Với vị trí và tầm quan trọng của bậc Tiểu học nh vậy lên việc dạy học, giáo dục ở bậc học này có ý nghĩa đặc biệt, trong đó phải kể đến vai trò của ngời giáo viên với việc giảng dạy các
Trang 1Huongdanvn.com –Cú hơn 1000 sỏng kiến kinh nghiệm hay
Phần I: mở đầuI/- Lý do chọn đề tài:
Bậc tiểu học đợc coi là “ Bậc học nền tảng của hệ thống giáo
dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm đạo
đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ
sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Điều 2- Luật phổ cập giáo dục tiểu học)
Điều đó cho thấy rằng, những gì đợc hình thành ở bậc Tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi con ngời và rất khó thay đổi, khó hình thành lại Vì thế những gì trẻ em không đạt đợc ở bậc học này khó có thể
bù đắp đợc ở bạc học sau Hiện nay không chỉ riêng ở Việt Nam mà tất cả các Quốc gia trên thế giới đều quan tâm đặc biệt đến giáo dục Tiểu học, vì đây chính là bậc học xây dựng nền tảng vững chắc và chi phối hớng phát triển toàn bộ nhân cách của cả đời ngời
Với vị trí và tầm quan trọng của bậc Tiểu học nh vậy lên việc dạy học, giáo dục ở bậc học này có ý nghĩa đặc biệt, trong đó phải
kể đến vai trò của ngời giáo viên với việc giảng dạy các môn học
Trong tất cả các môn học ở bậc Tiểu học, tiếng việt là môn đặc biệt quan trọng không thể thiếu đối với các em Vì ngôn ngữ chính
là phơng tiện giao tiếp đặc trng của loài ngời Ngôn ngữ là công cụ
tổ chức quá trình t duy phất triển, và là phơng tiện bộc lộ t duy, biểu hiện tâm trạng tình cảm
Trang 2Dạy môn Tiếng Việt đang là vấn đề đợc nhà trờng, các nhà nghiên cứu và toàn xã hội quan tâm Biết đọc là biết thêm một công
cụ mới để học tập, để giao tiếp, để nắm bắt đợc mọi thông tin diễn ra hằng ngày trong xã hội Tập đọc là phơng tiện để học sinh tiếp nhận tri thức cửa loài ngời Nó góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu chung của bậc tiểu học về tất cả các mặt: Đức - Trí - Lao - Thể - Mỹ Nó có khả năng trực tiếp hay giám tiếp phát huy năng lực
t duy của học sinh Dạy học không những rèn luyện kỹ năng đọc mà còn phát triển cho các em vốn từ ngữ Tiếng Việt phong phú, từ đó các em sẽ học tốt các môn học khác Học đọc các em cũng đồng thời học đợc cách nói cách viết một cách chính xác, ngôn ngữ trong sáng, có nghệ thuật, góp phần không nhỏ vào việc rèn luyện suy nghĩ, diễn đạt, hình thành một nhân cách toàn diện cho lớp ngời chủ tơng lai của xã hội
Qua thực tế giảng dạy ở trờng tiểu học tôi thấy vấn đề rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh là một vấn đề rất quan trọng Cách rèn đọc có thể làm tăng tính ham thích đọc, tính chủ động của học sinh trong quá trình học song cũng có thể ngợc lại Qua thực tế hầu hết các giáo viên trong trờng tiến hành rèn đọc cho học sinh qua môn tập đọc ở các lớp Tuy vậy không phải ai cũng biết cách rèn kỹ năng đọc cho học sinh trong giờ tập đọc sao cho việc dạy và học đạt kết quả cao
ở lớp 4 các em đã biết đọc, biết t duy nên để tạo đợc sự sinh
động, hứng thú, sôi nổi để lôi cuốn sự chú ý của các em thì ngời giáo viên phải luôn luôn tìm tòi cách luyện đọc cho học sinh sao cho
có hiệu quả hơn Khi dạy tập đọc cho học sinh lớp 4 vấn đề không phải chỉ là dạy cho học sinh đọc to, rõ ràng mà còn phải dạy cho học
Trang 3sinh đọc đúng, lu loát, ngắt, nghỉ, hạ giọng, cao giọng, đọc nhớ, đọc nhanh, ngoài ra còn giúp các em hiểu và cảm thụ tốt bài học đó thì học sinh mới đọc hay, đọc diễn cảm đợc bài đọc đó, phải hiểu đợc bài đọc đó nói lên cái gì? và các em học đợc gì qua mỗi bài học đó.
Với các lý do trên tôi thiết nghĩ đây là một vấn đề rất thiết thực
đối với việc giảng dạy ở trờng Tiểu học nên tôi mạnh dạn trình bày một vài quan điểm của mình về rèn đọc hiểu cho học sinh lớp 4
II/- Mục đích của đề tài:
Trong quá trình dạy học tập đọc ở Tiểu học nói chung và ở lớp
4 nói riêng, đội ngũ các giáo viên Tiểu học đã có nhiều cố gắng vận dụng các phơng pháp dạy học để nâng cao hiệu quả giờ dạy Đặc biệt là các giáo viên giỏi đã thờng xuyên vận dụng linh hoạt các ph-
ơng pháp, trau dồi kiến thức bản thân để góp phần phát triển năng lực học tập của học sinh Tuy nhiên do nhiều khó khăn khách quan
và chủ quan ( Trình độ chuyên môn còn hạn chế, đời sống khó khăn,
cở sở vật chất phục vụ cho giảmg dạy còn nghèo nàn thiếu thốn, thiếu sự cập nhật thông tin thờng xuyên ) nên việc giảng dạy cha
đạt kết quả cao Giáo viên thờng chỉ truyền đạt kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa tới học sinh một cách áp đặt Học sinh thụ
động tiếp thu những gì do giáo viên truyền thụ, thờng không vận dụng đợc vốn kinh nghiệm sống của bản thân, không mở rộng đợc hiểu biết, sự tiếp thu không gắn liền với thực tế
Đa số việc đọc văn bản của học sinh lớp 4 mới chỉ dừng ở đọc hiểu mức độ thấp, chất lợng cha cao Tôi muốn nêu ra một số quan
điểm trong dạy học nhằm nâng cao chất lợng giảng dạy tập đọc nói chung và kiến thức, kỹ năng đọc hiểu cho học sinh nói riêng
Trang 4III/- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ nghiên cứu là mục tiêu cụ thể mà đề tài phải thực hiện bởi vậy trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành đề tài thì việc
đề ra nhiệm vụ nghiên cứu là hết sức cần thiết Hiểu đợc điều này Tôi đã xác định nhiệm vụ nghiên cứu đề tài nh sau:
1/- Tìm hiểu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
2/- Tìm hiểu thực trạng dạy học ở tiểu học
3/- Những điều chỉnh- đề xuất biện pháp rèn luyện kỹ năng
đọc cho học sinh lớp 4 trong giờ tập đọc
4/- Thực nghiệm dạy học
IV/- Phơng pháp nghiên cứu:
Phơng pháp là cách thức, là con đờng giúp ta đạt tới mục đích sáng tạo Phơng pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của vấn đề cần nghiên cứu:
1/- Phơng pháp nghiên cứu của tài liệu: Đọc tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo
2/- Thực nghiệm quan sát: Dự giờ
3/- Phơng pháp thể nghiệm dạy học: Soạn giáo án, tổ chức dạy học
Phần II: Nội dung
Trang 5Chơng I Cơ sở lý luận- cơ sở thực tiễn
I/- Cơ sở lý luận:
* Cơ sở tâm lý, sinh lý của việc dạy học:
Để tổ chức dạy học cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ về quá trình đọc, nắm bản chất của kỹ năng đọc Đặc điểm tâm lý, sinh lý của học sinh khi đọc hay cơ chế đọc là cơ sở của việc dạy đọc
Phơng pháp dạy đọc phải dựa trên những cơ sở khoa học Nó phải dựa vào những kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học,văn học, s phạm học, tâm lý ngữ học để xây dựng, xác lập nội dung và phơng pháp dạy học
Đọc đợc xem nh là một hoạt động có hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phơng diện Thứ nhất, đó là quá trình vận động bằng mắt, sử dụng bộ mã chữ- âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói am thanh Quá trình này đợc gọi là quá trình đọc thành tiếng Thứ hai ,
đó là sự vận động của t tởng, tình cảm sử dụng bộ mã chữ- nghĩa tức
là mối liên hệ giữa con ngời và ý tởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu đợc nội dung những gì đợc đọc Quá trình này gọi là quá trình đọc hiểu
Mục đích của đọc thành tiếng là chuyển đổi chính xác và ngày càng nhanh các ký hiệu văn tự thành âm thanh Vì vậy,chất lợng của đọc thành tiếng trớc hết đợc đo bằng hai phẩm chất: Đọc đúng, đọc nhanh (lu loát, trôi chảy) Đó cũng là hai kĩ năng đầu tiên của
đọc.Khi đọc hiểu, mục đích của ngời đọc là làm rõ nghĩa các kí tự,
Trang 6làm rõ nội dung và mục đích thông báo của văn bản Lúc này quá trình đọc không chỉ là sự vận động của cơ quan thị giác và cơ quan phát âm mà còn là sự vận động của trí tuệ Vì vậy, đọc có ý thức là một yêu cầu quan trọng của đọc, trở thành một kỹ năng của đọc ở
đây ta gọi là kỹ năng của đọc hiểu
Đọc hiểu là một hoạt động có tính quá trình rất rõ vì nó gồm nhiều hành động đợc trải qua theo tuyến tính thời gian
Hành động đầu tiên của quá trình đọc hiểu là hành động nhận diện ngôn ngữ của văn bản tức là nhận đủ tín hiệu ngôn ngữ mà ng-
ời viết dùng để tạo ra văn bản
Hành động tiếp theo là hành động làm rõ nghĩa của các chuỗi tín hiệu ngôn ngữ
hành động cuối cùng là hành động hồi đáp lại ý kiến của ngời viết nêu trong văn bản
Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bớc sau:
Trang 7chất lợng sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học đợc đánh giá cao nhờ tuyển chọn nhiều bài tập đọc hay, có giá trị giáo dục cao,
có phần định hớng s phạm rõ ràng Những bài đoạn văn trong sách giáo khoa có một bớc tiến lớn so với trớc, chất văn sách giáo khoa đợc nâng lên Các văn bản đã đề cập đến cuộc sống nhiều mặt của con ngời và đợc xếp theo chủ điểm hợp với tâm lý lứa tuổi Nhiều bài thơ, bài văn hay đợc trích hoặc soạn lại từ các tác phẩm văn học có giá trị ở các thời đại thuộc kho tàng văn học trong nớc, nớc ngoài hợp với thị hiếu và nhận thức của trẻ em, đã gây đợc cảm xúc mạnh, để lại ấn tợng sâu sắc trong tâm hồn các em
Những chú giải và hệ thống câu hỏi, bài tập của bài tập đọc đã trở thành những chỉ dẫn, gợi ý rất quan trọng để giáo viên và học sinh tìm hiểu nội dung bài
Cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, trẻ em có một trí tuệ phát triển rất tốt, nhất là đối với trẻ em thành phố, thị xã rất nhanh nhạy, dễ nắm bắt cái hay, cái mới, nhớ lâu những gì cảm thấy hứng thú Có rất nhiều học sinh Tiểu học thích học thuộc lòng các câu, đoạn, bài tập đọc hay, đọc diễn cảm rất tốt, nhiều
em đã hiểu và cảm nhận đúng đợc nội dung ý nghĩa của bài đọc
và thể hiện đợc những suy nghĩ cảm xúc của mình qua những bài viết khá sâu sắc và xúc động
Đa số học sinh Tiểu học ở Trờng Lý Thờng Kiệt-Thị xã Uông
Bí đều là con em công nhân, có nhiều điều kiện tốt cho việc học tập, độ nhận thức của các em nhanh, nhạy bén, có hứng thú trong học tập, nhiều em bộc lộ khả năng cảm thụ văn học nghệ thuật tốt Đa số các em phát âm rõ ràng, mạch lạc, và đúng
Trang 8Cùng với sự chỉ đạo quan tâm của Chính phủ-Bộ giáo dục và
đào tạo quan tâm tới chất lợng của bậc tiểu học, các ban ngành của Tỉnh, Thị xã, Sở giáo dục, Phòng giáo dục địa phơng cũng
nh Ban giám hiệu của các trờng đề tận tình, quan tâm chỉ đạo một cách cụ thể, rõ ràng đến chất lợng cũng nh học việc học tập của các em Cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tập nói chung và học tập đọc nói riêng tơng đối đầy đủ, phong phú
Đó là một số thuận lợi đáng kể giúp cho ngời giáo viên cũng
nh ngời học sinh đạt đợc chất lợng học tập
2- Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi nh đã nêu, việc học tập môn Tiếng Việt vẫn còn có nhiều khó khăn tồn tại, đó là:
Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, học sinh tiểu học còn nhỏ, sự
tự giác trong học tập cha cao, độ tập trung chú ý còn ở giai đoạn thấp, trình độ đọc còn yếu: Cha rành mạch, còn ấp úng, nhát ngng, cha thật thông hiểu văn bản, phần nhiều mới chỉ là sự phát âm đúng,
đọc giải đợc bộ mã kí tự-âm thanh đúng, các em có thói quen đọc thiếu ý thức: Đọc ê a kéo dài, hoặc liến thoắng vội vã, hấp tấp, đọc cha đúng theo ngữ, câu, cha biết đọc nhấn mạnh vào
những từ cần nhấn, thể hiện giọng đọc phù hợp với văn bản cha tốt
Do ảnh hởng phát âm phơng ngữ nên đa phần các em phát âm
cha chuẩn phụ âm đầu: l/n
Cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy và học tập tơng đối
đủ những văn bản còn thiếu và đôi khi không hợp lí Lớp học cha
đ-ợc khang trang, sạch sẽ thiếu ánh sáng trong phòng học, bàn ghế cha
Trang 9đúng quy định cho từng lứa tuổi học, cụ thể là học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 đều chung một kích cỡ bàn ghế học Đồ dùng dạy học phục vụ cho nhiều bài còn thiếu, do sự quản lí đồ dùng của trờng không khoa học, gây nhiều khó khắn cho việc trả, mợn cũng nh nghiên cứu, sử dụng đồ dùng phục vụ giờ dạy của giáo vên.
3- Thực trạng dạy học ở các trờng tiểu học hiện nay:
ở trờng tiểu học, việc dạy tập đọc, bên cạnh những thành công còn nhiều hạn chế Học sinh của chúng ta đọc cha đợc nh mong muốn Kết quả học đọc của các em cha đáp ứng đợc yêu cầu của việc hình thành kĩ năng đọc Các em cha nắm vững đợc công cụ hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, t tởng, tình cảm của ngời khác chứa đựng trong văn bản đợc đọc
Giáo viên tiểu học còn lúng túng khi dạy tập đọc: Cần đọc bài tập đọc với giọng nh thế nào, làm thế nào để chữa lỗi phát âm cho học sinh, để các em học sinh đọc nhanh hơn, hay hơn, diễn cảm hơn, làm thế nào để phối hợp đọc thành tiếng và đọc hiểu, để các em hiểu văn bản đợc đọc, nhất là làm thế nào để các em hiểu đợc “ văn”, làm thế nào để những gì đọc đợc tác động vào chính cuộc sống của các em? Đó chính là những trăn trở của giáo viên trong
mỗi giờ dạy tập đọc
Vai trò quyết định chất lợng dạy học chính là ở giáo viên
Nguyên nhân quan trọng nhất làm cho chất lợng dạy tập đọc cha tốt cũng chính là ở hạn chế của giáo viên Nhìn chung hiện nay giáo viên vẫn còn thiếu hụt các kĩ năng đọc, vì vậy không làm chủ đợc các nội dung dạy tập đọc Nhiều giáo viên đọc không hay, cảm thụ văn học còn yếu, nhiều giáo viên cha chú ý chữa lỗi phát âm cho
Trang 10học sinh, không có biện pháp luyện cho học sinh đọc to, đọc nhanh,
đọc diễn cảm, cũng nh không biết cách nào để tổ chức hoạt động “ chiếm lĩnh” nội dung văn bản đợc đọc
Thực tế cho thấy: Đọc những bài văn xuôi, học sinh thờng mắc lỗi ngắt giọng ở những câu dài có cấu trúc ngữ pháp phức tạp Học sinh cũng có thể mắc lỗi ngay ở những câu ngắt nhng các em cha nắm đợc quan hệ ngữ pháp giữa các từ này Lúc này các em thờng ngắt giọng để lấy hơi một cách tuỳ tiện mà không tính đến nghĩa, tạo ra những lỗi ngắt giọng
Trong nhiều tiết dạy giáo viên quá sa đà vào giảng văn, lúng túng trong sử lí phần tìm hiểu bài, cần cung cấp kiến thức giúp học sinh đọc hiểu bài Đây là điểm vớng mắc khá phổ biến mà nhiều giáo viên cha tìm ra cách gỡ Phần luyện đọc cha thực sự đợc giáo viên chú trọng, nhiều giáo viên cho là dễ vì thấy học sinh đọc đợc trôi chảy, nhng thực ra đây là phần khó nhất, phần trọng tâm cửa bài ở phần này giáo viên ít mắc lỗi về thao tác nhng lại không biết dạy thế nào để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, cha chú
ý đến tốc độ đọc của học sinh theo yêu cầu về kiến
thức và kĩ năng cơ bản phù hợp với khối lớp
Thờng ở tiết dạy các giáo viên ít chú ý đến đối tợng đọc yếu, phát
âm sai, cha thông hiểu đợc từ nghĩa Đó là một lỗi khá phổ biến ở ờng học hiện nay Không khơi gợi, phát huy đợc tính tích cực ở học sinh
Trang 11tr-Chơng II.
I/- Những điều chỉnh định hớng cho việc dạy đọc hiểu ở lớp 4:
Đọc thầm – một hình thức đọc có nhiều lợi thế để hiểu văn bản, đọc thầm là hình thức đọc không phát ra thành âm thanh mà
Trang 12chuyển trực tiếp từ kí tự sang nghĩa để hiểu văn bản Sự thực thì đọc thầm có u thế hơn hẳn đọc thành tiếng ở chỗ nhanh hơn đọc thành tiếng từ 1,5 đến 2 lần Nó có u thế hơn hẳn để tiếp nhận, thông hiểu nội dung văn bản vì ngời ta không phải chú ý đến phát âm mà chỉ tập trung để hiểu nội dung mình đọc Vì vậy ngay từ cuối lớp 1 đã
có hình thức đọc thầm và càng lên lớp trên thì kỹ năng này càng đợc củng cố
Hiệu quả của đọc thầm đợc đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc Do đó dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức,
đọc hiểu Kết quả đọc thầm giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm
từ, câu, đoạn, bài, tức là toàn bộ những gì đợc đọc Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh hiểu bài đọc Bắt đầu từ vịêc hiểu nghĩa từ, việc chọn lọc từ nào để giải thích phụ thuộc vào đối tợng học
sinh Giáo viên phải có sự hiểu biết về từ địa phơng cũng nh có vốn
từ của tiếng mẹ đẻ vùng địa phơng mình dạy để chọn từ giải thích cho phù hợp
Để hiểu và nhớ những gì đợc đọc, ngời đọc không phải xem tất cả các chữ đều quan trọng nh nhau mà có thể cần sàng lọc để giữ lại những từ “Chìa khoá” những nhóm từ mang ý nghĩa cơ bản Đó là những từ giúp ta hiểu đợc nội dung của bài Trong những
bài văn chơng, đó là những từ dùng “ đắt” tạo nên giá trị nghệ thuật của bài
Tiếp đó cần hớng học sinh đến việc phát hiện ra những câu quan trọng của bài, những câu nêu ý chung của bài Với các bài khoá văn chơng, học sinh cần nắm đợc các hình ảnh, chi tiết nghệ thuật tiêu biểu nhất Cần tìm đợc mối liên hệ bên trong của văn bản
Trang 13để hiểu ý nghĩa hàm ẩn của nó chứ không phải chỉ có ý nghĩa hiển hiện, tức là cần dạy cho học sinh biết giữa các hàng chữ.
Xác định đề tài của văn bản, nhiều khi cần dựa vào chủ điểm của bài tập đọc Có lúc dựa vào tranh minh họa để đoán đề tài Th-ờng là đề tài đợc thể hiện ở tên bài, tên ngời, tên vật, tên việc nêu trong văn bản Đối với những văn bản viết theo nối ẩn dụ, cần giúp học sinh chỉ ra xem thực chất văn bản nối về điều gì, nói về ai, về chuyện gì
Tìm hiểu tên bài của bài tập đọc Bài tập đọc bao giờ cũng có một cái tên, tên bài không phải là ngẫu nhiên đợc gán cho văn bản
mà đều phải có lí do Vì vậy tên bài thờng ngắn nhng nói với chúng
ta đợc nhiều điều Nó giúp ta xác định đợc đề tài văn bản
và phần nào đoán định đợc nội dung văn bản
Tầm quan trọng đặc biệt để hiểu văn bản là xác định, làm rõ nghĩa của từ ngữ, từ đó học sinh mới có cơ sở để nắm nghĩa của câu trong văn bản Những câu mang nội dung của bài là những câu quan trọng Những câu quan trọng thờng nêu đợc ý của cả đoạn đoạn, cả bài Việc hiểu những câu này sẽ giúp ta nhanh chóng chiếm lĩnh đợc văn bản
Việc đọc hiểu văn bản chỉ hoàn tất khi học sinh đã nắm đợc nội dung chính của toàn văn bản Lúc này học sinh phải hiểu đợc nội dung của toàn văn bản nh một chỉnh thể
II/- Giáo viên cần lu ý khi dạy đọc hiểu cho học sinh
Khi giao tiếp với học sinh đòi hỏi giáo viên Tiểu học phải có một phẩm chất đặc biệt một cách c sử đặc biệt đối với học sinh Đó
là thái độ nâng đỡ, khích lệ, thông cảm, luôn luôn nhấn mạnh vào
Trang 14thành công của trẻ Có khả năng biết kiềm chế khả năng đồng cảm với học sinh, khả năng làm việc kiên trì, tỉ mỉ, có khả năng biết tổ chức quá trình dạy học kết hợp với vui chơi.
Ngời giáo viên Tiểu học phải nắm đợc đặc điểm của học sinh, hình dung thấy những khó khăn của các em khi học đọc để bình tĩnh trớc những sai sót của các em khi đọc, không ca thán trớc lỗi phát
âm, những cách hiểu sai trong khi đọc, những lỗi tởng nh lạ lùng với ngời lớn nhng lại là bình thờng ở trẻ em
Giáo viên cần chú ý luyện tập để có ngôn ngữ chuẩn, trong
sáng, dễ hiểu, truyền cảm Giáo viên cần có kĩ năng Đọc“ ” thành thục kĩ năng đọc là mục đích cuối cùng của chúng ta muốn có đợc ở học sinh sau mỗi giờ học Những kĩ năng này trớc hết phải có ở giáo viên Ngời thầy phải đọc đợc bài tập đọc đúng với giọng cần thiết,
đúng với ý của văn bản nghĩa là phải tạo đợc hình mẫu đọc lí tởng cho học sinh theo
Đối với những câu hỏi trong bài học khi hớng dẫn học sinh trả lời, giáo viên phải nắm đợc mục đích, ý nghĩa cơ sở xây dựng câu hỏi mà biết cách giải chính xác bài tập, biết trình tự quá trình
giải bài tập để hớng dẫn cho học sinh
Trong giờ dạy giáo viên cần nêu câu hỏi một cách chậm rãi, rõ ràng, có một số trờng hợp phải điều chỉnh câu hỏi của sách giáo khoa, có thể cắt nhỏ câu hỏi cho phù hợp với đối tợng học sinh Khi nêu câu hỏi, bài tập phải chú ý đến sự phân hoá câu hỏi cho phù hợp
đối tợng Những câu hỏi mà học sinh còn lúng túng giáo viên cần ớng dẫn tỉ mỉ Với những học sinh yếu cần có câu hỏi gợi mở
Trang 15h-Khi dạy hiểu văn chơng, giáo viên cần tôn trọng những cảm xúc, cảm nhận, suy nghĩ tuy còn thơ ngây, non nớt, nhng rất riêng của học sinh, không gò ép các em hiểu theo cách duy nhất hoặc nói theo lời lẽ của giáo viên tôn trọng cái riêng của học sinh trong giờ học, nên có những bài tập yêu cầu học sinh nêu những từ ngữ, hình
ảnh, tình tiết mà mình thích nhất và cho các em tập lý giải vì sao mình lại thích những từ ngữ, hình ảnh, tình tiết đó Nên đa ra các
câu hỏi hay bài tập có tính phản hồi, các câu hỏi " Vì sao? tại sao?"
để đánh giá cũng nh kích thích sự suy nghĩ của học sinh
Giáo viên cần có khả năng tự xác định mục tiêu, nội dung dạy
đọc, tự cảm nhận bài đọc, từ đó mới chủ động tiến hành bài dạy để
đạt đợc kết quả tốt của giờ học
Hớng dẫn đọc cần lu ý hớng học sinh tìm những câu văn quan
trọng nêu ý của toàn đoạn hoặc bài Ví dụ câu: "Ôi chao! chú
chuồn chuồn nớc mới đẹp làm sao!" ngay câu đầu của bài đã thể
hiện nội dung bao trùm của bài : Giới thiệu về vẻ đẹp của con chuồn chuồn nớc mà những câu sau sẽ diễn giải cho điều đó Trong tìm hiểu nội dung của bài cần chú ý tìm ra, và khai thác giá trị của
những từ "Đắt ", từ "Chìa khoá " của bài để bật lên nội dung Ví dụ
Trang 16Các từ láy" thầm thì", " thong thả", "lim dim", "êm ả" dùng
rất đắt, có giá trị đặc tả một buổi chiều êm ả, thơ mộng thanh bình của dòng sông La Hay các hình ảnh ẩn dụ: "nụ ngói hồng", "hoa
lúa trổ", "khói nở xoà nh bông" Hiện lên trong cảnh "đạn bom đổ
nát" gợi tả cảnh tái thiết đất nớc trong một ngày mai thắng trận
Tinh thần lạc quan tin tởng sáng bừng vần thơ:
" Trong đạn bom đổ nát
Bừng tơi nụ ngói hồng
Đồng vàng hoa lúa trổ Khói nở xoà nh bông
câu thơ Với thơ 4 tiếng, thờng ngắt nhịp 2/2, với thơ 5 tiếng ngắt nhịp 2/3 hoặc 3/2, thơ 7 tiếng ngắt nhịp 3/4 hoặc 4/3, thơ lục bát sẽ
đợc ngắt nhịp chẵn 2/2/2 vì vậy sẽ dẫn đến ngắt nhịp sai do không hiểu nghĩa của từng dòng thơ đối với một số dòng thơ cụ thể Ví dụ chọn cách ngắt:
Bè đi/ chiều thầm thì
Gỗ/ lợn đàn thong thả.