nằm bên dưới xã hội khi ông đi sâu vào phân tích những nguyên lý vận hành trong của xã hội tư bản (Michael Ryan, 2007: 804) Phần lớn những nhà cấu trúc luận thường giữ vững quan điểm cho rằng những ý nghĩa, những hành động thông qua việc nghiên cứu những thành tố trong một cấu trúc hay trong một hệ thống Do đó, họ xem sự đối lập mang tính nhị phân như là chìa khóa để hiểu những mối quan hệ mang tính cấu trúc giữa các thành tố này (ví dụ như: nam/nữ, phương Tây/ngoài phương Tây, da trắng/không phải da trắng, trung tâm/ngoại vi v.v…)
Trang 24Tuy nhiên, những luận điểm trên của các nhà nghiên cứu theo quan điểm cấu trúc luận đã bị hoài nghi bởi các quan điểm nghiên cứu của trường phái hậu cấu trúc Theo Derrida, một trong những gương mặt tiên biểu của trường phái hậu cấu trúc cho rằng trong hai phần đối lập nhau của quan điểm cấu trúc, luôn có một phần chiếm ưu thế hơn phần còn lại vì nó được xem như là phổ quát, chuẩn mực và trung tâm, trong khi phần còn lại được đặt ở trong vị trí ngoại biên, thứ yếu và phái sinh (Derrida, 1976) Vì thế với Derrida quan điểm cấu trúc luôn ẩn chứa đằng sau một
sự phân biệt về mặt thứ bậc giữa hai nhóm đối lập Mặc dù quan điểm cấu trúc luận
đã thành công trong việc chứng minh vai trò của một bộ khung mang tính cấu trúc tác động lên nhận thức của con người, tuy nhiên, các nhà cấu trúc luận đã bỏ qua những yếu tố như tác nhân hành động con người, tính tương đối của văn hóa và lịch
sử phát triển từng xã hội (M.Balkin, 1996) Hệ quả là con người chỉ được xem như
là những cá nhân thụ động và chịu sự áp đặt của một cấu trúc trong các hành động của mình
Vì thế, để phản bác mô hình cấu trúc mang tính ổn định, phổ quát và phi lịch
sử mà các nhà cấu trúc đã xây dựng để lý giải về các cấu trúc xã hội, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm mà họ đặt tên là hậu cấu trúc (post - structuralism) nhằm hàn gắn sự phân chia mang tính cấu trúc và cứng nhắc của các nhà cấu trúc luận Với quan điểm này, một mặt các nhà hậu cấu trúc phê phán sự áp đặt của những diễn ngôn mang tính ý thức hệ lịch sử, mặt khác, họ đề xuất một cách tiếp cận mang tính đa thanh (multivocality) với những diễn ngôn đa dạng của các chủ thể khác nhau
Trong luận văn này, dựa trên quan điểm lý thuyết hậu cấu trúc, sẽ chú trọng vào tiếng nói đa thanh của nhiều chủ thể khác nhau, trong đó tiếng nói của công nhân, chủ thể nghiên cứu chính của luận văn, sẽ được ưu tiên trong các phân tích về diễn ngôn
Trang 251.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 3
1.3.1 Các khu công nghiệp ở Bình Dương
Bình Dương được xem là một trong những tỉnh thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Nam có nhiều công nhân tập trung, làm việc tại 28 khu công nghiệp (KCN) trên tổng diện tích là 8.925,13 ha Các KCN của tỉnh được phân bố trên địa bàn bốn huyện Trong đó Dĩ An có sáu KCN với diện tích là 713,6 ha, Thuận An có ba KCN với diện tích là 654,6 ha, Bến Cát có chín khu với diện tích
là 4.114,4 ha và Tân Uyên có ba khu với diện tích là 1.715,8 ha (bao gồm một phần VSIP II mở rộng với diện tích là 1.008 ha) và bảy KCN thuộc Khu liên hợp công nghiệp – đô thị - dịch vụ Bình Dương với diện tích 1.717,7 ha Tổng diện tích được cấp phép cho thuê tại các KCN của tỉnh là 5.337,5 ha, diện tích đất đã cho thuê là 2.579,6 ha, đạt tỷ lệ lấp kín là 49,3% Toàn tỉnh có 23 KCN đã đi vào hoạt động, số còn lại đang trong giai đoạn xây dựng hạ tầng kỹ thuật, trong đó có 11 KCN đạt tỷ
lệ lấp kín trên 90% là Sóng Thần I, II, Đồng An, Bình Đường, Việt Hương, Tân Đông Hiệp A, Việt Nam – Singapore 1, Mỹ Phước 1 và 2, Bình An Cơ cấu ngành của tỉnh Bình Dương cũng dịch chuyển theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành sử dụng công nghệ tiên tiến và định hướng xuất khẩu, các khu, các cụm công nghiệp được hình thành và phát triển mạnh, công nghệ sản xuất ở một số ngành đổi mới theo hướng hiện đại, bình quân mỗi năm ngành công nghiệp của tỉnh tạo ra 30.000 việc làm mới v.v…Những con số đó có thể minh chứng cho nỗ lực dịch chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang giai đoạn phát triển mới với cơ cấu chủ đạo là công nghiệp của Bình Dương
1.3.2 Đặc điểm công nhân ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương
- Đặc điểm về giới tính và tuổi tác:
Trang 26Đội ngũ công nhân hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn Bình Dương nằm trong phạm vi khảo sát của đề tài bao gồm 46,5% nam và 53,5%
nữ Tỉ lệ này không chênh lệch quá nhiều, thuận lợi cho việc phân tích các dữ liệu
có liên quan đến yếu tố giới Tuy vậy, thực tế lực lượng công nhân tại Bình Dương đang có sự chênh lệch lớn về giới tính, nữ công nhân chiếm tỉ lệ cao hơn nam công nhân, do phần lớn doanh nghiệp tập trung chính vào của các ngành nghề chủ yếu là may mặc, lắp ráp linh kiện điện tử, giày da, thủ công mỹ nghệ, Về độ tuổi, đa phần công nhân trong khảo sát của đề tài đều ở độ tuổi từ 18 - 28 tuổi Hầu hết những thanh niên này tốt nghiệp phổ thông trung học còn một số ít chỉ học xong trung học cơ sở Bên cạnh đó, một số công nhân nằm ở độ tuổi cao hơn, thuộc hai nhóm, 29 đến 39 tuổi và trên 39 tuổi (10,9%) Trong số này, có những người ở lại làm công nhân vì lý do không xin được việc làm ngoài quê, một số khác ở lại vì đã
có “thâm niên” làm công nhân tại TP.HCM từ rất lâu Tuổi trung bình của công nhân trong số mẫu khảo sát là 27 tuổi, trong đó công nhân có tuổi đời nhỏ nhất là 16 tuổi và lớn nhất là 62 tuổi
Có thể khẳng định độ tuổi lao động trong mẫu khảo sát là rất trẻ Số công nhân nằm ở giai đoạn 10 năm đầu của độ tuổi lao động, từ 18 đến 28 tuổi, chiếm đến 56,8% Còn 29,2% công nhân thuộc giai đoạn 10 năm tiếp theo trong độ tuổi lao động Như vậy, ít nhất là 15 năm nữa thì 10,9% công nhân ở độ tuổi từ 40 đến
50 tuổi mới hết tuổi lao động Chỉ có 7,4% người lao động từ 40 tuổi trở lên Điều đáng lưu ý là trong cuộc khảo sát này có 08 trường hợp, chiếm 1,0%, chưa đủ tuổi lao động nhưng vẫn làm công nhân Tuy chiếm tỷ lệ không cao nhưng đây là tình trạng cần được xem xét
Có đến 87,0% lao động trẻ là một lợi thế cho các đơn vị đang sử dụng lao động tại Bình Dương Độ tuổi chiếm tỉ lệ phổ biến nhất trong lực lượng lao động tại đây là từ 18 đến 28 tuổi (56,8%) Có thể lý giải cho hiện tượng này rằng sau khi tốt nghiệp cấp hai hoặc cấp ba, nhiều thanh niên ở nông thôn với hoàn cảnh gia đình khó khăn, khả năng học tiếp bị hạn chế và cơ hội tìm kiếm nghề nghiệp tại quê nhà
Trang 27không nhiều, phải lên các vùng đô thị tìm việc Trong hoàn cảnh này, Bình Dương
là một trong những chọn lựa của họ trong công cuộc mưu sinh Điều này góp phần tạo nên một lực lượng công nhân trẻ tuổi ở đây Nguồn lao động trẻ đông đảo sẽ là một trong những điều kiện cơ bản để Bình Dương phát triển nền công nghiệp hiện đại theo chiều hướng bền vững
- Đặc điểm quê quán, thành phần xuất cư
Trong bối cảnh đô thị hóa mạnh, nền kinh tế ngày một phát triển, số lao động
di cư từ những vùng nông thôn đến các thành phố lớn là rất nhiều, tạo thành những dòng người từ nông thôn ra thành thị mưu sinh Cuộc mưu sinh này góp phần đáng
kể vào vấn đề an sinh đối với gia đình và cộng đồng gốc xuất cư của người công nhân, những đồng thời là động lực phát triển kinh tế - xã hội nơi tiếp nhận dòng di
cư này
Theo kết quả khảo sát của chúng tôi trong đề tài này, phần lớn thanh niên công nhân ở Bình Dương xuất thân từ Tây Nam Bộ (56,4%) và Bắc Trung Bộ (23,8%) Điều này phản ánh chung quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị đang diễn ra khắp cả nước
Bảng 1: Phân vùng kinh tế mà công nhân ở trước khi đến Bình Dương và nơi ở hiện tại
Nơi ở hiện tại của công nhân
Trang 28(Nguồn: dữ liệu khảo sát định lượng của đề tài tháng 12/2013)
Từ bảng số liệu trên cho thấy, những công nhân xuất thân từ các tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ có xu hướng di cư đến thị xã Dĩ An (36,0%) và thị xã Thuận
An (36,2%) Trong khi đó, các công nhân xuất thân từ các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long lại có tỉ lệ tập trung sinh sống và làm việc tại huyện Bến Cát (54,5%) và huyện Tân Uyên (83,1%) cao hơn Phải chăng mạng lưới xã hội trong giữa những người đồng hương có tác động phần nào đến quyết định lựa chọn địa bàn để di cư? Điều này cũng phản ánh một chiến lược xuất cư của những người công nhân Mạng lưới liên kết thân tộc, đồng hương trong các cuộc di dân mưu sinh
Trang 29sẽ là những lựa chọn nhằm giảm thiểu những rủi ro trong đời sống, đồng thời, mối dây liên kết mang đậm tính chất tinh thần là những điều không thể thiếu các cuộc di dân từ trước đến nay cũng được thể hiện trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay tại tỉnh Bình Dương Mạng lưới thân tộc, đồng hương vừa là bệ đỡ tinh thần cho những đợt chuyển cư, vừa tạo ra tính liên kết xã hội chặt chẽ, đôi khi là cục bộ địa phương Khiến cho các doanh nghiệp trở nên lung túng với lối ứng xử của người công nhân Dẫn đến việc một số doanh nghiệp có chiều hướng phân biệt những nhóm công nhân có tính liên kết đồng hương mạnh như đăng bảng thông báo không tuyển dụng công nhân quê gốc Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An chẳng hạn Bởi họ sợ những nhóm công nhân này có tính liên kết mạnh sẽ đưa ra nhiều yêu sách và làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của công ty Dù phản ứng của giới doanh nghiệp như thế nào thì xu hướng liên kết thân tộc, đồng hương đang là tuy hướng tất yếu hiện nay tại tỉnh Bình Dương
Bởi thực tế, đa phần công nhân đang làm việc tại tỉnh Bình Dương có hoàn cảnh xuất thân ở các vùng nông thôn, có điều kiện kinh tế còn kém phát triển, khi lên thành phố tìm việc những công nhân này hầu như chưa có kinh nghiệm về cuộc sống ở đô thị thì mạng lưới thân tộc, đồng hương là bệ đỡ quan trọng và hữu hiệu
Dù vậy, nhìn vào cuộc sống của họ, chúng tôi cảm nhận cuộc sống của người công nhân gần như bị bó hẹp, chỉ biết đoạn đường từ nhà trọ đến nơi làm và ngược lại, nhà trọ không tivi, không báo chí và ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài Học vấn thấp, tay nghề chưa cao, vốn hiểu biết về công việc, những quyền lợi còn ít, lại thêm tâm lý chỉ cần có việc là được nên ngay từ đầu họ ít có sự chọn lựa công việc phù hợp với khả năng của mình Rất ít công nhân mới đến thành phố tìm được việc làm tốt, có mức lương khá Chắc chắn những khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày
và cuộc sống mới mẻ nơi đất khách sẽ khiến cho các công nhân trẻ mới đến Bình Dương bị mất cân bằng và gây ra nhiều bất ổn nếu không được định hướng kịp thời
Chúng tôi cũng nhận thấy, phần lớn thanh niên lao động đang làm việc tại Bình Dương thuộc thành phần đăng ký tạm trú mà cụ thể là ở nhà thuê của các cư
Trang 30dân địa phương Môi trường sống tạm bợ, thiếu ổn định Các hoạt động phục vụ đời sống tinh thần chưa phong phú và không có điều kiện tiếp cận vì thời gian lao động trong các công xưởng, nhà máy chiếm trọn thời gian sinh hoạt hàng ngày của họ
- Đặc điểm về tay nghề chuyên môn và trình độ học vấn
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, khi yêu cầu của thị trường đối với chất lượng các sản phẩm ngày càng cao, trình độ chuyên môn và tay nghề của người lao động ngày càng trở nên quan trọng Hiện nay, không ít công nhân có trình độ chuyên môn, tay nghề thực sự chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, công ty Tuy nhiên, phần lớn số người đang làm việc tại các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn Bình Dương là lao động phổ thông, chiếm 91%
Việc các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều, đồng nghĩa với nhu cầu truyền dụng lao động tăng Người tuyển dụng cần lao động, người lao động lại khát việc làm Tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp ở các vùng nông thôn khiến dòng người di cư lên thành phố tìm việc ngày càng nhiều, nhưng trong
số đó có những thanh niên chưa tới tuổi lao động, nghỉ học sớm, không có nghề nghiệp ổn định dẫn đến tình trạng người lao động sử dụng hồ sơ, tên, tuổi, lí lịch của những người khác (đủ điều kiện) để được đi làm Đưa đến hệ lụy là một bộ phận công nhân có trình độ không đúng với thực chất như ban đầu tuyển dụng Kết quả khảo sát cho thấy số lượng công nhân có trình độ học vấn thấp khá nhiều, trong
đó, có 10,6% công nhân có trình độ học vấn dưới lớp 5, 23% số công nhân có trình
độ học vấn 9/12 và 17,9% có trình độ học vấn 12/12
Sở dĩ trình độ học vấn của lực lượng công nhân tương đối thấp cũng là điều
dễ hiểu, vì phần lớn doanh nghiệp chỉ có nhu cầu tuyển dụng các lao động phổ thông, tham gia vào quy trình sản xuất dây chuyền công nghiệp Đó là những công việc lao động chân tay giản đơn, không đòi hỏi tay nghề và chuyên môn Điều này phản ánh xu hướng phát triển thiếu bền vững trong các khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương Doanh nghiệp chỉ có nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông làm
Trang 31những công đoạn nhỏ trong chuỗi dây truyền sản xuất không cần đòi hỏi trình độ chuyên môn cao Đồng thời, ở khía cạnh khác có thể chất lượng chuyên môn của người công nhân Việt Nam nói chung là không cao trong điều kiện các doanh nghiệp khan hiếm nguồn lao động nên họ không có điều kiện tuyển dụng được nguồn lao động tốt Tuy nhiên, xét theo chiều hướng phát triển bền vững, để phát triển một nền công nghiệp phát triển ta cần có một lực lượng lao động có khả năng tiếp thu kỹ thuật công nghiệp tiên tiến nước ngoài để có thể tự phát triển nền công nghiệp của địa phương Hiện nay, chúng tôi nhận thấy tỉnh Bình Dương cũng đang
có những động thái tích cực trong việc mở ra các trường nghề như Cao Đẳng nghề Việt Nam Singapore để đáp ứng như cầu lao đồng có chuyên môn, tay nghề phục vụ các khu công nghiệp Đây là hướng đi tốt, có căn cơ nhưng cũng cần tính đến lực lượng lớn công nhân liên tục đến Bình Dương theo đường di cư cơ học không chuyên môn tay nghề
- Đặc điểm về loại hình doanh nghiệp nơi công nhân đang làm việc
Tại Bình Dương đang tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau tham gia lao động sản xuất từ lọai hình doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai cho đến các doanh nghiệp tư nhân, các hộ gia đình sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ v.v… Do đó, người lao động sẽ có đa dạng cơ hội lựa chọn tham gia thị trường lao động vào các loại hình doanh nghiệp khác nhau Kết quả khảo sát cho thấy loại hình doanh nghiệp mà các công nhân đang làm việc cũng rất đa dạng như bảng mô tả dưới đây:
Bảng 2: Loại hình doanh nghiệp người công nhân đang làm việc
N=800 Tỉ lệ %
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai 394 49.2
Trang 32(Nguồn: dữ liệu khảo sát định lượng của đề tài tháng 12/2013)
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai là loại hình doanh nghiệp được nhiều công nhân lựa chọn nhất, với tỉ lệ 49,2% Điều này cũng là dễ hiểu, bởi đây là loại hình doanh nghiệp đang chiếm ưu thế tại tỉnh Bình Dương Tính đến đầu tháng 4/2013, toàn tỉnh Bình Dương đã có 2.117 doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động với tổng vốn đầu tư là 17,327 tỷ USD (Từ Thiện Khiêm, 2009) Hiện Bình Dương
là địa phương đi đầu cả nước về việc thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài Các doanh nghiệp tư nhân cũng được xem là loại hình doanh nghiệp được các công nhân lựa chọn phổ biến đứng thứ hai, với 33,5% Tuy vậy, đây cũng là loại hình doanh nghiệp mà người lao động dễ gặp nhiều thiệt thòi về việc hưởng dụng các khoản phúc lợi xã hội Bên cạnh đó, một bộ phận nhỏ 8,6% và 6,6% công nhân đang làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp liên doanh Việc công nhân lựa chọn loại hình doanh nghiệp để làm việc không hẳn xuất phát từ vấn
đề thu nhập, bởi mức lương sàn hiện nay tại các doanh nghiệp đều tuân theo các quy định của Nhà nước, bởi sự chênh lệch mức lương cơ bản giữa các doanh nghiệp
là không đáng kể
Từ những số liệu khảo sát về các đặc điểm của đội ngũ công nhân tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương, có thể khái quát một số nét chính như sau: (1) độ tuổi của công nhân đều còn rất trẻ (chủ yếu từ 18 – 28 tuổi), phần lớn xuất thân từ các vùng miền còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế (Bắc Trung Bộ, Tây Nam Bộ), trình độ học vấn còn tương đối thấp (chỉ có 17.9% lao động có trình
độ 12/12) và trình độ chuyên môn chỉ dừng ở mức độ phổ thông (lao động giản đơn dựa nhiều vào sức khỏe là chính) Qua các số liệu trên cũng phản ánh một phần hiện thực trong đời sống của một bộ phận công nhân di cư ở các khu công nghiệp Bình Dương Trái ngược với diễn ngôn của nhà nước vốn mặc định một vai trò xã hội rất cao của giải cấp công nhân, các số liệu trên đã chỉ ra một thực tế rằng công nhân là những con người mang thân phận của những kẻ di cư vào các khu công nghiệp và kiếm một công việc mưu sinh dựa trên việc bán sức lao động của
Trang 33mình là chính Và một câu hỏi được đặt ra là liệu những hiện thực này sẽ được phản ánh như thế nào trong nhận thức của công nhân Chương tiếp theo của luận văn sẽ tiếp tục đi sâu vào vấn đề này bằng cách tập trung vào mô tả và phân tích những nhận thức của công nhân về thân phận, nghề nghiệp và vị thế xã hội của mình trong tương quan với diễn ngôn của nhà nước
Trang 34CHƯƠNG 2 DIỄN NGÔN CỦA NHÀ NƯỚC VÀ NHẬN THỨC CỦA CÔNG NHÂN VỀ THÂN PHẬN, NGHỀ NGHIỆP VÀ VỊ THẾ XÃ HỘI
Chương thứ hai của luận văn sẽ tập trung vào việc mô tả và phân tích nhận thức của công nhân về thân phận, nghề nghiệp và vị thế xã hội trong mối tương quan với diễn ngôn của nhà nước Trái ngược với diễn ngôn đánh giá rất cao về vai trò của giai cấp công nhân của nhà nước vốn được hình thành từ những hệ tư tưởng mang tính lịch sử, những kết quả khảo sát trên thực tế cho thấy bản thân công nhân không đánh giá cao về thân phận, nghề nghiệp và vị thế xã hội của mình Các ngôn
từ mà công nhân sử dụng để nói về bản thân mình như: cây cỏ, cây rau, cỗ máy v.v… hay về nghề nghiệp và vị thế xã hội như: trung bình, lao động chân tay, bán sức khỏe v.v… đã phản ánh một phần nào hình ảnh thực tại về một bộ phận công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay Nguyên nhân dẫn đến sự tương phản giữa những diễn ngôn của nhà nước với những nhận thức của công nhân xuất phát từ việc các diễn ngôn của nhà nước đã bị mã hóa trong một khung tư duy kinh
tế - chính trị vốn bị chi phối bởi những hệ giá trị lịch sử và vì thế, đã đóng khung công nhân vào trong những vai trò và vị thế xã hội nhất định Hệ quả là các diễn ngôn trên đã bỏ lỡ tiếng nói của công nhân xuất phát từ hoàn cảnh sống trên thực tế của họ
2.1 Diễn ngôn của nhà nước về vai trò của giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ những năm đầu của thế kỷ XX, giai đoạn Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi sự cai trị của thực dân Pháp Do nhu cầu mở rộng khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, một bộ phận những người lao động là những nông dân đã rời bỏ những vùng quê nghèo và di chuyển vào các thành phố lớn để làm việc trong các xí nghiệp, nhà máy hay các đồn điền do những chủ doanh nghiệp lập nên Từ một nước không có công nhân công nghiệp, nước Việt Nam đã bắt đầu hình thành một lớp công nhân công nghiệp Đây là một thời kỳ phôi thai cho sự hình thành giai cấp công nhân Việt Nam (Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, 1977: 12)
Trang 35Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) ra đời vào năm 1930 đã tiếp thu và phát triển những quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin về vai trò của giai cấp công nhân trong các cuộc cách mạng như là một hệ tư tưởng về mặt nhận thức
và lý luận cho các phong trào đấu tranh của công nhân Kết quả trực tiếp từ những ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx – Lenin là sự ra đời của tổ chức Công hội Việt Nam, tiền thân của tổ chức Công đoàn, với sứ mệnh được xác định là một tổ chức tập hợp công nhân để công nhân tự cải tạo mình, tiến lên có khả năng cải tạo xã hội và cải tạo thế giới (Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, 1977: 74) Sự hình thành của tổ chức Công hội đã xác lập nên mối quan hệ giữa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
với các hoạt động đấu tranh của giai cấp công nhân Ngay trong tác phẩm Đường
cách mệnh được xuất bản lần đầu vào năm 1927, Nguyễn Ái Quốc người sau này
trở thành lãnh tụ của các cuộc cách mạng Việt Nam đã nêu rõ vai trò của tổ chức Công hội như sau:
“Tổ chức Công hội trước là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân; năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới.” (Nguyễn Ái Quốc; 2000: 202)
Đến cuối năm 1929, hàng loạt các tổ chức công hội đỏ đã được thành lập ở các cơ sở công nghiệp chủ chốt và các thành phố lớn trên khắp cả nước Việt Nam như: ở Trung Kỳ đã thành lập Tổng công hội đỏ Vinh – Bến Thủy, Tổng công hội
đỏ Đà Nẵng; ở Nam Kỳ có Tổng công hội đỏ Sài Gòn – Chợ Lớn, Công hội đỏ đồn điền Phú Riêng Các Tổng công hội đỏ được xem như là sợi dây liên lạc giữa Đảng
và quần chúng công nhân trong các phong trào đấu tranh của công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương lúc bấy giờ (Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, 1977: 77) Ngay sau khi được thành lập, các tổ chức Công hội đỏ đã bắt đầu tổ chức các hoạt động đấu tranh cho công nhân như các cuộc đình công của công nhân ở đồn điền Phú Riềng (3/2/1930), nhà máy sợi Nam Định (25/3/1930) v.v… và đỉnh cao trong hoạt động của các Tổng công hội đỏ là phong trào đấu tranh
Trang 36ở Nghệ Anh và Hà Tĩnh của công nhân vào tháng 9 năm 1930 với tên gọi là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh Sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh được đánh giá như là một niềm tự hào của giai cấp công nhân Việt Nam và là sự kiện “có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát triển về sau của cách mạng Việt Nam” (Lê Duẩn, 1976:36 )
Sự xuất hiện của các công hội đỏ đã đánh dấu một bước chuyển trong tính chất của các công hội từ thuần túy kinh tế sang những tổ chức cách mạng để lãnh đạo các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân (Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, 1977: 72) Kể từ đây sứ mệnh của giai cấp công nhân Việt Nam đã được hình thành cùng với vai trò lãnh đạo của ĐCSVN Hình ảnh giai cấp công nhân lúc này
là hình ảnh của giai cấp vô sản trong mối quan hệ mâu thuẫn và xung đột với giai cấp tư sản và nhiệm vụ của giai cấp công nhân là lãnh đạo các giai tầng trong xã hội
Việt Nam tiến lên giành độc lập và giải phóng người lao động Trong tác phẩm Giai
cấp công nhân Việt Nam, Trần Văn Giàu cho rằng sự ra đời của ĐCSVN là một
trong những yếu tố quyết định đến sự chuyển hóa của phong trào công nhân Ông viết:
“Đảng Cộng sản, kết quả cao nhất của phong trào công nhân và nhân dân
từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, từ sau Cách mạng tháng Mười Nga thành công, trở thành một trong những yếu tố quyết định nhất của phong trào công nhân
và nhân dân Từ nay, giai cấp công nhân đã trở thành ‘giai cấp cho mình’ Từ nay, giai cấp công nhân chính thức trở thành một lực lượng chính trị độc lập; và từ nay giai cấp công nhân chính thức chứng minh bằng lý luận cách mạng và thực tiễn đấu tranh rằng mình là giai cấp tiền phong lãnh đạo, rằng mình là giai cấp tiêu biểu nhất cho dân tộc” (Trần Văn Giàu; 1962: 64)
Trải qua nhiều phong trào đấu tranh khác nhau, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân còn được tái khẳng định liên tục qua các văn bản Chẳng hạn như, trong giai đoạn xây dựng nền móng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, trong một bài viết vào năm 1966 để nhận định về vai trò của giai cấp công nhân trong thời đại mới, Lê
Trang 37Duẩn đã cho rằng vai trò của giai cấp công nhân trong giai đoạn này không chỉ là giai cấp lãnh đạo cuộc cách mạng với mục tiêu giải phóng dân tộc mà còn là giai cấp trụ cột trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với nhiệm vụ là đưa đất nước tiến lên giai đoạn công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Ông viết như sau:
“Giai cấp công nhân Việt Nam vừa là giai cấp lãnh đạo cách mạng, vừa cùng nông dân lao động trước đây hợp thành đội quân chủ lực trong cách mạng dân tộc dân chủ và hiện đang cùng giai cấp nông dân tập thể hợp thành đội quân chủ lực trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.” (Lê Duẩn, 1976: 375)
Sau giai đoạn hoàn thành cuộc cách mạng Việt Nam thống nhất đất nước, vai trò của giai cấp công nhân tiếp tục được khẳng định trong văn bản chính thức của nhà nước với nhiệm vụ mới là giai cấp lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa mà trước hết là quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa Trong giai đoạn này, sứ mệnh của giai cấp công nhân được xác định là giai cấp lãnh đạo về đường lối, chủ trương thông qua Đảng tiền phong của giai cấp công nhân và Nhà nước chuyên chính vô sản với nhiệm vụ đưa đất nước phát triển theo con đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa dưới hệ tư tưởng chủ đạo là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân (Ban Tuyên giáo Tổng Công đoàn Việt Nam, 1977:
17, 18)
Quan điểm trên về sứ mệnh của giai cấp công nhân trong thời đại mới được
cụ thể hóa trong các văn kiện tiếp theo của Đảng Cộng sản Việt Nam Chẳng hạn như trong nghị quyết 20 tại Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X vào năm 2008 đã xác định trọng tâm trong việc tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thông qua việc nhấn mạnh lại vai trò của giai cấp công nhân trong tiến trình cách mạng của dân tộc Nghị quyết nêu rõ khái niệm giai cấp công nhân trong thời
kỳ mới như sau:
Trang 38“Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Ðảng Cộng
sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng.” (Trích
nghị quyết 20 về giai cấp công nhân)
Như vậy, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx – Lenin đã gắn liền vai trò của giai cấp công nhân với một sứ mệnh lịch
sử là lực lượng chủ lực và là giai cấp lãnh đạo của cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa Dù cho trải qua nhiều những giai đoạn lịch sử với các nhiệm vụ và mục tiêu khác nhau thế nhưng giai cấp công nhân vẫn được mặc định trong văn bản chính thức của nhà nước như là một lực lượng luôn luôn đi đầu trong các phong trào đấu tranh, xây dựng và bảo vệ đất nước Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế - xã hội theo xu hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, giai cấp công nhân tiếp tục được xác định là giai cấp tiên phong trong công cuộc xây dựng đất nước như trong các văn bản của nhà nước hay trong các văn kiện mà Đại hội Đảng đã đề ra
Tuy nhiên, trên thực tế giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay phần lớn xuất thân từ những vùng quê nghèo khó và cuộc sống của họ ở các khu công nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro về kinh tế và xã hội (Nguyễn Đức Lộc, 2013) Thân phận của công nhân vẫn bị xem là thân phận của những người nhập cư vào các đô thị dù cho những đóng góp tích cực của họ vào nền kinh tế ở các khu đô thị lớn Do vậy, một câu hỏi được đặt ra là liệu công nhân có cùng một nhận thức về nghề nghiệp và vị thế xã hội của chính mình như trong các văn bản hay nghị quyết của nhà nước hay không? Phần tiếp theo của luận văn sẽ trả lời cho câu hỏi này thông qua các dữ liệu khảo sát về nhận thức của công nhân đối với nghề nghiệp và vị thế xã hội của họ
Trang 392.2 Nhận thức về nghề nghiệp của công nhân
Trái ngược với những nhận định về vai trò tích cực của giai cấp công nhân trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam (Nghị quyết 20 về giai cấp công nhân, 28/1/2008, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X) của nhà nước thì bản thân công nhân lại có những suy nghĩ khác về nghề nghiệp của mình Cụ thể, thông qua những khảo sát liên quan đến nhận thức về nghề nghiệp hiện tại, chúng tôi nhận thấy công nhân không đề cao vai trò của mình trong
hệ thống thang bậc xã hội khi so sánh với các ngành nghề khác Câu chuyện dưới đây của anh Hoàng4, một nam công nhân 34 tuổi quê ở Nghệ An đã phản ánh nhận thức về nghề nghiệp hiện tại của bản thân anh Vốn xuất thân từ một miền quê nghèo khó, cả gia đình anh Hoàng chỉ trông cậy vào mấy sào lúa, sáu tháng thu hoạch một lần Ngoài ra, khi có một ít tiền dư, gia đình anh cũng có nuôi thêm một vài con heo, gà, vịt nhưng cũng chỉ vừa đủ ăn Với mong muốn thoát khỏi cảnh nghèo khổ, anh đã vay mượn một số tiền khoảng 40 triệu đồng để đi xuất khẩu lao động ở Liên Xô Tuy nhiên, ở trong một đất nước xa lạ, vì không chịu nổi áp lực của công việc và số tiền mà anh dự tính dành dụm để trở về Việt Nam buôn bán chỉ vừa đủ trả cho các khoảng chi tiêu hàng ngày Vì thế, khi mới đi được khoảng ba tháng, anh đã nhờ sự giúp đỡ của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô để đưa anh trở
về Việt Nam Anh nói với chúng tôi:
“Công việc bên đấy thì chủ yếu là may, ngày 15 đến 18 tiếng/ ngày Có nghĩa
là liền ngày, thâu đêm, lúc nào mệt thì người ta mới cho nghỉ Vào đấy là thuộc chế
độ áp bức đô hộ, gọi là bóc lột đấy! Bóc lột sức lao động đấy! Anh làm được 3 tháng Mỗi tháng người ta trả hơn 6 triệu Thế 6 triệu đấy vừa đủ tiền phòng tiền phòng, tiền ăn luôn Người ta tính vừa khít để người ta lấy tiền đó luôn Mình thấy tội nghiệp cho những người ở năm rưỡi hay hai năm còn nợ trên cả mấy ngàn đô
Có người thì về bán nhà, ung thư mà người ta vẫn không cho về Được kiện cáo
4 Tên của nhân vật đã được thay đổi để đảm bảo tính riêng tư
Trang 40nhiều trên các cơ quan ban ngành, các tỉnh, trung ương Đại sứ quán đến còn khuyên ở lại làm việc Mãi 3 tháng người ta mới giải quyết ”
Sau khi trở về nước anh Hoàng có một thời gian về làm việc tại Đắc Lắc tại nhà của một người chị họ trước khi chuyển xuống Bình Dương từ năm 2009 Trong khoảng thời gian sinh sống tại Bình Dương, anh đã được nhận vào làm việc tại một công ty cơ khí của Đài Loan Cũng giống như những công nhân khác, một ngày làm việc của anh Hoàng bắt đầu từ lúc 8h sáng và kết thúc lúc 4h chiều, xen kẽ giữa hai
ca làm việc là một khoảng thời gian ăn uống và nghỉ ngơi chừng một tiếng đồng hồ
mà theo anh thì không đủ để công nhân hồi phục sức lao động Anh tâm sự với chúng tôi rằng, bản thân công nhân chịu đựng rất nhiều áp lực trong công việc để có thể hoàn thành tốt những chỉ tiêu được giao Vì thế với anh, bản thân công nhân trở thành những cỗ máy được cài đặt tự động để thực hiện công việc của mình Anh nói:
“Người ta giao ra sản lượng đấy, người giống như là cái máy cài đặt tự
động Một tiếng chạy 50 vòng Giống như là người ta cài đặt chế độ tự động hết, có khuôn hết rồi, anh nào mà làm giảm thì không được tăng lương.”
Ngoài những áp lực phải hoàn thành những chỉ tiêu được giao về sản phẩm, bản thân công nhân như anh Hoàng nhận định phải chịu thêm những áp lực về mặt
kỷ luật lao động Chẳng hạn như trong công ty của anh, khi công nhân bị bắt gặp nói chuyện trong lúc làm việc hay không chú tâm vào công việc sẽ nhận được một văn bản xử phạt của người quản đốc Các văn bản xử phạt đều được quy thành tiền
và trừ vào mức lương lao động của công nhân Mức độ xử phạt tùy thuộc vào từng lỗi của công nhân và mức phạt cao nhất có thể lên đến 270 ngàn đồng Trong trường hợp, công nhân vi phạm nội qui nhiều lần có thể dẫn đến sự sa thải của những người chủ lao động Vì thế, với những công nhân như anh Hoàng, vốn xem nghề công nhân như một nghề mưu sinh khi không còn một sự chọn lựa nào khác, buộc phải chấp nhận những sức ép trong công việc để có chút tiền cho bản thân và gia đình
Những trải nghiệm của anh Hoàng đã mang đến cho anh một nhận thức về nghề công nhân của mình Khi được chúng tôi hỏi về vị trí của nghề công nhân giữa