Thông cáo báo chí TCBC là một thể loại của phong cách báo chí, xét quan hệ giữa người phát và người nhận của quá trình phát hành thông cáo báo chí thì tổ chức truyền thông điệp và các c
Trang 1NGƯỜI LAO ĐỘNG NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS ĐINH VĂN ĐỨC
Hà Nội – 2014
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1, Lí do chọn đề tài 1
2, Mục đích và phương pháp nghiên cứu 2
3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 , Tư liệu nghiên cứu 2
5 , Bố cục luận văn 3
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN 1 Truyền thông và đặc điểm của truyền thông 4
1.1 Khái niệm truyền thông :4
1.2 Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông 4
1.3 Các phương tiện truyền thông phổ biến: 5
1.4 Chức năng của truyền thông 6
2 Thông cáo báo chí 7
2.1 Thuật ngữ thông ca ́ o báo chí 7
2.2 Đặc điểm thông cáo báo chí 8
2.2.1.Tính thời sự 9
2.2.2 Tính nhất quán và chính thống 9
2.2.3 Tính chính xác cao 10
2.2.4 Tính quan trọng và hấp dẫn: 10
2.3 Kết cấu của văn bản thông cáo báo chí 10
2.3.1 Phần mở đầu: 10
2.3.2 Phần nội dung :10
2.4 Mối quan hệ giữa thông cáo báo chí – PR ( Quan hệ công chúng) 12
2.4.1 Khái niệm PR: 12
2.4.2 Bản chất của PR: 12
2.4.3 Đối tượng của PR (quan hệ công chúng) 13
Trang 42.4.4 Mục đích của PR ( Quan hệ công chúng) 14
2.4.5 Mối quan hệ TCBC với Báo chí 15
2.5 Mối quan hệ TCBC với tin tức 15
3 Phân tích diễn ngôn 16
3.1, Khái niện diễn ngôn 16
3.2 Phân loại diễn ngôn 18
3.2.1.Về mặt chức năng: 17
3.2.2.Về mặt cấu trúc: 21
3.3 Các bình diện của diễn ngôn: 25
3.3.1.Mạch lạc: 23
3.3.2 Liên kết: 27
3.3.3 Ngữ cảnh: 29
3.3.4 Lập luận 29
CHƯƠNG 2: THÔNG CÁO BÁO CHÍ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGỮ NGHĨA HỌC 2.1 Cương vị của sự tình trong diễn ngôn 31
2.2 Các loại sự tình [+/ - Động] thường gặp trong Tiếng Việt 34
2.2.1 Khái niệm: 34
2.2.2 Tiêu chí phân biệt [+/ - Động] trong sự tình 35
2.3 Phân loại sự tình của S Dik và M.A.K Halliday (1985) và Cao Xuân Hạo 38
2.3.1 S Dik ( 1978) 38
2.3.2 M.A.K Halliday(1985) 39
2.3.3 Cao Xuân Hạo 42
2.4 Mối quan hệ sự tình và bối cảnh giao tiếp thể hiện trong thông cáo báo chí 41
Trang 52.4.1 Mô hình cấu trúc “ hình tháp thường” 42
2.4.2 Mô hình cấu trúc theo dạng “hình tháp ngược” 45
2.4.3 Mô hình cấu trúc theo dạng “ hình chữ nhật” 48
2.5 Hành động ngôn từ thể hiện trong văn bản thông cáo báo chí 50
2.5.1 Hành động ngôn từ 50
2.5.2 Đặc điểm ngôn từ thể hiện trên các thông cáo báo chí tiếng Việt 51
2.5.2.1 Hành động tuyên bố 51
2.5.2.2 Hành động cầu khiến 54
2.5.2.3 Hành động biểu cảm 56
2.5.2.4 Hành động ước kết 57
2.6 Tiểu kết : 58
CHƯƠNG 3: THÔNG CÁO BÁO CHÍ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN CHỨC NĂNG 3.1 Chức năng liên nhân 60
3.2 Chức năng tác động: 62
3.3 Chiến lược giao tiếp lịch sự thể hiện trong thông cáo báo chí 66
3.4 Cương vị phát ngôn của người nói thể hiện qua diễn ngôn phê phán 74
3.5 Tiểu kết 79
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6Tôi cũng xin chân thành cảm ơn phòng đào tạo sau đại học của Khoa, Phòng tư liệu Khoa Ngôn ngữ học – trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn – ĐHQGHN đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành các nội dung học tập và quá trình hoàn thành luận văn
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được
sự động viên, giúp đỡ hết sức tận tình của gia đình về vật chất lẫn tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập
Học viên cao học
TRẦN THANH TÙNG
Trang 7BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PR : Quan hệ công chúng
TCBC : Thông cáo báo chí
UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC HÌNH
1.2 Mô hình truyền thông của Claude Shannơn và Harold Laswell 4 2.4.4 Sơ đồ minh họa quá trình PR 12 2.4.1 Mô hình cấu trúc “ hình tháp thường” 42 2.4.2 Mô hình cấu trúc theo dạng “hình tháp ngược” 46 2.4.3 Mô hình cấu trúc theo dạng “ hình chữ nhật” 49
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1, Lí do chọn đề tài
Thông cáo báo chí ( TCBC) là một trong những công cụ thiết yếu để thu hút báo chí, truyền thông đưa tin cho bạn đến với công chúng Để thông báo thông tin về một tổ chức, sản phẩm hay sự kiện … không có cách nào hiệu quả rõ ràng bằng thông cáo báo chí
Thông cáo báo chí (TCBC) là một văn bản thông tin chính thức của một tổ chức, hiệp hội, cơ quan hoặc doanh nghiệp… gửi đến các nhà báo hay cơ quan thông tấn báo chí tại một buổi họp báo, một sự kiện, hoạt động
do tổ chức/cơ quan/doanh nghiệp tổ chức nhằm thông tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng về hoạt động, sự kiện, chính sách, sáng kiến
hay sản phẩm của tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp đó
Thông cáo báo chí ( TCBC) là một thể loại của phong cách báo chí, xét quan hệ giữa người phát và người nhận của quá trình phát hành thông cáo báo chí thì tổ chức truyền thông điệp và các cơ quan báo chí nằm trong mối quan hệ truyền tin và tác động Tính thời sự, tính chính xác, tính nhất quán và chính thống, tính quan trọng và hấp dẫn đã mang đầy đủ những đặc trưng cho thể loại văn bản này
Hiện nay, tài liệu về thông cáo báo chí ( TCBC) còn ít, chưa đa dạng trong phạm vi nghiên cứu Chính vì thế, đề tài “ phân tích diễn ngôn thông cáo báo chí tiếng Việt” qua tư liệu báo Thanh Niên, Tuổi trẻ, Nhân Dân, Người Lao Động năm 2013 sẽ đi sâu về những đặc điểm của các mẫu thông cáo báo chí, qua đó sẽ đi sâu vào các chiến lược giao tiếp được sử dụng qua những mẫu thông cáo báo chí thông qua cách dùng từ trong một văn bản thông cáo báo chí ngày nay
Trang 102, Mục đích và phương pháp nghiên cứu
a, Mục đích
Mục đích của đề tài nghiên cứu là phân tích diễn ngôn trên những mẫu tư liệu có trong thông cáo báo chí năm 2013 Từ đó xác lập được những cấu trúc và những chiến lược giao tiếp trong cách thể hiện một thông cáo báo chí
3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a, Đối tượng:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là những đặc điểm về diễn ngôn được thể hiện trong thông cáo báo chí tiếng Việt qua tư liệu báo Thanh Niên, Tuổi trẻ, Nhân Dân, Người Lao Động năm 2013
b, Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn chỉ nghiên cứu các diễn ngôn “Thông cáo báo chí tiếng Việt” trên tư liệu báo Thanh Niên, Tuổi trẻ, Nhân Dân, Người Lao Động năm 2013
4 , Tư liệu nghiên cứu
Về phần tư liệu nghiên cứu, đề tài sử dụng nguồn tư liệu từ báo Thanh Niên, Tuổi trẻ, Nhân Dân, Người Lao Động năm 2013 để phân tích
5 , Bố cục luận văn
Trang 11Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc gồm ba chương :
Chương 1: Cơ sở lí luận
Trong chương 1, chúng tôi sẽ tìm hiểu các cơ sở lí luận cơ bản về khái niệm về truyền thông và những đặc điểm của chúng, tiếp đó tìm hiểu về đặc điểm thông cáo báo chí và trên cơ sở lí luận đó làm tiền để phân tích các chương tiếp theo Đó là việc xác định khái niệm diễn ngôn và các phương diện của diễn ngôn
Chương 2 : Thông cáo báo chí nhìn từ phương diê ̣n Ngữ nghĩa học
Trong chương 2, chúng tôi sẽ đi phân tích và phân loại các sự tình thể hiện trong thông cáo báo chí Từ đó tìm ra các cấu trúc và các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nên một thông cáo báo chí
Chương 3: Thông cáo báo chí nhìn từ phương diê ̣n Chức năng
Trong chương 3, chúng tôi sẽ phân tích thông cáo báo chí về hai chức năng: Liên nhân và tác động Từ đó tìm ra những nghệ thuật sử dụng từ ngữ thông qua những yếu tố lịch sự trong chiến lược giao tiếp
Sau cùng là Tài liệu tham khảo
Trang 12PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
1 Truyền thông và đặc điểm của truyền thông
1.1 Khái niệm truyền thông:
Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội
1.2 Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông
Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, bao gồm 6 yếu
tố tham dự chính:
M
F
Mô hình truyền thông của Claude Shannơn và Harold Laswell
* Nguồn ( sender – S) : là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông
N
Trang 13* Thông điệp ( massage – M) : là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận
* Kênh truyền thông ( channel – C) : là phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận
* Người nhận ( receiver – R): là các cá nhận hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông
* Phản hồi / Hiệu quả ( Feedback / Effect): là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn phát
* Nhiễu ( noise – N) : là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình truyền thông ( tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật…) dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin bị sai lệch
1.3 Các phương tiện truyền thông phổ biến:
Ngày nay, có nhiều phương tiện truyền thông để những người làm công tác marketing tiếp cận với khách hàng: phương tiện điện tử( truyền hình và radio), báo chí, thư chào hàng trực tiếp, bán hàng qua điện thoại, bán hàng cá nhân và trang wed Thậm chí quan hệ công chúng ( PR) cũng là một phương tiện giao tiếp với khách hàng hiện tại và tiềm năng Nói đến báo chí
là nói đến các loại hình của nó như : Báo in, phát thanh, truyền
hình, internet … Đó là các bộ phận, các kênh thông tin cơ bản nhất, cốt lõi
nhất, tiêu biểu cho sức mạnh, bản chất và xu hướng vận động của thông tin đại chúng
Trong thực tế, mỗi loại hình báo chí có những thế mạnh và những hạn chế riêng, chẳng hạn như: Báo in có khả năng lưu trữ lâu, đồng thời đi sâu phân tích chi tiết các sự kiện hiện tượng, công chúng của loại hình báo chí này có thể tiếp nhận thông tin ở mọi nơi, mọi lúc, mọi thời điểm khác nhau Hạn chế cơ bản của loại báo chí này là khó có khả năng phát hành rộng rãi tới công chúng ở vùng sâu, vùng xa…
Trang 14Phát thanh ,Truyền hình có thế mạnh là nhanh, đồng thời, rộng khắp, hàng triệu công chúng có thể tiếp nhận thông tin đồng thời với thời điểm diễn ra sự kiện Nhưng hạn chế của nó là tính thoảng qua, khả năng lưu trữ kém…đòi hỏi công chúng tiếp nhận thông tin từ loại hình báo chí này phải hết sứ tập trung, quá trình thông tin bị phụ thuộc vào làn sóng, thời tiết…
Báo chí qua mạng Internet là một loại hình báo chí mới ra đời so với báo chí truyền thống nhưng được sự hỗ trợ mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật
và công nghệ hiện đại đã khẳng định được vai trò cũng như sức mạnh vượt trội của mình Ngoài ra còn nhiều phương tiện truyền thông phổ biến khác( sách, điện ảnh, quảng cáo, băng đĩa hình và âm thanh…)
1.4 Chức năng của truyền thông
Thông tin truyền thông là loại thông tin có nét đặc thù, xuất hiện muộn hơn khi con người biết sử dụng thông tin như một công cụ tương tác
xã hội Thông tin này có chức năng tác động, cung cấp tri thức, nâng cao hiểu biết nhằm mục đích giáo dục, can thiệp nhằm thay đổi nhận thức hành
vi của đối tượng đích và duy trì nó một cách bền vững Thông tin truyền thông có phạm vi hoạt động rộng lớn trong xã hội với sự tham gia sâu rộng của phương tiện ngôn ngữ Sự thống nhất giữa ngôn ngữ và truyền thông là
cả hai sinh ra do nhu cầu xã hội đồng thời được phát triển, hoàn thiện trong
mô hình xã hội
Truyền thông là một hoạt động giao tiếp cộng đồng Thông tin trong thông điệp truyền thông cần phải được mã hóa và có khả năng giải mã Chỉ ngôn ngữ mới là phương tiện, chất liệu quan trọng nhất, linh hoạt nhất đảm bảo cho đặc tính này của thông tin
Về mặt lý thuyết, mọi chức năng của báo chí, truyền thông đại chúng đều được thực hiện thông qua thông tin Nếu không có thông tin, báo chí không thể thực hiện được chức năng giáo dục, vai trò giám sát, quản lý xã
Trang 15hội cũng như các chức năng văn hóa, giải trí … Từ “nhiệm vụ tự nhiên” đó, truyền thông đã góp phần quan trọng đáp ứng quyền được thông tin của công chúng Thông qua các kênh thông tin này, các giá trị xã hội, các quy tắc, luật lệ thành văn cũng như bất thành văn của xã hội được phổ biến và nhắc đi nhắc lại cho mọi người cùng biết, thuyết phục mọi người cùng đồng tình và vận động mọi người cùng nhau tuân thủ
Thông tin trong truyền thông phổ biến những tin tức, thông tin đến các cá nhân, nhóm, tổchức Phương tiện phổ biến có thể là sách báo, loa, radio, TV… Trong thông tin người ta ít hoặc không quan tâm đến mức độ tiếp thu và phản ứng của người nhận
2 Thông cáo báo chí
2.1 Thuật ngữ thông ca ́ o báo chí
Thông cáo báo chí ( thuật ngữ tiếng Anh là News Release/ Media
Release/ Pres Release/ Press Statement) chính là sản phẩm của truyền thông
được hình thành ở Việt Nam trong một vài năm trở lại đây Do sự mới mẻ của nó, “thông cáo báo chí” chưa có tên trong các cuốn sách tiếng Việt
nghiên cứu về thuật ngữ chuyên ngành báo chí, truyền thông
Thông cáo báo chí là dạng văn bản của một tổ chức được gửi đến đại
diện của các cơ quan truyền thông đại chúng ( báo in, báo điện tử, đài phát thanh, đài truyền hình) với mục đích công bố một sự kiện nào đó có giá trị
thông tin Với cách định nghĩa này, tính thời sự, tính nhất quán và chính thống, tính chính xác cao, tính quan trọng và hấp dẫn cho là các đặc điểm cốt lõi nhất của thể loại văn bản này
Thông cáo báo chí là công cụ tối quan trọng được các chuyên viên PR
sử dụng để truyền tải thông tin tới công chúng với sự tham gia của bên thứ
Trang 16ba, các phương tiện truyền thông đại chúng Có thể hiểu thông cáo báo chí là
sự thể hiện mối quan hệ qua lại giữa PR và các phương tiện truyền thông Các chuyên viên PR cần các phương tiện truyền thông như là kênh giao tiếp với công chúng mục tiêu, và họ phát đi thông cáo báo chí với tư cách là tài liệu đề nghị được công bố bởi báo giới Còn các phương tiện truyền thông lại cần các thông cáo báo chí để có thông tin viết bài, lúc này thông cáo báo chí có tư cách là nguồn tin
Thông cáo báo chí nói chung (News Release) là một phần của bộ tài liệu truyền thông (Media Kit) của các chuyên viên PR, đây là dạng tài liệu
“không có bản quyền” Bởi nó được báo giới coi là nguồn tin chứ không phải một bài viết để được đăng tải nguyên bản Giới truyền thông sử dụng những thông tin của một hoặc tổng hợp từ nhiều thông cáo báo chí đến từ nhiều nơi khác nhau làm dữ liệu cơ sở cho các bài viết tin tức hoặc các bài viết thể hiện cái nhìn chuyên sâu của mình Chính bởi tính chất “không bản quyền” này mà thông cáo báo chí được coi là một công cụ tiếp cận giới truyền thông không có kiểm soát của các chuyên viên PR
Thông cáo báo chí gồm 3 loại chủ yếu:
* Thông cáo báo chí về các sự kiện hay vấn đề nhân sự sắp diễn ra: tuyển dụng, thăng chức, về hưu…
* Thông cáo báo chí nhằm quảng bá mục đích
* Thông cáo báo chí nhằm xây dựng hình ảnh trước công chúng
2.2 Đặc điểm thông cáo báo chí
Ngoài ra một thông cáo báo chí phải mang tính thời sự, tính nhất quán
và chính thống, tính chính xác cao, tính quan trọng và hấp dẫn
Trang 172.2.1.Tính thời sự
Cũng như tin tức, TCBC cần nhanh chóng và kịp thời Ngày phát hành trên TCBC phải là ngày sớm hơn hoặc đồng thời với thời điểm xảy ra
sự kiện Ngoài ra, để đảm bảo tính thời sự của TCBC ngày nay các hãng tin
đã áp dụng các công nghệ như đồng bộ hóa (synchronization) để chuyển phát thông tin đồng thời tới nhiều đối tượng tiếp nhận; RSS (really simple syndication) để cung cấp dịch vụ đặt thông tin dài hạn một cách đơn giản, tự động và nhiều khi là miễn phí cũng như nhiều công nghệ tích hợp, truyền thông khác TCBC phát hành đúng thời điểm sẽ phát huy hiệu quả, tránh các biến cố, khủng hoảng do việc thông tin chậm trễ gây nên Chính vì đặc trưng này, yếu tố thời gian trong một văn bản TCBC, đặc biệt là dạng TCBC công
bố sự kiện, đều đóng vai trò quan trọng hàng đầu, quyết định việc thông tin trên TCBC có được sử dụng hay không Nếu các thông tin đó đã lỗi thời, tòa soạn sẽ không sử dụng hay đăng bài trên báo chí Chính vì lí do này, hiện nay báo viết tiếp tục chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ các hình thức báo khác như báo mạng, báo nghe, báo hình, là các phương tiện thông tin có để cung cấp thông tin cùng với thời gian thực (real time)
2.2.2 Tính nhất quán và chính thống
TCBC được phát hành nhằm đảm bảo tính nhất quán và chính thống của thông tin Tính nhất quán và chính thống của thông tin là yếu tố rất quan trọng, phản ánh quan điểm “trước sau như một” của tổ chức trước một vấn
đề, sự kiện Đối với các tổ chức chính phủ, việc phát hành thông cáo báo chí
là một hình thức của công tác vận động và tuyên truyền, đảm bảo tính nhất quán của thông tin từ các cơ quan chính phủ đến người dân Đối với các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam, hoạt động này sẽ giúp truyền thông một cách hiệu quả về hoạt động của tổ chức, công bố các kết quả nghiên cứu cũng như
Trang 18các thông tin về tổ chức đến một số đối tượng TCBC được chịu trách nhiệm bởi người/nhóm người có tiếng nói đại diện cho quan điểm của tổ chức đó
Đối với các cơ quan, tổ chức nhà nước, TCBC thường được soạn thảo
và phê duyệt bởi các đơn vị có tên gọi khác nhau như Vụ Báo chí, phòng Thông tin, phòng Tuyên truyền, phòng Truyền thông, phòng Quan hệ công chúng Ở Bộ Ngoại giao Việt Nam và một số bộ khác, trách nhiệm xét duyệt TCBC thuộc về Người phát ngôn hoặc các lãnh đạo có chức vụ cao hơn
2.2.3 Tính chính xác cao
Một thông cáo báo chí hiệu quả trước hết là thông cáo báo chí cung cấp những thông tin xác thực cho báo chí Xét cho cùng giá trị của thông tin nằm ở tính chính xác và trung thực của nó Toà soạn báo sẽ không sử dụng những thông tin sai sự thật vì điều đó sẽ gây ra những hệ luỵ về mặt pháp lý cũng như đạo đức nghề nghiệp
Đối với những thông tin thiếu chính xác, tổ chức phát hành thông cáo báo chí cần có hành động đính chính ngay để tránh sự hiểu lầm của báo chí
và dư luận
2.2.4 Tính quan trọng và hấp dẫn:
Tính quan trọng và hấp dẫn ở một văn bản thông cáo báo chí được quyết định bởi chính bản thân của sự kiện Các cơ quan truyền thông chỉ sử dụng những thông tin quan trọng và hấp dẫn
2.3 Kết cấu của văn bản thông cáo báo chí
2.3.1 Phần mở đầu:
Phần mở đầu gồm có tên tổ chức và tiêu đề là các thành tố không thể thiếu đối với bất kì một văn bản thông cáo báo chí nào Những nội dung này được xác lập cơ sở của nguồn tin và tóm tắt thông tin để các biên tập viên có thể nhận biết ngay tầm quan trọng của nó Đối với các thông cáo báo chí có
Trang 19nhiều cơ quan, tổ chức cũng đứng ra phát hành thì ở phần mở đầu cần có sự xuất hiện của các cơ quan tổ chức này Phần mở đầu của thông cáo báo chí cần ngắn gọn và nêu bật sự kiện quan trọng nhất mà nó hướng đến
quan trực tiếp nhất đến tiêu đề và nó phải được trả lời các câu hỏi: Ai?, Cái
gì?, Ở đâu?, Khi nào? Về hình thức, đoạn dẫn thường có độ dài trung bình
là những thông tin khá quan trọng có thể là những thông tin về các cá nhân
có tham gia chương trình, sự kiện hay cũng có thể là những lời trích dẫn
Thông tin nền: thường được giới thiệu về tổ chức phát hành thông cáo báo chí và các đơn vị liên quan
Thông tin liên hệ: chính là yêu tố quan trọng nhất trong văn bản thông cáo báo chí Bởi khi làm rõ hoặc xác minh các thông tin trong thông cáo báo chí sau khi chúng được phát hành
Trang 202.4 Mối quan hệ giữa thông cáo báo chí – PR ( Quan hệ công chúng)
bá thành công, giảm nhẹ ảnh hưởng của các thất bại, công bố các thay đổi,
và nhiều hoạt động khác Đi cùng với thuật ngữ PR là hoạt động PR nhằm:
- Tiếp xúc (Họp báo, hội nghị khách hàng)
2.4.2 Bản chất của PR:
- Bản chất của PR là quá trình trao đổi thông tin hai chiều giữa chủ thể và công chúng nhằm tác động tới nhận thức của công chúng để đạt được mục đích của chủ thể
- Sơ đồ minh họa quá trình PR như sau:
Trang 21- Các thành phần của PR: gồm 4 thành phần
+ Chủ thể: là những cá nhân hay tổ chức xây dựng và vận hành các chương trình PR trong hoạt động của mình
+ Công chúng: có thể là các cá nhân hay tập thể
Cá nhân: có thể là khách hàng, bạn hàng, nhân viên, nhà lãnh đạo
Tập thể: doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ quan thông tấn báo chí, cơ
quan cấp trên, đơn vị trực thuộc, đối tác, đối thủ cạnh tranh,
+ Thông điệp: rất đa dạng, phong phú, được chủ thể mong muốn chuyển tải tới công chúng Có thể là khẩu hiệu, lô gô, thương hiệu, kế hoạch, tuyên
bố, khuyến cáo, văn hóa
+ Kênh truyền tải thông tin: đó là các công cụ PR như báo chí, truyền thông, vệ tinh, Internet, điện tín, điện thoại, mẫu phiếu điều tra, tài liệu PR,
sự kiện
2.4.3 Đối tƣợng của PR (quan hệ công chúng)
Đối tượng công chúng bao gồm các tầng lớp nhân dân sinh sống trong
xã hội Họ có thể là khách hàng tiềm năng( vd: Người đang sử dụng sản phẩm của Cocacola) hoặc là cơ quan truyền thông báo chí( các đài truyền hình, báo viết, đài phát thanh, báo điện tử ), chính quyền( UBND tỉnh,quận, huyện, …)…
Trang 222.4.4 Mục đích của PR ( Quan hệ công chúng)
Mục đích chính của PR là tạo dựng danh tiếng cho tổ chức nhờ đó
giúp doanh nghiệp truyền tải các thông điệp đến khách hàng và những nhóm công chúng quan trọng của họ Khi truyền đi các thông điệp này, PR giúp sản phẩm dễ đi vào nhận thức của khách hàng, hay cụ thể hơn là giúp khách hàng dễ dàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với một thương hiệu Bằng cách cung cấp thông tin và tạo nên hoạt động thông tin hai chiều, PR tạo mối liên kết trong xã hội, và là diễn đàn thúc đẩy dân chủ hóa xã hội
Trong sự phát triển của xã hội thông tin, PR đang dần thay thế quảng cáo trong vai trò cung cấp thông tin và thuyết phục khách hàng Trong xã hội hiện đại, PR phát huy tác dụng mạnh mẽ trong thương mại, trong chính trị, là công cụ đắc lực để xây dựng thương hiệu, từ thương hiệu cá nhân cho đến thương hiệu quốc gia Và cũng chính PR người cung cấp thông tin, đóng góp vào việc tạo dựng mối liên kết trong xã hội, là diễn đàn đối thoại trong
xã hội, để công chúng nói lên ý kiến của mình và tổ chức tiếp nhận phản hồi,
từ đó có sự điều chỉnh thích hợp PR là bộ phận không thể thiếu trong hầu hết các tổ chức hiện đại PR sẽ làm công việc quảng bá sự hiểu biết về tổ chức và các hoạt động của tổ chức đó, kể cả sản phẩm và dịch vụ cho nội bộ
cơ quan lẫn công chúng, tham gia vào các quá trình hoạch định chiến lược,
ra quyết định của ban lãnh đạo bằng cách thu thập, phân tích thông tin để đề
ra chiến lược, và truyền thông các mục tiêu chiến lược Không những thế, PR còn khắc phục sự hiểu nhầm, định kiến của công chúng đối với tổ chức cơ quan, đưa ra các thông điệp rõ ràng, nhanh chóng nhằm thay đổi tình thế bất lợi PR còn có khả năng thu hút và giữ chân được những người có tài làm việc cho mình qua việc quan hệ tốt nội bộ Ngoài những vai trò liên quan đến công việc trên, PR tạo ra cảm nhận về trách nhiệm xã hội đối với cộng
Trang 23đồng qua các hoạt động từ thiện, gây quỹ, chính điều này nó cũng góp phần xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp
2.4.5 Mối quan hệ TCBC với Báo chí
Việc xây dựng một mối quan hệ tốt với báo chí có ý nghĩa sống còn với các doanh nghiệp, tổ chức trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất, lực lượng tham gia vào ngành báo chí có số lượng rất đông,
từ những nhà báo nghiệp dư như : sinh viên, học sinh, …đều có quyền công
bố những tác phẩm của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng
Thứ hai, các loại hình truyền thông của báo chí cũng rất đa dạng từ báo hình, báo phát thanh cho đến báo điện tử…Thế mạnh của báo chí không chỉ dừng lại ở số lượng mà ngày càng phát triển cả về mặt chất lượng để đem đến công chúng những sản phẩm báo chí tốt nhất
Vì vậy, báo chí cùng với khả năng tạo lập và định hướng dư luận đang ngày càng trở thành lực lượng có vai trò quan trọng trong xã hội Các doanh nghiệp, tổ chức cần sử dụng báo chí như một cây cầu nối hữu hiệu để tiến đến công chúng tiềm năng của mình, còn đối với TCBC chính là phương tiện truyền thông và cũng được coi là cây cầu nối đưa tổ chức đến với các cơ quan truyền thông nói riêng và đến với công chúng nói chung một cách nhanh nhất
2.5 Mối quan hệ TCBC với tin tức
Tin tức trong thông cáo báo chí chính là sản phẩm mà người đưa tin muốn thể hiện những nội dung xoay quanh các sự kiện của các doanh nghiệp Các tin tức mà người viết đưa ra thường không đầy đủ hoặc chỉ có một chiều đôi khi thiếu tính xác thực ở mỗi bản tin Hoặc các tin này viết không được chỉnh lắm, thiếu các chi tiết cần thiết cho một bản tin hay một bài viết về tin tức Người viết nên xác thực lại những nguồn tin đưa ra ở mỗi
Trang 24thông cáo báo chí để tránh những luồng tin trái chiều không đầy đủ và thiếu tính chính xác
Với những tin tức được thể hiện trong thông cáo báo chí, người đọc hay người tiếp nhận thông cáo thường không có thói quen kiểm tra lại những thông tin trong thông cáo báo chí có chính xác hay chưa, những thông cáo báo chí được người viết đưa ra chủ yếu là những thông tin chủ quan của người viết được hiện thực hóa dưới dạng thông cáo để truyền đạt nội dung , thông tin đến người đọc Để ý thức được những thông tin có tính đa chiều và chính xác cần tạo cho mỗi người khi tiếp nhận văn bản thông cáo báo chí một cái nhìn bao quát và đầy đủ hơn những tin tức mà trong mỗi thông cáo báo chí thể hiện
Tin tức là nội dung phản ánh cụ thể nhất các thông tin, sự kiện mà mỗi
cơ quan, doanh nghiệp muốn gửi thông tin đến mỗi người khi tiếp nhận Nội dung thông tin cần phải khách quan theo cách tiếp nhận, tránh những luồng thông tin trái chiều, không rõ ràng để từ đó hình thành nên một thông cáo vừa hoàn chỉnh về mặt hình thức và cũng chính xác về tin tức trong một văn bản thông cáo báo chí ngày nay
3 Phân tích diễn ngôn
Trong những năm gần đây phân tích diễn ngôn với tư cách là phương pháp nghiên cứu vừa là lĩnh vực nghiên cứu và được rất nhiều những đề tài khoa học nghiên cứu và phân tích ở nhiều góc độ khác nhau
3.1, Khái niện diễn ngôn
Diễn ngôn (tiếng Pháp: discours – lời nói) – là phát ngôn, hành động
lời nói tạo sinh văn bản gồm người nghe bình đẳng với người nói và được
Trang 25xem là “sự kiện giao tiếp tương tác văn hoá xã hội” (Van Dijk) giữa chủ thể, khách thể và người tiếp nhận Chữ “diễn ngôn” có nguồn gốc từ tiếng La
Tinh, nghĩa là “chạy tới chạy lui khắp tứ phía”(trong các công trình của
Thomas Aquinas, nó có nét nghĩa: đàm luận, nghị luận)
Windowson cho rằng: “Diễn ngôn là quá trình giao tiếp Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi về mặt sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là văn bản” Văn bản là bề mặt ngôn từ của diễn ngôn Cùng quan điểm với Windowson có Hallyday, Hausenblas, Brown, Yule…
David Nunan định nghĩa diễn ngôn gồm một chuỗi ngôn ngữ, chuỗi ngôn ngữ này được tạo thành bởi một số câu; những câu đó có liên quan nhau… không chỉ theo ý tưởng mà chúng cùng có, mà còn theo cáccông
việc (chức năng) mà chúng thực hiện trong diễn ngôn” [Dẫn nhập phân tích
diễn ngôn]
G Cook dùng khái niệm diễn ngôn để chỉ “những chuỗi ngôn ngữ trọn nghĩa, được hợp nhất lại vàcó mục đích”; Cook đề nghị ngành ngôn ngữ
học diễn ngôn cần “làm cho văn hoá và ngôn ngữ tương liên với nhau” [Văn
bản và liên kết trong tiếng Việt]
Crystal dùng tên gọi diễn ngôn để chỉ một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ lớn hơn câu, cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, “với mộtchức năng giao tiếp có thể xác định được”
G.Brown và G.Yule cho rằng: phân tích diễn ngôn nhất thiết phải hướng vào sự phân tích ngôn ngữ hành chức, không thể giới hạn nhiệm vụ của phân tích diễn ngôn vào việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ độc lập với mục đích hay chức năng mà các hình thức này được tạo ra để phục vụ các
quan hệ người với nhau [Phân tích diễn ngôn]
Trang 26Fairclough đồng nhất diễn ngôn với tập quán xã hội, hành động xã hội, thực tiễn xã hội; diễn ngôn thể hiện đời sống xã hội và tri thức, diễn ngôn được tạo lập và sử dụng để hợp thức hoá các vấn đề xã hội Sự tạo thành diễn ngôn, theo Fairclough, không chỉ bó hẹp trong các kí hiệu ngôn ngữ, mà còn được mở rộng ra các kí hiệu khác của thực tiện xã hội (các hình
ảnh, và các yếu tố phi ngôn ngữ khác), diễn ngôn mang tính xã hội (Phân
tích diễn ngôn phê phán là gì?)
Đỗ Hữu Châu quan niệm mỗi diễn ngôn có thể do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo ra Diễn ngôn có nội dung thông tin và nội dung liên
cá nhân, hai nội dung này thống nhất với nhau thể hiện các chức năng khác nhau của giao tiếp trong diễn ngôn Một diễn ngôn gồm nhiều phát ngôn, các phát ngôn này gắn bó với nhau, lệ thuộc nhau ở mức độ nhất định về nội dung và hình thức
Nguyễn Thiện Giáp giải thuyết diễn ngôn qua các khái niệm trường diễn ngôn, tính chất diễn ngôn và phương thức diễn ngôn Cả Đỗ Hữu Châu
và Nguyễn Thiệp Giáp đều dùng khái niệm diễn ngôn để chỉ ngôn ngữ đang
hoạt động, ngôn ngữ trong sử dụng, ngôn ngữ trong ngữ cảnh (Đại cương
Ngôn ngữ học, tập hai; Dẫn luận ngữ pháp chức năng)…
3.2 Phân loại diễn ngôn
3.2.1.Về mặt chức năng:
Theo Halliday, ngôn ngữ có 3 chức năng lớn:
+ Ideation (ý niệm, tư tưởng)
Đây là chức năng thể hiện các thông tin thuần lí của ngôn ngữ trong thông điệp của giao tiếp ngôn ngữ, và có 90% thông tin gạn lọc được là các thông tin thuần lí Nghĩa là, các thông tin phản ánh thực tại, các sự kiện xảy
ra trong đời sống mà chúng ta muốn giao tiếp
Trang 27+ Interpersonal (liên nhân) Chức năng liên nhân là chức năng mang tính xã hội rõ nhất vì bản chất ngôn ngữ, suy cho cùng, là làm mối dây liên
hệ giữa người với người trong một cộng đồng đã được xác định Đôi khi chúng ta nói không phải để truyền thông tin mà nói để tìm hiểu về nhau, thông cảm với nhau
+ Intergrative (văn bản)
Đây là chức năng mang tính ngữ pháp văn bản rất rõ, các từ không thể rời rạc mà phải nối kết với nhau để tạo thành sức mạnh, đó là sức mạnh của hiệu lực lời nói Để đạt được hiệu lực này, ngoài vài luật ngữ pháp quy định
về các quan hệ cú pháp đặc thù cho một ngôn ngữ thì chúng ta còn phải sử dụng rất nhiều các nhân tố khác nhau để kết liên các từ lại thành một khối
Theo tác giả Diệp Quang Ban, “Trong cách hiểu ngắn gọn nhất, phân
tích diễn ngôn là một cách tiếp cận phương pháp luận đối với việc phân tích ngôn ngữ bên trên bậc câu, gồm các tiêu chuẩn như tính kết nối, hiện tượng hồi chiếu… Hiểu một cách cụ thể hơn thì Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết sức phong phú đa dạng” Phân tích diễn ngôn nhằm làm nổi bật
mối quan hệ chặt chẽ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với những yếu
tố ngoài văn bản (hay còn gọi là ngôn vực) Các yếu tố này bao gồm trường (field) (hoàn cảnh bao quanh diễn ngôn), thức (mode) (vai trò của ngôn ngữ
trong tình huống), không khí chung (tennor) (các vai xã hội trong giao tiếp)
Có nhiều cách phân loại diễn ngôn
(*) Dựa vào dạng tồn tại của ngôn ngữ có thể chia diễn ngôn thành hai loại
lớn: diễn ngôn nói và diễn ngôn viết
Trang 28(*) Dựa vào các lĩnh vực tri thức có thể chia diễn ngôn ra thành các loại: Diễn ngôn văn học, diễn ngôn khoa học, diễn ngôn tôn giáo, diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn kinh tế, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn hành chính, diễn ngôn hội thoại đời thường, diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn phi nghệ thuật, diễn ngôn pháp lí, diễn ngôn quân sự
(*) Dựa vào nội dung phát ngôn có thể chia diễn ngôn thành các loại: diễn ngôn kì ảo, diễn ngôn về tính dục, diễn ngôn về con người, diễn ngôn về bệnh điên, diễn ngôn phù thuật, diễn ngôn hiện thực, diễn ngôn hậu thực dân…
(*) Dựa vào thể loại, có thể chia diễn ngôn báo chí thành diễn ngôn tin tức,
diễn ngôn quảng cáo, diễn ngôn phóng sự điều tra, diễn ngôn tường thuật;
có thể phân loại diễn ngôn văn học thành diễn ngôn tự sự, diễn ngôn thơ, diễn ngôn phê bình hoặc diễn ngôn hội thoại đời thành diễn ngôn phỏng vấn, xin lỗi, giới thiệu, chào hỏi…
(*) Dựa vào cấp độ của diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành: diễn ngôn và
siêu diễn ngôn Khổng Tử sáng lập ra siêu diễn ngôn Nho giáo, Thích ca
Mâu ni (Siddharta Gautama) sáng lập ra siêu diễn ngôn Phật giáo, Freud sáng lập siêu diễn ngôn phân tâm học, Ann Radcliffe sáng tạo ra diễn ngôn tiểu thuyết kinh dị, Bakhtin tạo ra diễn ngôn đa thanh phức điệu Chủ thể của các siêu ngôn không chỉ khai phá ra một loại diễn ngôn mới, một ngôn ngữ mới mà còn mở ra một con đường mới, mở ra các bước đi tạo ra các diễn ngôn khác Các siêu diễn ngôn luôn tạo ra sau nó vô số các diễn ngôn đồng dạng, đồng chất với nó
(*) Dựa vào chủ thể diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành: diễn ngôn của cá nhân và diễn ngôn của tập thể, diễn ngôn có nhu cầu có tên “tác giả” và diễn ngôn không có nhu cầu có “tác giả”, diễn ngôn văn học nữ giới…
Trang 29(*) Dựa vào cấu trúc có thể xác định diễn ngôn độc lập và diễn ngôn phụ thuộc; diễn ngôn nguồn, diễn ngôn phụ trợ và diễn ngôn bao chứa; diễn ngôn của người kể chuyện và diễn ngôn của nhân vật; diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn…
(*) Dựa vào chức năng của ngôn ngữ (D Nunan) có thể chia diễn ngôn
thành hai loại: diễn ngôn giao dịch và diễn ngôn liên nhân
3.2.2.Về mặt cấu trúc:
a Về khuôn hình văn bản
Trước khi tiếp cận cách phân loại diễn ngôn theo cấu trúc bên trong của chúng, cần nhắc đến một hiện tượng cũng nằm trong cái tên quen thuộc
là “ cấu trúc” nhưng được hiểu từ phía khác – phía tổng thế của diễn ngôn
Đó là khuôn hình của diễn ngôn Trong ngôn ngữ học văn bản giai đoạn đầu khi mà ảnh hưởng của việc nghiên cứu cú pháp câu còn có tác dụng mạnh
mẽ đối với việc nghiên cứu văn bản, không ít những người đi tìm cái gọi văn bản vị tương ứng với những đơn vị điển thể của các bậc dưới trong hệ thống
ngôn ngữ( như: âm vị - hình vị - từ vị - cú vị) Mỗi bậc đơn vị trong hệ thống
ngôn ngữ đều có cái thuộc điền thể và cái thuộc về hiện thể hay biến thể Bậc của các điển thể là bậc trừu tượng, bậc của các hiện thể là bậc cụ thể quan sát được Văn bản vị là thuộc về điền thể, còn mọi sản phẩm ngôn ngữ trong đó có cả văn bản hiện thực thì đều là hiện thể Nhưng việc tìm tòi văn bản vị theo kiểu của âm vị, hình vị không đưa lại kết quả được thừa nhận rộng rãi Do tính chất quá phức tạp của diễn ngôn và tính chất quá đa dạng của các diễn ngôn cụ thể, cho nên để khái quát được tất cả, người ta chỉ còn cách chia tất cả các diễn ngôn thành hai nhóm lớn:
* Thuộc nhóm thứ nhất là các diễn ngôn được xây dựng theo những khuôn hình cứng nhắc, đã được định sẵn
Trang 30* Thuộc nhóm thứ hai là các diễn ngôn được xây dựng theo những khuôn hình mềm dẻo; nhóm này có thể được tiếp tục chia thành hai nhóm nhỏ:
- Nhóm nhỏ có những khuôn hình thông dụng
- Nhóm nhỏ có những khuôn hình tự do
Các văn bản trong nhóm lớn thứ nhất (a) gồm các văn bản thuộc phong cách hành chính – công vụ và một số văn bản pháp lí trong lĩnh vực khoa học – kĩ thuật
Các văn bản trong nhóm có khuôn hình thông dụng thường là các văn bản khoa học ( như bài báo, luận án khoa học), một số văn bản báo chí( như bình luận, phóng sự,…)
Các văn bản trong nhóm có khuôn hình tự do thường là các tác phẩm văn chương, các loại ghi chép công luận…
b Theo cấu trúc nội tại
Theo Hausenblas (1966) thì muốn tiến hành các phân loại diễn ngôn một cách hệ thống thì phải làm rõ những khác biệt tồn tại giữa các lớp diễn ngôn, phải tính toán đầy đủ đến các phương thức khác nhau trong cách tổ chức các cấu trúc của chúng Thừa nhận rằng chưa có đủ những tiền đề cần thiết để thực hiện một cách phân loại diễn ngôn có hệ thống như vậy, Hausenblas đề nghị một số nhân tố còn ít được chú ý trong việc xác định đặc trưng và phân loại diễn ngôn Ông coi những khác biệt sau đây là những tiêu chuẩn có thể đóng góp phần của mình vào thủ tục phân loại chung các diễn ngôn một cách có hệ thống Đó là:
Tính gián đoạn / tính phức tạp trong cấu trúc văn bản của diễn ngôn; Tính độc lập / tính lệ thuộc của các diễn ngôn;
Tính độc lập / tính gián đoạn của các diễn ngôn
Trang 31Trong bảng phân loại của mình, Hausenblas đã dùng thuật ngữ văn bản như mọi thứ “ thước đo” độ phức tạp của diễn ngôn Tình hình đó khiến
ta phải hiểu văn bản đối với ông là cái gì Tác giả thừa nhận rằng thuật ngữ văn bản được dùng để biểu hiện hai thứ: một là, văn bản là cái ghi lại lời nói miệng; hai là, văn bản là một hợp thể của các phương tiện ngôn ngữ được dùng trong lời nói, do chuỗi nối tiếp của các phương tiện ngôn ngữ tạo ra và
do mối quan hệ của các phương tiện ngôn ngữ này với cái ý tổng hoà chung xác định Ông sử dụng thuật ngữ văn bản trong cách hiểu thứ hai và cho rằng vẳn bản” là một hiện tượng phát hiện ra được khi phân tích chất văn bản của các đặc điểm diễn ngôn thuộc một kiểu nhất định” Các diễn ngôn
có độ phức tạp khác nhau trong cấu trúc Xét mặt cấu trúc của văn bản, các diễn ngôn ít khi là thuần nhất, mà thường là những tổ hợp của những bộ phận cấu thành khác nhau, đôi khi một diễn ngôn bao gồm hơn một văn bản
Về phương diện này có thể xếp các diễn ngôn thành những dãy như sau:
Diễn ngôn có một văn bản duy nhất với một nội dung ý duy nhất Thuộc loại này có nhiều diễn ngôn khác nhau như báo cáo, công văn, thông báo về các sự kiện… Tuy nhiên, không bao giờ được loại trừ khả năng là trong tình huống nhất định, ngay cả những diễn ngôn thuộc loại này cũng có thể mang một nội dung ý khác
Trang 32Diễn ngôn chỉ có một văn bản duy nhất , mà lại có hơn một nội dung ý( không đơn ý) Loại diễn ngôn này không chỉ có trong thơ ca và văn xuôi nghệ thuật mà còn gặp trong nhiều trường hợp như lời nói đùa, trong những lời phát biểu đánh giá theo lối mỉa mai, ý muốn nói khác với lời lẽ được nói
ra, những lời tuyên bố ngoại giao cố tình không đơn ý, những lời hưa” nửa chừng”, những câu trả lời lấp lửng hiểu được nhiều cách, tất cả những bài ngụ ngôn…
Diễn ngôn được làm thành từ một văn bản và có chứa một phần lấy từ điển ngôn khác( hoặc chưa diễn ngôn khác trọn vẹn) Phần dẫn đó( hoặc diễn ngôn được dẫn) chỉ là một bộ phận của diễn ngôn cơ sở, nhưng dẫu sao vẫn cứ là tách biệt khỏi diễn ngôn cơ sở Nhưng đoạn trích từ diễn ngôn khác, những lời trực tiếp( cũng được coi như đoạn trích) đến là những phần dẫn như vậy Cũng gặp trường hợp phần lấy từ diễn ngôn khác chiếm ưu thế
so với phần cơ sở - diễn ngôn cơ sở trong trường hợp này chỉ giữ vai trò cái khung bên ngoài mà thôi
Văn bản truyện, nhất là văn bản văn xuôi nghệ thuật có lối trực tiếp, lời trực tiếp không được đánh dấu và lời trực tiếp không thực sự là lời trực tiếp, đang đầy rẫy trong văn chương hiện đại, thì có khác Nếu trong đó, những dấu hiệu chỉ những phần riêng lẻ ấy của văn bản là thuộc về những chủ thể khác nhau mà lại không rõ ràng hoặc có thể hiểu theo nhiều cách, thì diễn ngôn như vậy gắn với kiểu diễn ngôn đơn loại
Diễn ngôn đối thoại cũng được coi là được làm thành từ một văn bản, hiển nhiên không phải là diễn ngôn đơn loại và nó được phân chia ra thành những diễn ngôn chuyển đổi nhau của hai hoặc hơn hai nhân vật tham dự đối thoại Một đối thoại được triển khai như một vẳn bản thống nhất, tuy nhiên mối quan hệ “ người phát – người nhận” được chuyển hoá lẫn nhau
Trang 33Cũng còn có những diễn ngôn khác có cấu trúc vẳn bản phức tạp Chẳng hạn một bài báo ta có thể đọc theo hai cách, hoặc đọc trọn vẹn hoặc chỉ đọc đầu đề, các đề mục, các đoạn in đậm Đó là những trường hợp một văn bản thông nhất mà cho phép tóm lược thành văn bản ngắn hơn Một số
áp phích quảng cáo cũng có tính chất tương tự: phần cô đúc được in chữ to,
có thể nhìn từ xa; phần chi tiết in chữ nhỏ
Những diễn ngôn chứa hai hay hơn hai văn bản theo cách hoặc là “ văn bản
cơ sở / văn bản phụ trợ”, hoặc là “ văn bản tường minh / văn bản tiềm ân”… Kiểu thứ nhất là những bài báo, bài nghiên cứu có văn bản phụ trợ là
những chú thích in cuối trang hoặc sau bài Các phần của văn bản phụ trợ được đánh dấu tương ứng trong văn bản cơ sở và có thể đọc phần của văn bản phụ trợ khi gặp dấu ở đầu văn bản cơ sở, hoặc đọc riêng văn bản cơ sở
và văn bản phụ trợ, cũng có thể không đọc văn bản phụ trợ
3.3 Các bình diện của diễn ngôn:
3.3.1.Mạch lạc:
Là một phương thức liên kết đặc trưng (trên phương diện chức năng,
trên phương diện ngữ nghĩa, trên phương diện ngữ dụng) Mạch lạc được
đặt trong mối tương liên với việc phân tích liên kết hình thức diễn ngôn dó
là sự liên thông thông suốt nhằm đảm bảo cho một diễn ngôn có được một nội dung bao quát, một chức năng thống nhất Mạch lạc làm mất đi tính ngẫu nhiên giữa các phát ngôn cụ thể, những câu cụ thể mà mới nhìn dường như chúng không có liên quan gì đến nhau và biến khối vật liệu ngôn từ trở thành
có lí Mạch lạc đóng vai trò tổ chức ngầm ẩn trong sự liên kết để tạo lập diễn
ngôn( ngôn bản hay văn bản) Cũng như liên kết hình thức, mạch lạc có quy tắc trong liên hội các thành phần của diễn ngôn
Trang 34Nunan D trong cuốn Introducing discourse analysis, Penguin Group,
1993, định nghĩa mạch lạc( coherence) như sau: “ Mạch lạc là cái mức độ
phạm vi qua đó diễn ngôn đƣợc nhận biết là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp các câu hay phát ngôn không có quan hệ với nhau”
Một diễn ngôn hoặc một văn bản gồm các câu có liên hệ về nghĩa với nhau, cùng hướng vào một chủ đề nhất định là một diễn ngôn hoặc một văn bản có mạch lạc Các câu trong một diễn ngôn hay một văn bản là những cấu trúc trọn vẹn, nhưng gắn bó với nhau, lệ thuộc nhau ở mức độ nhất định về nội dung và hình thức Một số nhà lí luận cho rằng mạch lạc là những đặc trưng ngôn ngữ học của một chuỗi câu, làm cho chuỗi câu đó gắn bó với nhau thành văn bản chứ không phải chỉ là một dãy câu Có thể nêu ra những đặc trưng như:
+ Chúng có những biểu thức hồi chỉ, quy chiếu vào những biểu thức trước đó hay không?
+ Chúng có những chủ đề giống nhau hoặc lien quan nhau cùng xuất hiện trong văn bản hay không?
Thực tế cho thấy có thể tạo ra những chuỗi câu có liên kết hồi chỉ nhưng vẫn không có mạch lạc Lại có những chuỗi câu là văn bản nhưng không có liên kết logic về chủ đề Văn bản mạch lạc là văn bản ở đó người giải mã có thể cấu trúc lại sơ đồ của người nói một cách hợp lí bằng cách suy luận những mối liên hệ giữa các câu và những mối liên hệ riêng biệt của chúng với những mục đích thứ cấp khác nhau trong sơ đồ giải thích, khiến cho sự khó hiểu trở thành dễ hiểu Theo quan niệm này, mạch lạc không phụ thuộc và những đặc trưng liên kết lẫn nhau mà phụ thuộc vào quy mô mà người tạo văn bản cố gắng đạt được để cấu trúc một sơ đồ hợp lí trong việc tạo ra văn bản
Trang 353.3.2 Liên kết:
Là một trong những phương thức để tạo lập diễn ngôn Bản chất của diễn ngôn là một” tổng thể có nghĩa” hoàn chỉnh Nghĩa hoàn chỉnh đó lại được biểu đạt thành nghĩa bộ phận là những thành phần hay những thành tố
Ở đây có hai yêu tố quan trọng, đó là những thành tố( các mệnh đề/ cú) và
sự liên kết chúng theo cấu trúc Mệnh đề là phương tiện biểu đạt phán đoán, các nhận định và quan trọng nhất nó là hạt nhân của câu, sự tình Diễn ngôn
là một chuỗi các sự tình nối với nhau bằng những liên kết hình thức mà chúng ta có thể nhận dạng qua các phương tiện nhất định
Hai nhà ngôn ngữ học chức năng là Halliday và Hasan, 1976 nêu ra cách thức liên kết thường gặp trong diễn ngôn, đó là liên kết quy chiếu, liên kết bằng phép thế, liên kết bằng phép tỉnh lược, liên kết nối và liên kết từ vựng Sau này họ giảm bớt một phép và ghép nó vào tỉnh lược Brown và Yule là hai tác giả cũng có những ý kiến rất hay về phép liên kết trong cuốn sách “ Phân tích diễn ngôn” Brown coi diễn ngôn là ngôn từ của hành động giao tiếp và quan tâm đến những nguyên lí kết nối mà trong đó nó đã rang buộc diễn ngôn với nhau ngôn Các câu trong một văn bản mạch lạc có thể vẫn gắn bó với nhau mà không cần tới những dấu hiệu hình thức chỉ ra quan
hệ giữa các câu
Tính mạch lạc của văn bản còn có thể được thực hiện bằng những phương tiện liên kết văn bản có tính hiển ngôn Có những phương tiện liên kết văn bản sau đây:
+ Hồi chỉ ( anaphora) và khứ chỉ ( cataphora): Khi các câu có những
sở chỉ chung thì sở chỉ của những danh ngữ, động ngữ trong một câu hay cả câu có thể được biểu thị bằng những yếu tố hồi chỉ trong các câu kế theo sau
và bằng các yếu tố hồi chỉ trong những câu đi trước
Trang 36Ví dụ: Dân tộc ta có một lòng yêu nước nồng nàn Đó là một truyền thống quý báu của ta ( Hồ Chí Minh)
Ví dụ về những yếu tố khứ chỉ: Hà thích yêu đương lãng mạn nhưng Thuỳ lại khác Nó muốn lấy chồng
+ Tỉnh lƣợc ( ellipsis): Tỉnh lược là một dạng của hồi chỉ Đó là hồi
chỉ zero
Ví dụ: Tôi khuyên nó nên làm luận án tiến sĩ Cuối cùng, nó đã đồng ý( làm luận án tiến sĩ)
+ Thay thế ( substitution) Thay thế là một biện pháp liên kết bằng
cách thay thế các từ ngữ khác có quan hệ về nghĩa với chúng Những quan
hệ đó có thể là đồng nghĩa, gần nghĩa, thượng hạ danh, quan hệ cụ thể - khái quát
Ví dụ: Tôi mới được tặng một bó hoa hồng Hoa thật là đẹp ( hoa là thượng danh của hoa hồng)
Nhân dân ta có lòng quý khách
Nhân dân ta có lòng chuộng khách thì đúng hơn
Chuộng và quý gần nghĩa với nhau Vì chuộng khách nên bất cứ ai đến làm khách đều được quý
+ Phép nối ( conjunction) Phép nối là biện pháp đánh dấu các mối
liên hệ logic trong diễn ngôn Đó là quan hệ đồng hướng hay quan hệ bổ sung, quan hệ ngược hướng, quan hệ nhân quả và quan hệ thời gian – trình
Trang 373.3.3 Ngữ cảnh:
Chúng ta thấy diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng chứ không phải trong hệ thống ( Guy Cook, 1999, tr.6) nên phân tích diễn ngôn phải quan tâm đến ngữ cảnh, thậm chí phải coi ngữ cảnh là yếu tố quan trọng Nhờ ngữ cảnh người ta thấy được sự quy chiếu nó với các tình huống mà người nói tạo ra diễn ngôn và tình huống mà trong đó diễn ngôn hoạt động Theo các nhà ngữ học có hai loại ngữ cảnh: ngữ cảnh ngôn ngữ và ngữ cảnh phi ngôn ngữ Ngữ cảnh ngôn ngữ được bao hàm hoặc đi kèm với sản phẩm diễn ngôn được phân tích Ngữ cảnh phi ngôn ngữ thì thuộc về kinh nghiệm trong
đó diễn ngôn diễn ra Ngữ cảnh phi ngôn ngữ bao gồm những sự kiện giao tiếp, ví dụ như câu chuyện, bài thuyết trình, lời chào, lời hội thoại, đề tài, mục đích, sự kiện… Những tri thức này đều có liên quan và cần thiết cho các sản phẩm ngôn ngữ truyền thông xã hội
3.3.4 Lập luận
Là một phương thức hoạt động ngôn ngữ thiên ngữ dụng Thực ra lập luận vốn là một vấn đề không mới, liên quan đến logic thuyết trình của các diễn giả Gần đây, khi nhà ngôn ngữ học Ducrot gợi ý là nên nghiên cứu nó trong địa hạt ngôn ngữ học thì người ta đã tìm cách bổ sung nó như một nội dung ngữ dụng học Trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy thì diễn giả bao giờ cũng sắp đặt các lập luận Họ chuẩn bị những lí lẽ và luận chứng để dẫn người ta đến kết luận Với kết luận đó người nghe tiếp nhận hay bác bỏ Trên phương diện diễn ngôn, lí thuyết lập luận đã chỉ ra rằng khi ngôn ngữ trong tư thế lập luận thì diễn ngôn phải là một chuỗi ngôn từ biểu nghĩa sự tình, nhận xét, bình luận,…
Trang 38Trên bình diện ngữ dụng học, các phương tiện ngôn ngữ biểu đạt lập luận là trật tự, liên kết hình thức và mạch lạc Lập luận gồm một chuỗi của các liên kết, có định hướng, các liên kết này sẽ dùng trong khuôn khổ của diễn ngôn Phân tích hình thức sự liên kết các phát ngôn nhằm biểu đạt lập luận chính là một nội dung phân tích diễn ngôn
Trang 39CHƯƠNG 2: THÔNG CÁO BÁO CHÍ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGỮ NGHĨA HỌC
2 Đặt Vấn Đề:
Mỗi một thông cáo báo chí hiện nay đều có các sự tình hay sự thể Thuật ngữ sự tình được hiểu theo nghĩa rộng là “ cái có thể là tình huống trong một thế giới nào đó” Các sự tình có thể được chia thành nhiều kiểu khác nhau theo các thông số nghĩa cần yếu của chúng
2.1 Cương vị của sự tình trong diễn ngôn
Sự tình là một thông báo gộp không chia cách được đâu là phần nêu,
đâu là phần báo Nó trả lời cho những câu hỏi: Cái gì thế? Có chuyện gì xảy
ra thế? Và tuy là những thông báo gộp song ở đây cái được chú ý nhiều
hơn chính là vận động của đối tượng với những đặc trưng cụ thể của nó Hay nói cách khác đi tỉ trọng thông báo nằm ở phần vị từ chỉ sự vận động và kẻ tham gia vận động chính đó là cái trực tiếp gây ấn tượng Bởi ở đây người nói quan tâm trước hết tới biến cố, với những đặc tính của nó bao gồm cả những biểu hiện cụ thể của vận động lẫn kẻ tham gia vào vận động làm nên tính ít nhiều khác thường của tình huống Còn theo Fillmore, một sự tình sẽ gồm một vị từ trung tâm và quây quần xung quanh nó là các ngữ đoạn biểu thị những cách ngữ nghĩa hay vai nghĩa( Semantic Role) nào đó Việc đánh giá một vai nghĩa là bắt buộc hay tùy nghi đối với vị từ này nhưng lại bắt buộc đối với vị từ khác Chẳng hạn, vai nghĩa “ nơi chốn” có thể mang tính
tùy nghi khi trung tâm là một vị từ “ hành động” ( Tôi gặp nó ở Hà Nội”)
nhưng lại mang tính bắt buộc nếu trung tâm là một vị từ “tồn tại” ( “ Nó
sống ở Hà Nội”) Nguyễn Thiện Giáp đã hệ thống các vai nghĩa mà ông đã
Trang 40tổng kết dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giới Những thuật ngữ mà ông sử dụng khá giản dị và gần gũi
1 Người hành động (hành thể - actor): Chủ thể trong một sự tình động
mà nó vừa là người tác động, vừa là người bị tác động VD: Mẹ đi chợ
2 Người tác động (động thể - agent): Chủ thể của hành động do động
từ biểu thị, khác với người hành động ở chỗ nó tác động vào một đối tượng, trong khi người hành động chỉ tác động đến bản thân mình mà thôi VD:
Nam viết thƣ
3 Lực tác động (force): Chỉ sức mạnh tự nhiên tác động đến một vật
gây nên một quá trình VD: Gió thổi tắt nến
4 Người thể nghiệm (nghiệm thể - experiencer): Chỉ vai trải qua hoặc
gánh chịu trạng thái nội tại VD: Cháu đau chân Mẹ buồn
5 Người/ vật bị tác động (đối thể - patient): Đối tượng của sự tác
động VD: Bàn lau rồi Sách này đọc rất thích
6 Vật tạo tác (tạo thể - factive): Vật sinh ra do kết quả của hành động
do động từ biểu thị VD: Bàn này do tôi đóng Tôi đóng bàn
7 Người / vật mang trạng thái (patient state): Chỉ bất kỳ vật gì được biểu thị bằng một danh từ mà vai trò của nó trong hành động hay trạng thái được động từ biểu thị, được chính cách thuyết minh nghĩa của động từ quy
định VD: Hàng bán rồi
8 Người nhận (tiếp thể - recipient): Động vật chịu ảnh hưởng của
trạng thái hay hành động do động từ biểu thị VD: Tôi cho Huyền
9 Người hưởng lợi (beneficiary): Vai hưởng lợi trong hành động do
động từ biểu thị VD: Chiến đấu vì nhân dân Bé đƣợc cô chỉ tóc cho
10 Nơi chốn (locative): Chỉ vị trí hay hướng không gian của trạng
thái hay hành động do động từ biểu thị VD: Nam chạy ngoài sân