lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 1995; “Một số vấn đề giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; “Giáo dục pháp luật trong các trường đại học,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-&& -LÊ THỊ HIÊN
GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐÔNG ANH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Chuyên ngành : LL&PP Giảng dạy Giáo dục chính trị
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Long
Trang 2HÀ NỘI - 2014
Trang 3Lời cảm ơn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn TS.
Nguyễn Văn Long đã trực tiếp hướng dẫn tận tình chu đáo trong suốt quá
trình em làm đề tài luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Lí luận chính trị - Giáodục công dân, các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy và các phòng ban liên quancủa trường Đại học sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trongquá trình học tập và làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, Ban giámhiệu nhà trường và các em học sinh khối lớp 12 trường THPT Vân Nội, Trungtâm GDTX Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã động viên,giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Lê Thị Hiên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH THPT QUA DẠY HỌC GIÁO DỤC CÔNG DÂN 6
1.1 Cơ sở lý luận của việc dạy học phần Công dân với pháp luật nhằm giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT 6
1.1.1 Ý thức pháp luật và vai trò của ý thức pháp luật 6
1.1.2 Sự cần thiết giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trung học phổ thông 15
1.2 Nội dung và phương pháp giáo dục ý thức pháp luật trong chương trình Giáo dục công dân hiện nay 24
1.2.1 Nội dung giáo dục ý thức pháp luật trong chương trình Giáo dục công dân hiện nay 24
1.2.2 Phương pháp giáo dục ý thức pháp luật trong chương trình Giáo dục công dân 12 ở các trường THPT huyện Đông Anh 26
1.2.3 Đổi mới phương pháp giáo dục ý thức pháp luật nhằm nâng cao nhận thức và năng lực thực hành pháp luật cho học sinh 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33
Trang 5Chương 2: QUY TRÌNH, ĐIỀU KIỆN GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH THPT QUA DẠY HỌC GIÁO DỤC CÔNG
DÂN 12 35
2.1 Quy trình thực hiện 35
2.1.1 Xác định mục tiêu dạy học 35
2.1.2 Xác định nội dung dạy học 37
2.1.3 Xác định phương pháp dạy học 38
2.1.4 Quy trình thiết kế bài giảng 46
2.1.5 Quy trình thực hiện bài giảng 49
2.1.6 Quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 51
2.2 Điều kiện thực hiện 52
2.2.1 Đối với đội ngũ giáo viên 52
2.2.2 Đối với học sinh 54
2.2.3 Đối với nhà trường, các cấp quản lí 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 57
Chương 3: THỰC NGHIỆM DẠY HỌC CÔNG DÂN LỚP 12 NHẰM GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH THPT HUYỆN ĐÔNG ANH 58
3.1 Kế hoạch thực nghiệm 58
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 58
3.1.2 Giả thuyết khoa học 58
3.1.3 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm và đối chứng 58
3.1.4 Khảo sát lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 59
3.2 Nội dung thực nghiệm 60
3.2.1 Những nội dung khoa học cần thực nghiệm 60
3.2.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm 60
3.2.3 Tiến hành thực nghiệm đối chứng 81
Trang 63.3 Kết quả thực nghiệm 82
3.3.1 Kết quả kiểm tra sau khi dạy thực nghiệm 82
3.3.2 Phân tích mức chênh lệch giữa kết quả đầu ra – đầu vào 85
3.3.3 Trưng cầu ý kiến đánh giá thái độ của giáo viên và học sinh sau quá trình thực nghiệm 86
3.4 Một số khuyến nghị sau thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT huyện Đông Anh qua dạy học môn Giáo dục công dân 87
3.4.1 Nâng cao nhận thức của giáo viên, học sinh, các cấp quản lý về vai trò của môn Giáo dục công dân 87
3.4.2 Giáo viên cần không ngừng trau dồi kiến thức, kĩ năng chuyên môn .89
3.4.3 Tạo điều kiện cho giáo viên Giáo dục công dân 90
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kết quả kiểm tra của 2 nhóm lớp trước thực nghiệm 60
Biểu đồ 3.2: Kết quả kiểm tra của hai nhóm lớp sau thực nghiệm tiết 1 83
Biểu đồ 3.3: Kết quả kiểm tra của hai nhóm lớp sau thực nghiệm tiết 2 84
Biểu đồ 3.4: Kết quả kiểm tra của hai nhóm lớp sau thực nghiệm tiết 3 85
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhà nước pháp quyền là sản phẩm của xã hội văn minh Trong nhànước pháp quyền pháp luật có một vai trò đặc biệt quan trọng Pháp luậtkhông chỉ là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu mà còn tạo môi trường thuậnlợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, lành mạnh hóa đời sống xã hội vàgóp phần bồi đắp nên những giá trị mới
Học sinh THPT - những chủ nhân tương lai của đất nước, các emđang chuẩn bị cho mình hành trang tri thức, đặc biệt tri thức pháp luật đểbước vào cuộc sống Chuẩn bị cho các em những hiểu biết về pháp luật,thái độ đối với pháp luật, khả năng thực hiện và áp dụng pháp luật sẽ giúpcác em tự tin, vững vàng hơn khi bước vào cuộc sống, đồng thời hạn chếnhững tiêu cực cho xã hội
Thế nhưng hiện nay những biểu hiện về suy thoái đạo đức cũng nhưtình trạng vi phạm pháp luật của học sinh đã dấy lên hồi chuông báo động chogia đình, nhà trường và xã hội Tình trạng học sinh xuống cấp về đạo đức và
vi phạm pháp luật ngày càng tăng trong khi giáo dục lại chưa thể hiện đượcvai trò của các môn học trong nhà trường
Môn Giáo dục công dân ở trường THPT có vai trò hết sức quan trọng.Những kiến thức môn Giáo dục công dân giúp học sinh hình thành kỹ năngsống cơ bản để vững vàng bước vào đời: ý thức tổ chức kỷ luật, thái độ đúngđắn trong nhận thức và chấp hành pháp luật
Đông Anh là một huyện ngoại thành của Hà Nội Nơi đây quá trình đôthị hóa đang diễn ra rất nhanh Cùng với đó là sự biến đổi trong đời sống xãhội: ý thức đạo đức, văn hóa, lối sống, ý thức pháp luật… Tình trạng học sinh
vi phạm đạo đức, ý thức kỷ luật, vi phạm pháp luật có chiều hướng gia tăng
Trang 10Tuy nhiên, dạy học môn Giáo dục công dân trong các trường THPT ở huyệnĐông Anh chưa phát huy được vai trò của mình trong việc giáo dục ý thứcpháp luật cho học sinh.
Là một giáo viên Giáo dục công dân tôi ý thức được vai trò,trách
nhiệm của mình Vì vậy tôi chọn “Giáo dục ý thức pháp luật cho học
sinh THPT huyện Đông Anh qua dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục pháp luật cho học sinh THPT huyện Đông Anh nói riêng và học sinhTHPT nói chung
lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 1995; “Một số vấn đề giáo dục pháp luật ở miền núi
và vùng dân tộc thiểu số”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; “Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học của Đinh Xuân Thảo, 1996; “Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp - hình thức đặc thù của giáo dục pháp luật”, Luận án Tiến sĩ của Dương Thanh Mai, 1996; “Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước ta - thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ của Hồ Quốc Dũng, 1997; “Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay”, của Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, Nxb Thanh niên, 1997; “Đổi mới giáo dục pháp luật trong
Trang 11hệ thống các trường Chính trị ở nước ta hiện nay”, Đề tài khoa học cấp Bộ,
Khoa Nhà nước pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1999;
“Đổi mới giáo dục pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở nước ta hiện nay” Các công trình đã khai thác nhiều khía cạnh khác nhau của ý thức pháp
luật: khái niệm, chức năng, cấu trúc, vai trò…và chú trọng đến việc giáo dục
ý thức pháp luật trong thời kỳ đổi mới cho các đối tượng như cán bộ quản lýnhà nước, cho đồng bào miền núi, cho các trường chính trị, ít có đề tài nghiêncứu giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh
Đến những năm 2000 đề tài về ý thức pháp luật vẫn tiếp tục thu hút
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở những khía cạnh, chuyên ngành
khác nhau Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Ngọc Hoàng, 2000; “Logic khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Triết học, tác giả Nguyễn Thị Thúy Vân, năm 2001;
“Giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Thủy, 2008; “Giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THHPT ở thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Triết học của Lê Thị Tuyết Thu, 2011; “Giáo dục pháp luật và ý thức pháp luật cho thanh niên ở Đăk Lak hiện nay”,
Luận văn Thạc sĩ Triết học của Trần Thị Hương Giang, 2011 Nhìn chungcác công trình trên tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về nhiều vấn đề rất cơ bản
cả về lý luận và thực tiễn trong hoạt động giáo dục ý thức pháp luật trênnhiều góc độ như khái niệm, cấu trúc, chức năng… của ý thức pháp luật;những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật Việt Nam, nhữnggiải pháp nâng cao ý thức pháp luật, có một số công trình hướng đến việcgiáo dục ý thức pháp luật cho học sinh qua nhiều hoạt động…
Tuy nhiên, có thể nói rằng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứumột cách đầy đủ và có hệ thống về giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT
Trang 12qua dạy học môn Giáo dục công dân Vì thế đề tài mà tác giả chon làm luận vănkhông trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát lý luận và thực tiễn việc giáo dục ý thức pháp luậtcho học sinh THPT qua dạy học môn Giáo dục công dân ở huyện Đông Anh,luận văn xây dựng quy trình thực hiện, đề xuất một số giải pháp nhằm nângcao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT huyện Đông Anh
và có thể cho các trường THPT hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng giáo dục ý thức pháp luật quadạy học môn Giáo dục công dân tại một số trường THPT huyện Đông Anh(Trường THPT Vân Nội, Trung tâm GDTX Đông Anh)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Giảng dạy phần Công dân với pháp luật cho học sinh lớp 12 trên địabàn huyện Đông Anh
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
5.1 Những luận điểm cơ bản
Khảo sát thực trạng giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT quadạy học Giáo dục công dân lớp 12 tại trường THPT Vân Nội và Trung tâmGDTX Đông Anh
Đề tài khẳng định sự cần thiết phải giáo dục ý thức pháp luật cho họcsinh THPT
Luận văn đề xuất quy trình, điều kiện, những biện pháp để giảng dạyGiáo dục công dân nhằm giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT
Trang 135.2. Đóng góp mới của tác giả
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục ýthức pháp luật cho học sinh THPT qua dạy học môn Giáo dục công dân
Đánh giá thực trạng giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT ởhuyện Đông Anh qua dạy học môn Giáo dục công dân
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc giáodục ý thức pháp luật cho học sinh THPT qua dạy học Giáo dục công dân, cóthể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên giảng dạy môn Giáo dục công dân
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp logic lịch sử, phương phápphân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống
Đề tài còn sử dụng các phương pháp: Điều tra xã hội học, thực nghiệm
sư phạm, thống kê toán học và các phương pháp khác
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lụckết cấu của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 141.1.1 Ý thức pháp luật và vai trò của ý thức pháp luật
1.1.1.1 Khái niệm ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một bộ phậncủa tồn tại xã hội - phản ánh đời sống pháp luật Ý thức pháp luật xuất hiệncùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật Nó là sản phẩm của quá trìnhphát triển của xã hội, chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của các hệ tư tưởng, quanđiểm, quan niệm trong xã hội như: quan điểm chính trị, đạo đức, tôn giáo…Đến nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về ý thức pháp luật cả dưới góc
độ nghiên cứu khoa học cũng như trong cuộc sống
Theo quan niệm thông thường, ý thức pháp luật được hiểu đơn giản là ýthức chấp hành những quy định của cá nhân, tổ chức hay một tập thể nào đó
Để đánh giá ý thức pháp luật của một đối tượng nào đó người ta căn cứ vàothái độ, hành vi của chủ thể trong quá trình tuân thủ các nguyên tắc, quy địnhcủa pháp luật Cách hiểu này tuy còn đơn giản, cảm tính song nó góp phầnquan trọng trong việc điều chỉnh các hành vi pháp luật trong đời sống xã hội
Trong nghiên cứu khoa học, ý thức pháp luật cũng được hiểu ở nhiềuphương diện khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu, đối tượng nghiên cứu
Theo quan điểm triết học, ý thức pháp luật là một hình thức độc lậptương đối của ý thức xã hội Nó bao gồm hệ thống các tư tưởng, quan điểm
và các quan niệm của cá nhân hoặc của giai cấp về pháp chế, trật tự phápluật và vai trò của chúng trong đời sống xã hội Khái niệm ý thức pháp luật
Trang 15cũng bao gồm cả những cảm giác pháp lý, những tình cảm, cảm xúc vàviệc đánh giá của con người về các hành vi hợp pháp và hành vi trái phápluật, đòi hỏi của sự hiểu biết pháp luật và sự cần thiết hoàn thiện hoặc thayđổi pháp luật hiện hành.
Cách nhìn của triết học cho thấy ý thức pháp luật là một hình thái ýthức xã hội, chịu sự quy định bởi tồn tại xã hội, phản ánh tồn tại xã hội mà nóđược sinh ra trên cơ sở đó Quan niệm này mang lại cái nhìn sâu sắc và toàndiện về bản chất, vai trò của ý thức pháp luật Đồng thời nó cũng là cơ sở lýluận để tiếp cận nghiên cứu ý thức pháp luật cho các ngành khoa học cụ thể
Trong công trình nghiên cứu luật học, có nhiều quan niệm về ý thức
pháp luật được nêu ra: “Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan niệm thịnh hành trong xã hội xã hội chủ nghĩa, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành; pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức
và hoạt động của cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội”.[47; 173]
Khái niệm ý thức pháp luật được xem xét dưới góc độ khoa học pháp lý
là chủ yếu, tiếp thu được quan điểm triết học coi ý thức pháp luật là một hìnhthái ý thức xã hội, là tổng thể những học thuyết, quan điểm, tư tưởng thịnhhành trong xã hội Đồng thời các nhà luật học cũng nhấn mạnh đến chủ thểcủa ý thức pháp luật là các cá nhân, tổ chức xã hội, nhân dân, cơ quan nhànước Nội dung của ý thức pháp luật là sự hiểu biết, đánh giá, thái độ, hành vicủa con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua, pháp luật cầnphải có Cách tiếp cận luật học tạo cơ sở để có thể tìm hiểu, phân tích nộidung của ý thức pháp luật gắn với từng cấu trúc cụ thể
Từ những quan điểm nêu trên có thể định nghĩa: Ý thức pháp luật làtoàn bộ những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong
Trang 16xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật, trình độ hiểubiết pháp luật, thái độ, sự đánh giá về pháp luật của các giai cấp, tầng lớp xãhội, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi ứng xử của conngười, trong tổ chức và hoạt động của các thiết chế xã hội.
Đặc điểm của ý thức pháp luật:
Thứ nhất, ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội Do vậy nóchịu sự quy định của tồn tại xã hội, là kết quả của quá trình tác động qua lạicủa các mặt trong đời sống pháp luật Chẳng hạn, sự hoàn thiện và phát triển
hệ thống pháp luật của một quốc gia chỉ thấy trình độ lập pháp của nhà nước
đó, trong đó hệ thống pháp luật tiến bộ, khoa học phản ánh quan niệm tưtưởng pháp luật tiến bộ của giai cấp cầm quyền và ngược lại Trình độ pháttriển của khoa học pháp lý và chương trình giáo dục pháp luật trong hệ thốnggiáo dục quốc dân cho thấy ý thức coi trọng khoa học pháp lý trong việc xâydựng và quản lý xã hội đến mức nào Trình độ của ý thức pháp luật của xã hộiđến mức nào phụ thuộc vào trình độ phát triển của đội ngũ chuyên gia pháp
lý, số lượng và chất lượng đội ngũ luật gia, luật sư, thẩm phán, những chuyêngia tư vấn pháp lý trong các nghành, các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp.Trật tự pháp luật và tình trạng vi phạm pháp luật, nhất là tội phạm cho thấythái độ tôn trọng pháp luật, và tình cảm đối với pháp luật của nhân dân
Đồng thời ý thức pháp luật có tính độc lập tương đối so với tồn tại xãhội Điều đó thể hiện ở chỗ, ý thức pháp luật thường lạc hậu so với tồn tại xãhội Thực tế cho thấy tồn tại xã hội cũ mất đi nhưng ý thức nói chung, trong
đó có ý thức pháp luật vẫn còn tồn tại dai dẳng trong một thời gian dài.Những tàn dư của ý tưởng quá khứ được giữ lại, nhất là tâm lý pháp luật, nơithói quen và truyền thống còn đóng vai trò lớn Ví dụ, những biểu hiện củatâm lý pháp luật phong kiến như sự thờ ơ, phù nhận đối với pháp luật hiệnvẫn tồn tại trong xã hội nước ta hiện nay Mặt khác, tư tưởng pháp luật, đặc
Trang 17biệt tư tưởng pháp luật khoa học mới có thể sinh ra trong lòng xã hội cũ Ýthức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nào đó Những yếu tố
kế thừa có thể được coi là tiến bộ hoặc không tiến bộ Ý thức pháp luật tácđộng trở lại tồn tại xã hội, với ý thức chính trị, đạo đức và các yếu tố thuộcthượng tầng kiến trúc pháp lý như nhà nước và pháp luật Sự tác động nàyphụ thuộc vào mức độ phản ánh đúng đắn của ý thức pháp luật đối với thựctrạng và nhu cầu đời sống xã hội, vai trò của giai cấp cầm quyền cũng nhưmức độ phổ biến, thâm nhập của tư tưởng pháp luật trong tầng lớp nhân dân
Thứ hai ý thức pháp luật mang tính giai cấp Ý thức pháp luật xuất hiệncùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật Trong xã hội có giai cấp, cácgiai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau, có lợi ích khác nhau
do địa vị xã hội của mỗi giai cấp quy định, do đó pháp luật của các giai cấp cónội dung và hình thức phát triển khác nhau Để duy trì địa vị thống trị, bảo vệlợi ích của mình, giai cấp thống trị phải dùng cách hợp thức hoá ý chí của giaicấp mình thành pháp luật thông qua con đường nhà nước Chẳng hạn, bảnchất giai cấp của pháp luật tư bản như C.Mac và P.Ănghen nói cũng như phápquyền của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được để lên thành luậtpháp, cái ý chí mà nội dung là điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp cácông quyết định Các giai cấp khác cũng có ý thức pháp luật của họ, song các ýthức pháp luật này không thể được phản ánh đầy đủ trong pháp luật, vì vềnguyên tắc chỉ có ý thức pháp luật của giai cấp thống trị mới được phản ánhđầy đủ trong pháp luật Ý thức pháp luật của giai cấp thống trị được thể hiệntrong nội dung, trong hình thức, trong quá trình thực hiện pháp luật hiện hành;thể hiện tư tưởng, quan điểm, các trị của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội;còn ý thức pháp luật của các giai cấp tầng lớp khác trong xã hội chủ yếu đượcthể hiện thông qua quan điểm, thái độ, hành vi của họ đối với pháp luật hiệnhành và phản ứng của họ trước việc duy trì quản lý xã hội của nhà nước đểbảo vệ quyền lợi của mình
Trang 181.1.1.2 Vai trò của ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật có một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển củađời sống xã hội, với pháp luật và một số hình thái ý thức xã hội liên quan
Ý thức pháp luật tác động đến đời sống xã hội
Sinh ra từ đời sống xã hội nhưng ý thức pháp luật không phải là sựphản ánh thụ động đời sống xã hội mà nó tác động trở lại đối với đời sống xãhội Sự tác động đó thể hiện:
Thứ nhất, đời sống xã hội muốn phát triển bền vững, trước hết phải có
ổn định Ý thức pháp luật thể hiện qua hệ thống pháp luật là nhân tố quantrọng trong việc tổ chức, quản lý xã hội, duy trì xã hội trong vòng trật tự, ổnđịnh để phát triển
Thứ hai, trong sự phát triển của đời sống xã hội thì kinh tế bao giờ cũnggiữ vai trò quyết định Sự phát triển của đời sống kinh tế sẽ kéo theo nó sựphát triển của đời sống xã hội nói chung Trong quá trình phản ánh đời sốngkinh tế, ý thức pháp luật có thể góp phần khuyến khích phát triển những yếu
tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực trong sự vận hành của cơ chế kinh
tế Chẳng hạn, để tạo điều kiện cho sự cạnh tranh lành mạnh, phải có tư tưởng
về sự cần thiết phải có đạo luật chống độc quyền; để khuyến khích phát triểnkinh doanh thì phải có luật để bảo vệ người tiêu dùng, để chống khai thác triệt
để tài nguyên thiên nhiên, phải thấy sự cần thiết có đạo luật bảo vệ môitrường… Qua đó cho thấy, khi ý thức pháp luật phát triển, với một hệ thốngpháp luật hoàn chỉnh sẽ tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế ra đời và pháttriển Mặt khác chính sự ra đời và phát triển của các quan hệ kinh tế lại tạo ranhững nhu cầu khách quan để hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo ra môitrường pháp lý thuận lợi cho kinh tế và cho xã hội phát triển
Thứ ba, ý thức pháp luật không chỉ điều chỉnh những quan hệ kinh tếđang tồn tại, mà với tính vượt trước của nó, ý thức pháp luật còn có thể đónbắt và điều chỉnh những quan hệ kinh tế sẽ xuất hiện trong hệ thống kinh tế
Trang 19Tuy nhiên, ý thức pháp luật cũng có thể kìm hãm sự phát triển của nền kinh
tế, nếu sự điều chỉnh thông qua pháp luật mâu thuẫn với nội dung, tính chất,quy luật của các quan hệ kinh tế Nó có thể làm rối loạn quá trình kinh tế, làmcho các hoạt động kinh tế và sự phát triển đi ra ngoài quỹ đạo của mình.Chẳng hạn, trong mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp,
vì chỉ thừa nhận thành phần kinh tế toàn dân và tập thể, nên hệ thống phápluật chỉ tập trung vào việc xây dựng những quy phạm pháp luật điều chỉnhnhững quan hệ kinh tế trong lĩnh vực này, nó không tính đến sự phát triển củacác thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể (kinh tế tư nhân) Điềunày làm cho các quan hệ kinh tế tư nhân bị thui chột hoặc không thể phát triểndẫn đến sự phát triển không toàn diện của hệ thống kinh tế
Quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật
Ý thức pháp luật và pháp luật là hai hiện tượng xã hội khác nhau.Nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Đây là mối quan hệgiữa những hiện tượng của kiến trúc thượng tầng Trong đó, pháp luật vừa làđối tượng nhận thức của ý thức pháp luật, vừa là sản phẩm của hoạt độngsáng tạo của ý thức đó Pháp luật là một hiện tượng khách quan, nhưng sự rađời, hình thành và phát triển của nó lại phải thông qua nhân tố chủ quan - đó
là con người, nói cách khác là thông qua ý thức pháp luật của con người Vaitrò của ý thức pháp luật đối với pháp luật thể hiện trong những lĩnh vực sau:
- Xây dựng pháp luật
Nói đến pháp luật là nói đến ý chí Ý chí là một phạm trù của ý thức Ýchí là năng lực của con người điều chỉnh hành động của mình nhằm đạt đượcnhững mục đích đã định trước trên cơ sở tính toán tới hoàn cảnh thực tế kháchquan Ý chí thể hiện trong pháp luật, về cơ bản, là ý chí của giai cấp thống trị,nhưng nó lại quan hệ với ý chí của cá nhân Mỗi giai cấp thống trị, trong hoàncảnh xã hội nhất định, có những lợi ích nhất định và thông qua các đại biểu
Trang 20của giai cấp mình, nó nhận thức các lợi ích ấy, biến thành ý chí và thông quanhà nước trở thành pháp luật Như vậy, ý chí là tiền đề của pháp luật Phápluật chính là sự thể hiện những nhận thức về các hiện tượng pháp lý tồn tạitrong đời sống xã hội, từ đó đưa ra những cách xử sự chung cho các chủ thể.Một giai cấp thống trị chỉ có thể xây dựng được một hệ thống pháp luật ngàycàng hoàn chỉnh, khi ý thức được một cách đầy đủ hiện thực khách quan củađời sống pháp luật Như vậy, ý thức pháp luật có vai trò là tiền đề tư tưởngtrực tiếp để xây dựng hệ thống pháp luật.
Ý thức là hiện thực được nhận thức, nhưng sự nhận thức ấy không phảibao giờ cũng đồng nhất với hiện thực Do đó, hiện thực khách quan cũng cólúc bị phản ánh sai lệch, không chân thực Chính vì thế, trong thực tiễn xâydựng pháp luật có những quy định pháp lý không phù hợp Điều đó càngchứng tỏ vai trò to lớn của ý thức pháp luật đúng đắn, đầy đủ trong việc xâydựng pháp luật Nó đòi hỏi ý thức pháp luật cũng phải thường xuyên hoànthiện và phát triển dựa trên những phương pháp nhận thức khoa học để phảnánh chính xác, kịp thời các nhu cầu của đời sống hiện thực
Ý thức pháp luật là nhân tố rất năng động, thường xuyên bám sát thựctiễn luôn luôn biến đổi để kịp thời phát hiện, đề xuất, kiến nghị, sửa đổi, banhành và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với thực tiễn
- Tuân thủ, tôn trọng và áp dụng pháp luật
Sự tuân thủ, tôn trọng và áp dụng pháp luật phụ thuộc nhiều vào trình
độ nhận thức pháp luật và các trạng thái tâm lý pháp luật của con người Điều
đó nói lên rằng mọi người không có thái độ như nhau đối với pháp luật Thái
độ đúng đắn đối với pháp luật chỉ có thể hình thành, xây dựng trên cơ sở ýthức pháp luật đúng đắn - tức là sự nhận thức đúng đắn, chân thực các hiệntượng pháp lý trong đời sống xã hội Vì vậy, ý thức pháp luật của các chủ thểcàng được nâng cao, sự tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật, chấp hành pháp
Trang 21luật của họ càng đúng đắn Do đó việc bồi dưỡng và nâng cao ý thức phápluật có ý nghĩa quan trọng trong việc tuân thủ và tôn trọng pháp luật
Muốn pháp luật có chất lượng cao, phù hợp với cuộc sống, trở thànhpháp luật trong hành động thì ý thức pháp luật của chủ thể sáng tạo pháp luật,của cơ quan thực hiện pháp luật và của mỗi công dân phải được nâng lêntương ứng Ngược lại, là đối tượng nhận thức của ý thức pháp luật, pháp luậtcũng tác động tích cực đến việc hình thành, củng cố, phát triển ý thức phápluật Pháp luật có chất lượng, hệ thống pháp luật càng hoàn chỉnh thì càng tạođiều kiện để phổ biến giáo dục pháp luật có hiệu quả, nâng cao ý thức phápluật trong nhân dân Khi đó pháp luật với những đặc trưng vốn có của nó,nhất là tính bắt buộc chung đóng vai trò như là phương tiện truyền bá mộtcách hiệu quả ý thức pháp luật xã hội đến ý thức pháp luật của từng cá nhân
- Văn hoá pháp lý và giáo dục pháp luật
Ý thức pháp luật là một bộ phận của văn hoá pháp lý Một cá nhân cóvăn hoá pháp lý nghĩa là người đó phải có trình độ, kiến thức về các quyphạm pháp luật hiện, thái độ tôn trọng đối với pháp luật và hình thành nhữngứng xử phù hợp với yêu cầu của pháp luật, có sự đánh giá và phản ứng đúngđắn đối với các hành vi pháp luật của các cá nhân khác Văn hoá pháp lý là sựthống nhất của các yếu tố: tri thức, tình cảm và hành vi đối với pháp luật Nếuxét về mặt ngoại diên của khái niệm, thì khái niệm văn hoá pháp lý rộng hơn
ý thức pháp luật Nếu ý thức pháp luật chỉ gồm tri thức và tình cảm pháp lýthì ngoài hai yếu tố trên, văn hoá pháp lý còn có cả yếu tố hành vi
Tuy là một bộ phận của văn hoá pháp lý, nhưng ý thức pháp luật đượccoi là bộ phận quan trọng nhất, nó là cơ sở, tiền đề để xây dựng văn hoápháp lý Ý thức pháp luật càng cao thì văn hoá pháp lý càng phát triển Vì làcái thể hiện ra bên ngoài của ý thức pháp luật, nên một xã hội có nền vănhoá pháp lý là xã hội, mà ở đó mọi người có tri thức và tình cảm pháp luật ở
Trang 22trình độ cao Và con đường để nâng cao văn hoá pháp lý và ý thức pháp luậttrước hết là giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật ở đây được hiểu là sửdụng những hình thức khác nhau, tác động có hệ thống và thường xuyên tới
ý thức của con người, nhằm trang bị cho họ những kiến thức pháp lý nhấtđịnh để từ đó họ nhận thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sựtheo yêu cầu của pháp luật
Ý thức pháp luật và ý thức chính trị
Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các nhóm xã hội với nhà nước.Theo Lênin, chính trị là lĩnh vực những mối quan hệ giữa tất cả các giai cấp,các tầng lớp với nhà nước, là lĩnh vực mối quan hệ giữa tất cả các giai cấp vớinhau Chính trị phản ánh các lợi ích giai cấp, lợi ích xã hội Pháp luật suy đếncùng, cũng phản ánh các lợi ích giai cấp, của xã hội mà trước hết là lợi íchcủa giai cấp thống trị Theo sự phân tích trên đây, khái niệm “quan hệ chínhtrị” được dùng để chỉ quan hệ của các giai cấp trong việc giành, bảo vệ và sửdụng chính quyền nhà nước theo lợi ích của một giai cấp nhất định Theonghĩa đó, quan hệ chính trị trở thành quan hệ quyền lực nhà nước Nhà nước
có thể được coi là giao điểm của các quan hệ Nó là tổ chức quyền lực thốngtrị giai cấp và đồng thời là tổ chức công quyền của xã hội, quản lý xã hội.Như thế, nhà nước vừa là tổ chức chính trị, là công cụ thực hiện lợi ích giaicấp như các yếu tố chính trị khác; vừa là công cụ điều chỉnh các quan hệ xãhội, thực hiện quyền lực công cộng Từ tính chất đó, chúng ta đã thấy rõ, chỉ
có nhà nước mới là tổ chức chính trị có khả năng và điều kiện sử dụng công
cụ pháp luật, vì thế, pháp luật luôn là dấu hiệu đặc trưng của nhà nước
Từ những điều trình bày trên cho thấy, ý thức chính trị là sự phản ánhcác mối quan hệ kinh tế giữa các giai cấp cũng như thái độ của giai cấp đốivới quyền lực nhà nước, mà đặc trưng nhất của ý thức chính trị là thể hiệntrực tiếp và tập trung nhất lợi ích giai cấp Trong mối quan hệ với ý thứcchính trị, ý thức pháp luật có vai trò như là nơi thể hiện, phản ánh những yêu
Trang 23cầu của chính trị dưới góc độ pháp luật; không có nó thì sự lãnh đạo về mặtchính trị của giai cấp thống trị khó có thể được chấp nhận và phục tùng trong
xã hội có giai cấp vì thế, ý thức pháp luật mà sự thể hiện cụ thể là pháp luậthiện hành có vai trò vừa là biện pháp, phương tiện để thực hiện quyền lựcchính trị của giai cấp thống trị, vừa là hình thức biểu hiện của quan điểmthống trị trong xã hội đó
Ý thức pháp luật với ý thức đạo đức
Ý thức pháp luật và ý thức đạo đức có chung một mục đích là điều tiếtcác hành vi của con người trong xã hội Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và
ý thức đạo đức là mối quan hệ bổ sung cho nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong quátrình điều chỉnh hành vi của con người trong mối quan hệ này, ý thức đạođức chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng các quy tắc điều chỉnh (bằng
dư luận xã hội) hành vi của con người nên trong một số trường hợp nhất định,những định hướng đạo đức muốn thực hiện một cách phổ biến trong xã hội,phải được thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật Điều đó cho thấy, trongmột số mặt nhất định, ý thức pháp luật có ưu thế trội hơn so với ý thức đạođức Nó không chỉ là sự ghi nhận các chuẩn mực đạo đức, mà còn là công cụhữu hiệu bảo vệ đạo đức, lẽ phải bằng những chế tài cụ thể, xác định Sự phântích trên cho thấy, ý thức pháp luật có vai trò to lớn trong việc duy trì, pháttriển và bảo vệ ý thức đạo đức trong xã hội
1.1.2 Sự cần thiết giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
Xuất phát từ vai trò của ý thức pháp luật đối với đời sống xã hội, giáodục ý thức pháp luật cho học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường là rất cầnthiết Học sinh THPT đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ cả về thể chất
và tinh thần Các em đang trang bị cho mình những kiến thức khoa học, xãhội để bước vào cuộc sống Các em sẽ là những công dân có đủ khả năngquyết định con đường đi của cuộc đời, chịu mọi hành vi của mình trước pháp
Trang 24luật Ý thức pháp luật, năng lực thực hành pháp luật sẽ là hành trang quý báu
để các em bước vào cuộc sống Sự cần thiết giáo dục ý thức pháp luật cònxuất phát từ quan điểm giáo dục con người toàn diện, quan điểm xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm hướng tới xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
1.1.2.1 Nhà nước pháp quyền với yêu cầu nâng cao ý thức pháp luật
Đảng ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
là một trong những điều kiện và môi trường tiên quyết của một quốc giatiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và một xã hội phát triển tiên tiến
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, đề cao pháp luật,pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và trong đời sống
xã hội Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân thể hiện quyền lực nhà nước là thống nhất, vì mục tiêu chung
là phục vụ cho lợi ích của nhân dân, của đất nước, của dân tộc Công dân
có quyền tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tham gia thảoluận những vấn đề chung của cả nước và địa phương và kiến nghị với các
cơ quan nhà nước Đó là một mô hình nhà nước tiến bộ mà bất cứ một xãhội nào cũng cần phải hướng tới
Nội dung quan trọng của nhà nước pháp quyền là khẳng định cộinguồn quyền lực nhà nước là ở nhân dân Ở nước ta để bảo đảm phát huysức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh thì một trong những vấn đề chiến lược là xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng
Hiện nay, Việt Nam đã có đủ các tiền đề về kinh tế, chính trị, xã hội đểtừng bước xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp
Trang 25quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân, có sắc thái riêng, phù hợp với điềukiện kinh tế, chính trị, xã hội, truyền thống, văn hóa của Việt Nam Cần nhậnthức rằng việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là quá trình lâudài, phải được tiến hành từng bước, chia thành nhiều giai đoạn, đặt dưới sựlãnh đạo của Đảng Mỗi giai đoạn tương ứng với một mức độ phát triển của
xã hội và của nhà nước Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cần quán triệt những vấn đề cótính nguyên tắc sau:
- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vìdân là cách thức cơ bản để phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân
Đó là nhà nước trong đó bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhândân, vì thế quyền lực nhà nước là thống nhất, không tam quyền phân lậpnhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quátrình thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp
Đó là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, xử lýnghiêm minh kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ đượccác quyền tự do dân chủ, đặc biệt là quyền tự do kinh doanh và lợi ích hợppháp của nhân dân, ngăn ngừa mọi sự tuỳ tiện lạm quyền từ phía cơ quan nhànước, cán bộ công chức nhà nước, đồng thời ngăn ngừa hiện tượng dân chủcực đoan, vô kỷ luật, thiếu kỷ cương Đó là nhà nước mà mọi tổ chức (kể cả
tổ chức đảng), hoạt động phải dựa trên cơ sở pháp luật, tuân thủ pháp luật,chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình Vì vậy, xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có quan hệ khăng khít với xâydựng xã hội công dân Nhà nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và xã hội công dân là bộ ba hợp thành không thể táchrời, là điều kiện và tiền đề cho nhau, là bảo đảm và kết quả của công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 26- Hiến pháp và pháp luật nước ta ghi nhận quyền của công dân tham giaquản lý nhà nước, quản lý xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cảnước và địa phương, kiến nghị, đề đạt nguyện vọng, yêu cầu của mình với các
cơ quan nhà nước Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyềnkhiếu nại, tố cáo, v.v Các quyền và sự tự do đó trong nhiều trường hợp làđiều kiện để nhân dân kiểm tra hoạt động của Nhà nước, nhưng trước hết đó
là một trong những phương thức quan trọng để thực hiện dân chủ Vì vậy, cầnchăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôntrọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã
ký kết hoặc tham gia Đổi mới cơ chế, xác định trách nhiệm của các cấp, cácngành, của cán bộ, công chức trong việc giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáocủa công dân
- Một trong những điểm cơ bản của việc xây dựng nhà nước phápquyền của dân, do dân, vì dân là quyền lực nhà nước thống nhất trên cơ sởphân công và phối hợp trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tưpháp Có thể hiểu rằng, sự thống nhất là nền tảng, sự phân công và phối hợp
là phương thức để đạt được sự thống nhất của quyền lực nhà nước
Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động lập pháp đang đứng trước nhữngnhiệm vụ mới mẻ và phức tạp của việc điều chỉnh pháp luật đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế Lập pháp phải bảo đảm tính khả thi của các quy định phápluật, tính hiệu lực và hiệu quả của việc áp dụng pháp luật vào cuộc sống Hoạtđộng lập pháp phải vừa bảo đảm chất lượng, vừa theo kịp yêu cầu của sự pháttriển Muốn vậy, cần tổ chức tốt hơn nữa quy trình lập pháp Quy trình đóphải vừa bảo đảm phản ánh được sự phát triển sống động của đời sống xã hộitrong các lĩnh vực, lại vừa bảo đảm tính chuyên môn pháp lý của các quy định
để có sự phối hợp chặt chẽ giữa khâu làm luật với việc ban hành các văn bảndưới luật, tổ chức thực hiện pháp luật
Trang 27Như vậy, nhà nước pháp quyền trong đó nhà nước và nhân dân làmviệc theo hiến pháp và pháp luật Mọi người đều phải hiểu và tuân theo phápluật, phải có ý thức pháp luật Do vậy ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trườnghọc sinh trung học phổ thông cần được trang bị kiến thức pháp luật, nâng cao
ý thức pháp luật
1.1.2.2 Quan điểm giáo dục toàn diện
Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến việcxây dựng con người mới với đầy đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầucông nghiệp hoá, hiện đại hoá Để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa thì
giáo dục và đào tạo đóng vai trò “then chốt” thực chất là để nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, để phát triển con người Việt Nam - conngười phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần,trong sáng về đạo đức, con người có phẩm chất chính trị, tư tưởng vững vàng,
có lý tưởng cao đẹp, biết và luôn phát huy năng lực sáng tạo, có ý thức cộngđồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, có lối sống văn hóa, cóquan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội, mang bản lĩnh và nhâncách con người Việt Nam, không ngừng phát huy tư cách, nghĩa vụ và tráchnhiệm công dân
Trước đây mục tiêu giáo dục toàn diện thường được hiểu đơn giản là:Học sinh phải học đầy đủ tất cả các môn học thuộc các lĩnh vực khoa học tựnhiên, khoa học xã hội và nhân văn, nghệ thuật, thể dục thể thao… Khôngnhững thế, việc thực hiện mục tiêu giáo dục cũng nghiêng về truyền thụ kiếnthức càng nhiều càng tốt; chú trọng dạy chữ hơn dạy người, chú trọng truyền
bá kiến thức hơn đào tạo, bồi dưỡng năng lực của người học; ít yêu cầu ngườihọc vận dụng kiến thức vào thực tế… Tình hình này đã dẫn đến hiện tượng
"quá tải", vừa thừa, vừa thiếu đối với người học và đối với mục tiêu giáo dục.Mục tiêu giáo dục theo tinh thần đổi mới là: phát triển toàn diện năng lực và
Trang 28phẩm chất người học Toàn diện ở đây được hiểu là chú trọng phát triển cảphẩm chất và năng lực con người, cả dạy chữ, dạy người, dạy nghề Giáo dục
và đào tạo phải tạo ra những con người có phẩm chất, năng lực cần thiếtnhư trung thực, nhân văn, tự do sáng tạo, có hoài bão và lí tưởng phục vụ Tổquốc, cộng đồng; đồng thời phải phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sángtạo của mỗi cá nhân, làm chủ bản thân, làm chủ đất nước và làm chủ xã hội;
có hiểu biết và kĩ năng cơ bản để sống tốt và làm việc hiệu quả Mục tiêu giáo
dục con người Việt Nam phát triển toàn diện đã được xác định trong cácchương trình trước đây, nhưng thường được quan niệm đó là nhiệm vụ đàotạo những con người phát triển hài hòa đức, trí, thể, mỹ Nghĩa là giáo dục,đào tạo con người đáp ứng yêu cầu CNH, HÐH đất nước, con người cho xãhội Thực hiện công cuộc đổi mới, ngoài việc phát triển con người cho xã hội,
sẽ chú trọng thêm phần phát huy cao nhất tiềm năng sẵn có của riêng mỗingười, đó là con người cá nhân Ngay từ năm 1945, trong thư gửi học sinhnhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam", chính là đào tạo con người xã hội, và "một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em", chính là đào tạo con người cá nhân Ðó là mục tiêu chung
về nhân cách con người mà đổi mới giáo dục và đào tạo hướng đến
Sự đổi mới về mục tiêu như vậy cũng đòi hỏi chuyển từ một nền giáo
dục giúp người học "học được cái gì" sang học thì phải "làm được cái gì" Nói
cách khác là giáo dục con người phải có cả kiến thức, kỹ năng và vận dụngđược vào trong thực tiễn Giáo dục ý thức pháp luật là góp phần giáo dục toàndiện con người Việt Nam có ý thức tôn trọng pháp luật, năng lực thực hànhpháp luật góp phần xây dựng đất nước
Trang 291.1.2.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT
Sự cần thiết giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trung học phổ thôngxuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý ở lứa tuổi này
Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắtđầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niênđược tính từ 15 đến 25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:
- Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên
- Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên)
Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiệntượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Đây là vấn đề khó khăn
và phức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triểntâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Cónghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động
sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi
Ở lứa tuổi này học sinh phát triển mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tinh thần
Về thể chất tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành vềmặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường,hài hòa, cân đối Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao Ởtuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổithiếu niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhânsinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân (như hútthuốc lá, không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi…)
Trang 30học tập trong những điều kiện mới chứ không phải với sự không muốn họcnhư nhiều người nghĩ Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liềnvới khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc vàbền vững hơn.
Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh
mẽ Học tập mang ý nghĩa sống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng đượcrằng: cái vốn những tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thutri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết đểtham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Các em bắt đầu cóthái độ lựa chọn đối với từng môn học Do vậy, giáo viên phải làm cho các emhọc sinh hiểu ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghềnghiệp và đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh
Những đặc điểm nhân cách chủ yếu ở học sinh THPT
Sự phát triển của tự ý thức:
Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cáchcủa học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý củalứa tuổi này Thanh niên mới lớn có thể tự đánh giá bản thân một cách sâusắc nhưng đôi khi vẫn chưa đúng đắn nên các em vẫn cần sự giúp đỡ củangười lớn Một mặt, người lớn phải lắng nghe ý kiến của các em, mặt khácphải giúp các em hình thành được biểu tượng khách quan về nhân cách củamình nhằm giúp cho sự tự đánh giá của các em được đúng đắn hơn, tránhnhững lệch lạc, phiến diện trong tự đánh giá Cần tổ chức hoạt động của tậpthể cho các em có sự giúp đỡ, kiểm tra lẫn nhau để hoàn thiện nhân cáchcủa bản thân
Sự hình thành thế giới quan:
Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý thanh niên vìcác em sắp bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá
Trang 31để có quan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử,những định hướng giá trị về con người Tuy nhiên vẫn có em chưa được giáodục đầy đủ về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tư tưởng bảo thủ lạc hậunhư: có thái độ coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức tổchức kỉ luật kém, thích có cuộc sống xa hoa, hưởng thụ hoặc sống thụ động…Các em đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống cho mình, biết xây dựng hìnhảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàng ngày Các em có thểhiểu sâu sắc và tinh tế những khái niệm, biết xử sự một cách đúng đắn trongnhững hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhưng có khi các em lại thiếu tin tưởngvào những hành vi đó Vì vậy, giáo viên phải khéo léo, tế nhị khi phê phánnhững hình ảnh lý tưởng còn lệch lạc để giúp các em chọn cho mình một hìnhảnh lý tưởng đúng đắn để phấn đấu vươn lên.
Học sinh THPT được sinh ra trong một môi trường xã hội có nhiềuthuận lợi, nhưng ở các em cũng có những ưu điểm và nhược điểm mà trongcông tác giáo dục cần lưu ý:
- Ở một số thanh niên tình cảm cách mạng và ý chí phấn đấu còn yếu,trình độ giác ngộ về xã hội còn thấp Các em có thái độ coi thường lao độngchân tay, thích sống cuộc sống xa hoa lãng phí, đua đòi, ăn chơi…
- Thanh niên là lứa tuổi mộng mơ, khao khát sáng tạo, thích cái mới lạ,chuộng cái đẹp hình thức nên dễ bị cái đẹp bề ngoài làm lung lay ý chí, cómới nới cũ…
- Thanh niên rất hăng hái nhiệt tình trong công việc, rất lạc quan yêuđời nhưng cũng dễ bi quan chán nản khi gặp thất bại
- Thanh niên là tuổi đang phát triển về tài năng, tiếp thu cái mới nhanh,rất thông minh sáng tạo nhưng cũng dễ sinh ra chủ quan, nông nổi, kiêu ngạo
ít chịu học hỏi đến nơi đến chốn để nâng cao trình độ Các em thích hướngđến tương lai, ít chú ý đến hiện tại và dễ quên quá khứ
Trang 32Trong giai đoạn này học sinh đang phát triển mạnh mẽ về cả thể chấtlẫn trí tuệ, nhận thức Nhưng cùng với đó là sự phức tạp trong tâm lý mà sựphát triển kiến thức xã hội chưa theo kịp sự phát triển về thể chất đôi khi dẫnđến những hành động mang tính bồng bột Các em cũng sắp rời khỏi máitrường phổ thông, ra ngoài xã hội với tư cách là một người có đầy đủ pháp lýchịu trách nhiệm mọi hành vi của mình trước pháp luật Vì vậy việc giáo dục
ý thức pháp luật cho học sinh trung học phổ thông là rất cần thiết
1.2 Nội dung và phương pháp giáo dục ý thức pháp luật trong chương trình Giáo dục công dân hiện nay
Nội dung và phương pháp là hai yếu tố quyết định đến hiệu quả của giáodục ý thức pháp luật, nâng cao năng lực thực hành pháp luật cho học sinhtrong dạy học Giáo dục công dân
1.2.1 Nội dung giáo dục ý thức pháp luật trong chương trình Giáo dục công dân hiện nay
Nội dung của chương trình Giáo dục công dân được cấu trúc thành 2chủ đề lớn:
Phần 1: Bản chất, vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của côngdân, đất nước, nhân loại (bài 1, 2, 8, 9, 10)
Phần 2: Quyền và nghĩa vụ của công dân trong các lĩnh vực đời sống(bài 3, 4, 5, 6, 7, 8)
Trong quá trình giảng dạy môn GDCD theo hướng dẫn của Bộ có tích
hợp nội dung “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và lồng
ghép giáo dục kỹ năng sống, đồng thời có sự vận dụng, liên hệ với kiến thứcmôn học với thực tế ở nhà trường và địa phương, góp phần củng cố niềm tintrong học tập
Chương trình được xây dựng theo hướng đồng tâm, phát triển Vì vậy giữacác cấp học và ngay trong cùng một cấp cũng có những nội dung gần giống nhau
Trang 33Tuy nhiên ở đây, chúng có sự khác nhau về nội dung cụ thể, cách tiếp cận Chẳnghạn ở lớp 6 chương trình THCS có bài về các quyền tự do cơ bản của công dân, lớp
12 có bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản Tuy nhiên ở lớp 8 mới chỉ nhận
thức cảm tính, lớp 12 hướng học sinh vào nhận thức lý tính Ở lớp 11 phần chính
sách có các bài: bài 8: Chính sách dân số và giải quyết việc làm, bài 12: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường, bài 13: Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ, văn hoá; chính sách quốc phòng và an ninh, chính sách đối ngoại Bài 12 Giáo dục công dân lớp 12: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước, nêu lên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, quốc phòng,
an ninh…tuy chúng có sự giống nhau nhưng có sự phân biệt theo chức năng và đốitượng nghiên cứu theo môn học: chính trị hay luật học
Tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát về mức độ yêu thích của học sinh lớp 12 trường THPT Vân Nội với vấn đề pháp luật mà các em được học trong chương trình giáo dục công dân Kết quả như sau:
1 Kiến thức rất bổ ích, ý nghĩa đối với cuộc sống 18
2 Một vài kiến thức thấy bổ ích, ý nghĩa 23
3 Không thực tiễn, không có ý nghĩa gì 59
Chương trình Giáo dục công dân này đã có nhiều tiến bộ so với chươngtrình Giáo dục công dân cũ nhưng trên quan điểm dạy và học tích cực hướngvào người học, đi sát vào vấn đề thực tiễn cuộc sống Những nội dung kiếnthức trên bị học sinh đánh giá là chưa phù hợp, chưa sát thực tiễn, nên chưahấp dẫn cả với người học và người dạy Những nội dung gần giống nhau, khôkhan khiến thầy và trò đều thấy nhàm chán Thực tiễn cuộc sống sinh động,gần gũi với các em học sinh có rất nhiều vấn đề nóng hổi về pháp luật: bảo vệmôi trường, kinh doanh, văn hoá pháp luật… đề cập đến chưa sâu, chưa phùhợp làm thiếu tính thực tiễn, tính hấp dẫn trong quá trình dạy học
Trang 341.2.2 Phương pháp giáo dục ý thức pháp luật trong chương trình Giáo dục công dân 12 ở các trường THPT huyện Đông Anh
Khảo sát các trường THPT huyện Đông Anh:
Về đội ngũ giáo viên:
Toàn huyện có 5 trường THPT công lập, 7 trường THPT dân lập và 1trung tâm giáo dục thường xuyên Ở mỗi trường THPT công lập có từ 2 đến 3giáo viên dạy môn Giáo dục công dân, mỗi giáo viên kiêm nhiệm từ 15 đến
20 tiết giáo dục công dân 1 tuần, chuyên dạy lớp 10, 11, hoặc 12 Ở hầu hếtcác trường dân lập chỉ có 1 giáo viên dạy Giáo dục công dân, thậm chí cótrường không có giáo viên dạy Giáo dục công dân chính thức Ở trung tâmGDTX Đông Anh có 1 giáo viên dạy Giáo dục công dân cho khoảng 19 lớp
cả lớp cơ bản, hệ bổ túc Về trình độ chuyên môn chỉ một vài giáo viên cóđược đào tạo đúng chuyên ngành, một số khác là từ giáo viên dạy Sử, dạyVăn Nhất là ở các trường dân lập, để hạn chế kinh phí cho trường mà cử cácgiáo viên dạy văn, sử dạy giáo dục công dân, thậm chí có giáo viên tốt nghiệpcao đẳng sư phạm các chuyên ngành khác sang dạy Giáo dục công dân
Về phương pháp giảng dạy:
Quan niệm về môn Giáo dục công dân nói chung và giáo dục ý thứcpháp luật cho học sinh lớp 12 nói riêng Môn giáo dục công dân có ýnghĩa rất lớn trong việc hình thành nhân cách, ý thức pháp luật cho họcsinh THPT Tuy nhiên ở các trường THPT huyện Đông Anh môn nàychưa được coi trọng, thậm chí là xem nhẹ Qua quá trình giảng dạy củabản thân và tìm hiểu về thái độ của giáo viên và học sinh đối với mônGiáo dục công dân thì hầu hết đều cho đây là môn phụ, không phải thi,kiến thức không hấp dẫn Đặc biệt với lớp 12 khi các em đang chuẩn bịthi tốt nghiệp, đại học thì không mấy em dành thời gian để tìm hiểu,nghiên cứu kiến thức về pháp luật Từ quan niệm như vậy mà quá trình
Trang 35dạy và học Giáo dục công dân ở đây nói chung và phần kiến thức phápluật nói riêng đạt hiệu quả chưa cao.
Ngay với cả giáo viên dạy Giáo dục công dân cũng không ý thức đượctầm quan trọng của môn học, của việc giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh
Phương pháp dạy học phần Công dân với pháp luật chủ yếu là thuyết trình, ít
vận dụng các phương pháp dạy học tích cực Thậm chí có nhiều giáo viên dokhông được đào tạo đúng chuyên ngành nên kiến thức về pháp luật chưa sâukhiến bài giảng hời hợt
Chúng tôi đã tiến hành điều tra về việc các giáo viên sử dụng cácphương pháp trong quá trình dạy học, đánh giá mức độ sử dụng các phương
pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy học phần Công dân với pháp luật.
Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học khác nhau trong quá trình
dạy học phần Công dân với pháp luật:
ST
Mức độ Thường
Thái độ của học sinh đối với học phần Công dân với pháp luật.
Trang 36Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra 4 lớp ở 2 trường THPT khácnhau: Trường THPT Vân Nội, Trung tâm GDTX Đông Anh điều tra về tinhthần thái độ của các em đối với môn học và phương pháp giảng dạy của thầy
cô giáo
Nhận thức của học sinh về vai trò của môn Giáo dục công dân:
2 Là môn học không cần thiết, không thiết thực 16
3 Là môn học học cũng được, không học cũng không
Trang 371.2.3 Đổi mới phương pháp giáo dục ý thức pháp luật nhằm nâng cao nhận thức và năng lực thực hành pháp luật cho học sinh
Việc giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh qua môn Giáo dục côngdân chưa hiệu quả do nhiều nguyên nhân: Chương trình sách giáo khoa chưathực tiễn, chưa hấp dẫn, nhận thức chưa đúng về vị trí vai trò môn Giáo dụccông dân của cả giáo viên, học sinh và đội ngũ quản lý giáo dục,… trong đóphương pháp giáo dục ý thức pháp luật của người làm thầy giữ một vai tròquyết định Vì vậy muốn nâng cao ý thức pháp luật, năng lực thực hành phápluật cho học sinh THPT qua dạy học môn Giáo dục công dân phải bắt đầu từviệc đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân
Qua thực tiễn giảng dạy, dự giờ, tìm hiểu thực tiễn chúng tôi thấynhững phương pháp sau rất phù hợp để giảng dạy Giáo dục công dân 12:
Công dân với pháp luật
Thứ nhất, giáo dục pháp luật gắn với giáo dục đạo đức.
Giữa đạo đức và pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Đạo đức lànhững quy tắc xử sự của con người, của tập thể và của cộng đồng, được hìnhthành trên cơ sở quan niệm về cái thiện, cái ác, về sự công bằng, về nghĩa vụ,lương tâm, danh dự, nhân phẩm và về những phạm trù khác thuộc đời sống tinhthần của xã hội Đạo đức, một khi trở thành niềm tin nội tâm thì sẽ được các cánhân, các nhóm xã hội tuân theo một cách tự giác Trong hàng loạt quy phạmpháp luật luôn thể hiện các quan niệm về đạo đức Khi đã trở thành nội dung củaquy phạm pháp luật thì các giá trị đạo đức không chỉ tuân thủ bằng niềm tin,lương tâm của cá nhân hay do sức ép của dư luận xã hội mà còn được nhà nướcđảm bảo thực hiện bằng sức mạnh quyền lực nhà nước Do đó, có thể nói, phápluật là một phương tiện đặc thù để thể hiện và bảo vệ các giá trị đạo đức Chínhnhững giá trị cơ bản của pháp luật - công bằng, bình đẳng, tự do, lẽ phải, cũng là
Trang 38những giá trị đạo đức cao cả mà con người luôn hướng tới Pháp luật và đạo đứcluôn gắn bó chặt chẽ tác động qua lại với nhau Pháp luật cần được xây dựngtrên cơ sở của đạo đức, phù hợp với đạo đức Đạo đức là cơ sở để xây dựng,hình thành các chuẩn mực pháp luật.
Chính vì vậy việc giáo dục pháp luật gắn với đạo đức sẽ làm cho nhữngkiến thức pháp luật không bị cứng nhắn, khô khan, ép buộc mà trở nên sâusắc, dễ đi vào cuộc sống, dễ thực hiện
Thứ hai, sử dụng câu chuyện pháp luật.
Câu chuyện pháp luật là những câu chuyện phản ánh những sự việc,những hành động, việc làm có thật diễn ra trong thực tiễn cuộc sống xã hộihàng ngày của con người, được thể hiện trên các phương tiện thông tin đạichúng: Đài phát thanh, đài truyền hình, hoặc ở các tạp chí, sách báo, trênmạng internet
Câu chuyện pháp luật góp phần hình thành cho học sinh những phươngpháp học tập tích cực, năng động, sáng tạo, tạo cho học sinh hiểu sâu và nhớlâu kiến thức pháp luật Bằng những câu chuyện có thật, học sinh sẽ hứng thútìm tòi các tình tiết và tìm cách giải quyết, phán đoán phù hợp với thực tiễn
Vì tính thực tiễn của câu chuyện pháp luật rất cao, nên sẽ giúp học sinh cókinh nghiệm, thái độ ứng xử trong cuộc sống một cách hợp lý nhất
Sử dụng những câu chuyện pháp luật ngắn gọn, hấp dẫn sẽ là phươngpháp hiệu quả để tạo được ở các em học sinh những ấn tượng mạnh mẽ,những cảm xúc sâu sắc và sự hứng thú trong học tập
Thứ ba, sử dụng tình huống pháp luật để học sinh giải quyết.
Tình huống là hoàn cảnh diễn biến, thường bất lợi, cần đối phó hay nói
cách khác tình huống là một câu chuyện, có cốt chuyện và nhân vật, liên hệ đếnmột hoàn cảnh cụ thể, từ góc độ cá nhân hay nhóm, và thường là hành động
chưa hoàn chỉnh Đó là một câu chuyện “cụ thể và chi tiết, chuyển nét sống động
Trang 39và phức tạp của đời thực vào lớp học.” (Boehrer, 1995).
Tình huống pháp luật là các sự kiện dựa trên thực tế, hoặc được xâydựng từ các sự kiện pháp luật có khả năng (có lý do) xảy ra Tình huống phápluật là một câu chuyện có chứa những vấn đề hoặc mâu thuẫn về pháp luậtcần giải quyết
Việc sử dụng tình huống pháp luật trong dạy học Giáo dục công dân 12hiệu quả có hiệu quả lớn trong việc giáo dục ý thức pháp luật, đồng thời rènluyện các kỹ năng mềm cho học sinh
Thông qua tình huống pháp luật giúp cho học sinh hiểu rõ hơn với thực
tế, khả năng ứng dụng của kiến thức pháp luật Tăng cường khả năng tư duy,phân tích và giải quyết vấn đề của học sinh Giúp học sinh ứng dụng các kỹnăng mềm như kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lãnhđạo, kỹ năng tổ chức công việc vào trong quá trình thực hiện giải quyết cácvấn đề của tình huống pháp luật Phát huy tính chủ động, sự sáng tạo và hứngthú của học sinh trong quá trình học Khác với việc tiếp thu lý thuyết mộtcách thụ động, khi được giao các bài tập tình huống pháp luật, học sinh sẽphải chủ động tìm kiếm và phân tích thông tin để tìm ra giải pháp cho tìnhhuống, qua đó nâng cao năng lực thực hành pháp luật cho học sinh
Thứ tư: sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, chú trọng vào phương pháp hoạt động nhóm, đóng vai.
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rútgọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy họctheo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
“Tích cực” trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động,chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theonghĩa trái với tiêu cực
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt độngnhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của
Trang 40người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của ngườidạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lựcnhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Để dạy học phần Công dân với pháp luật hiệu quả giáo viên cần chú
trọng đến phương pháp hoạt động nhóm và phương pháp đóng vai
Phương pháp hoạt động nhóm
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻcác băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thứcmới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình
độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì.Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhậnthụ động từ giáo viên
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọithành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia.Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học,bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý
và học sinh đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả Cần nhớrằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy
và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tácgiữa các thành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hìnhthức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêubiểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏphương pháp dạy học càng đổi mới
Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cáchứng xử nào đó trong một tình huống giả định
Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau :
- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ