1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

VẬN DỤNG lý THUYẾT KIẾN tạo TRONG dạy học môn GIÁO dục CÔNG dân ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG lê XOAY, TỈNH VĨNH PHÚC

102 762 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 903,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

học theo hướng nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người họctrong dạy học môn GDCD ở trường THPT.Từ những lí do trên tôi đã quyết định vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy môn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

 PHAN THỊ TRANG

VËN DôNG Lý THUYÕT KIÕN T¹O TRONG D¹Y HäC M¤N GI¸O DôC C¤NG D¢N

ë TR¦êNG TRUNG HäC PHæ TH¤NG L£ XOAY, TØNH VÜNH PHóC

Chuyên ngành : LL&PP giảng dạy Giáo dục chính trị

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ LỆ HOA

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tôi xin gửi tới TS Vũ Lệ Hoa là

người hướng dẫn trực tiếp của tôi Trong suốt thời gian làm luận văn, tôi đãnhận được sự quan tâm sâu sắc và giúp đỡ tận tình của Cô Tôi cũng học được

ở Cô tác phong làm việc nghiêm túc và khoa học, những điều này sẽ giúp íchcho tôi rất nhiều trong công việc sau này Tôi xin kính chúc Cô và gia đìnhluôn mạnh khỏe, hạnh phúc

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy chủ nhiệm khoa TS Đào Đức Doãn và

cô chủ nhiệm lớp cao học PGS.TS Đào Thị Ngọc Minh, hai thầy cô đã luôn

giúp đỡ, chỉ bảo, góp ý cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập và làm đề tài.Tôi xin chúc thầy, cô luôn mạnh khỏe và hạnh phúc

Tôi xin gửi lời cảm ơn và chúc sức khỏe tới các thầy, cô giáo tổ phươngpháp giảng dạy, khoa Lý luận Chính trị - Giáo dục công dân, trường Đại học Sưphạm Hà Nội Trong thời gian học tập ở trường, chúng tôi trưởng thành lên rấtnhiều trong lĩnh vực chuyên môn cũng như tác phong làm việc và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn lãnh đạo và tập thể giáo viên trường THPT

Lê Xoay – Vĩnh Phúc và tập thể lớp LL & PPGD GDCT cao học K23, bạn bè

và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập cũngnhư trong thời gian làm luận văn

Trong quá trình làm luận văn, mặc dù đã bỏ nhiều thời gian, công sức

và được sự hướng dẫn nhiệt tình, chi tiết của thầy hướng dẫn nhưng do trình

độ còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốnnhận được những góp ý xây dựng từ phía các thầy cô và mọi người quan tâmđến đề tài này, để đề tài này được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 05 năm 2015

Tác giả

Phan Thị Trang

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả 6

7 Kết cấu luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8

1.2 Cơ sở lý luận của dạy học theo lý thuyết kiến tạo 10

1.2.1 Lý thuyết học tập kiến tạo 10

1.2.2 Dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo 14

1.2.3 Dạy học môn giáo dục công dân ở trường THPT theo thuyết kiến tạo 22

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng thuyết kiến tạo vào dạy học môn giáo dục công dân ở trường THPT Lê Xoay 28

1.3.1 Thực trạng về chương trình dạy học môn GDCD trong nhà trường phổ thông hiện nay 28

1.3.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về thuyết kiến tạo trong dạy học 30

1.3.3 Thực trạng sử dụng phương pháp và phương tiện dạy học trong môn GDCD ở trường THPT Lê Xoay 32

Trang 4

1.3.4 Thực trạng kiểm tra đánh giá môn GDCD lớp 10 ở trường THPT

Lê Xoay 33

1.3.5 Thực trạng kết quả học tập môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Lê Xoay 35

1.4 Đánh giá nguyên nhân thực trạng 36

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 QUY TRÌNH VẬN DỤNG THUYẾT KIẾN TẠOTRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG THPT LÊ XOAY, TỈNH VĨNH PHÚC 39

2.1 Nguyên tắc của việc vận dụng lý thuyết kiến tạo vào quá trình dạy học môn GDCD ở trường THPT Lê Xoay, tỉnh Vĩnh Phúc 39

2.1.1 Đảm bảo mục tiêu môn giáo dục công dân 39

2.1.2 Phát huy tính tích cực chủ động của người học 40

2.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả, khả thi 41

2.2 Quy trình tổ chức dạy học môn giáo dục công dân theo thuyết kiến tạo 41

2.2.1 Thiết kế dạy học môn GDCD theo thuyết kiến tạo 42

2.2.2 Tổ chức dạy học môn GDCD theo thuyết kiến tạo 66

2.2.3 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD theo thuyết kiến tạo 68

Tiểu kết chương 2 69

Chương 3 THỰC NGHIỆM VẬN DỤNG THUYẾT KIẾN TẠO TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG THPT LÊ XOAY, TỈNH VĨNH PHÚC 70

3.1 Khái quát về quá trình thực nghệm 70

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 70

3.1.2 Nội dung thực nghiệm 70

Trang 5

3.1.3 Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm 70

3.1.4 Tiến trình thực nghiệm 71

3.2 Kết quả thực nghiệm 77

3.2.1 Kết quả định lượng 77

3.2.2 Kết quả định tính 81

Tiểu kết chương 3 83

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

BẢng

Bảng 1.1 Bảng so sánh giữa dạy học theo thuyết kiến tạo và dạy học

truyền thống 20Bảng 1.2 Kết quả điều tra về các phương pháp mà GV thường sử dụng khi

dạy học 32Bảng 1.3 Kết quả mức độ sử dụng phương tiện hỗ trợ trong quá trình

dạy học 33Bảng 1.4 Thống kê mức độ sử dụng các tiêu chí kiểm tra, đánh giá 34Bảng 1.5 Thống kê mức độ sử dụng các hình thức kiểm tra đánh giá kết

quả học tập 34Bảng 1.6 Thống kê kết quả học tập môn GDCD khối 10 trường THPT Lê

Xoay học kì I (năm học 2014 - 2015) 35Bảng 3.1 Bảng kết quả kiểm tra ban đầu của hai lớp TN và ĐC 75Bảng 3.2 Kết quả đánh giá về mặt kiến thức của học sinh lớp 10 môn

GDCD khi học theo hướng vận dụng lý thuyết kiến tạo 77Bảng 3.3 Điểm trung bình kiểm tra sau thực nghiệm của HS lớp TN

và ĐC 78Bảng 3.4 Kết quả đánh giá về tính tích cực học tập của HS lớp 10 trong

giờ học môn GDCD 79Bảng 3.5 Mức độ trung bình về tính tích cực của HS sau thực nghiệm của

2 lớp TN và ĐC 79Bảng 3.6 Kết quả đánh giá về thái độ học tập của HS lớp 10 tại trường

THPT Lê Xoay 80

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Biểu diễn mức độ nhận thức ban đầu của HS lớp TN và lớp

ĐC qua bài kiểm tra 75Biểu đồ 3.2 Biểu đồ biểu diễn mức độ nhận thức sau thực nghiệm của 2

lớp TN và ĐC 77

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, kéo theo tất cả các quốc gia vàothị trường chung của thế giới Nó đã mở ra cơ hội phát triển rất lớn cho cácnước nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức không hề nhỏ đối vớitừng quốc gia, trong đó có Việt Nam Quá trình hội nhập, đòi hỏi Việt Namphải không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng, hiệu quả của mọi hoạt động từkinh tế - chính trị cho tới hoạt động văn hoá – giáo dục – xã hội

Trước tình hình chung đó, Đảng ta đã nhận thức rõ mấu chốt và căn nguyên

cơ bản nhất tạo ra sự thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới đó là phải xuấtphát từ vấn đề giáo dục – đào tạo con người Vì vậy sự nghiệp giáo dục phảikhông ngừng đổi mới toàn diện cho phù hợp với xu hướng toàn cầu hoá

“ Toàn cầu hoá trong giáo dục đang tạo ra những con người lao độngsáng tạo, giàu trí tưởng tượng có năng lực phát minh, sáng chế có thể làm việc

ở bất kì đâu, bất kì lúc nào và bất kì với ai” [33; tr.53]

Tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta cũng xác định rõ:

“ Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới cơ bản toàn diện nền giáodục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hộinhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáoviên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục,đào tạo coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành,khả năng lập nghiệp Đổi mới cơ chế tổ chức giáo dục, thực hiện khẳng định chấtlượng giáo dục – đào tạo ở tất cả các bậc học Xây dựng môi trường giáo dục lànhmạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.”

Theo chủ trương trên, ngành giáo dục đã có những đổi mới mạnh mẽ từmục tiêu, nội dung và phương pháp Trong đó đặc biệt là đổi mới về phươngpháp để khắc phục những nhược điểm của phương pháp truyền thống Bởikhác với trước đây, hiện nay việc dạy học không chỉ đơn giản là truyền thụkiến thức mà quan trọng hơn giúp các em cách tìm ra tri thức đó

Bản chất của quá trình dạy học là quá trình người học khám phá thế giớikhách quan dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển của GV nhằm thực hiện tốt

Trang 9

các nhiệm vụ dạy học Điều đó có nghĩa là trong dạy học, người học là chủ thểcủa hoạt động học - tự kiến tạo nên kiến thức trên cơ sở tác động của môi trườnghọc Vì vậy, tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh có vai trò quyết địnhhiệu quả hoạt động học, quyết định chất lượng và hiệu quả dạy học.

Giáo dục công dân là môn học quan trọng trong trường THPT nhằmhình thành phát triển ý thức, năng lực, phẩm chất cần thiết của người côngdân trong xã hội cho học sinh đáp ứng các yêu cầu của sự phát triển xã hội

Những năm gần đây, vấn đề giáo dục nhân cách cho người học đangđặt nặng trên vai môn giáo dục công dân (GDCD) Khi yêu cầu đặt ra của xãhội là rất lớn đối với môn học thì trong thực tế nó lại bị xem nhẹ từ nhiềuphía Thực tiễn việc học tập môn GDCD trong nhà trường phổ thông chưađược học sinh (HS) coi trọng đúng mức, chưa hứng thú, tích cực học tập, kếtquả học tập chưa cao Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như dolượng kiến thức môn học quá nhiều và khô khan, trừu tượng, thời lượng lạiít…… đã khiến giờ giảng của giáo viên mới chỉ chú ý đến việc truyền tải trithức mà chưa thực sự phát huy được năng lực của người học, phương pháp,hình thức tổ chức dạy học môn học chưa phong phú, hấp dẫn, kích thích đượctính tích cực học tập của người học

Vì vậy, làm thế nào để người học chủ động, tích cực học tập mônGDCD góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học môn học đáp ứngđược yêu cầu của xã hội đối với môn Giáo dục công dân ở trường THPT

Một trong những lý thuyết học tập có thể giải quyết những tồn tại củaphương pháp dạy học truyền thống, đáp ứng được yêu cầu của quá trình đổimới dạy học môn GDCD đó là Lý thuyết kiến tạo Đây là một quan điểm dạyhọc hiện đại, nhấn mạnh vai trò tích cực, chủ động của người học trong việctiếp thu tri thức mới cho bản thân Sự chủ động này thể hiện ở chỗ, người họcđược đặt trong những tình huống học tập mà ở đó họ thấy có khả năng, có nhucầu giải quyết vấn đề đặt ra Trên cơ sở kiến thức và kinh nghiệm đã có,người học tìm cách tương thích với những tình huống mới để xây dựng nênnhững hiểu biết cho bản thân Với lý thuyết này, dạy học theo thuyết kiến tạocho thấy có nhiều khả năng đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy

Trang 10

học theo hướng nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người họctrong dạy học môn GDCD ở trường THPT.

Từ những lí do trên tôi đã quyết định vận dụng lý thuyết kiến tạo vào

dạy môn giáo dục công dân với đề tài luận văn “Vận dụng lý thuyết kiến tạo

trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông Lê Xoay, tỉnh Vĩnh Phúc”

2 Lịch sử nghiên cứu

Thuyết kiến tạo ra đời từ cuối thế kỷ XVIII, xuất phát từ tuyên bố củanhà triết học Giam Battista Vico cho rằng : “Con người chỉ có thể hiểu mộtcách rõ ràng những cái gì mà họ tự xây dựng nên cho mình”[22; tr.17] Tuynhiên người đầu tiên nghiên cứu để phát triển tư tưởng kiến tạo một cách rõràng và áp dụng vào việc dạy học đó là J.Piaget

Một tác giả khác có nhiều đóng góp cho sự phát triển của LTKT làL.X.Vygostky

Ở Việt Nam, các nhà khoa học giáo dục cũng đã bước đầu nghiên cứu

về LTKT Đầu năm 1995 tại thành phố Hồ Chí Minh một hội thảo quốc tế lầnthứ nhất của các nước Đông Nam Á về dạy học kiến tạo và đào tạo GV cácmôn học đã được tổ chức với khoảng trên 100 nhà khoa học đến từ Pháp vàcác nước trong khu vực Đông Nam Á tham dự Tại hội thảo này rất nhiều nhàgiáo dục Việt Nam đã hết sức quan tâm và có nhiều ý kiến về dạy học theoquan điểm kiến tạo Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu của các tác giảnhư: Lý thuyết kiến tạo - một hướng phát triển mới của lý luận dạy học hiệnđại của Bùi Gia Thịnh (1995), phương pháp dạy học truyền thống và hiện đạicủa Thái Duy Tuyên (2008), Lý luận dạy học hiện đại, một số vấn đề về đổimới phương pháp dạy học của Nguyễn Văn Cường (2012)

Cho đến nay ở Việt Nam, LTKT đã được vận dụng để tiến hành dạyhọc một số nội dung trong chương trình vật lý, toán học, hoá học và cũng đã

có một vài thực nghiệm sư phạm chứng minh khả năng của quan điểm mớinày trong việc tích cực hoá vai trò chủ thể người học Chúng ta có thể thamkhảo những công trình nghiên cứu của các tác giả như: Dương Bạch Dương,(2002) nghiên cứu phương pháp giảng dạy một số khái niệm, định luật trong

Trang 11

chương trình vật lý lớp 10 THPT theo quan điểm kiến tạo Tác giả Cao Thị

Hà (2006) dạy học một số chủ đề hình học không gian lớp 11 theo quan điểmkiến tạo Tác giả Lương Việt Thái (2006) nghiên cứu tổ chức quá trình dạyhọc một số nội dung vật lý trong môn khoa học ở tiểu học và môn vật lý ởTrung học cơ sở vận dụng tư tưởng của LTKT

Đó là những công trình nghiên cứu ứng dụng LTKT bước đầu rất có giátrị Bên cạnh đó chúng ta phải kể đến một số bài nghiên cứu đăng trên các tạpchí giáo dục của các tác giả như: Đào Việt Anh, Đỗ Văn Cường, Đỗ Tiến Đạt,Nguyễn Quang Lạc……

Tuy nhiên đến nay các công trình nghiên cứu, vận dụng LTKT vào dạyhọc ở nước ta còn hạn chế chỉ tập trung vào các môn khoa học tự nhiên Đốivới các môn thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, đặc biệt với việc dạy học mônGDCD trong nhà trường THPT chúng ta gần như chưa có công trình nghiêncứu chuyên sâu nào Theo quan điểm của chúng tôi LTKT không chỉ phát huykhả năng trong dạy học những môn khoa học tự nhiên như toán, lý hoá…màcòn trong cả dạy học môn GDCD cho HS Thông qua quan điểm dạy học này

có rất nhiều tiềm năng cần được xem xét, nghiên cứu

Trên cơ sơ đó tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Vận dụng lý thuyếtkiến tạo trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

Lê Xoay, tỉnh Vĩnh Phúc” để góp phần vào công cuộc đổi mới phương phápdạy học, nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học môn giáo dụccông dân ở trường trung học phổ thông Lê Xoay, tỉnh Vĩnh Phúc nhằm nângcao chất lượng dạy học môn giáo dục công dân ở nhà trường hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học môn giáo dục công dân ở

trường THPT Lê Xoay với việc vận dụng lý thuyết kiến tạo

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu vận dụng lý thuyết kiến tạo

trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 10 phần đạo đức từ tháng 1/2015đến 18/4/2015 đối với hai lớp 10A1 và 10A3 Trường Trung học phổ thông Lê

Xoay, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu về lí luậndạy học và quá trình dạy học ở nhà trường phổ thông

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp lấy ý kiến của chuyên gia

- Phương pháp điều tra: Điều tra kháo sát tình hình dạy học phần đạođức lớp 10 trung học phổ thông hiện nay

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy một số bài phần đạođức có sự vận dụng lý thuyết kiến tạo

- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toánhọc để đánh giá định lượng kết quả nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc vận dụng lýthuyết kiến tạo trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung họcphổ thông

- Xây dựng quy trình tổ chức dạy học môn giáo dục công dân theo lýthuyết kiến tạo

-Tổ chức thực nghiệm sư phạm quy trình tổ chức dạy học môn giáo dụccông dân theo lý thuyết kiến tạo

6 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả

Luận văn góp phần bổ sung, hệ thống hóa, làm sáng tỏ tầm quan trọng

và yêu cầu của việc vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học môn Giáo dụccông dân trong nhà trường phổ thong

Đề xuất nội dung, phương pháp, quy trình , điều kiện và một số biệnpháp trong việc vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học môn Giáo dục côngdân ở trường THPT Lê Xoay, tỉnh Vĩnh Phúc

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể áp dụng vào dạy học đối vớimôn Giáo dục công dân lớp 10 ở trường THPT Lê Xoay hoặc làm tài liệutham khảo hữu ích đối với những độc giả quan tâm đến vấn đề Từ đó gópphần vào việc hình thành nhân cách, phát huy tính chủ động, tích cực củangười học đối với thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước

Trang 13

7 Kết cấu luận văn

Luận văn bao gồm 3 chương, 8 tiết:

Chương 1: Cơ sở khoa học của việc vận dụng lý thuyết kiến tạo trong

dạy học môn giáo dục công dân ở trường THPT

Chương 2: Quy trình vận dụng thuyết kiến tạo trong dạy học môn giáo

dục công dân ở trường THPT Lê Xoay, tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO

TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Thuyết kiến tạo được giới thiệu vào những năm 80 của thế kỷ XX, xuấtphát từ tuyên bố của nhà triết học Giam Battista Vico cho rằng: “Con ngườichỉ có thể hiểu một cách rõ ràng những cái gì mà họ tự xây dựng nên chomình” [21, tr.17] Tuy nhiên người đầu tiên nghiên cứu để phát triển tư tưởngkiến tạo một cách rõ ràng và áp dụng vào việc dạy học đó là J.Piaget vớinhững tư tưởng về hoạt động nhận thức của J.Piaget và lý thuyết về vùng pháttriển gần nhất của L.X Vygotsky

Jean Piaget (1896 – 1983), người đặt nền móng cho tâm lí học pháttriển cho rằng “những ý tưởng gần đối với trẻ em không phải được tìm thấynhư một viên sỏi hoặc nhận được từ tay người khác như một món quà Theoông, các cấu trúc nhận thức không phải do bẩm sinh mà chúng có một lịch sửphát sinh và phát triển được hình thành từ hai cơ chế đồng hoá (assimilation)

và điều ứng (accommodation)”

Đồng hoá là quá trình chủ thể (con người) tiếp nhận và xử lí thông tinmới từ môi trường xung quanh nhằm đạt được môi trường nhận thức nào đónhờ vào những kiến thức và kĩ năng đã có Trong dạy học, đồng hoá là quátrình người học vận dụng kiến thức và kĩ năng đã có của mình để giải quyếttình huống học tập mới Còn điều ứng là quá trình chủ thể thích nghi với một

sự kiện mới từ môi trường tác động vào và biến đổi nhận thức cũ sao cho phùhợp với bản chất của sự kiện tác động Do đó, khi tình huống học tập mớixuất hiện thì kiến thức mới cũng được hình thành và bổ sung vào hệ thống

Trang 15

kiến thức đã có Vì vậy, thông qua hai hoạt động đồng hoá và điều ứng bằngcác kiến thức và kĩ năng đã có để thích ứng với môi trường học tập với ngườihọc, xây dựng nên những kiến thức cho mình Đây chính là cơ sở nền tảngcủa LTKT trong dạy học

L.X Vygotsky (1896 – 1934) là người có nhiều đóng góp cho tâm líhọc vào dạy học Hai luận điểm quan trọng trong lý thuyết của ông là giảthuyết vùng phát triển gần nhất và dạy học hợp tác Theo ông mỗi cá nhânđều có một vùng phát triển gần nhất thể hiện tiềm năng phát triển của riêngmình Vùng phát triển gần nhất là vùng phát triển tương ứng với trình độ củatrẻ có thể đạt tới được với sự giúp đỡ của người lớn hoặc bạn bè Do đó nếucác hoạt động học tập được tổ chức trong vùng này thì sẽ đạt được hiệu quảcao Thực tế cho thấy vùng này đã được chuẩn bị từ trước đó do quá trìnhphát triển nhận thức nhưng các em còn chưa đạt tới Nhờ vào các hoạt độnghọc tập vùng phát triển gần nhất sẽ trở thành vùng hoạt động hợp tác Vàvùng trước đó là vùng phát triển xa hơn một chút thì bây giờ trở thành vùngphát triển gần nhất Quá trình cứ lặp lại như vậy và học sinh cứ leo hết bậcthang này cho tới bậc thang khác trong quá trình học tập và phát triển Bêncạnh đó L.X.Vygotsky cũng khẳng định nếu được đặt trong một môi trườngkích thích tốt thì trẻ em có thể đạt tới một giai đoạn nhận thức nhanh hơn,hiệu quả hơn Trong quá trình dạy học vai trò của văn hoá, ngôn ngữ và cácđiều kiện tương tác xã hội đã ảnh hưởng tác động đến việc kiến tạo nên trithức của mỗi cá nhân, đặc biệt là mối quan hệ tương tác giữa GV và HS, giữa

HS với nhau

Theo Donaid P.Kauchak và Paul Deggen, LTKT là một quan điểm họctập trong đó con người học qua sự trải nghiệm của mình tự tích luỹ nhữngkiến thức có ý nghĩa với bản thân họ hơn là tiếp thu kiến thức có sẵn Bởi thếtheo quan điểm của LTKT đây là quá trình người học dựa vào kinh nghiệm

Trang 16

của mình giải quyết tình huống học tập để hình thành tri thức mới Dạy họctheo quan điểm kiến tạo GV không phải là người thực hiện một chiều kiếnthức cho học sinh mà là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn các hoạt độnghọc tập để HS xây dựng kiến thức Ứng dụng LTKT vào dạy học sẽ phát huyvai trò chủ động của người học trong việc xây dựng kiến thức mới từ nhữngkiến thức sẵn có và áp dụng kiến thức mới vào những tình huống thực tế hơnnữa, từ những hiểu biết trực tiếp vừa mới tiếp thu được trong việc giải quyếttình huống học tập, trong sự tương tác giữa người dạy và người học, giữangười học với nhau Vì thế học tập theo LTKT đã chuyển dịch từ dạy học màngười dạy đóng vai trò là trung tâm sang coi hoạt động người học là hoạtđộng trung tâm.

Dạy học theo LTKT là kiểu dạy học đi sâu vào sự chuyển hoá bêntrong của quá trình nhận thức tìm hiểu cơ chế tiếp nhận của học sinh Ngườihọc tiếp nhân kiến thức một cách có chọn lọc và phụ thuộc nhiều vào nănglực nhận thức sẵn có cùng mối quan hệ giữa cái đã có và cái cần tiếp nhận của

họ Quá trình học tập theo quan điểm kiến tạo là quá trình biến đổi nhận thứccủa người học chứ không phải là quá trình truyền thụ tri thức theo một khuônmẫu nào đó Tuy vậy, trong quá trình hình thành tri thức sự tương tác xã hộiđóng một vai trò hết sức quan trọng Bởi quá trình biến đổi nhận thức củangười học cần phải diễn ra trong một môi trường học tập thích hợp

1.2 Cơ sở lý luận của dạy học theo lý thuyết kiến tạo

1.2.1 Lý thuyết học tập kiến tạo

Theo từ điển Tiếng Việt, “kiến tạo” có nghĩa là “xây dựng” [35, tr.940].Kiến tạo là hoạt động của con người tác động lên một đối tượng nhằm tạo nênđối tượng mới theo nhu cầu bản thân

Lý thuyết kiến tạo (contructivism) là một quan điểm mới về dạy học dựatrên những nghiên cứu tâm lí học về quá trình nhận thức của người học Học

Trang 17

thuyết này xem hoạt động học tập là quá trình biến đổi nhận thức, chủ độngxây dựng kiến thức từ những khái niệm đã có của người học Theo các côngtrình nghiên cứu chuyên sâu của LTKT có một số đặc điểm cơ bản như sau:

Tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức khôngphải tiếp thu một cách thụ động từ môi trường bên ngoài Luận điểm này đãkhẳng định vai trò quyết định của chủ thể trong quá trình dạy học trong môitrường là quá trình chuyển hoá tri thức khoa học từ bên ngoài vào bên trong ýthức của học sinh GV cần làm cho HS thấy được sự cần thiết của những trithức đó để các em hứng thú tích cực học tập Bởi tri thức chỉ thực sự có ýnghĩa sâu sắc với HS nếu các em tích cực tự lực hoạt động xây dựng nên nhậnthức không phải là quá trình người học thụ động thu nhận những kiến thứcchân lí do người khác áp đặt lên Nếu người học được đặt trong một môitrường xã hội tích cực thì ở đó người học có thể được khuyến khích vận dụngnhững tri thức và kĩ năng đã có để thích nghi với môi trường mới và từ đó xâydựng nên tri thức mới Đây chính là quá trình nhận thức của HS theo quanđiểm kiến tạo Do đó tư tưởng nền tảng của LTKT là đã đặt vai trò của chủthể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức

Nhận thức là một quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan củachính mỗi người Nhận thức không phải là khám phá một thế giới mà chủ thểnhận thức chưa từng biết tới Về cơ bản quá trình nhận thức của HS cũnggiống như quá trình nhận thức về tự nhiên và xã hội của các nhà khoa họcnhưng độc đáo vì được tiến hành trong những điều kiện sư phạm nhất địnhkhông nhằm tìm ra cái mới mà là nhận thức cái mới cho bản thân rút ra từ khotàng hiểu biết chung của loài người Quá trình nhận thức của HS chỉ nhằmmục đích chủ động tái tạo lại tri thức của nhân loại cho chính bản thân mìnhhơn nữa quá trình này lại được diễn ra trong môi trường đặc biệt có sự hướngdẫn của người thầy

Học là quá trình mang tính xã hội trẻ em phải tự hoà mình vào các hoạt

Trang 18

động trí tuệ của những người xung quanh Trong lớp học HS không chỉ thamgia vào việc tái tạo tri thức của nhân loại mà còn tham gia vào quá trình hợptác với bạn học và với cả GV để giải thích trao đổi, đàm phán và đánh giávấn đề Luận điểm này đã khẳng định vai trò quan trọng của sự tương tác giữacác cá nhân trong quá trình dạy học Bởi học tập không phải là một hoạt độngchỉ diễn ra trong đầu óc con người, hay là một sự phát triển thụ động về cáchành vi của con người mà còn được hình thành bởi những tác động bên ngoài.

Những tri thức mới của mỗi cá nhân được hình thành từ việc điều chỉnhlại thế giới quan của họ Thế giới quan đó cần phải đáp ứng được những yêucầu mà tự nhiên và thực trạng xã hội đặt ra Như vậy, LTKT mặc dù đề caovai trò của chủ thể nhận thức nhưng vẫn không được xa rời mục tiêu giáo dụcphổ thông phù hợp với lứa tuổi, kiến thức khoa học và những yêu cầu mà thựctiễn xã hội đặt ra

Bên cạnh những luận điểm cơ bản trên những nhà nghiên cứu vận dụngLTKT vào dạy học các môn khoa học tự nhiên nhất là môn toán học đã sơ đồhoá chu trình hình thành tri thức của HS như sau:

Tri thức đã có -> dự đoán ->kiểm nghiệm -> thất bại -> thích nghi ->tri thức mới Quá trình dạy học trên đã phán ánh sự sáng tạo không ngừng vàvai trò chủ động tích cực của HS trong quá trình học tập Việc học một trithức mới phải xuất phát từ tri thức đã có xây dựng và giải quyết những tìnhhuống học tập dần dần hình thành tri thức mới

Từ hai quá trình đồng hoá và điều ứng của quá trình nhận thức, dạyhọc theo LTKT có các loại hình kiến tạo cơ bản (radical constructivism) vàkiến tạo xã hội (social constructivism)

Kiến tạo cơ bản

Kiến tạo cơ bản (còn gọi là kiến tạo nội sinh) là lý thuyết về nhận thứcnhằm miêu tả cách thức cá nhân xây dựng tri thức cho bản thân Trong quátrình học tập tri thức là kết quả hoạt động của chính chủ thể Kiến tạo cơ bản

Trang 19

lấy kinh nghiệm đã có của cá nhân làm nền tảng để hình thành thế giới quankhoa học, đồng thời quan tâm đến quá trình chuyển hoá nhận thức bên trongcủa mỗi người học Kinh nghiệm kiến thức đã có chính là vật liệu thô để ngườihọc xây dựng nên kiến thức mới Do vậy, trong quá trình dạy học phải tạo điềukiện cho cho HS khai thác vốn kinh nghiệm, kiến thức đã có của mình từ đócác em thấy hứng thú hơn, chủ động hơn trong các hoạt động học tập.

Vì vậy người học sẽ trở thành người sở hữu những tri thức mà mình đã

tự xây dựng nên Thông qua các hoạt động đồng hoá và điều ứng tri thức mớiđược hình thành bao gồm cả quá trình kế thừa phát triển các quan niệm đúngsẵn có Đồng thời loại bỏ những quan niệm chưa đúng của người học

Kiến tạo cơ bản có mặt mạnh là đã chỉ ra cách thức người học xâydựng nên tri thức mới cho mình trong quá trình học tập nhưng nếu đề cao quámức vai trò chủ động của mỗi cá nhân thì người học sẽ bị đặt trong tình trạng

cô lập và kiến thức xây dựng nên sẽ thiếu tính xã hội

Kiến tạo xã hội

Kiến tạo xã hội (còn gọi là kiến tạo ngoại sinh) chú ý tới mối quan hệchặt chẽ cụ thể giữa chủ thể nhận thức với môi trường xã hội bên ngoài trongquá trình hình thành tri thức mới Theo L.X.Vygotsky việc học của con ngườikhông chỉ dừng lại ở quá trình kiến tạo cơ bản mà đồng thời được thực hiệnthông qua sự tương tác trong cộng đồng Bởi vậy kiến thức được kiến tạo nênđều mang tính xã hội Kiến tạo xã hội đã nhấn mạnh vai trò của các yếu tốvăn hoá, các điều kiện xã hội và sự tác động của các yếu tố đến sự hình thànhkiến thức Kết quả của kiến tạo xã hội ở tầm cao nhất là sự hình thành hệthống tri thức khoa học mà con người xây dựng nên đã được xã hội thừanhận Tương tác xã hội đóng một vai trò quan trọng trong việc kiến tạo trithức Vì vậy việc tăng cường hợp tác giao tiếp giữa HS với nhau và với GV làđiều kiện để các em tự mình kiến tạo nên kiến thức Trong phạm vi lớp học,

Trang 20

GV tổ chức cho HS trao đổi tranh luận, hợp tác với nhau cùng giải quyết cácnhiệm vụ học tập Đây cũng là những hình thức học tập phù hợp với yêu cầucủa nền giáo dục hiện đại Do vậy, điểm mạnh của kiến tạo xã hội là nhấnmạnh đến vai trò của các yếu tố xã hội bên ngoài chủ thể nhưng cũng cónhững nhược điểm là chưa đề cao, phát huy vai trò của chủ thể tích cực trongquá trình nhận thức.

Nếu kiến tạo cơ bản đề cao vai trò của cá nhân trong quá trình xâydựng kiến thức thì kiến tạo xã hội nhấn mạnh đến tác động của các điều kiện

xã hội trong quá trình nhận thức Do đó trong quá trình dạy học phải kết hợphài hoà giữa hai loại hình kiến tạo này vì coi trọng quá mức vai trò của cánhân hay các yếu tố xã hội tác động đến chủ thể nhận thức sẽ rất phiến diện.Bởi người học thông qua các hoạt động học tập sẽ tự tìm ra kiến thức chomình Nhũng kiến thức mới được hình thành phải đảm bảo tính khách quan vàtính khoa học, phù hợp với các yêu cầu của xã hội Vì vậy người học khôngnhững học tập cá nhân mà phải hợp tác với bạn học và cả người dạy

Với môn GDCD khi vận dụng LTKT vào dạy học phần “Công dân vớiđạo đức” một mặt GV phải chú ý đến việc nhận thức, đánh giá và ý kiến chủquan của các em về các hiện tượng diễn ra xung quanh cuộc sống hàng ngày.Mặt khác, cũng cần quan tâm đến hoạt động hợp tác của các em trong quátrình học tập Vì vậy coi trọng, phát huy tính tích cực chủ động trong việckiến tạo kiến thức của mỗi HS đồng thời, phát huy vai trò của sự hợp tác giữa

cá nhân là yêu cầu cơ bản của dạy học phần đạo đức môn GDCD theo LTKT

1.2.2 Dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo

1.2.2.1 Khái niệm dạy học, dạy học theo thuyết kiến tạo

Theo từ điển Tiếng Việt “dạy học” là “ dạy văn hoá theo những chươngtrình nhất định” [35, tr.515] Ngày nay có rất nhiều công trình nghiên cứu vềLTKT, theo kết quả của những công trình nghiên cứu này thì dạy học theo

Trang 21

LTKT là dạy học phát huy tính tích cực của HS.Tác giả Nguyễn Hữu Châu cókhẳng định “cả quan điểm kiến tạo cơ bản và kiến tạo xã hội đều nhấn mạnhvai trò trung tâm của người học trong quá trình dạy học” [9; tr.20] Trong đó,người học chủ động lĩnh hội kiến thức thông qua các hoạt động do GV tổchức Các em được khuyến khích các hoạt động tìm kiếm, khám phá, giảiquyết các tình huống có vấn đề để tìm ra tri thức mới cho bản thân, biết liên

hệ kiến thức mới với thực tiễn cuộc sống Quá trình học tập thông qua làmviệc độc lập, làm việc hợp tác HS sẽ chủ động xây dựng kiến thức cho bảnthân, qua đó tìm kiếm phát hiện ra những cách giải quyết khác nhau về cùngmột vấn đề hay tìm ra cách giải quyết độc đáo Hơn thế có sự chia sẻ, cởi mởgiữa HS với HS, giữa HS với GV trong một môi trường thân thiện sẽ tạohứng thú cũng như động lực học tập và hình thành những kĩ năng sống cơ bảncủa người lao động hiện đại sau này

Dựa trên bản chất của dạy học theo LTKT cũng như bản chất, đặc điểmcủa dạy học tích cực có thể đưa ra khái niệm về dạy học kiến tạo như sau:

“Dạy học theo thuyết kiến tạo là cách tổ chức dạy học trong đó HS làchủ thể tích cực xây dựng nên kiến thức mới cho bản thân dựa trên nhữngkiến thức hoặc kinh nghiệm đã có từ trước và sắp xếp kiến thức vừa nhậnđược vào cấu trúc hiện có dưới sự tổ chức, cố vấn của GV khi cần thiết”

Dạy học theo quan điểm kiến tạo là kiểu dạy học đi sâu vào sự chuyểnhoá bên trong của quá trình nhận thức tìm hiểu cơ chế tiếp nhận của HS.Người học tiếp nhân kiến thức một cách có chọn lọc và phụ thuộc nhiều vàonăng lực nhận thức sẵn có cùng mối quan hệ giữa cái đã có và cái cần tiếpnhận của họ Quá trình học tập theo quan điểm kiến tạo là quá trình biến đổinhận thức của người học chứ không phải là quá trình truyền thụ tri thức theomột khuôn mẫu nào đó Tuy vậy, trong quá trình hình thành tri thức sự tươngtác xã hội đóng một vai trò hết sức quan trọng Bởi quá trình biến đổi nhận

Trang 22

thức của người học cần phải diễn ra trong một môi trường học tập thích hợp.

Dạy học theo thuyết kiến tạo là cách tổ chức dạy học trong đó HS làchủ thể tích cực xây dựng nên kiến thức mới cho bản thân dựa trên nhữngkiến thức hoặc kinh nghiệm đã có từ trước và sắp xếp kiến thức vừa nhậnđược vào cấu trúc hiện có dưới sự tổ chức, cố vấn của GV khi cần thiết”

Dạy học theo quan điểm kiến tạo là kiểu dạy học đi sâu vào sự chuyểnhoá bên trong của quá trình nhận thức tìm hiểu cơ chế tiếp nhận của HS.Người học tiếp nhân kiến thức một cách có chọn lọc và phụ thuộc nhiều vàonăng lực nhận thức sẵn có cùng mối quan hệ giữa cái đã có và cái cần tiếpnhận của họ Quá trình học tập theo quan điểm kiến tạo là quá trình biến đổinhận thức của người học chứ không phải là quá trình truyền thụ tri thức theomột khuôn mẫu nào đó Tuy vậy, trong quá trình hình thành tri thức sự tươngtác xã hội đóng một vai trò hết sức quan trọng Bởi quá trình biến đổi nhậnthức của người học cần phải diễn ra trong một môi trường học tập thích hợp

1.2.2.2 Đặc điểm của dạy học theo thuyết kiến tạo

Tri thức là sản phẩm của hoạt động phát hiện và sáng tạo của chínhngười học Học là quá trình phát hiện và sáng tạo một cách tích cực của chủthể nhận thức, không phải là sự tiếp thu một cách thụ động từ GV Đặc điểmnày hoàn toàn phù hợp

Nhận thức là quá trình tổ chức lại thế giới quan của chính người họcthông qua hoạt động trí tuệ và thể chất Với vốn kinh nghiệm và hiểu biết củamình có được qua thực tế cuộc sống thì HS có thể có được những quan niệmđúng hoặc sai về một sự vật, hiện tượng nào đó Dù quan niệm đó là đúng haysai nó đều có tác dụng kích thích HS tư duy nếu biết sử dụng chúng một cáchđúng đắn Do đó, cần quan tâm xử lý đặc biệt với từng loại quan niệm của các

em, tạo điều kiện cho HS sử dụng chúng để xây dựng nên kiến thức mới, gópphần bổ sung, phát triển những kiến thức vốn có của HS cũng như có tác

Trang 23

động, điều chỉnh những quan niệm sai ban đầu của HS.

Dựa trên đặc điểm này, khi tổ chức dạy học theo LTKT, GV phải tổchức được các hoạt động học sao cho các em được hoạt động, được tư duysáng tạo một cách tích cực thông qua giải quyết các nhiệm vụ học tập nhằm tổchức lại sự hiểu biết của mình đặc biệt là HS sẽ tự điều chỉnh hiểu biết, quanniệm để tạo nên thế giới quan cho chính mình

Học là một quá trình có tính chất xã hội, thể hiện ở hai khía cạnh: Học

là một quá trình đáp ứng yêu cầu của xã hội và quá trình nhận thức của trẻchịu ảnh hưởng của những tương tác xã hội “Phải tổ chức việc dạy học ở nhàtrường như thế nào để cung cấp cho HS một nền học vấn hiện đại, một trình

độ phát triển và chuẩn bị cho các em đi vào lao động, nhằm đáp ứng yêu cầucủa cuộc sống trong thời kì cách mạng khoa học kĩ thuật trong điều kiệnnhững tri thức khoa học không ngừng được mở rộng và đổi mới” [17, tr.5]Bởi mục tiêu giáo dục không phải là bất biến, không xê dịch mà luôn thay đổiphụ thuộc vào nhu cầu của xã hội Xã hội đặt ra các yêu cầu đối với conngười với các kĩ năng thiết yếu của người lao động hiện đại, vì thế quá trìnhhọc của con người là phải đáp ứng các yêu cầu của xã hội Hơn thế nữa nhậnthức của người học có được là do các em tự hoà mình vào các hoạt động trítuệ với những người xung quanh Các kiến thức có được đều do các thànhviên trong một nền văn hoá hợp tác tạo thành Bên cạnh đó, nhân loại cùngnhau khám phá và xây dựng nên kho tàng tri thức Vì vậy tri thức là sảnphẩm của con người và được kiến tạo cả về mặt xã hội mỗi người làm cho nótrở nên có tác dụng, có ý nghĩa thông qua sự trao đổi tương tác với ngườikhác, với môi trường mà họ đang sống Tri thức là khách quan mang tính xãhội, nó tồn tại trong việc chia sẻ của các cá nhân trong môi trường tương tác,

từ đó tri thức khách quan không ngừng được sáng tạo và trở thành tri thức chủ

Trang 24

quan trong tư duy của con người Chính vì vậy, trong dạy học GV cần tổ chứccác hoạt động học tập sao cho HS được làm việc, được hợp tác và chia sẻtrong môi trường học tập thân thiện, nhằm giúp HS tự xây dựng nên kiến thứccũng như trang bị cho mình các kĩ năng cần thiết của người lao động hiện đạisau này.

*Vai trò của người học trong dạy học theo thuyết kiến tạo

Thực chất của dạy học theo LTKT là quá trình người học xây dựng nênnhững kiến thức cho bản thân thông qua các hoạt động đồng hoá và điều ứngcác kiến thức và kỹ năng sẵn có để thích ứng với môi trường học tập mới Do

đó người học không học bằng cách thu nhận một cách thụ động những tri thức

do người khác truyền dạy một cách áp đặt, mà bằng cách đặt mình vào mộtmôi trường tích cực, phát hiện ra vấn đề, giải quyết vấn đề bằng cách đồnghoá hay điều ứng những kiến thức và kinh nghiệm đã có cho thích ứng vớinhững tình huống mới, từ đó xây dựng nên những hiểu biết mới cho bản thân

Cụ thể vai trò trung tâm của người học thể hiện ở những điểm sau:

- Người học phải chủ động, tích cực trong việc đón nhận tình huốnghọc tập mới, chủ động trong việc huy động những kiến thức, kỹ năng đã cóvào khám phá tình huống học tập mới

- Người học phải chủ động bộc lộ những quan điểm và những khó khăncủa mình khi đứng trước tình huống học tập mới

- Người học phải chủ động và tích cực trong việc thảo luận, trao đổithông tin với bạn học và GV Việc trao đổi này phải xuất phát từ nhu cầu củachính họ trong việc tìm ra những giải pháp để giải quyết những tình huốngmới hoặc khám phá sâu hơn các tình huống đó

- Người học phải tự điều chỉnh lại kiến thức của bản thân mình sau khi

đã lĩnh hội được các tri thức mới thông qua việc giải quyết các tình huống

Trang 25

trong học tập.

*Vai trò của người dạy trong dạy học theo thuyết kiến tạo.

Dạy học theo LTKT không phải chỉ nhấn mạnh vai trò chủ động sángtạo của người học mà làm “mờ nhạt” vai trò của người dạy Ở đây người dạycũng rất quan trọng bởi vì người dạy là người tổ chức, hướng dẫn người họcthông qua các hoạt động phù hợp có định hướng cụ thể để giúp người họcphát huy tối đa vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của mình trong quá trìnhchiếm lĩnh tri thức mới Nói cách khác trong dạy học theo LTKT người dạythay vì việc cố gắng truyền thụ kiến thức cho HS thông qua thuyết trình,giảng giải hay vấn đáp bằng việc chuyển các tri thức cho HS thông qua việcxây dựng các tình huống dạy học để các em chủ động tham gia nhằm chiếmlĩnh tri thức mới một cách chủ động, tự nhiên không gò bó, áp đặt tạo ra môitrường học tập mang tính xã hội cao

Như vậy dạy học theo LTKT sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho người học đượchọc tập với những trải nghiệm phong phú mà giáo viên là người định hướngcho các em xây dựng nên tri thức cho bản thân cũng như cách thức và conđường tìm ra tri thức đó

1.2.2.3 Phân biệt dạy học kiến tạo và dạy học truyền thống

Ngày nay, trước yêu cầu đặt ra của xã hội, các PP dạy học đang có sựchuyển mình mạnh mẽ Đó là sự chuyển đổi từ dạy học lấy GV làm trung tâm(dạy học truyền thống) sang dạy học lấy HS làm trung tâm Và việc dạy họctheo thuyết kiến tạo cũng thay đổi theo hướng đó Vậy sự thay đổi đó có khác

gì so với dạy học truyền thống?

Dưới đây là bảng so sánh giữa dạy học theo LTKT và dạy họctruyền thống:

Trang 26

Bảng 1.1 Bảng so sánh giữa dạy học theo thuyết kiến tạo

và dạy học truyền thống

Dạy học truyền thống Dạy học theo thuyết kiến tạo

Bản chất Lấy người dạy làm trung tâm Lấy người học làm trung tâm

Mục đích

Cung cấp kiến thức cho người học, người học chiếm lĩnh kiến thức mới một cách thụ động, máy móc

Kiến thức mới được chiếm lĩnh dựa trên nền tảng kiến thức và kinh nghiệm vốn có của người học một cách chủ động

Người dạy

Truyền thụ cho người học theo một chương trình mang tính chủ quan của mình

Tổ chức các hoạt động dựa trên vốn kiến thức, kinh nghiệm sẵn có của người học

GV hướng dẫn, gợi ý HS một cách hợp lý để HS chủ động lĩnh hội tri thức

Người học Tiếp nhận thụ động, máy móc,

kém sự sáng tạo

Chủ động chiếm lĩnh tri thức thông qua các hoạt động học

Từ đó HS được kích thích sự tìm kiếm, khám phá, liên hệ giữa kiến thức cũ và kiến thứcmới, giữa kiến thức mới và thực tế cuộc sống Tăng cường kĩ năng sống như hợp tác, chia sẻ hay khả năng làm việc độc lập

Đánh giá GV là người đánh giá Cả GV và HS đều tham gia

vào quá trình đánh giáQua bảng so sánh ở trên ta có thể thấy rằng dường như giữa PP dạy họctruyền thống với PP dạy học theo LTKT không có gì liên quan đến nhau Tuy

Trang 27

nhiên, trên thực tế trong quá trình người học xây dựng nên kiến thức mới dựatrên nền tảng kiến thức sẵn có của mình hầu như phải cần đến sự tổ chức,hướng dẫn, can thiệp kịp thời của GV Do đó tất yếu diễn ra sự trao đổi, thảoluận…… giữa GV và HS để đi đến kết luận chung thống nhất Như vậy, các

PP dạy học truyền thống được sử dụng trong quá trình dạy học theo LTKT ởmức độ nhất định, phù hợp vẫn sẽ khuyến khích được HS khi chủ động xâydựng nên các tri thức mới Việc sử dụng phối hợp các PP dạy học hợp lý giữa

PP dạy học truyền thống và PP dạy học khác khi dạy học theo LTKT sẽ tạo rahiệu quả khả quan trong dạy học

1.2.2.4 Ưu và nhược điểm của dạy học theo thuyết kiến tạo

Mỗi một quan điểm dạy học đều mang tính chất hai mặt, và không cómột quan điểm dạy học nào là tối ưu LTKT về học tập cũng vậy nó cũngchứa đựng những ưu và nhược điểm như sau:

* Ưu điểm

Với việc lấy người học làm trung tâm, “người học tự xây dựng kiếnthức mới, sự hiểu biết dựa trên kinh nghiệm, vốn kiến thức sẵn có của bảnthân, để tạo dựng vốn kiến thức vững chắc hơn cho mình” [9; tr.42] Cách tiếpcận này sẽ giúp HS chủ động làm việc, độc lập giải quyết các vấn đề học tập

Từ đó, sẽ làm cho các em năng động và sáng tạo hơn từ trong hoạt động họctập cho đến giải quyết các vấn đề thực tiễn

Trong quá trình học tập theo quan điểm dạy học của LTKT, ngoài làmviệc cá nhân HS còn được tham gia trao đổi với bạn bè thầy cô theo nhóm,lớp trong môi trường mà chính mình làm trung tâm Qua đó sẽ hình thànhđược nhiều kĩ năng tốt cho các em như: kĩ năng hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, sự tựtin dám khẳng định bản thân trước tập thể

Ngoài ra học tập theo LTKT, HS sẽ được tăng cường kĩ năng thựchành, được học qua thực tiễn cuộc sống Với những kiến thức được tự mình

Trang 28

xây dựng các em sẽ nhớ lâu hơn và kích thích được sự hứng thú, tìm tòi hamhiểu biết của các em.

Mặt khác, trong quá trình đánh giá, các em được tự đánh giá về bảnthân, được tham gia đánh giá bạn bè xung quanh Với ý nghĩa đó, các em sẽ

tự nhận thức về bản thân tốt hơn Từ đó làm cơ sở cho việc hoàn thiện mình

Việc đưa các kĩ năng cơ bản vào các đề tài phức tạp mà không có luỷệntập cơ bản có thể hạn chế hiệu quả học tập

Dạy học theo LTKT đòi hỏi thời gian lớn và yêu cầu cao về năng lựccủa GV

1.2.3 Dạy học môn giáo dục công dân ở trường THPT theo thuyết kiến tạo

1.2.3.1 Đặc điểm dạy học môn giáo dục công dân ở trường THPT

Môn GDCD là môn học nhằm trang bị cho người học những tri thứckhoa học về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, trithức về các vấn đề kinh tế-chính trị-xã hội và pháp luật Trên cơ sở đó để các

em điều chỉnh hành vi bản thân cho phù hợp với các chuẩn mực của xã hội vàquy định của nhà nước Trở thành những công dân có ích cho xã hội

Đối tượng người học là những em HS đang học những năm cuối cấpphổ thông chuẩn bị bước sang giai đoạn chuyển giao tiếp theo trong việc chọnngành, chọn nghề Vì vậy mà nhận thức của các em về xã hội - đất nước cũngnhư các vấn đề về chính trị, pháp luật còn chưa thực sự đầy đủ và sâu sắc

Về phía người dạy môn GDCD đều là các thầy cô giáo tốt nghiệpchuyên ngành chính trị hoặc GDCD, được trang bị đầy đủ những kiến thức cơ

Trang 29

bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, am hiểu về đường lốichính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Phần lớn là những GV trẻ,nhiệt huyết có trách nhiệm với công việc, yêu nghề Tuy nhiên, đây cũng làyếu tố trở thành hạn chế của việc dạy môn học này, bởi lẽ vì đa phần là GVtrẻ nên họ còn non nớt về kinh nghiệm giảng dạy, chưa từng trải trong nghề.Mặc dù còn tồn tại hạn chế nhất định song với nhiệt huyết của sức trẻ trongthời gian tới những điểm yếu trên hoàn toàn có khả năng để khắc phục.

Về PP dạy học bộ môn, với đặc thù là môn học thiên về lý thuyết vàcác kiến thức thực tế của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Vì vậy mà PPđược các GV sử dụng chủ yếu là thuyết trình, vấn đáp, quan sát….Hiện naycác GV đã áp dụng những PP học tích cực áp dụng vào bộ môn nhằm nângcao hiệu quả của quá trình dạy học như PP đóng vai, nghiên cứu trường hợp,dạy học dự án, dạy học nhóm….Với những PP dạy học tích cực này đã gópphần quan trọng vào làm thay đổi không khí giờ học môn GDCD, thái độ họctập của HS và quan niệm về môn học của xã hội nói chung

Về PTDH, do đặc thù là môn học nặng về lý thuyết nên phương tiệncũng không đa dạng như các môn khoa học khác, chủ yếu là các phương tiệnmang tính chất truyền thống như: sách giáo khoa, tài liệu thông tin tham khảo,

….Ngoài ra hiện nay với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin, sử dụngcác tranh ảnh, video đã làm cho PTDH môn GDCD hỗ trợ thực sự đắc lực choviệc sử dụng có hiệu quả các PP dạy học

1.2.3.2 Khả năng vận dụng thuyết kiến tạo vào dạy học môn GDCD

Nội dung kiến thức môn GDCD được cấu tạo bởi năm phần, chúng cómối quan hệ chặt chẽ với nhau Đồng thời chúng có quan hệ với chương trìnhmôn GDCD Trung học cơ sở theo nguyên tắc tích hợp, đồng tâm và phát triển

Ngoài những bài học chính trong SGK, chương trình còn dành một sốthời gian cho các hoạt động thực hành, ngoại khoá các vấn đề gắn với tình

Trang 30

hình địa phương và các vấn đề đang được xã hội quan tâm.

Nội dung mỗi phần học đều được lồng ghép tích hợp những kiến thứcthực tế phù hợp với lứa tuổi, trình độ nhận thức của người học như vấn đề bảo

vệ môi trường, giáo dục kĩ năng sống, phòng chống tham nhũng……

Nội dung kiến thức môn GDCD được phát triển theo theo vòng trònđồng tâm, tức là những kiến thức đều được phát triển và mở rộng dựa trên cácnội dung kiến thức đã có ở những lớp học dưới bậc Trung học cơ sở

Với những đặc điểm nội dung như trên rất phù hợp với việc tổ chức dạyhọc theo LTKT vì bản chất của dạy học theo LTKT là HS tự xây dựng kiếnthức của mình dựa trên vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có của các em Vìvậy với các kiến thức ở cấp THPT phần nào có sự liên quan nhất định tới cáckiến thức mà HS đã có ở những lớp dưới và trong thực tế Hơn nữa nhữngkiến thức này rất gần gũi với cuộc sống của HS Nhờ đó mà việc xây dựngnên kiến thức mới dựa trên kiến thức cũ và kinh nghiệm sống của HS có khảnăng thực hiện rất cao Vì vậy điều này rất phù hợp cho việc xây dựng cáchoạt động dạy theo LTKT đảm bảo được nội dung chương trình đặt ra

Với đối tượng môn học là các em HS lứa tuổi từ 15 đến 17, đây là lứatuổi các em đã có vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống nhất định nhưng chưathực sự chắc chắn Các em yêu thích sự khám phá, tìm tòi và cũng muốn thểhiện sự sáng tạo của bản thân trước những người xung quanh

Trong khi môn GDCD trong nhà trường phổ thông hiện nay vẫn đánhgiá là có khối lượng kiến thức đồ sộ lại khô khan và trừu tượng, các PTDH thìnghèo nàn chủ yếu là sử dụng SGK Tuy nhiên với sự hỗ trợ đắc lực của côngnghệ thông tin, thiết bị dạy học hiện đại người GV hoàn toàn có thể khắc phụcđược những điều này Vì vậy, xuất phát từ thực tế trên mong muốn của các

GV là đổi mới PP dạy học làm sao để giờ dạy trở nên sôi động hơn, cuốn húthơn và đặc biệt là tích cực hoá được các hoạt động học tập của người học

Trang 31

Theo đó việc kiểm tra, đánh giá người học cũng có sự thay đổi, khácvới trước đây GV chỉ đánh giá thông qua các bài kiểm tra thì hiện nay việckiểm tra, đánh giá HS theo hướng vận dụng LTKT đã đa dạng hơn rất nhiều.Với cách đánh giá này tạo cơ hội để GV và HS gần gũi nhau hơn, hiểu đượccác em, từ đó góp phần vào việc điều chỉnh PP dạy học cho phù hợp với đốitượng người học.

Trong nội dung kiến thức năm phần môn GDCD ở nhà trường phổthông thì phần nào cũng có những bài có thể vận dụng dạy học theo LTKT.Bởi nội dung mỗi phần đều có những đặc thù riêng biệt nhưng đều có điểmchung là dựa trên cơ sở những kiến thức và kinh nghiệm đã được xây dựng đểhình thành nên những kiến thức mới cho người học Tuy nhiên, tuỳ vào mức

độ mà có phần kiến thức đối với các em là khá khó bởi vì các em chưa đượclàm quen nhiều đã dẫn tới việc điều tra kiến thức và kinh nghiệm đã có làtương đối khó như phần công dân với kinh tế, công dân với các vấn đề chínhtrị - xã hội Ngược lại, ở nội dung phần công dân với với đạo đức thì khả năngvận dụng lại rất cao

Với môn GDCD khi vận dụng LTKT vào dạy học phần công dân vớiđạo đức một mặt GV phải chú ý đến việc nhận thức, đánh giá và ý kiến chủquan của các em về các hiện tượng diễn ra xung quanh cuộc sống hàng ngày.Mặt khác, cũng cần quan tâm đến hoạt đông hợp tác của các em trong quátrình học tập Vì vậy coi trọng, phát huy tính tích cực chủ động trong việckiến tạo kiến thức của mỗi HS đồng thời phát huy vai trò của sự hợp tác giữa

cá nhân là yêu cầu cơ bản của dạy học phần đạo đức môn GDCD theo LTKT

Vì vậy xuất phát từ khả năng vận dụng mà người dạy cần có sự tìmhiểu sao cho phù hợp để vận dụng thuyết kiến tạo đạt hiệu quả cao trong quátrình dạy học

1.2.3.3 Điều kiện vận dụng thuyết kiến tạo vào môn giáo dục công dân

* Nội dung dạy học, nội dung kiến thức phải phù hợp với thực tiễn

Trang 32

cuộc sống, song song với quá trình nhận thức của nhà trường HS trong quátrình tiếp xúc với thực tế đã kiến tạo cho bản thân một số khái niệm cơ bản cóthể đúng hoặc sai Người GV có nhiệm vụ phát hiện ra những quan niệm saiđang tồn tại ở người học để thiết kế các quá trình dạy học thích hợp nhằmgiúp HS phá vỡ những quan niệm cũ sai lệch đó hình thành kiến thức mới.

Như vậy, trong dạy học theo quan điểm kiến tạo các kiến thức, kĩ năngsẵn có của HS là một trong những tiền đề quan trọng giúp GV lựa chọn trithức, PP dạy học phù hợp Tuy nhiên, nếu câu hỏi quá khó HS nỗ lực hết sứcvẫn không trả lời được HS sẽ cảm thấy chán nản và quá trình tư duy có thểvẫn diễn ra nhưng không đạt hiệu quả dẫn đến không đạt được mục tiêu củaquá trình dạy học

* Về phía GV: Trong quá trình dạy học khi phát hiện HS có biểu hiệnsai lầm GV không nên bác bỏ ngay mà tạm thời chấp nhận ý kiến của HS, tìmhiểu nguyên nhân tại sao HS lại có những biểu hiện sai lầm như vậy Đối vớinhững sai lầm do sơ suất thì có thể chỉ bảo cho HS tự sửa chữa, còn đối vớinhững sai lầm do quan niệm sai lầm đưa đến thì cần phải tổ chức quá trìnhnhận thức để HS thấy được cái sai trong quan niệm của mình tự nguyện muốnthay đổi khi đó GV sẽ giúp cho HS xây dựng tri thức mới để đáp ứng nhu cầumuốn thay đổi quan niệm sai mà không cảm thấy bị áp đặt, bắt buộc

Dạy học theo LTKT đòi hỏi GV phải chẩn đoán nắm bắt được kiếnthức đã có của người học trên cơ sở đó thiết kế các tình huống, hoạt động, dự

án học tập… Với môn GDCD, các kiến thức và kinh nghiệm mà HS có đượcthường gắn liền với thực tế cuộc sống của các em nên GV gặp khó khăn hơntrong việc dự kiến các quan niệm của các em Hơn nữa, trong thời đại bùng

nổ thông tin như hiện nay, HS ngày càng được tiếp cận với nhiều phương tiệntruyền thông hiện đại nên thông tin, kiến thức mà các em có được ngày càngphong phú hơn, quan niệm cũng có sự thay đổi…Vì vậy, khả năng chủ động

Trang 33

của GV trong việc nắm bắt suy nghĩ, kiến thức và quan niệm sẵn có của ngườihọc trong môn GDCD sẽ bị hạn chế Vì vậy đây chính là lí do dẫn đến khókhăn trong việc vận dụng các quy trình trên khi dạy môn GDCD ở nhàtrường phổ thông nói chung và với phần “Công dân với đạo đức” nói riêng.Chính điều này đòi hỏi GV giảng dạy môn GDCD cần có kiến thức chuyênmôn sâu rộng, cập nhật và trình độ, kỹ năng sư phạm thành thục mới giúp HSkiến tạo nên kiến thức GV phải có tâm với nghề, có lòng nhiệt tình, tinh thầntrách nhiệm cao, có phẩm chất đạo đức tốt, là tấm gương sáng về đạo đức, tựhọc và sáng tạo.

Thực hiện đổi mới PPDH, không ngừng học tập và bồi dưỡng, nângcao trình độ để nâng cao hiệu quả dạy học, người giáo viên phải không ngừngđổi mới PP theo hướng tích cực, sử dụng nhuần nhuyễn các PP dạy học, cókinh nghiệm, kĩ năng kĩ xảo để hướng dẫn, chỉ đạo học sinh Đồng thời cầnkhông ngừng học tập nâng cao trình độ, cập nhật thông tin thời sự, hiểu biếtcác vấn đề xã hội mới có tính thuyết phục đối với học sinh Vì vậy, giáo viênphải coi đây là một nhiệm vụ thường xuyên, bắt buộc để có thể đảm nhiệmnhiệm vụ của mình là giáo dục học sinh thông qua môn GDCD

* Đối với HS: Các em phải tự kiến tạo nên tri thức cho bản thân dưới

sự hỗ trợ của GV HS phải có động cơ học tập, tích cực, hăng hái tham giavào các hoạt động của bài giảng, phải thay đổi phương pháp học tập khoa học

và hiệu quả Ngoài ra có đầy đủ SGK, vở ghi và các tài liệu có liên quan đến

bộ môn, tích cực tham gia các hoạt động, hợp tác với thầy, với bạn Có tâmthế tự tin, thoải mái trong quá trình học, tránh sự căng thẳng, ức chế, e ngại…

Để hỗ trợ cho các em, GV phải là người chủ động trong việc điềukhiển hoạt động tư duy của HS phải tạo được nhu cầu, hứng thú cho HS bằngcách đưa ra tình huống có vấn đề và người học mong muốn giải quyết nó, lúc

đó hoạt động tư duy sẽ bắt đầu diễn ra Đồng thời, GV phải tạo môi trường

Trang 34

học tập cho HS có điều kiện thuận lợi để thảo luận, trao đổi ý kiến của mìnhvới bạn bè, thầy cô

* Điều kiện trang thiết bị phải đáp ứng nhu cầu học tập, nhu cầu của

HS trong quá trình dạy học theo quan điểm kiến tạo, trang bị đầy đủ SGK,sách giáo viên, tài liệu tham khảo và các PTDH khác

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng thuyết kiến tạo vào dạy học môn giáo dục công dân ở trường THPT Lê Xoay

1.3.1 Thực trạng về chương trình dạy học môn GDCD trong nhà trường phổ thông hiện nay

Nội dung và cấu trúc chương trình môn GDCD ở trường THPT đượcđịnh thành năm phần chính với thời lượng phân bổ như sau:

- Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phươngpháp luận khoa học (16 tiết lý thuyết)

- Phần thứ hai: Công dân với đạo đức (11 tiết lý thuyết)

- Phần thứ ba: Công dân với kinh tế (14 tiết lý thuyết)

- Phần thứ tư: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội (13 tiết lýthuyết)

- Phần thứ năm: Công dân với pháp luật (27 tiết lý thuyết)

Ngoài những bài học chính trong SGK, chương trình còn dành một sốthời gian cho các hoạt động thực hành, ngoại khoá các vấn đề gắn với tìnhhình địa phương Do vậy trong mỗi năm học, môn GDCD được phân phối với

37 tuần tương ứng với 35 tiết học ngoài kiến thức lý thuyết trên ở cả ba khốilớp các em đều có ít nhất hai tiết dành cho ngoại khoá

Với thời gian và lượng kiến thức như vậy nên việc giảng dạy mônGDCD tại trường THPT Lê Xoay được đảm nhận bởi 4 GV, trong đó có một

GV là cán bộ quản lý Về trình độ chuyên môn của các GV: có một GV cótrình độ sau đại học và ba GV có trình độ đại học, họ đều là các GV đã có kinh

Trang 35

nghiệm lâu năm trong việc giảng dạy môn GDCD trong nhà trường phổ thông.

Là một ngôi trường lớn, số lượng HS đông (trung bình mỗi năm họcnhà trường có trên 1 nghìn HS ở cả ba khối lớp) Mặc dù số lượng đông songnhà trường luôn đứng trong tốp các trường có chất lượng giáo dục cao trongtỉnh và toàn quốc Các em đều có đầu vào khá cao phần lớn đều là HS có họclực khá, giỏi ở cấp dưới chuyển lên có ý thức học tập và tu dưỡng đạo đức rấttốt Trường có bề dày lịch sử hơn 50 năm, do vậy đã xây dựng được một hệthống cơ sở vật chất với các trang thiết bị dạy học khá đầy đủ Tuy nhiêntrong số đó, các PTDH dành cho bộ môn GDCD lại khá nghèo nàn chỉ có một

số tài liệu và băng đĩa ngoài ra không có tranh ảnh, sơ đồ bảng biểu… chínhđiều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức hút của bộ môn đối với người học

Để tìm hiểu thực trạng dạy học môn GDCD và dạy học theo LTKTcùng với việc quan sát, dự giờ các tiết học, chúng tôi đã tiến hành điều tra,phỏng vấn giáo viên dạy GDCD tại trường THPT Lê Xoay, tỉnh Vĩnh Phúc.Nội dung điều tra bao gồm các câu hỏi về các vấn đề như đánh giá chươngtrình dạy học môn GDCD, các bước tiến hành dạy học, nội dung môn học,

……Dựa trên kết quả thu nhận được, chúng tôi đã tiến hành tổng hợp, phântích, và có thể khái quát về thực trạng chương trình dạy học môn GDCD ởnhà trường hiện nay như sau:

Hầu hết các GV đều nhận thức đúng vị trí, vai trò của môn học Họ đềucho rằng đây là môn học rất quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt với việc hìnhthành cho người học những kĩ năng sống cơ bản Nhưng tất cả họ đều nhậnthấy một thực tế là trong nhà trường phổ thông đây là một môn học ít giờ vàchưa được xã hội quan tâm đúng mức theo đúng ý nghĩa của nó Vì ít tiếttrong một tuần nên những kiến thức cơ bản cần được dạy đủ trên lớp, trongkhi đó khối lượng này lại khá nhiều, nếu người GV không xác định đượctrọng tâm bài học thì sẽ dẫn đến việc HS phải lĩnh hội khối lượng kiến thức

Trang 36

quá lớn Trong khi mục tiêu của môn học ngoài trang bị cho HS kiến thức thìmôn GDCD còn có nhiệm vụ quan trọng là hình thành cho các em các kĩnăng, giáo dục thái độ sống tích cực Bên cạnh đó cũng tồn tại rất nhiều quanđiểm cho rằng đây là “môn học phụ” chỉ cần đảm bảo những kiến thức trongSGK không cần đầu tư mở rộng Từ sự không coi trọng đó đã dẫn đến nhiều

GV không có sự đầu tư thời gian để tìm hiểu bài dạy hoặc chỉ dạy cho xong

mà không có sự sáng tạo đổi mới

Mặt khác, theo đánh giá của các GV nội dung chương trình GDCD ởTHPT hiện nay phần lớn dành cho việc dạy kiến thức triết học, kinh tế chínhtrị, chủ nghĩa xã hội khoa học và đường lối, chính sách của Đảng và Nhànước Trong khi đó, trọng tâm là phần công dân với đạo đức chỉ được thựchiện trong học kì II - lớp 10 Nội dung các bài học đạo đức chủ yếu thiên vềgiáo dục ý thức đạo đức chính trị, thuyết lý khô khan, giáo điều, không gắnvới những tình huống thực tế cuộc sống, chưa bắt nhịp kịp với sự phát triểncủa xã hội trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá

Bên cạnh đó nhiều vấn đề mới nảy sinh đã không được đề cập Nhiềugiá trị chuẩn mực đạo đức cũ đã có sự biến đổi, sự thay đổi của các chủtrương chính sách … cũng không được đưa vào nội dung chương trình

Đặc biệt vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống, rèn luyện thói quen đạo

đức truyền thống, giáo dục kĩ năng sống hoàn toàn chưa được chú trọng

1.3.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về thuyết kiến tạo trong dạy học

Qua trò chuyện phỏng vấn GV trước và trong khi điều tra thì hầu hếtcác GV được hỏi đều trả lời là chưa từng nghe nói đến LTKT bao giờ Còntheo kết quả điều tra bằng phiếu có 2/4 (50%) GV chưa từng biết đến quanđiểm dạy học này Còn 2 GV có biết về LTKT nhưng không rõ nội dung Nhưvậy, nội dung thuyết kiến tạo đối với hầu hết GV là rất mới mẻ, thậm chí là lạlẫm đối với họ

Trang 37

Do chưa biết đến nội dung, ý nghĩa to lớn cũng như cách thức ứng dụngLTKT vào quá trình dạy học như thế nào nên đã dẫn đến kết quả nhận thứccủa GV dạy môn GDCD về thuyết kiến tạo là rất hạn chế Tuy nhiên, trênthực tế trong quá trình dạy học, mặc dù chưa từng nghe đến LTKT song số

GV đã vận dụng lý thuyết này không phải là ít dù có thể chưa hoàn toàn đúng

về lý luận theo LTKT Cụ thể có 3/4 (75%) GV đã từng thực hiện việc dạyhọc theo quy trình sau:

1 Tìm hiểu kiến thức đã có của HS liên quan đến bài học mới

2 HS trình bày hiểu biết của mình

3 GV đưa ra tình huống chứa đựng kiến thức mới

4 GV và HS giải quyết tình huống đó

5 Xây dựng kiến thức mới

6 HS chiếm lĩnh kiến thức mới

7 Thực hành, vận dụng

Ngoài ra khi được hỏi về mức độ thường xuyên áp dụng 7 bước trêntrong quá trình dạy học đối với các phần kiến thức trong toàn bộ chương trìnhhọc môn GDCD đã có sự phân hoá rõ nét Phần lớn các GV tiến hành theoquy trình 7 bước thường áp dụng ở phần kiến thức lớp 10 và lớp 12 Bởi theo

họ đây là phần có nội dung kiến thức khá gần gũi với HS, vốn hiểu biết củacác em cũng tương đối nhiều Ngược lại, ở phần kiến thức lớp 11, GV ápdụng khá ít, thậm chí không áp dụng

Qua kết quả trên, đã cho thấy GV đã có sự lựa chọn phần kiến thức phùhợp để áp dụng quá trình dạy học này để mang lại hiệu quả cao cho giờ dạycủa mình Từ thực trạng nhận thức trên của GV về LTKT đã ảnh hưởng trựctiếp đến việc sử dụng các PP, PTDH cũng như xây dựng các hình thức, tiêuchí đánh giá của các GV trong quá trình dạy học bộ môn Điều này được thểhiện thông qua kết quả điều tra sau đây:

Trang 38

1.3.3 Thực trạng sử dụng phương pháp và phương tiện dạy học trong môn GDCD ở trường THPT Lê Xoay

Sau khi phát phiếu khảo sát tình hình sử dụng chúng tôi đã tiến hành xử

lí số liệu theo công thức tính trung bình (tại phụ lục 1)

Khi điều tra về thực trạng mức độ sử dụng PP và PTDH trong mônGDCD, tại trường THPT Lê Xoay, chúng tôi thu được kết quả về thực trạng

sử dụng PP và PTDH tại trường THPT Lê Xoay, tỉnh Vĩnh Phúc như sau:

* Về phương pháp dạy học

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về các phương pháp

mà GV thường sử dụng khi dạy học

Như vậy, trong quá trình dạy học môn GDCD tại trường THPT LêXoay, tỉnh Vĩnh Phúc phần lớn các GV vẫn sử dụng PP dạy học truyền thống

là PP thuyết trình, vấn đáp Có một số GV đã sử dụng PP dạy học tích cực

Trang 39

song không thường xuyên Thực trạng trên cho thấy để phát huy tính tích cựcchủ động trong học tập và hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho HS khihọc môn GDCD tại trường THPT Lê Xoay, việc sử dụng đa dạng các PP dạyhọc theo hướng tích cực hoá người học có ý nghĩa quan trọng và cần đượcxem xét như là một trong những giải pháp trọng tâm.

* Về phương tiện dạy học

Bảng 1.3 Kết quả mức độ sử dụng phương tiện hỗ trợ trong quá trình dạy học

STT Phương tiện dạy học Mức độ sử dụng TX TT KBG Tổng Trung bình Thứ bậc

1 Sách giáo khoa, bảng đen,

1.3.4 Thực trạng kiểm tra đánh giá môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Lê Xoay

* Về tiêu chí kiểm tra, đánh giá

Kết quả khảo sát tiêu chí sử dụng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập mônGDCD tại trường THPT Lê Xoay, tỉnh Vĩnh Phúc được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.4. Thống kê mức độ sử dụng các tiêu chí kiểm tra, đánh giá

STT Tiêu chí kiểm tra,

đánh giá

Mức độ sử dụng Tổng TB Thứ

bậc

Trang 40

1 Khả năng ghi nhớ bài học 4 0 0 12 3 1

2 Khả năng giải quyết vấn đề 0 3 1 7 1.75 2

3 Chuẩn kiến thức, kĩ năng 0 2 2 6 1.5 3

Kết quả thống kê cho thấy tất cả các GV sử dụng tiêu chí đánh giá theokhả năng ghi nhớ của người học với mức độ cao nhất Tiêu chí khả năng giảiquyết vấn đề cũng được 3 GV sử dụng khi thiết kế các bài kiểm tra đánh giáhọc tập song không thường xuyên Mức độ sử dụng tiêu chí chuẩn kiến thức,

kĩ năng trong kiểm tra đánh giá là chưa cao thậm chí là thấp nhất trong 3 tiêuchí được đưa ra Qua đó chứng tỏ các GV còn đánh giá người học chủ yếutheo các tiêu chí chủ quan của mình đưa ra mà chưa có thang chuẩn đánh giámang tính khách quan, khoa học

* Về hình thức kiểm tra đánh giá

Bảng 1.5 Thống kê mức độ sử dụng các hình thức

kiểm tra đánh giá kết quả học tập

STT Các hình thức kiểm tra, đánh giá Mức độ sử dụng Tổng TB Thứ bậc

Như vậy, với tiêu chí đánh giá kết quả học tập dựa vào khả năng ghi nhớ

Ngày đăng: 21/04/2017, 22:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thị Việt Anh (2005), “Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong đổi mới phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục, số 112/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong đổi mớiphương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Đào Thị Việt Anh
Năm: 2005
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK lớp 10 THPT môn GDCD, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên thực hiệnchương trình SGK lớp 10 THPT môn GDCD
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), SGK GDCD lớp 10, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK GDCD lớp 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Sách giáo viên GDCD lớp 10, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên GDCD lớp 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng môn GDCD ở trường THPT, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng mônGDCD ở trường THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
6. Phùng Văn Bộ (1999), Lí luận dạy học môn GDCD ở trường THPT, Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học môn GDCD ở trường THPT
Tác giả: Phùng Văn Bộ
Nhà XB: NxbĐại học Quốc gia
Năm: 1999
7. Nguyễn Gia Cầu (2007), “Dạy học phát huy tính năng động sáng tạo của học sinh”, Tạp chí Giáo dục, số156/ 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phát huy tính năng động sáng tạo củahọc sinh”," Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 2007
8. Nguyễn Hữu Châu, “Dạy học toán ở trường phổ thông theo quan điểm kiến tạo”,Tạp chí Giáo dục, số7/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học toán ở trường phổ thông theo quan điểmkiến tạo”,"Tạp chí Giáo dục
9. Nguyễn Hữu Châu (2006), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quátrình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2006
10. Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Duy Nhiên (2008), Dạy và Học môn GDCD ở trường THPT – Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và Học môn GDCD ởtrường THPT – Những vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Duy Nhiên
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2008
11. Đỗ Văn Cường (2008), “Góp phần nâng cao hiệu quả dạy học hình học 10 trên cơ sở phối hợp quan điểm dạy học giải quyết vấn đề và dạy học kiến tạo”, Tạp chí Giáo dục, số 190/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nâng cao hiệu quả dạy học hình học10 trên cơ sở phối hợp quan điểm dạy học giải quyết vấn đề và dạy họckiến tạo”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Đỗ Văn Cường
Năm: 2008
12. Nguyễn Văn Cường (2007), “Đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông”, Tạp chí Giáo dục, số 159/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở trườngtrung học phổ thông”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 2007
13. Nguyễn Văn Cường (2007), “Các lý thuyết học tập cơ sở tâm lý của đổi mới phương pháp dạy học”, Tạp chí Giáo dục,số 153/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết học tập cơ sở tâm lý của đổimới phương pháp dạy học”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 2007
14. Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier (2012), Lý luận dạy học hiện đại, một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học . Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại,một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạmHà Nội
Năm: 2012
15. Đào Đức Doãn (2009), “ Những vấn đề còn bất cập trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông”, Tạp chí Giáo dục, số 223/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề còn bất cập trong dạy học môngiáo dục công dân ở trường trung học phổ thông”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Đào Đức Doãn
Năm: 2009
16. Hồ Thị Mỹ Dung (2011), Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học chương dẫn xuất halogen, alcol, phenol hoá học 11 THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy họcchương dẫn xuất halogen, alcol, phenol hoá học 11 THPT
Tác giả: Hồ Thị Mỹ Dung
Năm: 2011
17. M.A Đanilôp, M.N Xcatkin (1980) Lý luận dạy học của trường phổ thông – Một số vấn đề của lý luận dạy học hiện đại (người dịch: Đỗ Thị Trang, Nguyễn Ngọc Quang), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học của trường phổthông – Một số vấn đề của lý luận dạy học hiện đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. Vương Tất Đạt (1994), Phương pháp giảng dạy GDCD, Nxb ĐHSP HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy GDCD
Tác giả: Vương Tất Đạt
Nhà XB: Nxb ĐHSP HN
Năm: 1994
19. Lê Văn Đoán, Đào Đức Doãn (2012), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứukhoa học
Tác giả: Lê Văn Đoán, Đào Đức Doãn
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2012
20. Đinh Văn Đức (tổng chủ biên), Dương Thị Thúy Nga, Nguyễn Thị Thọ (2011), Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Giáo dục công dân lớp 10, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Giáo dục công dânlớp 10
Tác giả: Đinh Văn Đức (tổng chủ biên), Dương Thị Thúy Nga, Nguyễn Thị Thọ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w