Kết cấu của luận văn...6 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT CÙ CH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -QUÁCH THỊ NHÀN
TÝCH HîP GI¸O DôC ý THøC B¶O TåN DI S¶N V¡N HãA
CñA C¸C D¢N TéC THIÓU Sè TRONG D¹Y HäC M¤N GI¸O DôC C¤NG D¢N
ë TR¦êNG TRUNG HäC PHæ TH¤NG Cï CHÝNH LAN,
HUYÖN L¦¥NG S¥N, TØNH HßA B×NH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -QUÁCH THỊ NHÀN
TÝCH HîP GI¸O DôC ý THøC B¶O TåN DI S¶N V¡N HãA
CñA C¸C D¢N TéC THIÓU Sè TRONG D¹Y HäC M¤N GI¸O DôC C¤NG D¢N
ë TR¦êNG TRUNG HäC PHæ TH¤NG Cï CHÝNH LAN,
HUYÖN L¦¥NG S¥N, TØNH HßA B×NH
Chuyên ngành: LL&PPGD GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Long
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới
TS Nguyễn Văn Long, người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giảtrong suốt quá trình học tập, tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo khoa Lý luận Chính trị
và Giáo dục Công dân, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình truyền đạtnhững tri thức quý báu, giúp đỡ tác giả hoàn thành tốt khóa học và luận văntốt nghiệp
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn sự giúp đỡ của các cơ quan: Thưviện Quốc gia, Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội,Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội, …đã giúp
đỡ tác giả trong quá trình tìm hiểu tài liệu, các thông tin có liên quan đến nộidung nghiên cứu
Cuối cùng, tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô, các em họcsinh trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, quý bạn
bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa học và luận văn của mình
Hà Nội, tháng 05 năm 2016
Tác giả
Quách Thị Nhàn
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT CÙ CHÍNH LAN, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 7
1.1 Cơ sở lý luận của việc tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường THPT 7
1.1.1 Các quan điểm về tích hợp và dạy học tích hợp 7
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.1.3 Vai trò của việc giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số cho HS trường THPT 17
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học GDCD ở trường THPT Cù Chính lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 20
1.2.1 Vài nét về trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình .20
Trang 51.2.2 Thực trạng, nguyên nhân của việc tích hợp ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường
THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 21
1.3 Sự cần thiết phải giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 30
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2: NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP ĐỂ TÍCH HỢP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT CÙ CHÍNH LAN, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 33
2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp của việc tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học GDCD .33
2.1.1 Nguyên tắc tính đảng 33
2.1.2 Nguyên tắc tích hợp không làm thay đổi mục tiêu bài học 34
2.1.3 Nguyên tắc lựa chọn các đơn vị kiến thức phù hợp 35
2.1.4 Nguyên tắc định hướng phát triển năng lực cho HS 36
2.2 Biện pháp thực hiện việc tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 37
2.2.1 Nhóm biện pháp tổ chức hoạt động dạy học 37
2.2.2 Nhóm biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo 51
Tiểu kết chương 2 63 Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD Ở TRƯỜNG
Trang 6THPT CÙ CHÍNH LAN, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
64
3.1 Kế hoạch thực nghiệm 64
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 64
3.1.2 Giả thuyết thực nghiệm 64
3.1.3 Địa điểm, đối tượng và thời gian thực nghiệm 65
3.1.4 Phương pháp thực nghiệm 66
3.2 Nội dung thực nghiệm 68
3.2.1 Lựa chọn đơn vị kiến thức thực nghiệm 68
3.2.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm 70
3.2.3 Tổ chức dạy học thực nghiệm 79
3.2.4 Kiểm tra, đánh giá nhận thức của HS sau thực nghiệm 79
3.2.5 Điều tra trưng cầu ý kiến HS sau thực nghiệm 80
3.3 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm 80
3.3.1 Kết quả thực nghiệm và đánh giá thực nghiệm “ Bài 13: Công dân với cộng đồng” ( Tiết 1) 80
3.3.2 Kết quả thực nghiệm và đánh giá thực nghiệm “ Bài 13: Công dân với cộng đồng”( Tiết 2) 83
3.3.3 Kết quả và đánh giá kết quả trưng cầu ý kiến, thái độ của HS sau quá trình thực nghiệm 86
môn Giáo dục Công dân sau thực nghiệm 86
3.4 Một số khuyến nghị sau thực nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường THPT 87
3.4.1 Đối với học sinh 87
3.4.2 Đối với đội ngũ giáo viên bộ môn Giáo dục Công dân 88
3.4.3 Đối với các cấp quản lý 89
Trang 7Tiểu kết chương 3 91 KẾT LUẬN CHUNG 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 8Học sinhPhương pháp dạy họcTrung học phổ thôngThực nghiệm
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
Xã hội chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Kết quả tìm hiểu việc sử dụng các PPDH của GV 22Bảng 1.2: Sự cần thiết của việc tăng cường tích hợp giáo dục ý thức bảo
tồn DSVH của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD
ở trường THPT Cù Chính Lan cho HS thông qua đổi mớiPPDH 24Bảng 1.3: Nhận biết của GV về mức độ tích cực của HS khi GV đổi mới
PPDH 24Bảng 1.4: Những khó khăn ảnh hưởng đến việc đổi mới PPDH môn
GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnhHòa Bình 25Bảng 1.5: Hứng thú của học sinh trường THPT Cù Chính Lan, huyện
Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đối với việc học tập môn GDCD 26Bảng 1.6 Nhận thức của HS về sự cần thiết của việc đổi mới PPDH
trong giảng dạy môn GDCD nhằm giáo dục bản sắc văn hóadân tộc 28Bảng 3.1: Số HS lớp thực nghiệm và đối chứng 65Bảng 3.2: Kết quả khảo sát nhận thức của HS trường THPT Cù Chính
Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình trước thực nghiệm 65Bảng 3.3: Nội dung tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân
tộc thiểu số trong môn GDCD THPT 68Bảng 3.4: Kết quả thực nghiệm “ Bài 13: Công dân với cộng đồng” (tiết 1) 80Bảng 3.5: Kết quả học tập của lớp TN qua bài kiểm tra trước thực
nghiệm và sau thực nghiệm “ Bài 13: Công dân với cộngđồng”( Tiết 1) 81
Trang 10Bảng 3.6: Kết quả thực nghiệm “ Bài 13: Công dân với cộng đồng”( Tiết 2)
83Bảng 3.7: Kết quả học tập của lớp TN qua bài kiểm tra trước thực
nghiệm và sau thực nghiệm “ Bài 13: Công dân với cộngđồng” (Tiết 2) 84Bảng 3.8: Đánh giá hứng thú của HS trường THPT Cù Chính Lan, huyện
Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình trong việc học tập môn Giáo dụcCông dân sau thực nghiệm 86
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trải qua quá trình phát triển củalịch sử, các dân tộc đã tạo cho mình một hệ di sản văn hóa (DSVH) riêng, gópphần tạo nên nền văn hóa Việt nam thống nhất và đa dạng DSVH của các tộcngười có tính bền vững nhất định của nó Tuy vậy, trong điều kiện hiện nay
sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, thông tin và truyền thông…rất mạnh mẽnên các yếu tố văn hóa của các tộc người dù có tính bền vững, chứa đựngnhững bản sắc riêng vẫn có thể bị mai một, lãng quên, hoặc pha tạp,nhất làvới các dân tộc ít người Đánh mất các DSVH dân tộc của một dân tộc cũngđồng nghĩa với việc đánh mất chính dân tộc đó Việc giáo dục ý thức bảo tồn
và phát huy DSVH các dân tộc thiểu số là chiến lược phát triển bền vữngquốc gia
Công cuộc đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), thực hiện thắng lợi mục tiêu:
“Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” đòi hỏi chúng taphải xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc bên cạnh việc phát triển kinh tế
là trọng tâm thì vấn đề xây dựng nền văn hóa được Đảng ta hết sức quan tâm.Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã xác định: “Vấn đề xây dựng nền vănhóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” [8] đã được Đảng taxác định là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài trong chiến lược phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước
Thực tiễn phát triển văn hóa nước ta trong thời kỳ đổi mới đang đòi hỏicấp thiết phải có sự nghiên cứu, tổng kết và những biến đổi của các giá trị vănhóa ở nước ta trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa (XHCN), góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóatruyền thống và cách mạng Vì vậy việc “Xây dựng và thực hiện các chính
Trang 12sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểusố” [13; 225] là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hànhTrung ương khóa XI (Nghị quyết số 29 – NQ/TW) với nội dung đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiệnđại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhậpquốc tế Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: “Tạochuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đápứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu họctập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và pháthuy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân Xây dựng nềngiáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, có cơ cấu vàphương pháp giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm cácđiều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hộihóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướngXHCN và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030 nền giáo dục Việt Namđạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [39]
Bộ môn Giáo dục Công dân (GDCD) ở trường trung học phổ thông(THPT) có vai trò quan trọng cung cấp tri thức và trang bị thế giới quan,phương pháp luận, giáo dục tư tưởng, đạo đức, chính trị cho HS Do đó, mụcđích của việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) môn GDCD ở trườngphổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theoPPDH tích cực với các kỹ thuật dạy học tích cực nhằm giúp HS phát huy tínhtích cực tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học,tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khácnhau trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm tin, hứng thú trong học tập
Trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình là một
Trang 13trong những trường đào tạo có trên 90% HS là người dân tộc thiểu số Vì vậy,ngoài nhiệm vụ dạy chữ và kiến thức cho HS cần phải giáo dục ý thức bảo tồn
và phát triển DSVH của các dân tộc thiểu số Xuất phát từ những lý do trên
tác giả chọn đề tài: “ Tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu
Trong quá trình tham gia Thập kỷ quốc tế về văn hóa trong phát triển(1987 – 1996) và chủ trương bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa do Tổ chứcGiáo dục, khoa học và văn hóa thế giới (UNESCO) phát động, Đảng ta đã xácđịnh: “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực phát triển kinh tế- xã hội” Trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê nin, tưtưởng Hồ Chí Minh và các quan niệm mới về văn hóa trên thế giới mà điểmcốt lõi là đề cao nhân tố văn hóa trong phát triển, phát huy những giá trị vănhóa, coi trọng việc bảo vệ DSVH dân tộc, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về văn hóa Trong đó có những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
- Nghiên cứu về vấn đề văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số ở nước takhông phải là vấn đề mới, từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiêncứu với tầm cỡ, quy mô khác nhau Các công trình, bài viết về mối quan hệ
giữa văn hóa và phát triển như: Trần Ngọc Hiên, “Văn hóa và phát triển – từ góc độ nhìn Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; Phạm Xuân Nam, “Văn hóa vì sự phát triển”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
- Các công trình, bài viết về vai trò của văn hóa trong nền kinh tế thị
trường như: “Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999; Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên), “Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Nxb Khoa học
xã hội, 2004
Trang 14- Các công trình, bài viết dưới góc độ triết học: Vũ Đức Khiển, “Văn hóa với tư cách một khái niệm triết học và vấn đề xác định bản sắc văn hóa dân tộc”, Tạp chí Triết học, số 6/2000; Vũ Thị Kim Dung với “Cách tiếp cận vấn đề văn hóa theo quan điểm của triết học Mác” Tạp trí Triết học số 1, 1988; Lê Thị Ngọc Anh đã nghiên cứu về “Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo tồn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc” Tạp trí Triết học số 6, 2000.
- Các công trình nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam
như: Ngô Văn Lệ, “Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, Nxb Giáo dục
Hà Nội, 1998; Nguyễn Khoa Điềm ,“Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu
số trong cuộc sống hiện nay”, Tạp chí Văn học nghệ thuật số 7/2007; Trần
Văn Bính đi sâu nghiên cứu về đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số từ đóđưa ra các giải pháp phát huy văn hóa của các dân tộc Mường, Thái, Mông
trong “Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006; Ngô Đức Thịnh đưa
ra những khái niệm thuyết phục về bảo tồn, phát huy trong nghiên cứu về
“Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập”, Nxb Khoa học xã hội, 2010.
Trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nêu rõ vị trí, vaitrò và nhiệm vụ của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng XHCN hiện nay.Giáo dục việc giữ gìn DSVH dân tộc cho các em HS dân tộc thiểu số là việc
vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Tác giả
kế thừa những kết quả nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa các
dân tộc thiểu số để phục vụ cho đề tài: “Tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”.
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực nghiệm giảng dạy, luận văn đề
Trang 15xuất nội dung, phương pháp giảng dạy môn GDCD phù hợp nhằm nâng caohiệu quả nhận thức cho HS trong việc bảo tồn và phát huy DSVH của các dântộc thiểu số cho HS trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc dạy và học môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyệnLương Sơn, tỉnh Hòa Bình
5 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
5.1 Những luận điểm cơ bản
Làm rõ quan điểm về việc giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dântộc thiểu số trong dạy học GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyệnLương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Đề tài khẳng định sự cần thiết phải tích hợp giáo dục ý thức bảo tồnDSVH của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD cho HS trườngTHPT Cù chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Khảo sát việc giảng dạy môn GDCD (Bài 13 GDCD 10: Công dân vớicộng đồng; Bài 13 GDCD 11: Chính sách giáo dục, khoa học và công nghệ,văn hóa; Bài 9 GDCD 12: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước)
ở trường THPT Cù Chính Lan về việc tích hợp giáo dục ý thức bảo tồnDSVH của các dân tộc thiểu số
Đưa ra quy trình, điều kiện, những biện pháp để thực hiện việc tích hợpgiáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số trong dạy học mônGDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Trang 165.2 Đóng góp mới của tác giả
Đề tài: “ Tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” là một đề tài mới Thông qua giảng dạy môn
GDCD, GV giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số Từ đó,nâng cao giáo dục việc giữ gìn và phát huy DSVH dân tộc cho HS các dân tộcthiểu số Thông qua hoạt động này các em sẽ thấy tự hào về dân tộc mình, cótrách nhiệm giữ gìn, bảo tồn DSVH của dân tộc mình
Đề xuất một số biện pháp dạy học riêng nhằm nâng cao tích hợp giáodục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số ở trường THPT Cù ChínhLan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lôgic và lịch sử, phươngpháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp so sánh và
hệ thống…
Đề tài còn sử dụng các phương pháp: Điều tra xã hội học, thực nghiệm
sư phạm, thống kê toán học…nhằm đạt tới mục đích mà luận văn nêu ra
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC
Ý THỨC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT CÙ CHÍNH LAN,
HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
1.1 Cơ sở lý luận của việc tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường THPT
1.1.1 Các quan điểm về tích hợp và dạy học tích hợp
1.1.1.1 Các quan điểm về tích hợp
Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh, vớinghĩa xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộphận riêng lẻ
Integration (n)/ integrate (v) trong tiếng Anh có nghĩa là hợp lại thànhmột hệ thống thống nhất, sự bổ sung thành thể thống nhất, sự hợp nhất, sự hòahợp với môi trường, (tiếng Anh – Mỹ còn có nghĩa sự hòa hợp chủng tộc, sự
mở rộng cho mọi chủng tộc)
Trong tiếng Việt, tích hợp được ghép từ hai từ tích và hợp Tích: (danhtừ) là kết quả của phép nhân; (động từ): dồn góp từng ít cho thành số lượngđáng kể (Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học; tr 981) Hợp:(danh từ): tậphợp mọi phần tử của các tập hợp khác; (động từ): gộp chung; (tính từ): khôngmâu thuẫn, đúng với đòi hỏi Tích hợp: lắp ráp, kết nối các thành phần củamột hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ
Như vậy, tích hợp có thể hiểu là sự kết hợp, sự hợp nhất, sự hòa nhậpcác bộ phận, các phần tử khác nhau thành một thể thống nhất
1.1.1.2 Các quan điểm về dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp được Unesco định nghĩa là: Một cách trình bày cókhái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của
Trang 18tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm giữa các lĩnh vực khoahọc khác nhau Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận các khái niệm vànguyên lý khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung.
Theo Hội nghị tại Maryland 4 – 1973, khái niệm dạy học tích hợp cònbao gồm cả việc dạy học tích hợp với công nghệ học Bởi có thể thấy khoahọc và công nghệ là hai lĩnh vực hoạt động có đặc trưng và liên quan đếnnhau Nếu như khoa học đặc trưng bởi quá trình tìm tòi, phát hiện tri thứcmới, đi từ đơn nhất đến cái chung thì công nghệ lại đặc trưng bởi quá trìnhnhận định, lựa chọn giải pháp, đi từ nguyên tắc chung để giải quyết từng vấn
đề cụ thể Như vậy một trong những bài học của dạy học tích hợp là chỉ rađược sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hiểu biết và hành động
Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, quan điểm tiếp cận tích hợp đãảnh hưởng tới giáo dục Việt Nam và bước đầu thể hiện một phần trongchương trình và SGK các môn học ở tiểu học và được hiểu là “phương hướngnhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ các môn học,phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằmđáp ứng mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau” (Nguyễn Cảnh Toàn)
Và chúng ta có thể hiểu, dạy học tích hợp là sự kết hợp một cách hữu
cơ, có hệ thống các kiến thức trong một môn học hoặc giữa các môn họcthành một nội dung thống nhất
Dạy học tích hợp có các mức độ sau:
- Lồng ghép/ liên hệ: Ở mức độ này, các môn học vẫn dạy riêng rẽ,
nhưng những nội dung gắn với thực tiễn, gắn với môn học khác được đưa vàonội dung bài học của một môn học
- Vận dụng kiến thức liên môn: Ở mức độ này, hoạt động học diễn ra
xung quanh các chủ đề, ở đó người học cần vận dụng các kiến thức của nhiềumôn học để giải quyết vấn đề đặt ra Các chủ đề khi đó được gọi là các chủ đề
Trang 19hội tụ Nội dung các môn học vẫn được phát triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệthống, mặt khác vẫn thực hiện được sự liên kết giữa các môn học khác nhauqua việc vận dụng các kiến thức liên môn trong các chủ đề hội tụ.
- Hòa trộn: Đây là mức cao nhất trong DHTH Ở mức độ này, nội
dung chủ đề không thuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn khácnhau, do đó các nội dung thuộc chủ đề sẽ không cần dạy ở các môn học riêng
rẽ Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.1.2.1 Văn hóa
Văn hóa là khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội, trênthế giới hiện nay có tới hàng trăm cách định nghĩa về văn hóa Song, về cơbản đều thống nhất coi, văn hóa là những gì mà con người sáng tạo để hìnhthành nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động, hoạtđộng thực tiễn Các giá trị chuẩn mực đó tác động, chi phối, điều chỉnh đờisống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiệndiện của con người
Bàn đến văn hóa và sự phát triển của văn hóa, chủ nghĩa Mác thừa nhận,với tư cách là một hệ giá trị, văn hóa bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử,
bởi năng lực thực hiện “lực lượng bản chất người” Mác vạch rõ nguồn gốc văn
hóa gắn liền với năng lực sáng tạo của con người, sự sáng tạo đó bắt nguồn từlao động Văn hóa là sự “thăng hoa” của sản xuất vật chất, ông cho rằng người
ta có thể căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người khai thác chuyển biếnthành bản chất con người như thế nào để đánh giá trình độ văn hóa
V.I.Lênin trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, bảo vệ và phát triển cácnguyên lý của triết học Mác V.I.Lênin đã phân tích sâu sắc thêm về mặt xãhội của văn hóa với cách tiếp cận từ hình thái kinh tế xã hội và cho rằng, vănhóa theo nghĩa rộng, là những giá trị chung nhất, tồn tại và phát triển qua
Trang 20nhiều chế độ xã hội, nhiều giá trị có ý nghĩa vĩnh hằng Vì vậy phải biết kếthừa có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống.
UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xãhội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Nó không những làyếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự pháttriển của xã hội Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết địnhtính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác
Hồ Chí Minh - Danh nhân văn hóa thế giới - có đưa ra một định nghĩa
ở cấp độ khái quát về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích củacuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạođức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ chosinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức sử dụng, toàn bộnhững sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp củamọi phương thức sinh hoạt với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ranhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [32; 431]
Nghiên cứu về văn hóa, các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa nhiều địnhnghĩa khác nhau: “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vậtchất của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xử thế được côngnhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho mộtcộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [24; 11] Định nghĩa này nhấnmạnh trong văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và các hệ thống giá trị,các mẫu mực xử thế và các hệ thống hành vi
Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Lịch sử văn hóa là lịch
sử của con người và loài người Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm chocon người trở thành Người Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đếncon người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi
là văn hóa Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần,
Trang 21là sự thể hiện những lực lượng đó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vựcsản xuất tinh thần của con người Từ đó, văn hóa được chia làm hai lĩnh vực
cơ bản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ
có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ
là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thầnkhông phải bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thườngđược “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất Ngoài ra, còn các giá trịtinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chấtkhách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lốisống, phong tục tập quán…
Từ một số khía cạnh đã trình bày trên đây, tác giả đưa ra quan niệm về
văn hóa như sau: Văn hóa là năng lực sáng tạo, là thái độ, phương thức sống, phương thức hoạt động mang tính nhân đạo của con người nhằm tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người 1.1.2.2 Di sản văn hóa và bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
* Di sản văn hóa
Di sản văn hoá là khái niệm chung nhất để chỉ những sản phẩm vật chất
và tinh thần của một tộc người, một quốc gia, một dân tộc còn được lưutruyền qua các thế hệ
Để bảo tồn các di sản văn hoá truyền thống của dân tộc, tránh bị maimột bởi ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và xã hội trong quá trình pháttriển Luật Di sản văn hoá đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, thì Di sản văn hoáđược quy định tại Điều 1- Chương I như sau: “Di sản văn hoá quy định tạiLuật này bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sảnphẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Trang 22Di sản văn hóa Việt Nam được chia thành hai loại: Di sản văn hóa vậtthể và di sản văn hóa phi vật thể :
- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, bao gồm :
+ Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử,văn hóa, khoa học
+ Danh lam thắng cảnh còn gọi là di sản thiên nhiên là cảnh quan thiên
nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trìnhkiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học
+ Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học
+ Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử,
văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên
+ Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt
quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học
- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng
hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, vănhóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo vàđược lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền
nghề, trình diễn và các hình thức khác Bao gồm:
+ Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam
+ Ngữ văn dân gian, gồm: Sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu
đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và cácbiểu đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết
+ Nghệ thuật trình diễn dân gian, gồm: Âm nhạc, múa, hát, sân khấu vàcác hình thức trình diễn dân gian khác
Trang 23+ Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức,nghi lễ và các phong tục khác.
+ Lễ hội truyền thống
+ Nghề thủ công truyền thống
+ Tri thức dân gian
Như vậy, ta có thể hiểu, DSVH của các dân tộc thiểu số là toàn bộnhững sản phẩm vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số được lưu truyềnqua các thế hệ
* Bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
Trong nghiên cứu, cũng như trong hoạt động thực tiễn, ta thường bắtgặp ba từ: bảo quản, bảo vệ và bảo tồn
Bảo quản mang nghĩa sử dụng những biện pháp kỹ thuật để gìn giữ,
chăm sóc đối tượng được nguyên vẹn, tồn tại lâu dài Bảo vệ chứa đựng nội
dung thực hành các hoạt động mang tính chất pháp lý hay nói cách khác làgiữ không để cho bị xâm phạm
Bảo tồn mang nghĩa rộng hơn, là hoạt động giữ gìn một cách an toànkhỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, nói cách khác là bảo quản kết
cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu đó.
Như vậy, bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số là tất cả những nỗ lựcnhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa các DSVH của các dân tộc thiểu
số nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho DSVH và khi cần đến phảiđảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khảnăng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội
1.1.2.3 Ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
* Ý thức
Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, ý thức là sự phản ánh hiện thựckhách
Trang 24quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo Ý thứckhông phải là bản sao đơn giản, thụ động, máy móc hiện thực Ý thức là ýthức của con người, mà con người là một thực thể xã hội năng động, sáng tạo.
Ý thức phản ánh thế giới khách quan trong quá trình con người tác động cảitạo thế giới Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà làmột hiện tượng xã hội bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử - xã hội, phản ánh nhữngquan hệ
xã hội khách quan
Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều thành tố quan hệ với nhau.Nghiên cứu cấu trúc của ý thức bao gồm các yếu tố: Tri thức, tình cảm và ýchí Trong đó, tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi, là kết quả của quá trình conngười nhận thức thế giới, phản ánh thế giới Tri thức có nhiều lĩnh vực khácnhau như tri thức về tự nhiên, tri thức về xã hội, tri thức về con người,… vànhiều cấp độ như tri thức cảm tính và tri thức lý tính, tri thức kinh nghiệm vàtri thức lý luận, tri thức tiền khoa học và tri thức khoa học
Tuy nhiên, tác động của thế giới đến con người không chỉ đem lại trithức về thế giới mà còn đem lại tình cảm cho con người về thế giới Tình cảm
là những thái độ, cảm xúc của con người đối với sự vật, hiện tượng của hiệnthực khách quan Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động và trở thành mộtđộng lực quan trọng của hoạt động con người Tri thức biến thành tình cảmmãnh liệt thì mới đạt đến độ sâu sắc và phải thông qua tình cảm thì tri thứcmới biến thành hành động thực tế và mới phát huy được sức mạnh của mình
Ý chí là điểm hội tụ của tri thức và tình cảm hướng vào hoạt động củacon người Ý chí là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực hiệnnhững hành động có mục đích Ý chí là hình thức tâm lý điều chỉnh hành vitích cực nhất ở con người ( trong ý chí có cả mặt năng động của tri thức, lẫnmặt năng động của tình cảm, đạo đức) Nhờ có ý chí mà con người biến đổi
Trang 25được tự nhiên và xã hội, tạo ra được những giá trị vật chất và tinh thần, thựchiện được những chuyển biến và có được những phát hiện trong khoa học.
* Ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
Ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số là tổng hòa tri thức, tìnhcảm và ý chí bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số thông qua các hoạt độngcủa con người, nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của DSVH nhằmbảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho DSVH và khi cần đến phải đảm bảoviệc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục
vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội
1.1.2.4 Giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
* Giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người, nhờ cógiáo dục mà các thế hệ loài người nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóacủa mỗi cộng đồng dân tộc và nền văn minh của cả nhân loại được kế thừa,
bổ sung và từ đó xã hội loài người không ngừng được phát triển
Giáo dục là khái niệm đa nghĩa, khi phân tích giáo dục với tư cách làmột hiện tượng xã hội, ta thấy: Giáo dục là hiện tượng văn minh chỉ có ở xãhội loài người, về bản chất đó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệmlịch sử xã hội của các thế hệ con người Khi xét giáo dục dưới góc độ là mộthoạt động, ta thấy giáo dục có hai nghĩa:
- Nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các
đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách toàndiện ( trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất, kỹ năng lao động,…) Quá trìnhgiáo dục theo nghĩa rộng được thực hiện trong nhà trường còn được gọi là quátrình sư phạm tổng thể, bao gồm hai quá trình bộ phận, đó là quá trình dạyhọc và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp
Trang 26- Nghĩa hẹp: Giáo dục được hiểu là quá trình tác động của nhà giáo dục
lên các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ ý thức, thái độ và hành viứng xử với cộng đồng, xã hôi Với nghĩa hẹp, giáo dục được đặt ngang hàngvới khái niệm dạy học Khái niệm giáo dục nghĩa hẹp đề cập tới quá trìnhgiáo dục các phẩm chất đạo đức, hành vi, lối sống cho HS, ta vẫn quen gọi là
“ hạnh kiểm”
Như vậy, ta có thể hiểu, giáo dục là quá trình tác động của nhà giáo dụclên các đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ các giá trị nhân cách
* Giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
Giáo dục ý thức chính là quá trình giáo dục làm khơi dậy sự phản ánhcủa hiện thực khách quan cho con người Như giáo dục ý thức bảo vệ môitrường, giáo dục ý thức sống,…
Do đó, giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số là quátrình tác động của các nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm nâng caonhận thức, xây dựng tình cảm, động cơ, thái độ, trách nhiệm và ý chí quyếttâm, nỗ lực bảo tồn các giá trị DSVH của các dân tộc thiểu số
* Nội dung của giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
Giáo dục ý thức bảo tồn DSVH nói chung và DSVH của các dân tộcthiểu số là giáo dục toàn bộ các nội dung cấu thành nó trong một chỉnh thểthống nhất Đó là giáo dục tri thức bảo tồn DSVH nhằm nâng cao nhận thức,trang bị hệ thống kiến thức về DSVH của các dân tộc thiểu số; giáo dục, xâydựng, củng cố tình cảm, thái độ, niềm tin đối với các giá trị DSVH của cácdân tộc thiểu số cho mọi người; giáo dục, xây dựng ý chí quyết tâm, ý thứctrách nhiệm công dân trong tham gia các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trịDSVH của các dân tộc thiểu số
Trang 27Như vậy, nội dung giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu
số là toàn bộ các nội dung cấu thành ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộcthiểu số Các nội dung cơ bản đó cần triển khai thành các nội dung cụ thể, bảođảm tính toàn diện, tính chỉnh thể, tính thống nhất về nội dung giáo dục ýthức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số cho HS THPT hiện nay
1.1.3 Vai trò của việc giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số cho HS trường THPT
DSVH dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều có thể sử dụng trong quátrình giáo dục, dạy học dưới hình thức tạo môi trường; tạo công cụ hoặc là nguồncung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học, giáo dục
Bàn về các điều kiện giáo dục, dạy học, nhìn chung các tài liệu về lýluận dạy học, giáo dục chung, đại cương và tài liệu về lý luận dạy học bộ mônhầu như chưa đề cập đến điều kiện, phương tiện dạy học là các DSVH Gầnđây trong phong trào thi đua xây dựng nhà trường thân thiện, HS tích cực,một trong những hoạt động được đặt ra là tổ chức cho HS tham gia chăm sóccác di sản, chủ yếu là các di tích mang tính lịch sử của địa phương Việc khaithác các DSVH ở địa bàn nhà trường đóng như là nguồn tri thức, là phươngtiện dạy học, giáo dục rất ít khi được quan tâm hoặc nếu có thường mang tính
tự phát Vì vậy, vai trò và thế mạnh của những DSVH phong phú, ở địaphương chưa được khai thác đúng mức để sử dụng trọng dạy học và các hoạtđộng giáo dục của nhà trường
Dưới dạng công cụ, thiết bị dạy học, DSVH nói chung và DSVH của cácdân tộc thiểu số sẽ giúp cho quá trình học tập của HS ở những địa phương cónhiều dân tộc thiểu số sinh sống trở nên hấp dẫn hơn, HS hứng thú học tập và hiểubài sâu sắc hơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho
HS Ý nghĩa, vai trò của các DSVH của các dân tộc thiểu số đối với HS có thểđược thể hiện dưới nhiều góc độ
Trang 28Di sản là một nguồn nhận thức, một phương tiện trực quan quý giátrong dạy học nói riêng, giáo dục nói chung Vì vậy, sử dụng di sản trong dạyhọc ở trường phổ thông có nhiều HS là dân tộc thiểu số có ý nghĩa toàn diện:
- Góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức cho HS: Các
DSVH của các dân tộc thiểu số được sử dụng trong dạy học, giáo dục đều gópphần nâng cao tính trực quan giúp HS mở rộng khả năng tiếp cận với đốitượng, hiện tượng liên quan đến bài học tồn tại trong di sản của các dân tộcthiểu số Tiếp cận với di sản, HS sử dụng hệ thống tín hiệu thứ nhất (sử dụngcác giác quan như mắt - nhìn, tai nghe, mũi – ngửi, tay - sờ,…) để nghe được,thấy được, cảm nhận được và qua đó tiếp thu được những kiến thức cần thiết
từ di sản Những hình ảnh, vật dụng trong bảo tàng sẽ không chỉ giúp các em
có thêm hiểu biết mà còn tác động sâu sắc đến tình cảm của các em Ngoài ra,các giá trị có trong di sản còn được GV khai thác bằng cách đặt các câu hỏimang tính định hướng hoặc gợi ý cho HS tìm hiểu chúng qua đó di sản được
sử dụng như là phương tiện điều khiển quá trình nhận thức của HS Nhữnggợi ý đó giúp cho hoạt động tham quan trở nên có ý nghĩa hơn và làm cho bàihọc trở nên sống động hơn
- Giúp HS phát triển kỹ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức: DSVH là
phương tiện quan trọng giúp HS rèn một số kỹ năng học tập như: kỹ năngquan sát, thu thập, xử lý thông tin qua đó tự chiếm lĩnh kiến thức cần thiết thuđược trong quá trình tiếp cận với di sản; kỹ năng vận dụng kiến thức đã học
để giải thích những hiện tượng, sự vật có trong các DSVH, của khu bảo tồn
HS có thể thu thập thông tin từ những nhân viên chăm sóc khu bảo tồn hoặc
từ các nguồn khác nhau để nhận biết hiện trạng, nguyên nhân và liên hệ vớikiến thức đã học để giải thích sự xuất hiện và tồn tại của khu bảo tồn, liên hệvới thực tiễn khai thác rừng ở nước ta để tìm hiểu vai trò của khu bảo tồn vớicông tác bảo vệ đa dạng sinh học
Trang 29- Kích thích hứng thú nhận thức của HS: Hứng thú nhận thức là một trong
những yếu tố ảnh hưởng lớn đến cường độ và hiệu quả của quá trình học tập.Trong giai đoạn nhận thức cảm tính, sự tri giác các đối tượng, hiện tượng là điềukiện để phát sinh cảm giác, tạo nên biểu tượng về chúng và sau đó, nhờ nhậnthức lý tính hình thành nên khái niệm hoàn chỉnh về đối tượng, hiện tượngnghiên cứu Trong quá trình tiếp cận với DSVH của các dân tộc thiểu số theo sựhướng dẫn của GV, các hiện tượng sự vật, các giá trị ẩn chứa trong di sản sẽđược các em tìm hiểu Những điều tưởng như quen thuộc sẽ trở nên hấp dẫnhơn, sống động hơn và HS sẽ có hứng thú với chúng, từ đó các em có được động
cơ học tập đúng đắn, trở nên tích cực và phấn đấu tiếp nhận kiến thức mới cũngnhư có thái độ và hành vi thân thiện, bảo vệ DSVH tốt hơn
- Phát triển trí tuệ của HS: Trong quá trình học tập, trí tuệ của HS được
phát triển nhờ sự tích cực hóa các mặt khác nhau của hoạt động tư duy, nhờviệc tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển khác nhau của hoạtđộng tâm lý: tri giác, biểu tượng, trí nhớ,….Cho HS tiếp cận di sản đúng mụcđích, đúng lúc với những PPDH phù hợp, với sự hướng dẫn chi tiết mang tínhđịnh hướng, kích thích tư duy, GV sẽ giúp HS phát triển khả năng quan sát,khả năng xử lý thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp và so sánh, qua đóphát triển trí tuệ của các em
- Giáo dục nhân cách HS: DSVH là một trong những phương tiện dạy
học đa dạng sống động nhất Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, vănhóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nên nó có khảnăng tác động mạnh tới tình cảm, đạo đức, tới việc hình thành nhân cách của
HS Do đó, khai thác được những giá trị ẩn chứa trong các DSVH của các dântộc thiểu số, chuyển giao cho HS để các em cũng nhận thức được những giátrị đó, GV giúp hình thành ở HS một hệ thống các quan điểm, các khái niệm
về nhận thức thế giới xung quanh, giúp các em nhận thức được bản chất và có
cơ sở giải thích một cách khoa học các sự vật, hiện tượng liên quan đến di
Trang 30sản Tiến hành nghiên cứu di sản một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng cũng chính
là rèn cho các em tác phong làm việc nghiêm túc, khoa học
- Tạo điều kiện tổ chức quá trình họat động của GV và HS một cách hợp
lý: Khi làm việc với/ tại nơi có di sản, GV và HS phải gia tăng cường độ làm
việc GV không thuyết trình về các hiện tượng, sự vật cần tìm hiểu mà cầnhướng dẫn HS tự quan sát, thu thập thông tin, trao đổi trong nhóm để xử lýcác thông tin, tìm hiểu về di sản, để tìm cách trình bày lại những hiểu biết của
cá nhân hoặc nhóm Đôi khi HS có thể được yêu cầu tổ chức triển lãm nhữnghiện vật, bài viết giới thiệu về di sản do các em thu thập được Môi trườnglàm việc thay đổi đòi hỏi GV phải có PPDH, cách thức tổ chức dạy học phùhợp, sao cho tập thể HS được lôi cuốn vào công việc tìm hiểu, nghiên cứu disản; đòi hỏi từng HS phải làm việc thực sự và phải biết hợp tác với bạn đểcùng hoàn thành nhiệm vụ được giao
Như vậy, với một vai trò quan trọng trong giáo dục toàn diện HStrường THPT, giáo dục DSVH nói chung và giáo dục DSVH của các dân tộcthiểu số nói riêng, giúp HS không chỉ nắm bắt được kiến thức bộ môn, màcòn được cung cấp những tri thức, được bồi dưỡng tình cảm, được trực tiếptham gia vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị của DSVH của các dân tộcthiểu số Từ đó, góp phần hoàn thành được mục tiêu của giáo dục THPT
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học GDCD ở trường THPT Cù Chính lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
1.2.1 Vài nét về trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Tháng 8 năm 1964, trước yêu cầu học tập của con em nhân dân vùngLương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, Yên Thủy,…Bộ Giáo dục quyết định thànhlập trường cấp III Cù Chính Lan Đây là trường cấp III thứ hai ở tỉnh HòaBình, sau trường cấp III Hoàng Văn Thụ Việc quyết định thành lập trườngcấp III Cù Chính Lan có một ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao dân trí,
Trang 31đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, YênThủy và các vùng lân cận.
Trải qua hơn 50 hình thành và phát triển ( 1964 – 2016), trường THPT
Cù Chính Lan đã đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp Giáo dục của tỉnh HòaBình Với đội ngũ cán bộ, giáo viên có năng lực, trình độ chuyên môn khôngngừng được nâng cao, Trường đã và đang đi đầu trong phong trào đổi mớiPPDH, đổi mới kiểm tra, đánh giá giáo dục học sinh Chất lượng giáo dục củaTrường luôn được xếp ở tốp đầu của ngành Giáo dục tỉnh Hòa Bình TrườngTHPT Cù Chính Lan thực sự là một “địa chỉ đỏ” tạo nên những nền tảng đểđào tạo nguồn nhân lực có tri thức, có chất lượng cho quê hương, đất nước,góp phần đắc lực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vào sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng thầy và trò trường THPT Cù ChínhLan vẫn đã và đang không ngừng phấn đấu, khắc phục khó khăn, góp mìnhvào sự nghiệp giáo dục và đào tạo của cả nước nói chung, của ngành Giáo dụcHòa Bình nói riêng
1.2.2 Thực trạng, nguyên nhân của việc tích hợp ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Để có cơ sở thực tiễn cho đề tài, tác giả tiến hành điều tra và đánh giáthực trạng dạy học môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện LươngSơn, tỉnh Hòa Bình Kết quả thu được như sau:
1.2.2.1 Thực trạng
* Về đội ngũ GV
Cũng như ở nhiều trường THPT trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, đội ngũgiáo viên bộ môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan chỉ có 03 đồng chí.Trình độ đào tạo của cả 03 GV đều tốt nghiệp Đại học sư phạm chính quy,chuyên ngành Giáo dục Chính trị
Trang 32So với mặt bằng chung của nhà trường, giáo viên GDCD chưa thực sựđược quan tâm đúng mức, ít nhận được sự động viên, hỗ trợ từ phía lãnh đạonhà trường, chưa được trang bị các tài liệu tham khảo cần thiết, chưa được tạođiều kiện để sử dụng phòng học đa chức năng,… GV bộ môn GDCD luônmong muốn nhà trường có sự quan tâm hơn nữa, tạo điều kiện thuận lợi và hỗtrợ cho giáo viên trong quá trình công tác.
Một phần do lo toan trang trải cuộc sống, GV bộ môn GDCD vẫn chưathực sự nhiệt tình, trăn trở, tìm tòi, ứng dụng những kiến thức, PPDH tạo hứngthú, động lực học tập tích cực của HS; vẫn giữ thói quen truyền thống, đi theo lốimòn phương pháp và ít có sự thay đổi Việc ứng dụng các PPDH tích cực khôngthường xuyên, chỉ diễn ra chủ yếu nhờ những giờ có sự tham dự, đánh giá hoặc
do những yếu tố khác chi phối nên khó có điều kiện thực hiện
* Về PPDH
Tìm hiểu việc sử dụng các PPDH môn GDCD của GV giảng dạy mônGDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, tác giả đã khảo sát 03 GV, kết quả thuđược như sau:
Bảng 1.1: Kết quả tìm hiểu việc sử dụng các PPDH của GV
STT Phương pháp sử dụng
Sử dụng thường xuyên Ít sử dụng
Không sử dụng
%
1 Thuyết trình - tái hiện thông báo 03 100.0 00 00 00 00
2 Hỏi đáp - tái hiện thông báo 03 100.0 00 00 00 00
3 Đàm thoại vấn đáp 02 66.67 01 33.33 00 00
4 Nêu và giải quyết vấn đề 01 33.33 02 66.67 00 00
Trang 33Qua tìm hiểu ở bảng 1.1, tác giả nhận thấy các PPDH như: Phương phápnêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp dự án, phương phápđóng vai, phương pháp nghiên cứu trường hợp,…các GV rất ít hoặc sử dụngvẫn còn khá dè dặt Ngược lại, nhóm PPDH truyền thống như: Phương phápthuyết trình, đàm thoại thì GV sử dụng thường xuyên
* Về việc giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số cho học sinh
Trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa, hoàn thiện nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN và hội nhập quốc tếmạnh mẽ, vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH dân tộc trên nền tảng kế thừa disản văn hóa của cha ông, kết hợp học hỏi những tinh hoa văn hóa nhân loạicần được đặc biệt chú trọng
Trong chương trình môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyệnLương Sơn, tỉnh Hòa Bình có lồng ghép một số kiến thức giáo dục ý thức bảotồn DSVH của các dân tộc thiểu số cho HS Tuy nhiên kiến thức về giáo dục
ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCDchưa được hệ thống cụ thể Bên cạnh đó, GV giảng dạy môn GDCD chưa thật
sự quan tâm nhiều đến vấn đề phải nâng cao trách nhiệm của HS trong việcgiữ gìn và phát huy các giá trị của DSVH của các dân tộc thiểu số cho HS các
Trang 34dân tộc thiểu số.
Để tìm hiểu rõ hơn, tác giả tiến hành điều tra thực trạng việc giáo dục ýthức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ởtrường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình trên các khíacạnh sau:
+ Nhận thức của GV môn GDCD về sự cần thiết của việc tăng cường tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số trong dạy học
Bảng 1.2: Sự cần thiết của việc tăng cường tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường
THPT Cù Chính Lan cho HS thông qua đổi mới PPDH
ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số Bởi lẽ, đa số GV đều cho rằng,
họ phải làm sao để truyền đạt một khối lượng kiến thức lớn tới HS Vì vậy,việc giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số cho HS đang còn
là vấn đề chưa thu hút được sự quan tâm đúng như tầm quan trọng của nó
+ Nhận biết của GV về mức độ học tập tích cực của HS khi GV có đổi mới PPDH nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các
Trang 35dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình cho HS
Bảng 1.3: Nhận biết của GV về mức độ tích cực của HS
khi GV đổi mới PPDH
1 Đa số HS học tập tích cực hơn các giờ học khác 03 100
2 HS học bình thường như các giờ học khác 00 00
Tác giả thấy có 100% GV nhận biết được HS học tập tích cực hơn hẳn sovới các giờ học bình thường theo PPDH truyền thống khác Trong thực tế dạyhọc hiện nay, với những yêu cầu mới đặt ra, nhiều GV đã cố gắng tạo điều kiện
để HS tích cực học tập, được nói nhiều hơn Tuy vậy, qua dự giờ, kiểm tra và đisâu tìm hiểu HS, tác giả thấy, nếu đánh giá một cách nghiêm túc thì phần lớnmới chỉ là những biểu hiện tích cực mang tính hình thức bên ngoài HS đã tíchcực thực hiện nhiệm vụ theo sự điều khiển của GV, nhưng chưa chủ động vàthiếu sự sáng tạo, còn mang tính dập khuôn, máy móc Mặc dù đã thực hiện đổimới PPDH nhưng thực tế cho kết quả lại chưa cao Theo tác giả, nguyên nhân ởđây là còn thiếu quy trình vận dụng một cách hợp lý, khoa học
+ Những khó khăn ảnh hưởng đến việc đổi mới PPDH môn GDCD nhằm nâng cao hiệu của tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD
Bảng 1.4: Những khó khăn ảnh hưởng đến việc đổi mới PPDH môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Mức độ Đồng
ý
Bình thường
Không đồng ý
1 Thói quen sử dụng các PPDH truyền thống 66,67 33,33 00
2 Nhận thức về ưu, nhược điểm của từng PPDH
nhất là đổi mới PPDH còn hạn chế 66,67 33,33 00
3 Chưa có các kỹ năng xây dựng và sử dụng các 33,33 66,67 00
Trang 36câu hỏi, bài tập để phát huy được tính tích cực,
chủ động sáng tạo của HS
4 Kiến thức cần truyền đạt nặng so với thời gian 100 00 00
5 Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học chưa đáp
6 Chính sách, cơ chế quản lý giáo dục chưa
Những khó khăn khách quan: Mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức vớithời gian dạy học; cơ sở vật chất, phương tiện dạy học chưa đáp ứng đượcnhu cầu học tập; đánh giá giờ dạy chưa khuyến khích GV đổi mới PPDH;chính sách, cơ chế quản lý giáo dục chưa khuyến khích GV; tâm lý học đốiphó với thi cử của HS
Qua đây, chúng tôi cho rằng việc sử dụng PPDH môn GDCD ở trườngTHPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình còn nhiều bất cập,dẫn đến HS chưa có được những phẩm chất đạo đức và kỹ năng sống cầnthiết Do đó, nhất thiết phải có bước đột phá trong đổi mới để PPDH mang lạimột bước tiến mới trong phong trào thi đua dạy tốt - học tốt của nhà trường
+ Hứng thú của HS trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đối với việc học tập môn GDCD
Bảng 1.5: Hứng thú của học sinh trường THPT Cù Chính Lan,
huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đối với việc học tập môn GDCD LỚP SĨ
HỨNG THÚ HỨNG THÚ
BÌNH THƯỜNG
ÍT HỨNG THÚ
KHÔNG HỨNG THÚ
Trang 37Qua tìm hiểu, tác giả biết được nguyên nhân của thực trạng nêu trên:Bên cạnh một số ý kiến cho rằng, nội dung môn GDCD phong phú, đa dạng
và có liên quan đến đời sống thực tiễn, thì đa số các em cảm thấy nội dungmôn học nặng về lý thuyết, trừu tượng, khó hiểu HS còn xác định, mônGDCD là môn học phụ nên không cần đầu tư nhiều thời gian, công sức vàomôn học này Mặt khác, do không khí học tập chung của lớp, nên mônGDCD không gây hứng thú được với HS Một phần HS cho rằng, GV dạyhọc bộ môn chưa có những hình thức, biện pháp khích lệ HS tích cực họctập và tham gia bài giảng
Có thể nói, hứng thú có vai trò quan trọng để nâng cao tính tích cực củacon người, làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức Bồi dưỡng hứng thúcho HS trong môn GDCD là việc làm cần thiết, có ý nghĩa vô cùng quantrọng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà trường hiện nay.Giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số cho HS THPT cóhiệu quả hay không, khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn cuộc sống của
HS có tốt hay không, thì trước hết HS phải có hứng thú đối với môn học
Trang 38+ Nhận thức của HS về sự cần thiết của việc đổi mới PPDH trong giảng dạy môn GDCD nhằm giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số.
Trang 39Bảng 1.6 Nhận thức của HS về sự cần thiết của việc đổi mới PPDH trong giảng dạy môn GDCD nhằm giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc
Tìm hiểu thêm, các em cho rằng so với các giờ học GV dạy với PPDHtruyền thống thì việc GV đổi mới PPDH vào dạy học môn GDCD các em sẽthích thú hơn, tích cực hoạt động hơn, và thiết thực hơn, các em được nói,được trao đổi, được giãi bày những băn khoăn, trăn trở của mình với bạn bè
và thầy cô giáo, cũng như cảm thấy tự tin hơn khi đứng trước những tìnhhuống thực tế
1.2.2.2 Nguyên nhân
Như vậy, đi sâu tìm hiểu thêm tác giả thấy, tích hợp giáo dục ý thứcbảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số thông qua dạy học môn GDCD theophương pháp truyền thống dường như có một sự mặc định, một cách thựchiện theo khuôn mẫu Quan niệm, dạy là quá trình truyền đạt, chuyển tải nộidung đã được quy định trong chương trình SGK Dạy học còn mang tínhthông báo đồng loạt, yêu cầu cả lớp cùng thực hiện như nhau, việc đánh giálại theo nội dung dạy học, theo cách dạy, khả năng ghi nhớ và tái hiện kiếnthức là chính Trong đó, GV cứ dạy, HS ghi chép, trả bài theo đúng những gìSGK viết, nhưng các em không có sự vận dụng thực tiễn, không biến đượcnhững kiến thức đã học thành kỹ năng, thái độ của mình
Trang 40Qua đây tác giả cho rằng, mấu chốt của thực trạng là ở PPDH của GV,thể hiện ở một vài khía cạnh sau:
Thứ nhất, khi lựa chọn PPDH, GV chưa chú ý đến việc tìm hiểu thật kỹ
nội dung để từ đó lựa chọn PPDH cho phù hợp Việc lựa chọn PPDH tùy tiệnkhông dựa trên cơ sở khoa học, chưa thấm nhuần tư tưởng “phương pháp làhình thức vận động của nội dung”, việc sử dụng các PPDH không theo mộtquy trình chặt chẽ, trên cơ sở khoa học Với nội dung có thể vận dụng cácPPDH tích cực, tăng cường tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của cácdân tộc thiểu số tốt, nhưng phần lớn GV vẫn chỉ sử dụng PPDH truyền thống
là chủ yếu Hơn nữa, khi có sử dụng thì lại đơn điệu, mang tính hình thức, vìthế chưa phát huy được hiệu quả
Thứ hai, thông qua việc kiểm tra giáo án của GV, tác giả thấy GV
chuẩn bị bài lên lớp còn sơ sài, chưa đầu tư thời gian, công sức và tâm huyếtvào bài dạy, tích hợp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc còn rất ít, chưa cónhiều tình huống thực hành, luyện tập cho HS rèn luyện kỹ năng, việc ápdụng đổi mới PPDH còn chưa được thường xuyên, chưa đúng quy trình, chưakhoa học
Thứ ba, thông qua dự giờ một số GV tác giả thấy: Về cấu trúc của giờ
học, đa số GV đều làm theo một khuôn mẫu, trình tự các hoạt động nhất địnhnhư: ổn định tổ chức (kiểm tra sĩ số); kiểm tra bài cũ; tiến hành dạy bài mớitheo trình tự nội dung từng mục của SGK; cuối cùng là củng cố bài và dặn dò
HS Với PPDH như vậy, làm cho HS trước khi vào giờ học đã biết thầy làmnhững gì để rồi tìm cách “ứng phó” Đó là điều khô cứng, máy móc làm cho
HS thiếu hứng thú học tập, vì các em không thấy điều gì mới lạ, mà điều mới
lạ mới kích thích nhận thức, mới thu hút sự chú ý của các em, “một ưu điểm
mà duy trì quá lâu cũng có thể trở thành khuyết điểm” Với một vài PPDHđơn điệu mà sử dụng nhiều, duy trì lâu thì khó có thể mạng lại hiệu quả