1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN

112 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các doanh nghiệp thường tận dụng quy mô và công nghệ sản xuất của các nước khác, đầu tư vào quá trình sản xuất tại những nước này, để tạo ra nguồn nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ cho hoạ

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO

(ĐGCG) CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Đầu tư quốc tế:

1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế là một quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện các dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho các bên tham gia

Với khái niệm đầu tư quốc tế như thế, cho thấy mục tiêu của sự chuyển dịch vốn

ra nước ngoài chính là lợi nhuận, cho nên ý nghĩa thực tiễn của khái niệm này là:

- Đối với nhà doanh nghiệp đóng vai trò là người tìm đối tác đầu tư nước ngoài cùng hợp tác làm ăn với mình thì họ phải sẵn có trong tay dự án đầu tư mang tính khả thi cao, có như vậy mới tạo ra được sự quan tâm của đối tác

- Đối với doanh nghiệp khi đóng vai trò là nhà đầu tư ra nước ngoài thì trước khi chuyển vốn ra nước ngoài phải nghiên cứu kỹ: môi trường đầu tư ở nước sở tại (nơi mà doanh nghiệp lựa chọn để đầu tư) và sự tác động đến khả năng sinh lời của dự án; tính rủi ro của môi trường đầu tư

- Đối với Chính phủ muốn tăng cường thu hút vốn đầu tư quốc gia mình thì phải tạo ra môi trường đầu tư mang tính cạnh tranh cao ( so với với môi trường đầu tư của các nước khác) trong việc mang lại cơ hội tạo lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước ngoài

1.1.1.2 Nguyên nhân của đầu tư quốc tế:

- Nguyên nhân thứ nhất: do lợi thế so sánh và trình độ phát triển kinh tế của các nước không giống nhau Cho nên, đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác lợi thế so sánh của các quốc gia khác nhằm giảm thiểu chi phí tăng lợi nhuận

- Nguyên nhân thứ hai: xu hướng giảm dần tỷ suất lợi nhuận ở các nước công nghiệp phát triển cùng với hiện tượng dư thừa tương đối tư bản ở các nước này, cho nên đầu tư ra nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Trang 2

- Nguyên nhân thứ ba: toàn cầu hóa gia tăng, tạo điều thuận lợi về môi trường để các công ty xuyên quốc gia bành trướng mạnh mẽ, chiếm lĩnh và chi phối thị trường thế giới

- Nguyên nhân thứ tư: đầu tư ra nước ngoài nhằm nắm được thị trường lâu dài, ổn định nguồn cung cấp, nguyên nhiên vật liệu chiến lược với giá rẻ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong nước

1.1.1.3 Các hình thức đầu tư quốc tế

1.1.1.3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình

thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản

lý cơ sở sản xuất kinh doanh này

Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp:

- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu hoặc tối đa tùy theo quy định của luật đầu tư từng nước, ví dụ như luật đầu tư Việt Nam quy định “số vốn góp tối thiểu của của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự án”

- Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc độ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn pháp định

- Lợi nhuận các chủ đầu tư có được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định của doanh nghiệp

Các hình thức đầu tư trực tiếp:

- Đóng góp vốn để xây dựng xí nghiệp mới

- Mua lại toàn bộ hay từng phần xí nghiệp đang hoạt động

- Mua cổ phiếu để thôn tính

- Đầu tư theo hình thức BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, BT

- Đầu tư mở rộng phát triển kinh doanh

1.1.1.3.2 Đầu tư gián tiếp nước ngoài

Trang 3

Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment, viết tắt là FPI) là

hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới Nó chỉ các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp Đây là hình thức mà chủ tư bản thông qua thị trường tài chính mua cổ phần hoặc chứng khoán của các công ty ở nước ngoài nhằm thu lợi nhuận dưới hình thức cổ tức hoặc thu nhập chứng khoán

Đặc điểm của hình thức đầu tư gián tiếp:

- Chủ đầu tư không trực tiếp tham gia điều hành quản lý đối tượng mà họ bỏ vốn

ra đầu tư

- Số vốn mua cổ phần ở một chủ đầu tư bị hạn chế

- Đầu tư dưới hình thức tiền tệ

Hình thức đầu tư rất đa dạng: trái phiếu, cổ phiếu, công cụ phái sinh…

1.1.1.3.3 Hình thức tính dụng quốc tế

Về thực chất đây cũng là hình thức đầu tư gián tiếp nhưng nó có những đặc điểm riêng, cho nên trong thực tế, hình thức này vẫn được phân loại như một loại hình độc lập

Tính dụng quốc tế là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay vốn và kiếm lời thông qua lãi suất tiền vay

Đây là hình thức chủ yếu vì nó có những ưu điểm sau đây:

- Vốn chủ yếu dưới dạng tiền tệ, dễ dàng chuyển thành các phương tiện đầu tư khác

- Nước tiếp nhận đầu tư toàn quyền sử dụng vốn cho các mục đích riêng rẽ của mình

- Chủ đầu tư nước ngoài có thu nhập ổn định thông qua lãi suất, số tiền này không phụ thuộc vào kết quả của vốn đầu tư

- Nhiều nước cho vay vốn được trục lợi về chính trị, trói buộc nước vay vốn vào vòng ảnh hưởng của mình

Bên cạnh đó, nó cũng có nhược điểm là hiệu quả sử dụng vốn thường thấp do bên nước ngoài không trực tiếp tham gia quản lý Hậu quả, nhiều nước chậm và đang phát triển lâm vào tình trạng vay nợ, nhiều nước mất khả năng chi trả

Trang 4

ODA là một hình thức tính dụng quốc tế đặc biệt:

Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance, viết tắt là ODA), là một

hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài, đôi khi còn gọi là viện trợ

Đặc điểm của ODA:

- Người cho vay là các tổ chức tài chính quốc tế hoặc chính phủ các nước

- Người đi vay là chính phủ các nước có nhu cầu về vốn

- Đa số vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lời

- Muốn sử dụng vốn phải có dự án và được thẩm định bởi nhiều bên

- Việc triển khai dự án phải có sự giám sát hiệu quả đầu tư về phía bên cho vay và bên nước nhận nợ vay

1.1.1.3.4 Vai trò của đầu tư quốc tế:

1.1.1.3.4.1 Đối với các nước xuất khẩu vốn:

- Giúp củng cố vai trò chính trị và vị thế kinh tế của nước đầu tư trong khu vực và trên thế giới Nền kinh tế quốc gia sẽ có điều kiện thuận lợi thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước đầu tư

- Khi nước đầu tư xuất khẩu vốn sẽ làm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và công nghệ vì khi đó, họ có thể khai thác tối đa nguồn vốn và công nghệ này tại các nước nhận đầu tư Bên cạnh đó, nước đầu tư còn có thể giảm chi phí xuất khẩu tới thị trường nước đầu tư, tận dụng được lợi thế của nước nhận đầu tư

- Thông qua hoạt động đầu tư ra nước ngoài, quốc gia sẽ có thêm nguồn nguyên liệu, nhiên liệu… phục vụ cho sự phát triển kinh tế trong nước Các doanh nghiệp thường tận dụng quy mô và công nghệ sản xuất của các nước khác, đầu tư vào quá trình sản xuất tại những nước này, để tạo ra nguồn nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất trong nước, trong điều kiện nước đầu tư bị thiếu công nghệ hoặc không có thế mạnh về loại nguyên liệu, nhiên liệu đó

- Đầu tư ra nước ngoài tạo tiền đề cho hoạt động kinh tế đối ngoại của nước đầu

tư đa dạng và phong phú, hoạt động ngoại giao đi vào chiều sâu

Trang 5

- Đầu tư ra nước ngoài thành công sẽ tác động ngược lại nền kinh tế trong nước theo hướng thúc đẩy công cuộc cải tổ nền kinh tế: về thể chế chính sách, về thuế, về thủ tục hành chính, về hệ thống thông tin đối ngoại, về chính sách điều hành vĩ mô Đầu tư nước ngoài còn tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập, thuế đầu tư

- Đầu tư ra nước ngoài góp phần tạo đội ngũ thương nhân năng động, có kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, góp phần làm tăng năng lực quốc gia

- Đầu tư ra nước ngoài góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của nước đầu tư theo hướng ổn định và có hiệu quả hơn vì chính cơ sở sản xuất và dịch vụ ở nước ngoài là điểm đến của hàng hóa, thiết bị, bí quyết công nghệ (y khoa, chế biến thực phẩm…), nhân công

1.1.1.3.4.2 Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư:

Hiện nay, dòng chảy của tư bản quốc tế vào hai khu vực chính: các nước tư bản phát triển và các nước chậm và đang phát triển Đối với cả hai khu vực này, đầu tư quốc tế đều có vai trò quan trọng đặc biệt

a Đối với các nước tư bản phát triển như Mỹ và Tây Âu:

Đầu tư của nước ngoài có ý nghĩa quan trọng như các chuyên gia kinh tế của Mỹ sau khi nghiên cứu hiện tượng Nhật Bản đầu tư ồ ạt vào Mỹ (từ 1951 đến 1991, Nhật Bản đã đầu tư 148.6 tỷ USD vào Mỹ, chiếm 42.4% tổng số vốn đầu tư của Nhật Bản ra nước ngoài) đã đưa ra nhận định việc đầu tư của Nhật Bản đem lại nhiều cái lợi cho nên kinh tế Mỹ hơn là mặt hại, những cái lợi đó là:

- Giúp giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế xã hội trong nước như: thất nghiệp, lam phát…

- Việc mua lại những công ty, xí nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình thanh toán, tạo công ăn việc làm mới cho người lao động

- Tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách của Mỹ

- Giúp các nhà doanh nghiệp Mỹ học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của Nhật Bản

Trang 6

b Đối với các nước chậm và đang phát triển:

- Đầu tư quốc tế giúp các nước đẩy mạnh tốc độ phát triển nền kinh tế thông qua việc tạo ra những xí nghiệp mới hoặc tăng quy mô của các đơn vị kinh tế

- Thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở các nước này

- Các dự án FDI góp phần hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng bình đẳng, minh bạch và công khai, đạt các chuẩn mực chung của quốc tế, nhờ đó tăng năng lực cạnh tranh ở các cấp độ quản lý của nền kinh tế

- Hoạt động đầu tư nước ngoài giúp các nước đang phát triển mở mang hoạt động kinh doanh, tăng GDP mà không cần phải vay nợ nhiều

- Ngoài ra, thông qua tiếp nhận đầu tư quốc tế, các nước đang phát triển có điều kiện tiếp nhận kĩ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài

1.1.1.3.4.3 Đối với doanh nghiệp:

- Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị trường thế giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

- Đầu tư ra nước ngoài giúp mở rộng thị trường do khi xuất khẩu ra nước ngoài, các doanh nghiệp có thể gặp phải những rào cản của nước tiếp nhận đầu tư nhưng khi xuất khẩu thông qua đầu tư trực tiếp lại không gặp phải trở ngại này ngoài ra còn được hưởng những ưu đãi từ nước tiếp nhận đầu tư

- Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp tăng nội lực kinh doanh: tích lũy kinh nghiệm trên thương trường quốc tế; học hỏi tiếp thu công nghệ và bí quyết công nghệ; sử dụng đội ngũ quản lý và khoa học kỹ thuật bản xứ… và áp dụng những thành công ở nước ngoài vào hoạt động kinh doanh của công ty mẹ trong nước

- Đầu tư ra nước ngoài tạo ra khả năng cho doanh nghiệp thực hiện “chuyển giá”

để giảm thiểu mức thuế đóng góp cho toàn bộ hệ thống công ty ở các nước khác nhau Nhờ đó mà tối đa hóa lợi nhuận thu được

- Đầu tư ra nước ngoài giúp các công ty phát triển vốn vô hình của mình: thương hiệu, công nghệ, bí quyết công nghệ Tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh tại thị trường nước nhận đầu tư do có được ưu đãi từ phía nước này

Trang 7

- Đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp có điều kiện phân tán rủi ro kinh doanh, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thế giới đầy biến động về kinh tế - chính trị như hiện nay.

1.1.1.3.5 Hậu quả của đầu tư quốc tế

1.1.1.3.5.1 Đối với các nước xuất khẩu vốn

- Việc chuyển vốn ào ạt ra nước ngoài làm cho cán cân thanh toán của quốc gia bị giảm, khả năng đầu tư cho phát triển kinh tế trong nước bị hạn chế

- Vốn và tài sản bất hợp pháp: tham nhũng, kinh doanh bất chính… được chuyển

ra nước ngoài đầu tư khiến quốc gia bị thất thoát tài sản mà chính phủ khó kiểm soát và thu hồi tốn kém

- Chảy máu chất xám, sự mất vị thế độc quyền về công nghệ cũng như nguyên nhân chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư

- Tạo ra thị trường cạnh tranh với sản xuất và kinh doanh trong nước

1.1.1.3.5.2 Đối với nước nhập khẩu vốn đầu tư:

- Lợi dụng có sự chênh lệch về trình độ phát triển công nghệ kỹ thuật giữa các nước, những nước có trình độ phát triển cao hơn khi đầu tư ra nước ngoài ở một số dự án họ chuyển công nghệ cũ, lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường

- Bị thất thu thuế do có sự “chuyển giá” ở các công ty đa quốc gia, mà sự kiểm soát hiện tượng “chuyển giá” rất khó khăn

- Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác kiệt quệ vì mục tiêu thu hồi vốn nhanh và lợi nhuận của các nhà đầu tư

- Các nhà đầu tư nước ngoài thông qua các dự án FDI cạnh tranh gay gắt với các nhà đầu tư nội địa, làm thị phần của nhà đầu tư nội địa bị thu hẹp, một bộ phận không nhỏ bị phá sản

- Sự thao túng về kinh tế và chính trị có thể xảy ra khi các tập đoàn kinh tế nước ngoài dùng tiền “lobby” các cơ quan chính phủ

- Tính tự chủ trong xây dựng cơ chế chính sách kinh tế bị giảm khi các nhà đầu tư nước ngoài gây sức ép lên chính phủ của họ thông qua con đường ngoại giao, đòi hỏi nước tiếp nhận đầu tư phải thay đổi cơ chế chính sách, luật lệ theo hướng có lợi cho nhà đầu tư

Trang 8

1.1.1.3.6 Tình hình đầu tư quốc tế:

1.1.1.3.6.1 Đầu tư quốc tế gia tăng về đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:

Đơn vị: Tỷ USD Năm Đầu tư trực tiếp Đầu tư gián tiếp

Tổng đầu tư Tốc độ tăng trưởng Tổng đầu tư Tốc độ tăng trưởng

Bảng 1: Tình hình đầu tư quốc tế

Nguồn : World Investment Prospects to 2010, IMF, UNCTAD

Trong ba năm 2005- 2008, kinh tế Mỹ suy thoái, đối mặt với khủng hoảng kinh tế tài chính, kéo theo sự khó khăn kinh tế toàn cầu, nhưng tốc độ đầu tư vẫn gia tăng Nguyên nhân là nhiều nước dư thừa tương đối vốn đầu tư do có thu nhập lớn từ dầu mỏ; nhu cầu phát triển của các nước tăng cao, kéo theo gia tăng nhu cầu về vốn; cho nên cả các nước công nghiệp phát triển lẫn các nước đang phát triển, đều nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài Đến năm 2010 khi nền kinh tế toàn cầu dần hồi phục, mặc dù còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ tái khủng hoảng, tốc độ đầu tư cả trực tiếp và gián tiếp có khuynh hướng tăng trở lại

1.1.1.3.6.2 Đầu tư quốc tế gián tiếp vẫn là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu:

Do tính bất ổn của tình hình kinh tế thế giới: có hiện tượng suy thoái, chiến tranh và nội chiến ở nhiều nơi, cho nên với ưu điểm của hình thức đầu tư gián tiếp là tính linh hoạt cao trong hoạt động đầu tư, đưa vốn và rút vốn khỏi thị trường tài chính một cách nhanh chóng so với đầu tư trực tiếp, hơn nữa sự linh hoạt của đầu tư gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận

Trang 9

cao, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở nước ngoài Chính vì lý do này, hiện tại và tương lai, đầu tư quốc tế gián tiếp vẫn là hình thức đầu tư cơ bản trên toàn cầu.

Năm Tổng đầu tư Trong đó

Bảng 2: So sánh đầu tư trực tiếp và gián tiếp

Nguồn : World Investment Prospects to 2010 (IMF)

1.1.1.3.6.3 ODA có xu hướng giảm:

Dòng vốn tài trợ chính thức song phương và đa phương đều giảm: Năm 2005 đạt 56.1 tỷ USD; năm 2006 là 47.7 tỷ USD; năm 2008 là 45.3 tỷ USD (nguồn IMF) Nguyên nhân giảm sút do nhiều nhà tài trợ lớn như Hoa Kỳ, EU,… gặp khó khăn về kinh tế, Nga nhờ đẩy mạnh xuất khẩu dầu mỏ mà có nguồn vốn dồi dào, trả nợ gần hết cho các nhà tài trợ; nguyên nhân nữa là nhiều nước đang phát triển cân nhắc khi tiếp nhận vốn ODA, một số nước như Philipines trong nhiều dự án đã từ chối sử dụng vốn ODA

1.1.1.3.6.4 Dòng chảy đầu tư quốc tế trực tiếp chủ yếu vào các nước công

nghiệp phát triển:

Nếu đầu thế kỷ 20, trên 70% vốn đầu tư tư bản đổ vào các nước chậm và đang phát triển để khai thác tài nguyên của các nước này với tư cách là thuộc địa, thì sau chiến tranh thế giới thứ 2, khu vực Tây Âu là nơi thu hút nhiều vốn đầu tư nhất Thời gian này, Tây Âu thu hút đến 158 tỷ USD vốn đầu tư, trong đó phân nửa là vốn đầu tư của Mỹ nhằm khôi phục lại Châu Âu sau chiến tranh thế giới Ngày nay, các nước công nghiệp phát triển vẫn là vùng thu hút vốn đầu tư nhiều nhất: năm 1999, các nước công nghiệp phát triển chiếm 76.5% tổng số vốn đầu tư FDI của thế giới, là 865 tỷ USD Trong khi đó, các nước đang phát triển chiếm ¾ dân số thế giới, chỉ chiếm 23.5% vốn

Trang 10

đầu tư FDI, khoảng 192 tỷ USD Trong những năm gần đây và dự báo trong những năm tới, tỷ trọng FDI vào các nước công nghiệp phát triển sẽ giảm, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao so với các nước đang phát triển.

Sở dĩ các nước công nghiệp phát triển thu hút nhiều vốn FDI là do:

- Làn sóng hợp nhất, thôn tính các công ty quốc tế diễn ra chủ yếu ở các nước phát triển

- Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm tích tụ và tập trung các ngành công nghiệp mũi nhọn ở các nước tư bản phát triển như ngành bán dẫn vi điện tử, ngành công nghệ sinh học, sản xuất người máy Lợi nhuận siêu ngạch thu được từ các ngành này đã tạo ra lực hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư quốc tế

- Các nước công nghiệp phát triển được xem là thị trường có khả năng tiêu thụ và thanh toán lớn, địa điểm lý tưởng cho các nhà đầu tư phát triển

- Môi trường đầu tư ở các nước tư bản phát triển ổn định và hấp dẫn do chế độ chính trị ổn định, hệ thống luật pháp hoàn chỉnh điều tiết xã hội hữu hiệu, thêm vào đó hạ tầng cơ sở hiện đại, lao động có trình độ kỹ thuật cao

- Chính sách bảo hộ ngày càng chặt chẽ, tinh vi ở các nước đang phát triển, buộc các nước tư bản phát triển phải xây dựng “căn cứ” nằm lòng trong các nước này để tránh hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước nhập khẩu

Đơn vị: Tỷ USDNăm Tổng vốn FDI Đầu tư vào các nước

phát triển

Đầu tư vào các nước đang phát triểnTổng giá

trị

Tỷ trọng(%)

Giá trị Tỷ trọng

Trang 11

Nguồn: UNCTAD- World Investment Prospects to 2010 (IMF)

1.1.2 Khái niệm về ĐGCG

1.1.2.1 Khái niệm:

Định giá chuyển giao là việc sử dụng các phương pháp để xác định giá cả của các nghiệp vụ chuyển giao trong nội bộ một MNC phù hợp với thông lệ quốc tế và được chấp nhận bởi các quốc gia nơi mà các công ty con của MNC đang hoạt động

Việc định giá chuyển giao là cần thiết cho công tác quản trị của các thành viên trong các MNC, nhưng khi giá chuyển giao nội bộ cao hơn hay thấp hơn giá thị trường thì xảy ra hoạt động chuyển giá, đồng thời đây cũng là phương pháp giúp chính phủ xác định xem các MNC có thực hiện chuyển giá hay không

1.1.2.2 Các phương pháp định giá chuyển giao:

1.1.2.2.1 Phương pháp giá tự do có thể so sánh được (Comparable Uncontrolled Price Method - CUP):

Nội dung: so sánh giá cả phải trả cho các hàng hoá hoặc dịch vụ được chuyển

giao trong một nghiệp vụ chuyển giao có kiểm soát với giá cả phải trả cho các hàng hoá và dịch vụ chuyển giao trong một nghiệp vụ chuyển giao tự do có thể so sánh được

Cơ sở: thực hiện nguyên tắc giá thị trường (tức là dựa trên quan hệ không quen

biết)

Nếu có sự khác biệt không lớn lắm giữa các nghiệp vụ chuyển giao của bên có liên kết với bên không liên kết, có thể làm ảnh hưởng đến giá cả giao dịch như: chất lượng hàng hoá, nhãn hiệu hàng hoá, điều kiện giao hàng, thời hạn chuyển giao, quan

hệ thanh toán, có thể thực hiện phương pháp “CUP được điều chỉnh” Phương pháp CUP có điều chỉnh sẽ không thực hiện được khi có những sự khác biệt trong các nghiệp vụ chuyển giao giữa các bên có liên kết và không liên kết mà việc điều chỉnh rất khó thực hiện, hoặc không thực hiện được Những sự khác biệt đó bao gồm: khác biệt

về chất lượng sản phẩm; khác biệt thị trường về mặt địa lý; khác biệt về cấp độ thị trường; khác biệt về số lượng và loại tài sản vô hình liên quan đến việc bán hàng

1.1.2.2.2 Phương pháp cộng thêm chi phí (Cost plus method - CPM):

Trang 12

Phương pháp giá vốn cộng thêm chi phí dựa vào giá vốn (hoặc giá thành) của sản phẩm do doanh nghiệp mua vào từ bên độc lập để xác định giá bán ra của sản phẩm

đó cho bên liên kết

Giá bán ra của sản phẩm cho bên liên kết được xác định trên cơ sở lấy giá vốn (hoặc giá thành) của sản phẩm cộng (+) lợi nhuận gộp

Lợi nhuận gộp được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra, phản ánh mức lợi nhuận hợp lý tương ứng với chức năng hoạt động của doanh nghiệp và điều kiện thị trường Mức lợi nhuận này phải được tính toán sao cho giá cả chuyển giao trong nghiệp vụ này có thể so sánh căn bản với giá thị trường trong các nghiệp vụ mua bán chuyển giao giữa một công ty là thành viên của MNC và một công ty độc lập hoặc là giao dịch giữa hai công ty hoàn toàn độc lập với nhau

Điều quan trọng là tính phần lợi nhuận tăng thêm bao nhiêu là hợp lý Phần lợi nhuận tăng thêm này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:

- Nếu công ty này chỉ sản xuất và thực hiện mua bán theo hợp đồng cho chỉ mỗi công ty mẹ và không gia công cho bất cứ công ty nào khác thì phần lợi nhuận tăng thêm này sẽ được tính theo một tỷ lệ trên giá vốn sao cho hợp lý

- Nếu công ty sản xuất ra sản phẩm vừa bán cho công ty mẹ và công ty độc lập khác thì phần lợi nhuận tăng thêm sẽ được phân bổ theo tỷ lệ tổng vốn tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm Bên cạnh đó, còn phải so sánh giá cả hàng hóa dịch vụ trong nghiệp vụ mua bán nội bộ và nghiệp vụ mua bán với công ty độc lập

- Thêm vào đó, một số yếu tố như chức năng hoạt động của cơ sở kinh doanh sẽ kéo theo một số các chi phí kèm theo sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ lãi gộp

- Các nghĩa vụ thực hiện hợp đồng như các ràng buộc giao hàng về thời gian, số lượng và chất lượng sản phẩm, lưu kho, lưu bãi…

Phương pháp này thường được áp dụng trong một số trường hợp sau:

- Đối với công ty sản xuất, chế biến, lắp ráp, chế tạo và bán cho các bên liên kết, gia công chế biến và phân phối

Trang 13

- Giao dịch giữa các bên liên kết thực hiện hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh để sản xuất, lắp ráp, chế tạo, chế biến sản phẩm hoặc thực hiện các thỏa thuận về cung cấp các yếu tố đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra.

- Giao dịch cung cấp dịch vụ các bên liên kết

1.1.2.2.3 Phương pháp giá bán lại (Resale Price Method –RPM):

Phương pháp xác định giá bán lại dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra) của sản phẩm do doanh nghiệp bán cho bên độc lập để xác định giá mua vào của sản phẩm đó

từ bên liên kết

Giá mua vào của sản phẩm từ bên liên kết được xác định trên cơ sở giá bán ra của sản phẩm trong các giao dịch độc lập trừ (-) lợi nhuận gộp trừ (-) các chi phí khác được tính trong giá sản phẩm mua vào (nếu có) (ví dụ: thuế nhập khẩu, phí hải quan, chi phí bảo hiểm, vận chuyển quốc tế)

Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) được xác định bằng giá trị chênh lệch giữa giá bán ra (doanh thu thuần) và giá vốn sản phẩm mua vào chia cho

(:) giá bán ra (doanh thu thuần) Trường hợp doanh nghiệp có chức năng là đại lý phân

phối không có quyền sở hữu sản phẩm và được hưởng hoa hồng đại lý theo tỷ lệ phần trăm (%) trên giá bán của sản phẩm thì tỷ lệ đó được coi là tỷ suất lợi nhuận gộp trên

giá bán ra (doanh thu thuần).

Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) như:

- Các chi phí phản ánh chức năng của doanh nghiệp (ví dụ: đại lý phân phối độc quyền, thực hiện các chương trình quảng cáo, khuyến mại, bảo hành )

- Chủng loại, quy mô, khối lượng, thời gian quay vòng của sản phẩm mua vào để bán lại và tính chất hoạt động của giao dịch trên thị trường (ví dụ: bán buôn, bán lẻ, )

- Phương pháp hạch toán kế toán (tức là phải đảm bảo các yếu tố cấu thành lợi nhuận gộp và doanh thu của giao dịch liên kết và giao dịch độc lập là tương đương nhau hoặc cùng được áp dụng chung các chuẩn mực kế toán)

1.1.2.2.4 Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method - PSM):

Trang 14

Phương pháp PSM được sử dụng trong những trường hợp, các MNC có mối liên kết mua bán qua lại quá chặt chẽ, các giao dịch với khối lượng lớn và phức tạp (với những trường hợp này, các phương pháp như CUP, RPM tỏ ra không hiệu quả).

Phương pháp này dựa vào lợi nhuận thu được từ một giao dịch liên kết, tổng hợp của nhiều thành viên trong MNC thực hiện, sau đó thực hiện tính toán lợi nhuận cho từng thành viên tham gia liên kết giống như cách các bên giao dịch độc lập phân chia lợi nhuận trong những điều kiện tương đương

Các giao dịch tổng hợp thường là các giao dịch đặc thù, duy nhất bao gồm nhiều giao dịch liên kết có liên quan chặt chẽ về các đặc tính sản phẩm

Ví dụ: Một công ty X là công ty độc lập ở Việt Nam, có liên kết với công ty Y

là thành viên của tập đoàn sản xuất xe ô tô Công ty Y sẽ chuyển đầu vào cho công ty

X lắp ráp và hoàn thiện sản phẩm Sau khi hoàn thành sản phẩm, sẽ được bán trong nước ( Việt Nam) bởi công ty X và bán lại cho một công ty Z ( là thành viên của MNC tại một quốc gia khác)

Dựa vào mối liên hệ giữa các bên tham gia thì có hai cách tính cho phương pháp chiết tách lợi nhuận như sau:

Cách 1: trước hết ta tính tỷ lệ góp vốn (chi phí), sau đó ta tổng hợp lợi nhuận từ

giao dịch tổng hợp rồi phân chia cho mội bên liên kết theo tỷ lệ góp vốn

Cách 2: phân chia lợi nhuận theo hai bước sau:

Bước 1: Trước hết phân chia lợi nhuận cơ bản cho mỗi bên tham gia giao dịch

liên kết tương ứng với chức năng hoạt đông của mình Sở dĩ gọi là lợi nhuận cơ bản vì

nó chưa tính đến các yếu tố đặc thù và duy nhất (ví dụ: độc quyền sở hữu hoặc sử dụng tài sản vô hình hoặc quyền sở hữu trí tuệ)

Phần lợi nhuận cơ bản này được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất sinh lợi tương ứng với giá trị phù hợp nhất thuộc biên độ giá thị trường chuẩn theo tỷ suất lợi nhuận gộp

Bước 2: Phân chia lợi nhuận phụ trội cho mỗi bên tham gia giao dịch liên kết

tương ứng với tỷ lệ đóng góp liên quan đến tổng lợi nhuận phụ trội (bằng với tổng lợi nhuận thu được trừ đi tổng lợi nhuận cơ bản đã phân chia ở bước 1) Phần lợi nhuận phụ trội này phản ánh lợi nhuận của giao dịch liên kết tổng hợp mà cơ sở kinh doanh thu được ngoài phần lợi nhuận cơ bản nhờ các yếu tố đặc thù, duy nhất

Trang 15

Phần lợi nhuận phụ trội của mỗi bên bằng tổng lợi nhuận phụ trội nhân với tỷ lệ đóng góp các chi phí hoặc tài sản dưới đây của mỗi bên:

- Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm

- Giá trị (sau khi đã trừ đi khấu hao) của tài sản vô hình hoặc quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để sản xuất, kinh doanh sản phẩm

Trong thực tế phương pháp chiết tách lợi nhuận thường được áp dụng cho các trường hợp các bên liên kết cùng tham gia nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới hoặc phát triển sản phẩm là tài sản vô hình độc quyền hoặc các giao dịch trong quy trình sản xuất, kinh doanh chuyển tiếp giữa các bên liên kết từ khâu nguyên vật liệu đến thành phẩm cuối cùng để lưu thông sản phẩm gắn liền với việc sỡ hữu hoặc quyền sỡ hữu trí tuệ duy nhất

1.1.2.2.5 Phương pháp so sánh lợi nhuận (Comparable profit method - CPM):

Phương pháp so sánh lợi nhuận là phương pháp mở rộng của phương pháp giá bán lại và phương pháp giá vốn cộng lãi Phương pháp này dựa vào tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong các giao dịch độc lập được chọn để so sánh làm cơ sở xác định tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có điều kiện giao dịch tương đương nhau Phương pháp này không cho ra kết quả về giá mà tính ra được thu nhập thuần trước thuế là cơ sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp (thu nhập doanh nghiệp) và được áp dụng với một trong các điều kiện sau:

- Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập

và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời

- Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời nhưng các khác biệt này đã được loại trừ bằng cách xác định giá trị bằng tiền của các khác biệt trọng yếu đó để điều chỉnh, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể có thể tăng hoặc giảm giá trị nhằm loại trừ các khác biệt trọng yếu đó

Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời như:

- Các yếu tố về tài sản, vốn và chi phí sử dụng cho việc thực hiện chức năng chính của doanh nghiệp (ví dụ: sản xuất, chế biến trên cơ sở sử dụng máy móc do

Trang 16

doanh nghiệp đầu tư có khả năng thu lợi nhuận cao hơn so với việc sản xuất, chế biến trên cơ sở sử dụng máy móc do cơ sở khác cho thuê để gia công).

- Tính chất ngành nghề hoạt động, nhóm sản phẩm và công đoạn sản xuất hoặc tiêu thụ (ví dụ: thành phẩm được làm từ nguyên vật liệu thô hoặc từ bán thành phẩm)

- Phương pháp hạch toán kế toán và cơ cấu chi phí của sản phẩm (ví dụ: sản phẩm đang trong giai đoạn khấu hao nhanh so với khấu hao thông thường)

1.1.2.2.6 Phương pháp chuyển giao lợi nhuận ròng (Transactional Net Margin Method - TNMM):

Theo phương pháp này thì lợi nhuận thu được từ các bên liên kết sau khi đã trừ

đi các định phí và biến phí liên quan, được xem xét theo tỷ lệ phần trăm của một khoản mục cơ sở nào đó, ví dụ là doanh số bán hàng, tổng giá vốn hàng bán ra hay tổng giá trị tài sản… thích hợp nhất là khi lợi nhuận này được so sánh với lợi nhuận của các hoạt động giao dịch độc lập khác có thể so sánh được của cùng công ty mà chúng ta đang đề cập đến

Trong trường hợp nếu không tồn tại các giao dịch độc lập có thể so sánh đối với công ty con của MNC thì ta có thể lấy lợi nhuận thu được trong các chuyển giao có thể

so sánh được của hai công ty không liên kết khác làm cơ sở Trong một số trường hợp cần phải áp dụng các điều chỉnh mang tính định lượng cho các khác biệt về mặt vật chất giữa các chuyển giao liên kết và các chuyển giao độc lập Do phương pháp này tập trung vào phân tích lợi nhuận phát sinh từng nghiệp vụ chuyển giao một cách riêng lẻ, nên phương pháp này sẽ bị gặp khó khăn khi các nghiệp vụ phát sinh có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau Các chuyển giao mang tính chất đa dạng và phức tạp sẽ khó tìm được các giao dịch tương ứng để có thể so sánh được

1.1.3 Khái niệm về nguyên tắc căn bản giá thị trường (Arm’s Length Principle – ALP)

Để hạn chế hành vi chuyển giá, các quốc gia cần áp dụng nguyên tắc dựa trên nguyên lý giá thị trường ALP (The Arm’s –Length Principle) trong việc định giá các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ nhằm đảm bảo tính công bằng trong thương mại Nguyên tắc ALP chính là cơ sở cho các nghiệp vụ mua bán, trao đổi hàng hóa và cung cấp dịch

vụ giữa các quốc gia Nguyên tắc này đòi hỏi các nghiệp vụ mua bán nội bộ trong các

Trang 17

MNC phải được thực hiện như các nghiệp vụ mua bán diễn ra giữa các bên độc lập với nhau nhằm thể hiện được tính khách quan của quan hệ thị trường.

Giá thị trường được xác định dựa vào:

- So sánh giá giao dịch độc lập

- Giá bán lại

- So sánh lợi nhuận

- Tách lợi nhuận

1.1.4 Khái niệm về chuyển giá

Trong công tác quản trị tại các MNC thì việc mua bán nội bộ là rất cần thiết

và giúp cho các MNC giảm các rủi ro về thị trường, rủi ro về công nợ Đi đôi với các nghiệp vụ mua bán nội bộ này là việc định giá chuyển giao nội bộ và nó được xem là một phương pháp quản trị ứng dụng được các nhà quản trị áp dụng một cách bài bản và điêu luyện nhằm mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý Các phương pháp định giá chuyển giao nội bộ đã được các quốc gia thừa nhận và tuân theo, tuy nhiên trong thực tế việc định giá chuyển giao này không được áp dụng theo căn bản giá thị trường mà nó có thể được tính toán theo một mục đích nào đó của MNC Việc định giá chuyển giao nội bộ diễn ra theo một sự áp đặt giá mang tính chất chủ quan của hai bên tham gia vào giao dịch Vì vậy mà các trường hợp này được gọi là hành vi chuyển giá Vì vậy chuyển giá có khái niệm như sau:

“Chuyển giá là hoạt động mang tính chủ quan, áp đặt giá cả mua bán lên các giao dịch nội bộ không căn cứ trên giá cả thị trường, quy luật cung cầu giữa công ty

mẹ và công ty con hay giữa các công ty con với nhau trong cùng một MNC nhằm mục đích cuối cùng là tối thiểu số thuế phải nộp.”

Thông qua hoạt động chuyển giá, các MNC sẽ thực hiện ý đồ trốn tránh việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (Income Corporate Tax) tại các quốc gia có thuế suất cao Thông qua các nghiệp vụ chuyển giá, các MNC sẽ chuyển thu nhập ra khỏi quốc gia có mức thuế thu nhập doanh nghiệp cao mà MNC này có trụ sở Trong nhiều trường hợp các MNC còn chủ động “móc túi” các chính phủ thông qua việc chiếm đoạt gián tiếp các khoản thuế mà những người đóng thuế lương thiện đã đóng góp Chuyển giá là một trong những vấn đề phức tạp và khó tiếp cận trong thời đại kinh tế

Trang 18

quốc tế hội nhập, khi mà các MNC này có nhiều chi nhánh, công ty con trên nhiều quốc gia khác nhau mà các công ty này mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho nhau Các hoạt động này có thể chứa đựng trong đó là các hoạt động “chuyển giá”, giá

cả của hàng hóa dịch vụ trong các nghiệp vụ chuyển giao này được tính theo một xu hướng chủ quan mà không hề dựa trên chi phí thực tế tạo nên sản phẩm hay dịch vụ được cung cấp Thông qua hoạt động chuyển giá sẽ mang về cho các MNC một khoảng lợi nhuận lớn trong khi các MNC này không cần phải nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ hay mở rộng phát triển thị trường mà chỉ cần những hoạt động phù phép trên sổ sách kế toán

Tuy nhiên, một nguyên nhân quan trọng khác dẫn đến hoạt động chuyển giá xảy ra đó là tính đặc thù của sản phẩm, có những sản phẩm không tìm thấy hay rất khó tìm thấy các sản phẩm tương tự thay thế Chúng ta thường tìm thấy đặc tính này đối với các tài sản cố định vô hình như lợi thế thương mại, bản quyền sáng chế, phát minh, bí quyết công nghệ… Chính do tính đặc thù cao này đã gây ra những khó khăn khi áp dụng nguyên tắc ALP vào trong việc định và so sánh giá thị trường

Mục đích cuối cùng của hoạt động chuyển giá là tối đa hóa lợi nhuận của MNC bằng cách tối thiểu hóa thuế thu nhập doanh nghiệp mà MNC phải nộp cho các chính phủ Chính vì mục đích là tối thiểu hóa số thuế phải nộp nên MNC sẽ tiến hành điều phối thu nhập của các công ty con tại các quốc gia có thuế suất cao sang các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập thấp Việc chuyển lợi nhuận này có thể được thực hiện trên phần thu nhập trước thuế hay sau thuế dựa trên cấu trúc bảng báo cáo thu nhập sau:

Trang 19

Hình 1: Sơ đồ báo cáo thu nhập của các MNC

Nguồn: Thạc sĩ: Huỳnh Thiên Phú “ Chuyển giá của các công ty đa quốc gia

trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế “ , năm 2009

Dựa vào sơ đồ báo cáo thu nhập trên, các MNC trên thực tế đã áp dụng các hình thức sau:

Chuyển giá thông qua việc mua bán nguyên vật liệu sản xuất, bán thành phẩm hay thành phẩm

Ngoài ra, thông qua việc xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa các MNC cũng thu lợi từ các biểu thuế xuất khẩu hay nhập khẩu nhằm tối đa hóa lợi nhuận sau thuế của MNC

Chuyển giá thông qua các tài sản cố định hữu hình như định giá thật cao các tài sản cố định chuyển giao cho các công ty thành viên tại các quốc gia có thuế suất cao

Chuyển giá thông qua việc mua các tài sản cố định vô hình với giá thật cao hay chi trả các chi phí bản quyền, các chi phí để xây dựng thương hiệu sản phẩm, các chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm

Các thành viên trong MNC có sự cung ứng các dịch vụ tài chính, tư vấn pháp lý

Trang 20

Hình 2: Mô hình trung tâm xuất hóa đơn

Nguồn: Thạc sĩ: Huỳnh Thiên Phú “ Chuyển giá của các công ty đa quốc gia

với giá cả cao hơn nhiều lần so với giá cả thị trường Cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với lãi suất cao hơn mức thị trường

Có sự tài trợ liên quan đến các nguồn lực cơ bản như nhân sự, vật chất Các chi phí cho các chuyên gia tham gia tư vấn như các chi phí về tiền lương, chi phí nhà

ở, đi lại, các chi phí khác phục vụ cho các chuyên gia yên tâm làm việc

Xây dựng các trung tâm xuất hóa đơn đóng vai trò người trung gian giữa công ty mẹ và các công ty con Hàng hóa trên chứng từ hóa đơn thì được bán từ công ty nơi sản xuất hàng hóa qua trung tâm xuất hóa đơn và sau đó thì trung tâm xuất hóa đơn này lại bán lại cho công ty phân phối bằng cách xuất hóa đơn và chứng

từ kèm theo Nhưng trên thực tế, hàng hóa được chuyển giao trực tiếp từ công ty sản xuất qua thẳng công ty phân phối mà không qua trung tâm xuất hóa đơn Hình thức này thường xảy ra trong ngành dược phẩm

Trang 21

Bước 1: Công ty sản xuất tại Mỹ sẽ chuyển hàng trực tiếp sang công ty phân phối tại Mexico.

Bước 2: Hóa đơn được xuất từ công ty phân phối tại Mỹ sang trung tâm xuất hóa đơn bằng tiền đô la Mỹ

Bước 3: Trung tâm xuất hóa đơn nắm lấy quyền sở hữu hợp pháp của hàng hóa

từ công ty sản xuất tại Mỹ

Bước 4: Trung tâm xuất hóa đơn sẽ xuất hóa đơn lại cho công ty phân phối tại Mexico bằng đồng Pesos Thông qua việc này sẽ định vị lại loại ngoại tệ của cả đơn vị sản xuất và trung tâm xuất hóa đơn

Thông thường, các trung tâm xuất hóa đơn này để tránh bị cáo buộc là chuyển lợi nhuận thì giá bán lại họ sẽ lấy giá vốn cộng thêm một tỷ lệ hoa hồng rất nhỏ Tỷ lệ hoa hồng mà trung tâm được hưởng chỉ đủ để trang trải chi phí hoạt động của trung tâm

1.1.5 Lý thuyết kinh tế về định giá chuyển giao tối ưu (Economic theory behind optimal transfer pricing)

Theo lý thuyết kinh tế về định giá chuyển giao tối ưu thì việc định giá chuyển giao tối ưu sẽ tối đa hóa lợi nhuận tổng thể của công ty ttrong một thế giới không thực

tế (không có thuế, không có rủi ro đầu tư, không có rủi ro phát triển, không có yếu tố bên ngoài tồn tại trong thế giới thực) Trong thực tế, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá chuyển nhượng của các tập đoàn đa quốc gia, bao gốm cả đo lường hiệu suất, khả năng của hệ thống kế toán, hạn ngạch nhập khẩu, thuế hải quan, thuế giá trị gia tnag8, thuế lợi nhuận Từ lý thuyết định giá biên, sản lượng tối ưu là sản lượng tại đó chi phí biên bằng doanh thu biên Điều này có nghĩa là, một doanh nghiệp nên tăng sản lượng khi doanh thu biên lớn hơn chi phí biên

Trang 22

Biểu đồ 1: Định giá chuyển giao khi không có thị trường bên ngoài

Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Transfer_pricing

Biểu đồ 2: Định giá chuyển giao khi có một thị trường bên ngoài

Khi một doanh nghiệp chỉ bán sản phẩm cho chính nó (không có thị trường bên ngoài cho các sản phẩm đó), khi đó đồ thị sẽ trở nên phức tạp hơn, nhưng kết quả thì vẫn như cũ Đường cầu vẫn giữ nguyên, sản lượng tối ưu và giá tối ưu vẫn giữ nguyên Tuy nhiên, chi phí biên có thể bị chia ra từ tổng chi phí biên của doanh nghiệp Tương tự, doanh thu biên của từng đơn vị cũng có thể bị chia ra từ tổng doanh thu biên của doanh nghiệp

Nếu đơn vị sản xuất có thể bán sản phẩm chuyển giao trên thị trường canh tranh, để tối đa hóa lợi nhuận thì doanh thu biên phải bằng chi phí biên Bởi vì thị trường bên ngoài có tính cạnh tranh, cho nên doanh nghiệp phải chấp nhận giá được điều tiết bởi thị trường Nếu giá thị trường tương đối cao (Ptr1 ), doanh nghiệp sẽ có được giá trị thặng dư bên trong được đo bằng Qt1 – Qf1 Đường chi phí biên được xác định bởi ba điểm: A, C, D

22

Trang 23

Biểu đồ 3: Định giá chuyển giao với thị trường không hoàn hảo bên ngoài

Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Transfer_pricing

Nếu doanh nghiệp có thể bán sản phẩm của nó trên thị trường không hoàn hảo, nó không cần phải là người chấp nhận giá Trong trường hợp này có hai thị trường với hai mức giá khác nhau ( Pf và Pt) Thị trường tổng hợp được hình thành từ hai thị trường khác nhau Điểm C là điểm tổng kết ngang của hai điểm A và B

1.2 Các hình thức chuyển giá thông qua các hình thức ĐTNN

1.2.1 Hình thức chuyển giá trong giai đoạn đầu của quá trình đầu tư quốc tế

Trang 24

a Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao trị giá tài sản góp vốn.

Khi đầu tư dưới dạng liên doanh, việc nâng cao giá trị tài sản đóng góp sẽ làm cho phần vốn góp của “bên cố ý nâng giá trị góp vốn” tăng lên, nhờ đó sự chi phối các quyết định liên quan đến hoạt động của dự án liên doanh sẽ gia tăng và mức lời được chia cũng tăng (vì mức lời được chia cho các bên theo tỷ lệ góp vốn pháp định) Ngoài

ra, khi dự án kết thúc hoạt động thì tỷ lệ trị giá tài sản được chia cao hơn

Đối với các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài thì việc nâng giá trị tài sản góp vốn sẽ giúp họ tăng mức khấu hao trích hàng năm (nghĩa là lợi nhuận giảm), tác động làm tăng chi phí đầu vào Việc tăng mức khấu hao tài sản cố định sẽ giúp chủ đầu tư:

- Mau hoàn vốn đầu tư cố định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro đầu tư

- Giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng góp cho nước tiếp nhận đầu tư

b Chuyển giá bằng cách nâng khống giá trị công nghệ, thương hiệu (tài sản vô hình)

Việc định giá chính xác được tài sản vô hình của các nhà đầu tư là hết sức khó khăn Lợi dụng việc này, các công ty đa quốc gia chủ ý thổi phồng phần góp vốn bằng thương hiệu, công thức pha chế…nhằm tăng phần vốn góp của mình lên

Một số trường hợp phía góp vốn bằng tài sản vô hình có xuất trình giấy chứng nhận của công ty kiểm toán nhưng độ tin cậy, trung thực của các giấy chứng nhận này rất khó kiểm định

1.2.2 Hình thức chuyển giá trong giai đoạn triển khai dự án:

a Nhập khẩu nguyên phụ liệu từ công ty mẹ ở nước ngoài hoặc từ công ty đối tác trong liên doanh với giá cao.

Đây là hình thức chuyển một phần lợi nhuận ra nước ngoài thông qua việc thanh toán tiền hàng nhập khẩu Ngoài ra, việc mua hàng nhập khẩu với giá cao làm chi phí sản xuất tăng, dẫn tới lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp giảm

b Quảng cáo ở nước ngoài với chi phí cao

Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm các phim quảng cáo do các công ty nước ngoài thực hiện Trong nhiều trường hợp, các công ty quảng cáo này cũng là các công ty con trong cùng một tập đoàn Việc trả chi phí quảng cáo cao cũng

Trang 25

là một hình thức chuyển lợi nhuận cho tập đoàn ở nước ngoài Chi phí quảng cáo cao cũng làm tăng chi phí kinh doanh, giảm lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty có vốn FDI, làm thất thu thuế của các nước tiếp nhận vốn đầu tư.

c Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và quản lý.

Các công ty mẹ thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê chuyên gia Một

số đối tác liên doanh còn bị ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng hiệu quả mang lại thì thấp Chi phí này phía liên doanh nước chủ nhà gánh chịu

Một số công ty thuê người quản lý doanh nghiệp FDI với lương cao, ngoài ra còn phải trả một khoản tiền lớn cho công ty nước ngoài cung cấp nhà quản lý Ở một

số trường hợp cũng có hiện tượng thực hiện chuyển giá ở khâu này (khi công ty cung cấp nguồn nhân lực cũng là công ty con của cùng một tập đoàn)

Một số trường hợp còn thực hiện chuyển giá thông qua hình thức đào tạo ở nước ngoài: cử chuyên viên, công nhân sang học tập, thực tập tại công ty mẹ (tu nghiệp sinh) với chi phí cao Việc chuyển tiền về công ty mẹ với mức cao để tổ chức huấn luyện đào tạo cũng là một dạng chuyển giá

Một hình thức nữa cũng được coi là chuyển giá của các công ty có vốn FDI là trả lương, chi phí cho chuyên gia tư vấn được gởi đến từ công ty mẹ Loại hình tư vấn rất khó xác định số lượng và chất lượng để xác định chi phí cao hay thấp Lợi dụng điều này, nhiều công ty có vốn FDI thực hiện hành vi chuyển giá mà thực chất là chuyển lợi nhuận về nước dưới danh nghĩa là “phí” dịch vụ tư vấn

d Thực hiện chuyển giá thông qua việc điều tiết giá mua bán hàng hóa

Khi thuế nhập khẩu cao thì công ty mẹ ở nước ngoài bán nguyên liệu, hàng hóa với giá thấp nhằm tránh nộp thuế nhập khẩu nhiều Trong trường hợp này, công ty mẹ

sẽ tăng cường hoạt động tư vấn, huấn luyện, giúp hỗ trợ tiếp thị với giá cao để bù đắp lại hoặc mua lại sản phẩm với giá thấp

Đối với các hàng hóa nhập khẩu mà thuế suất thấp thì công ty ký hợp đồng nhập khẩu với giá cao nhằm nâng chi phí, từ đó tránh thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 26

e Chuyển giá thông qua hình thức tài trợ bằng nghiệp vụ vay từ công ty mẹ

Bằng hình thức này, các công ty con tạo ra cơ cấu vốn và nguồn vốn bất hợp lý như dùng nguồn vốn vay từ công ty mẹ để tài trợ cho tài sản cố định và tài sản đầu tư dài hạn (không tăng vốn góp và vốn chủ sở hữu) nhằm đẩy chi phí hoạt động tài chính lên cao như: chi phí chệnh lệch tỷ giá, chi phí lãi vay…và chuyển một phần lợi nhuận

về nước dưới dạng lãi vay và chi phí bảo lãnh vay vốn để tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, tránh lỗ do chênh lệch tỷ giá về sau

f Chuyển giá thông qua hoạt động tài trợ

Đây là hình thức chuyển giá thường xuất hiện ở các dự án ODA Lợi dụng sự ưu tiên cung cấp thiết bị, máy móc, dịch vụ tư vấn cho nước cho nước tài trợ vốn, nhiều nhà cung cấp ở nước tài trợ nâng giá thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ lên cao đẩy giá đầu tư lên cao, có lợi cho nước tài trợ

1.2.3 Các hình thức định giá chuyển giao khác:

Ngoài những hình thức chuyển giá kể trên, còn có rất nhiều những hình thức khác cũng tinh vi không kém Có thể kể ra ở đây như sau:

Chuyển giá thông qua các trung tâm tái tạo hóa đơn: Trung tâm tái tạo hóa

đơn đóng vai trò người trung gian giữa công ty mẹ và các công ty con Hàng hóa trên chứng từ hóa đơn thì được bán từ công ty nơi sản xuất hàng hóa qua trung tâm tái tạo hóa đơn và sau đó thì trung tâm này bán lại cho công ty phân phối bằng cách xuất hóa đơn và chứng từ kèm theo Việc này sẽ định vị lại loại ngoại tệ của cả đơn vị sản xuất

và trung tâm tái tạo hóa đơn Nhưng trên thực tế, hàng hóa được chuyển giao trực tiếp

từ công ty sản xuất qua thẳng công ty phân phối mà không qua trung tâm tái tạo hóa đơn Hình thức này thường xảy ra trong ngành dược phẩm

Một chiêu thức chuyển giá khác như sau: Các công ty liên kết với nhau rồi

chỉ định công ty này sẽ mua sản phẩm với giá cao và bán lại cho công ty chính với giá

rẻ (công ty chính là công ty cần được đánh bóng tên tuổi để đưa lên sàn) nhằm làm cho công ty chính có lời Theo như quy định, một công ty mà báo cáo tài chính 3 năm có lời là được lên sàn Khi lên sàn, người dân thấy có lời thì nhảy vào mua cổ phiếu của công ty đó với giá cao, nhưng thực chất kết quả kinh doanh không phải vậy Sau khi

Trang 27

hốt tiền xong doanh nghiệp mới lộ bài lụn bại, người mua cổ phiếu phải ôm mới giấy lộn.

1.3 Các công ty đa quốc gia và các hình thức định giá chuyển giao trong chiến lược kinh doanh Quốc tế

1.3.1 Các công ty đa quốc gia, vai trò và hậu quả đối với kinh tế thế giới.

1.3.1.1 Khái niệm công ty đa quốc gia:

Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational corporation) hoặc MNE (Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa Một số người cho rằng một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó là xí nghiệp liên hợp toàn cầu

Công ty đa quốc gia là Công ty hoạt động và có trụ sở ở nhiều nước khác nhau (khác với Công ty quốc tế: chỉ là tên gọi chung chung của 1 công ty nước ngoài tại 1 quốc gia nào đó.)

1.3.1.2 Tác động của công ty đa quốc gia đối với kinh tế thế giới:

A Tác động tích cực: Các MNC đã có những tác động to lớn đối với sự phát triển

của kinh tế thế giới nói chung cũng như các nền kinh tế của các quốc gia nói riêng Những tác động đó được thể hiện qua hoạt động thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ

Vai trò trong thương mại thế giới:

a Thúc đẩy hoạt động thương mại thế giới phát triển

Một trong những vai trò nổi bật của các MNC là thúc đẩy hoạt động thương mại thế giới Trong qúa trình hoạt động của mình các MNC đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia và gia công quốc tế Hay nói cách khác là MNC thúc đẩy thương mại phát triển với ba dòng lưu thông hàng hoá cơ bản là: hàng hoá xuất nhập khẩu từ công ty mẹ, hàng hoá bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hoá trao

Trang 28

đổi giữa các công ty trong cùng một tập đoàn MNC chi phối hầu hết chu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi các kênh lưu thông xuyên quốc gia của mình.

Trong những năm gần đây MNC chiếm khoảng 40% giá trị nhập khẩu và 60% xuất khẩu của toàn thế giới Với các hoạt động hướng về xuất khẩu, MNC hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị xuất khẩu của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển ở Châu Á Chẳng hạn xuất khẩu của các chi nhánh MNC đã chiếm tới 50% tổng giá trị hàng hoá chế tạo tại một số quốc gia như Philippin, Srilanka, Malaysia

b Làm thay đổi cơ cấu thương mại quốc tế

Ngày nay, kinh tế thế giới càng phát triển thì vai trò của các MNC cũng ngày càng cao Với tỷ trọng lớn trong thương mại thế giới thì các MNC chính là chủ thể chính làm thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu đối tác trong thương mại thế giới

Thay đổi trong cơ cấu hàng hoá

Chiến lược phát triển của MNC gắn liền với các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu Qua đó ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu

Trong những năm gần đây, tỷ suất lợi nhuận trong ngành dịch vụ tăng cao còn trong ngành nông nghiệp và công nghiệp giảm dần Do đó, các công ty nói chung và các MNC nói riêng cũng chuyển mạnh sang đầu tư vào các ngành dịch vụ và thúc đẩy giá trị xuất khẩu của hàng hoá dịch vụ tăng cao Bên cạnh đó, hiện nay giao dịch trên thế giới đang thay đổi theo chiều hướng tăng tỉ trọng hàng hoá có hàm lượng vốn hoặc

kỹ thuật cao và giảm dần tỉ trọng hàng sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu Những sản phẩm quan trọng nhất trong thương mại thế giới hiện nay chủ yếu thuộc ngành sản xuất không dựa vào nguyên liệu trong đó các sản phẩm bán dẫn là một trong những sản phẩm mũi nhọn

Nguyên nhân của xu hướng này xuất phát từ chiến lược tập trung phát triển các ngành có trình độ công nghệ cao của MNC nhằm duy trì khả năng cạnh tranh cao và thu lợi nhuận tối đa Điều này được thể hiện qua tỉ trọng hàng xuất khẩu của hàng hoá

có hàm lượng công nghệ cao trong nội bộ MNC chiếm tới 43,1% tổng gía trị hàng hoá xuất khẩu Như vậy, sự thay đổi trong chiến lược toàn cầu của MNC tác động trực tiếp tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước hướng

về xuất khẩu Ví dụ tại Mêhico, trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu thì phần lớn những sản phẩm thuộc ngành ô tô, điện tử do các chi nhánh của MNC sản xuất

Trang 29

Thay đổi trong cơ cấu đối tác

Cùng với sự thay đổi trong cơ cấu hàng hoá thì cơ cấu đối tác trong thương mại thế giới hiện nay cũng đang dần thay đổi Tỷ trọng của hàng hoá xuất khẩu của các nước đang phát triển ngày càng cao, đặc biệt là các nước mới công nghiệp Sự thay đổi chiến lược của các MNC và hệ thống sản xuất quốc tế của chúng mở ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tham gia vào các hoạt động hướng về xuất khẩu Xét một cách riêng rẽ thì bên cạnh các nền kinh tế phát triển (Mỹ, Nhật Bản, Đức) thì chính những nền kinh tế đang phát triển (Trung Quốc, Singapore,

Ấn Độ, Đài Loan…) lại chiếm thị phần xuất khẩu lớn trong thương mại thế giới

Đối với đầu tư quốc tế

a MNC thúc đẩy lưu thông dòng vốn đầu tư trên toàn thế giới

Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua kênh MNC Các MNC hiện chi phối trên 90% Tổng FDI trên toàn thế giới Chỉ tính riêng MNC của tam giác kinh tế (Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu) đã chiếm 1/3 lượng FDI toàn cầu Giá trị của lượng vốn FDI thực sự là thước đo vai trò to lớn của các MNC trong nền kinh tế thế giới vì FDI là công cụ quan trọng nhất của các MNC trong việc thực hiện chiến lược toàn cầu của mình

Với tư cách là chủ thể của hoạt động đầu tư trên thế giới MNC là nhân tố đặc biệt quan trọng có ảnh hưởng mang tính quyết định tới toàn bộ hoạt động đầu tư quốc

tế

Hơn nữa, các MNC làm thay đổi xu hướng đầu tư giữa các quốc gia Khác với hai cuộc bùng nổ trước (lần 1: 1979-1981 đầu tư vào các nước sản xuất dầu mỏ, lần 2: 1987-1990: đầu tư giữa các nước công nghiệp phát triển) cuộc bùng nổ đầu tư lần 3 (1995-1996) có sự tham gia đáng kể của các nước đang phát triển Trong cơ cấu vốn FDI trên thế giới tỷ trọng vốn FDI vào các nước phát triển chiểm phần lớn Tuy nhiên

tỷ trọng này có xu hướng giảm dần trong khi các nước đang phát triển lại có tỷ trọng ngày càng cao

Cơ cấu dòng vốn FDI đã thay đổi do có sự điều chỉnh trong chiến lược kinh doanh của các MNC Cũng chính nhờ mở rộng chính sách tự do hoá FDI, các MNC ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với thúc đẩy dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển

Trang 30

Nếu trước đây, hầu hết nguồn vốn FDI được thực hiện bởi các MNC của các nước phát triển thì ngày nay số lượng các MNC của các nước đang phát triển cũng tăng lên và có ngày càng nhiều vốn FDI đến từ các nước đang phát triển Ngày càng có nhiều công ty của các nước đang phát triển mở rộng hoạt động đầu tư của mình ở các thị trường nước ngoài Tuy nhiên, nguồn vốn này chỉ tập trung vào một số quốc gia nhất định Trong các nước đang phát triển thì Trung Quốc là nước đầu tư ra nước ngoài nhiều nhất (chiếm tới 1/3 tổng lượng vốn nói trên) sau đó là Singapore, Hàn Quốc, Malaysia Các MNC lớn của các nước này là Hutchison Whampa (67 tỉ USD), Petronas(22tỉ USD), Singtel (18tỉ), Samsung (14tỉ USD).

b MNC làm tăng tích luỹ vốn của nước chủ nhà

Với thế mạnh về vốn MNC đóng vai trò là động lực thúc đẩy tích luỹ vốn của nước chủ nhà Thông qua kênh MNC, nước chủ nhà có thể tăng cường thu hút vốn FDI đầu tư vào nước mình Vai trò này của MNC được thể hiện qua một số khía cạnh sau:

Thứ nhất: Bản thân các MNC khi đến hoạt động ở các quốc gia đều mang đến

cho nước này một số lượng vốn nào đó Hơn nữa, trong quá trình hoạt động các MNC cũng đóng cho ngân sách của nước chủ nhà qua các khoản như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, chi phí về viễn thông, điện nước… Mặt khác, nhờ có các MNC mà một bộ phận đáng kể người dân có thêm thu nhập do làm việc trực tiếp trong các công ty chi nhánh nước ngoài hoặc gián tiếp thông qua việc cung cấp các dịch vụ cho các MNC và hoặc những người lao động khác Tại các nước có thị trường chứng khoán phát triển thì các MNC làm ăn hiệu quả chính là kênh để thu hút tiền nhãn rỗi của người dân và của các nhà đầu tư trong việc mua cổ phiếu của các công ty này

Thứ hai: Ngoài việc vốn ban đầu để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh

doanh các MNC còn thực hiện các biện pháp huy động thêm vốn từ Công ty mẹ, từ các chi nhánh thành viên của tập đoàn, từ các đối tác, các tổ chức tài chính và tín dụng thế giới… Đây chính là hình thức thu hút đầu tư của các nước đang phát triển hiện nay

Thứ ba: MNC góp phần cải thiện cán cân thanh toán của các nước thông qua

việc tích luỹ ngoại hối nhờ các hoạt động xuất khẩu Như đã phân tích ở trên Hoạt động xuất khẩu của MNC chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước Điều đó không chỉ thể hiện ở vai trò thúc đẩy thương mại thế giới của

Trang 31

các MNC mà còn đem lại một nguồn ngoại tệ quan trọng, góp phần tạo thế cân bằng cho cán cân thanh toán của nước chủ nhà.

Tóm lại, MNC đóng vai trò rât to lớn trong hoạt động đầu tư quốc tế Xét trên góc độ nền kinh tế toàn cầu thì MNC thúc đẩy lưu thông dòng vốn FDI trên phạm vi toàn thế giới Mặt khác, ở góc độ từng quốc gia riêng thì MNC góp phần làm tăng tích luỹ vốn cho nước chủ nhà

Đối với hoạt động phát triển và chuyển giao công nghệ:

MNC là chủ thể chính trong phát triển công nghệ thế giới

Trong chiến lược cạnh tranh, các công ty xuyên quốc gia luôn coi công nghệ là yếu tố quan trọng, giữ vị trí hàng đầu Do đo, thúc đẩy đổi mới công nghệ bằng hoạt động Nghiên cứu và phát triển (R&D) là nhiệm vụ sống còn của các công ty Đi đầu trong đổi mới công nghệ đồng nghĩa với nâng cao năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và giữ vị trí độc quyền

Ngày nay, nhận thức của các MNC về khoa học công nghệ đã chuyển biến Nếu như trước đây, các MNC thường đầu tư lớn cho các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu để các cơ sở này tạo ra các phát minh sáng chế này; thì ngày nay các MNC đang diễn ra quá trình quốc tế hoá hoạt động R&D một cách mạnh mẽ Công nghệ mới ra đời không chỉ từ các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu, các trường đại học mà còn từ chính các cơ sở sản xuất của MNC Thí dụ Motorola đã thiết lập hệ thống R&D của mình bao gồm 14 cơ quan tại 7 quốc gia, tập đoàn Bristol Myer Squibb có 12 cơ sở hoạt động R&D tại 6 quốc gia

Các MNC không chỉ đầu tư cho hoạt động R&D bằng chính sức lực của mình

mà chúng còn nhận được sự hỗ trợ về nhiều mặt từ chính phủ của các nước tư bản Ví

dụ chính phủ Nhật Bản giúp 6 công ty lớn là Fujisu, Hitachi, Mitshubishi, Kinzonku, Nihondenki và Toshiba cùng nghiên cứu kỹ thuật siêu mạch Trong khuôn khổ chiến lược phát triển công nghệ, MNC cũng thiết lập các mối liên kết với các trung tâm nghiên cứu và viện nghiên cứu

Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm:

Các MNC tác động đối với phát triển nguồn lực và tạo việc làm qua hai cách trực tiếp và gián tiếp Các trực tiếp là thông qua các dự án MNC góp phần tạo ra một

Trang 32

khối lượng công việc khổng lồ Cách gián tiếp là MNC đã tạo ra nhiều cơ hội cho việc phát triển nguồn lực.

Là những công ty có quy mô lớn nên nhu cầu về lao động của các MNC cũng rất lớn Thông qua việc thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài MNC đã trực tiếp tạo ra một khối lượng đáng kể việc làm cho các nước tiếp nhận đầu tư Một cách gián tiếp MNC cũng tạo ra một khối lượng lớn việc làm thông qua việc liên doanh với các đơn

vị khác để cùng phát triển Thông qua việc liên kết với các nhà cung cấp, các nhà phân phối từ đó mở rộng phạm vi hoạt động của những đơn vị này và chính những đơn vị này lại tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động

Tại nhiều nước các chi nhánh nước ngoài đóng vai trò sống còn trong việc tạo ra việc làm cho người lao động Tại Singapore, số người làm cho các chi nhánh nước ngoài chiếm trên 50% tổng số lao động trong các ngành sản xuất, tại Ấn Độ, chỉ riêng

số người làm trong ngành công nghệ phần mềm đã giải quyết 5 triệu việc làm cho nước này

- Cạnh tranh gay gắt khiến các công ty chạy đua tiết kiệm chi phí, cùng với việc

sử dụng các công nghệ tiên tiến, tiết kiệm lao động sẽ làm gia tăng thất nghiệp Đồng thời việc các công ty đa quốc gia tạo ra sức ép cạnh tranh cũng thúc đẩy các công ty nội địa cải tiến thay đổi công nghệ, tận dụng nhân công ít hơn nhưng hiệu quả cao hơn

Về lâu dài, vấn đề này sẽ gián tiếp làm tăng tỷ lệ thất nghiệp khi dân số ngày càng tăng lên theo thời gian

Trang 33

- Sự phát triển rộng rãi của các công ty đa quốc gia làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng trong thu nhập và làm tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo trong xã hội, bằng cách tạo ra công ăn việc làm và sản xuất hàng hoá chủ yếu đem lại lợi ích cho phần dân số giàu có nhất của xã hội.

- Các tập đoàn đa quốc gia thường hạn chế việc chuyển giao các bằng sáng chế, bí mật công nghệ, và kiến thức kỹ thuật khác cho công ty con ở nước ngoài (Coca Cola ở

Ấn Độ) Nếu có thực hiện chuyển giao thì họ cũng tính phi rất cao, làm tăng giá chi phí đầu vào cho các công ty con

- Các công ty đa quốc gia khi đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển thường yêu cầu các nhượng bộ về thuế cũng như trợ cấp từ chính phủ của nước tiếp nhận đầu tư

- Sự thống trị thị trường của các tập đoàn đa quốc gia gây khó khăn cho việc phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước tiếp nhận đầu tư Ví dụ: Tập đoàn Coca Cola vào Việt Nam và chiếm thị phần lớn trong việc kinh doanh nước giải khát

có ga những năm đầu tập kỷ 90 đã đẩy các công ty nội địa như Chương Dương dạt về vùng nông thôn với thị trường nhỏ bé và ít tiềm năng

- Trong việc theo đuổi lợi nhuận, các công ty đa quốc gia đóng góp rất lớn vào việc gây ô nhiễm, họ sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo được và thải chúng ra môi trường, gây đe dọa cho môi trường sinh sống của nước sở tại Với những nước tiếp nhận đầu tư là nước đang phát triển, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện và chưa có sự quan tâm cần thiết với vấn đề này thì tình hình còn nghiêm trọng hơn nữa

- Các công ty đa quốc gia đã bị chỉ trích vì sử dụng công nhân lao động nô

lệ được trả thù lao rẻ mạt theo tiêu chuẩn phương Tây

1.3.2 Ảnh hưởng của ĐGCG không theo nguyên tắc giá thị trường

1.3.2.1 Đối với công ty đa quốc gia:

Ảnh hưởng tích cực:

- Kích thích các tập đoàn mở ra nhiều công ty ở nước ngoài để chiếm lĩnh thị trường, tận dụng lợi thế của các quốc gia khác, phân toán rủi ro và thực hiện chuyển giá để tối đa hóa các khoản lợi nhuận thu được

- Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản vô hình và hữu hình của tập đoàn, bằng cách định giá cao khi chuyển các nguồn vốn này ra nước ngoài để đầu tư

Trang 34

- Thực hiện “chuyển giá”, các công ty đa quốc gia sẽ bảo toàn được nguồn vốn đầu tư, nhanh chóng có được dòng ngân lưu cho các cơ hội đầu tư khác.

- Kích thích các tập đoàn đa quốc gia đa dạng hóa ngành nghề phục vụ cho hoạt động “chuyển giá”: tư vấn, huấn luyện đào tạo, cung cấp bao bì, công ty in ấn, công ty may mặc (cung cấp trang phục cho các công ty thành viên), công ty quản lý…

- Thông qua việc công ty mẹ hỗ trợ chi phí, các công ty con sản xuất ra những sản phẩm với giá rẻ hơn giá thị trường, nhanh chóng mở rộng thị phần Nhờ vậy, các công

ty đa quốc gia nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ở các nước đang đầu tư

- Vai trò lớn nhất của hoạt động chuyển giá nhằm tối thiểu hóa các khoản thuế các tập đoàn phải nộp, để tối đa hóa lợi nhuận thu được

Ảnh hưởng tiêu cực:

- Nếu hoạt động chuyển giá bị phát hiện thì các chủ đầu tư sẽ bị thực hiện chế tài phạt nặng, bị rút giấy phép kinh doanh tại quốc gia đó hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng trên thương trường quốc tế dẫn tới sự chú ý nhiều và chặt chẽ hơn của các cơ quan thuế

ở những nước mà công ty đa quốc gia này đi đầu tư sau đó Hình thức phạt có thể là phần trăm áp dụng trên số thuế phải nộp hoặc phạt chuyển giá bằng mức thuế bổ sung cho những điều chỉnh vượt ngoài phạm vi mục tiêu, phạt trên số thuế trốn tránh được

- Kết quả hạch toán của từng công ty con của tập đoàn không phản ánh thực chất kết quả hoạt động kinh doanh, cho nên từng công ty thiếu cơ sở thực tiễn tin cậy để xây dựng chiến lược kinh doanh cho chính mình

- Phân tích hoạt động tài chính của tập đoàn phức tạp vì chính sách thuế, chi phí của từng nước thay đổi dẫn tới chiến lược chuyển giá của công ty thay đổi

1.3.2.2 Đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư

Ảnh hưởng tích cực:

- Khi có hoạt động “chuyển giá” ngược: lợi nhuận từ công ty mẹ chuyển sang các công ty con, dưới hình thức trả chi phí mua hàng cao…(do nước thu hút đầu tư có mức thuế thấp) làm tăng thu nhập ngoại tệ cho nước tiếp nhận đầu tư

Ảnh hưởng tiêu cực:

Trang 35

- Khi các công ty đa quốc gia bán hàng hóa, nguyên liệu, dịch vụ với giá cao cho các công ty con ở nước ngoài, khiến lượng ngoại tệ thực chất là tiền lời của các công ty con được chuyển về công ty mẹ Điều đó khiến lượng ngoại tệ (vốn) rời khỏi quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư làm tác động xấu đến hoạt động vĩ mô của nước tiếp nhận đầu tư

- Ngoài ra, trong một số trường hợp, công ty mẹ bán giá nguyên liệu rẻ, hỗ trợ tiền quảng cáo, chi phí tiếp thị, các công ty con này có thể sản xuất sản phẩm với giá thành thấp Nhờ đó các công ty này nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, loại đối thủ cạnh tranh là những nhà sản xuất nội địa cùng ngành hàng ra khỏi thị trường Khi đã độc quyền thì các công ty con mới nâng giá lên cao đạt được lợi nhuận siêu ngạch Lúc bấy giờ, công ty mẹ mới nâng giá nguyên vật liệu đầu vào lên cao để chuyển lợi nhuận

về nước

- Cơ cấu vốn của nền kinh tế ở quốc gia tiếp nhận vốn sẽ bị đột ngột thay đổi do việc thực hiện hành vi chuyển giá của các MNC làm các luồng vốn chảy vào nhanh mạnh, sau đó lại có xu hướng chảy ra trong thời gian ngắn Hậu quả là tạo ra một bức tranh kinh tế bị sai lệch ở các quốc gia này trong các thời kì khác nhau

- Với việc thực hiện hành vi chuyển giá và thao túng thị trường, chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư sẽ khó khăn hơn trong việc hoạch định chính sách điều tiết nền kinh tế vĩ mô và khó khăn trong việc thúc đẩy các ngành sản xuất trong nước phát triển

- Hoạt động chuyển giá sẽ phá vỡ cán cân thanh toán quốc tế và các kế hoạch kinh tế của các quốc gia tiếp nhận đầu tư, chính vì thế nếu không kiểm soát tốt sẽ dễ dẫn tới lệ thuộc vào nền kinh tế của chính quốc, về lâu dài có thể dẫn tới lệ thuộc về chính trị

1.3.2.3 Đối với quốc gia xuất khẩu vốn đầu tư (nơi có công ty mẹ của tập đoàn

đa quốc gia).

Ảnh hưởng tích cực:

- Thông qua hành vi “chuyển giá” các công ty con ở nước ngoài chuyển lợi nhuận

về nước dưới các hình thức: mua giá cao đối với hàng hoá nguyên vật liệu, trả chi phí đơn vị tư vấn, cung cấp nhà quản trị, nguồn nhân lực Nước xuất khẩu vốn thu được ngoại tệ nhiều hơn, nhờ đó góp phần cải thiện cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế

Trang 36

- Sự hoạt động của các công ty mẹ tốt hơn về “hình thức” thì cũng tác động tốt hơn đến hiệu quả kinh tế xã hội: đóng góp nhiều hơn cho nhà nước, tác động tốt đến tăng trưởng GDP của nước xuất khẩu vốn đầu tư.

Ảnh hưởng tiêu cực:

- Nếu thuế suất ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư thấp hơn thuế suất ở chính quốc,

sẽ làm cho các nước xuất khẩu đầu tư bị mất cân đối trong kế hoạch thuế của nước này

do việc thất thu một khoản thu nhập từ thuế Cụ thể, việc nâng giá chuyển giao từ công

ty con sang công ty mẹ, lợi nhuận được núp bóng dưới các hình thức: nâng giá nguyên vật liệu, trả phí tư vấn, đào tạo… cũng sẽ chạy từ công ty mẹ ra nước ngoài, sang các công ty con vì nơi đây thuế phải đóng thấp

- Mục tiêu quản lý nền kinh tế vĩ mô ở các quốc gia này sẽ gặp một số khó khăn nhất định do việc các dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn quản lý của chính phủ

1.4 Quản lý của Nhà nước đối với hoạt động ĐGCG không theo ALP

1.4.1 Quản lý Nhà nước trong giai đoạn đầu của hoạt động đầu tư của các công

ty đa quốc gia

1.4.1.1 Lĩnh vực đầu tư có điều kiện bao gồm:

a Lĩnh vực tác động đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;

Trang 37

h Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo;

i Một số lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật

- Đối với nhà đầu tư nước ngoài, ngoài các lĩnh vực quy định nêu trên, các lĩnh vực đầu tư có điều kiện còn bao gồm các lĩnh vực đầu tư theo lộ trình thực hiện cam kết quốc tế trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đầu tư trong các lĩnh vực không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện, nhưng trong quá trình hoạt động, lĩnh vực đã đầu tư được bổ sung vào Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư vẫn được tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực đó

- Nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện đầu tư như nhà đầu tư trong nước trong trường hợp các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn Điều lệ của doanh nghiệp trở lên

- Căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và phù hợp với các cam kết trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện, các điều kiện liên quan đến việc thành lập tổ chức kinh tế, hình thức đầu tư, mở cửa thị trường trong một

số lĩnh vực đối với đầu tư nước ngoài

1.4.1.2 Lĩnh vực cấm đầu tư bao gồm:

a Các dự án gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia và lợi ích công cộng

- Sản xuất, chế biến các chất ma túy

- Đầu tư kinh doanh dịch vụ điều tra bí mật xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

- Đầu tư trong lĩnh vực thám tử tư, điều tra

b Các dự án gây phương hại đến di tích lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam

Trang 38

- Các dự án xây dựng trong khuôn viên của các di tích lịch sử, văn hóa quốc gia; các dự án làm ảnh hưởng xấu đến kiến trúc, cảnh quan của các di tích lịch sử, văn hóa quốc gia.

- Sản xuất các sản phẩm văn hóa đồi trụy, mê tín dị đoan

- Sản xuất đồ chơi nguy hiểm, đồ chơi có hại tới giáo dục nhân cách và sức khỏe của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự và an toàn xã hội

- Kinh doanh mại dâm; buôn bán phụ nữ, trẻ em

- Thử nghiệm sinh sản vô tính trên người

c Các dự án gây tổn hại đến sức khỏe nhân dân, làm hủy hoại tài nguyên, phá hủy môi trường

- Sản xuất hóa chất bảng 1 (theo Công ước Quốc tế)

- Sản xuất thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật bị cấm hoặc không được phép sử dụng tại Việt Nam

- Sản xuất các loại thuốc chữa bệnh cho người, các loại vắc-xin, sinh phẩm y tế,

mỹ phẩm, hóa chất và chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn chưa được phép sử dụng tại Việt Nam

d Các dự án xử lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hóa chất độc hại hoặc sử dụng tác nhân độc hại bị cấm theo quy định của các điều ước quốc tế

- Các dự án xử lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hóa chất độc hoặc sử dụng các tác nhân độc hại bị cấm theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

e.Các dự án đầu tư khác thuộc diện cấm đầu tư theo quy định của pháp luật

1.4.1.3 Lĩnh vực ưu đãi đầu tư:

a Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin; cơ khí chế tạo

- Sản xuất vật liệu composit, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm

- Sản xuất thép cao cấp, hợp kim, kim loại đặc biệt, sắt xốp, phôi thép

Trang 39

- Đầu tư xây dựng cơ sở sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió, khí sinh vật, địa nhiệt, thủy triều.

- Sản xuất thiết bị y tế trong công nghệ phân tích và công nghệ chiết xuất trong y học; dụng cụ chỉnh hình, xe, dụng cụ chuyên dùng cho người tàn tật

- Ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ sinh học để sản xuất thuốc chữa bệnh cho người đạt tiêu chuẩn GMP quốc tế; sản xuất nguyên liệu thuốc kháng sinh

- Sản xuất máy tính, thiết bị thông tin, viễn thông, internet và sản phẩm công nghệ thông tin trọng điểm

- Sản xuất chất bán dẫn và các linh kiện điện tử kỹ thuật cao; sản xuất sản phẩm phần mềm, nội dung thông tin số; cung cấp các dịch vụ phần mềm, nghiên cứu công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin

- Đầu tư sản xuất, chế tạo thiết bị cơ khí chính xác; thiết bị, máy móc kiểm tra, kiểm soát an toàn quá trình sản xuất công nghiệp; rô bốt công nghiệp

b Nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thủy sản; làm muối; sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng và giống vật nuôi mới

- Sản xuất, khai thác và tinh chế muối

c Sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái; nghiên cứu, phát triển và ươm tạo công nghệ cao

- Ứng dụng công nghệ cao, công nghệ mới chưa được sử dụng tại Việt Nam; ứng dụng công nghệ sinh học

- Xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường; sản xuất thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường, thiết bị quan trắc và phân tích môi trường

- Thu gom, xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn; tái chế, tái sử dụng chất thải

- Nghiên cứu, phát triển và ươm tạo công nghệ cao

Trang 40

d Sử dụng nhiều lao động

- Dự án sử dụng thường xuyên từ 5.000 lao động trở lên

e Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng và các dự án quan trọng

- Đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án quan trọng do Thủ tướng Chính phủ quyết định

f Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục và thể thao

- Đầu tư xây dựng cơ sở cai nghiện ma túy, cai nghiện thuốc lá

- Đầu tư thành lập cơ sở thực hiện vệ sinh phòng chống dịch bệnh

- Đầu tư thành lập trung tâm lão khoa, hoạt động cứu trợ tập trung, chăm sóc người tàn tật, trẻ mồ côi

- Đầu tư xây dựng: trung tâm đào tạo, huấn luyện thể thao thành tích cao và đào tạo, huấn luyện thể thao cho người tàn tật; xây dựng cơ sở thể thao có thiết bị, phương tiện luyện tập và thi đấu đáp ứng yêu cầu tổ chức các giải đấu quốc tế

g Những lĩnh vực sản xuất và dịch vụ khác

- Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) chiếm 25% doanh thu trở lên

- Dịch vụ cứu hộ trên biển

- Đầu tư xây dựng chung cư cho công nhân làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; đầu tư xây dựng ký túc xá sinh viên và xây dựng nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội

1.4.1.4 Hình thức và các chính sách ưu đãi:

- Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp

- Ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu

b Thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư:

- Đối với dự án đầu tư trong nước thuộc diện không phải đăng ký đầu tư và dự án thuộc diện đăng ký đầu tư quy định tại Điều 45 của Luật này, nhà đầu tư căn cứ vào

Ngày đăng: 28/04/2017, 16:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình đầu tư quốc tế - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 1 Tình hình đầu tư quốc tế (Trang 8)
Bảng 2: So sánh đầu tư trực tiếp và gián tiếp - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 2 So sánh đầu tư trực tiếp và gián tiếp (Trang 9)
Hình 2: Mô hình trung tâm xuất hóa đơn - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Hình 2 Mô hình trung tâm xuất hóa đơn (Trang 20)
Bảng 4: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1988-2010 - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1988-2010 (Trang 54)
Bảng 5 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo ngành kinh tế 1988 - 2010 - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo ngành kinh tế 1988 - 2010 (Trang 57)
Bảng 7 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo đối tác đầu tư 1988 - 2010 - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 7 Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo đối tác đầu tư 1988 - 2010 (Trang 59)
Bảng 10:  Vài chỉ tiêu đóng góp của các dự án FDI đối với nền kinh tế Việt Nam - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 10 Vài chỉ tiêu đóng góp của các dự án FDI đối với nền kinh tế Việt Nam (Trang 63)
Bảng 11: Cơ cấu lao động tuổi từ 15 trở lên phân theo ngành kinh tế - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 11 Cơ cấu lao động tuổi từ 15 trở lên phân theo ngành kinh tế (Trang 65)
Bảng 12: Trị giá nhập khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế (triệu USD) - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 12 Trị giá nhập khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế (triệu USD) (Trang 69)
Bảng 13: Trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế (triệu USD) - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 13 Trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế (triệu USD) (Trang 70)
Bảng 14: Tình hình kinh doanh các doanh nghiệp FDI - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 14 Tình hình kinh doanh các doanh nghiệp FDI (Trang 72)
Bảng 15: Một số doanh nghiệp lỗ tiêu biểu - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 15 Một số doanh nghiệp lỗ tiêu biểu (Trang 75)
Bảng 16: Tình hình doanh thu, loi nhuận và nghĩa vụ thuế - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 16 Tình hình doanh thu, loi nhuận và nghĩa vụ thuế (Trang 77)
Bảng 18: Tỷ suất sinh lợi của công ty Coca Cola Chương Dương 1996-1998 (%) - TIỂU LUẬN KINH TẾ KINH ĐIỂN
Bảng 18 Tỷ suất sinh lợi của công ty Coca Cola Chương Dương 1996-1998 (%) (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w