Đối với học sinh lớp 4, việc hình thành phương pháp làm bài văn đãkhó, việc dạy các em viết được một bài văn hay lại càng khó hơn.. Giúp các em có điều kiện tiếpcận với vẻ đẹp của con ng
Trang 1UBND QUẬN HAI BÀ TRƯNG TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ VĂN TÁM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN CHO
HỌC SINH LỚP 4 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
Lĩnh vực/ Môn: Tiếng Việt Cấp học : Tiểu học Tên tác giả : Nguyễn Phương Loan
NĂM HỌC 2018 - 2019
MÃ SKKN
Trang 23 Phương pháp nghiên cứu
4 Đối tượng nghiên cứu
5 Phạm vi nghiên cứu
223333
PHẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN:
1 Tính chất tổng hợp của phân môn Tập làm văn
2 Tính chất sáng tạo của phân môn Tập làm văn
II/ THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC HIỆN NAY
1 Chương trình sách giáo khoa
2 Thực trạng việc dạy Tập làm văn lớp 4 trong trường tiểu học
III MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
456671213172022
Trang 3PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
Tiểu học là một bậc học rất quan trọng trong việc đặt nền móng hình thànhnhân cách học sinh Chương trình học ở bậc Tiểu học có nhiều môn học vớinhững nội dung rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, các môn học luôn tácđộng với nhau giúp học sinh phát triển một cách toàn diện Trong đó, phân mônTập làm văn là một trong những môn học quan trọng ở bậc tiểu học đối với họcsinh Nó không chỉ cung cấp các kiến thức về "làm văn" mà còn góp phần quantrọng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, phát triển tư duy và trí tưởng tượngcủa các em Đối với học sinh lớp 4, việc hình thành phương pháp làm bài văn đãkhó, việc dạy các em viết được một bài văn hay lại càng khó hơn
Bên cạnh đó, phân môn Tập làm văn lại có tính chất tổng hợp, vừa sử dụngcác hiểu biết và kĩ năng Tiếng Việt do các phân môn khác cung cấp, đồng thờiphát huy những kết quả đó, góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh Ở lớp
4, các loại bài Tập làm văn đều được gắn với các chủ điểm Học các tiết Tập làmvăn, khi nhận diện đặc điểm các loại bài miêu tả, kể chuyện, viết thư, các em
có dịp tiếp cận với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn vănđiển hình Khi phân tích các đề Tập làm văn, học sinh lại hướng tới cái chân,thiện, mĩ được hình thành trong các đề bài Khi quan sát đồ vật trong văn miêu
tả, học sinh được rèn luyện cách nhìn đối tượng trong quan hệ gần gũi giữangười với vật Các bài luyện tập viết thư, trao đổi với người thân cũng tạo cơ hộicho học sinh thể hiện mối quan hệ với cộng đồng Những cơ hội đó làm chotình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với con người và các vật xung quanhcủa trẻ được nảy nở; tâm hồn, tình cảm của trẻ thêm phong phú Đó là nhữngnhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho học sinh
Trên thực tế, những kiến thức về tập làm văn ở lớp 3 còn quá ít ỏi, do vậy,khi lên lớp 4, đối với các em là một bước ngoặt lớn Từ những dạng bài: Trả lờicâu hỏi, kể chuyện đơn giản,… nay các em phải làm quen với các kiểu bài, thểloại nhất định đòi hỏi các em phải có năng lực quan sát, suy luận, tưởng tượngphong phú Các em phải biết vận dụng ngôn ngữ để diễn đạt ý nghĩ, tình cảmtrong sáng, cảm xúc hồn nhiên, trí tưởng tượng và những ước mơ bay bổng củamình một cách có thứ tự, có hệ thống, đúng chính tả, đúng ngữ pháp,… Từ đó,cho thấy đây chính là môn học ứng dụng tổng hợp những kiến thức của học sinh
đã học trong các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu,… và các hoạtđộng ngoại khóa Chính vì vậy, tôi luôn trăn trở, tìm mọi biện pháp để khơi dậynhững tiềm năng văn học trong mỗi học sinh Những tiềm năng ấy là là mạch
Trang 4suối nguồn tinh khiết tưới mát cho tâm hồn trẻ em hôm nay, giúp những mầmnon văn học luôn xanh tươi và sẽ nở hoa, kết trái Giúp các em có điều kiện tiếpcận với vẻ đẹp của con người và thiên nhiên đất nước, bộc lộ được cảm xúc cánhân và phát triển nhân cách.
Xuất phát từ lí do trên, tôi cố gắng tìm tòi, học hỏi để tìm ra cách thức dạyTập làm văn ở lớp 4 với mong muốn giúp các em thêm yêu phân môn Tập làmvăn và có kĩ năng viết văn ngày càng tốt hơn Từ những thực tế, tôi nhận thấyrằng, bất cứ môn học nào muốn học tốt thì các em phải cảm thấy hứng thú, say
mê với môn học đó Với môn Tập làm văn cũng vậy, các em có hứng thú với giờhọc thì kết quả học tập sẽ tốt hơn
Để giúp giờ Tập làm văn 4 trở nên nhẹ nhàng, đạt hiệu quả tốt, tôi đã quantâm đến phương pháp giảng dạy, chú ý tìm hiểu nhiều biện pháp cũng như hìnhthức dạy và học phù hợp với từng bài dạy
Trong khuôn khổ bài viết này, tôi mạnh dạn trình bày: “Một số biện pháp
rèn kĩ năng viết văn cho học sinh lớp 4 ở trường tiểu học”
2 Mục đích nghiên cứu
Tập làm văn là phân môn thực hành, nhiệm vụ của môn học này là giúphọc sinh hình thành phương pháp làm bài văn để từ đó có thể viết được bài vănđạt yêu cầu và hơn thế là bài văn hay Vì vậy, đề tài mà tôi đưa ra muốn góp mộtphần nhỏ, nhằm mục đích làm thế nào để có được tiết Tập làm văn hiệu quả, hấpdẫn học sinh
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thực trạng
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thu nhận tài liệu
- Trao đổi, tọa đàm với đồng nghiệp
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp rèn kĩ năng viết văn chohọc sinh lớp 4 ở trường tiểu học
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là phân môn Tập làm văn lớp 4 tại trườngtiểu học
Trang 5PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN:
1 Tính chất tổng hợp của phân môn Tập làm văn.
- Phân môn Tập làm văn sử dụng toàn bộ các kĩ năng được hình thành vàphát triển do nhiều phân môn khác của môn Tiếng Việt đảm nhiệm (kĩ năng viếtchữ, kĩ năng viết chính tả, kĩ năng đọc, nghe, nói…) Khi sử dụng, phân mônTập làm văn cũng góp phần phát triển và hoàn thiện chúng
- Phân môn Tập làm văn còn sử dụng kiến thức và kĩ năng do nhiều mônhọc khác trong nhà trường cung cấp (ví dụ các hiểu biết từ môn Tự nhiên và Xãhội, từ môn Đạo đức, từ môn Âm nhạc, từ môn Mĩ thuật,… cung cấp)
- Phân môn Tập làm văn còn huy động toàn bộ vốn sống hoặc những mảnhvốn sống của học sinh có liên quan đến đề bài Tả một cây đang ra hoa hoặc quả,
tả một con mèo bắt chuột hoặc một con gà đang kiếm mồi… học sinh đâu có thểchỉ huy động vốn tri thức qua các bài học mà còn phải huy động tất cả nhữngtình cảm, ấn tượng, cảm xúc, những kí ức còn lưu giữ được về các con vật hoặccây cối đó Chỉ như vậy bài văn mới trở nên sinh động và có hồn
Bài văn, kết quả học tập của phân môn Tập làm văn, phản ánh trình độ sửdụng tiếng Việt, trình độ tri thức và hiểu biết đời sống của học sinh Vì thế,không phải không có lý do khi sản phẩm đó được sử dụng để đánh giá năng lựchọc tập môn Tiếng Việt qua các kì thi
2 Tính chất sáng tạo của phân môn Tập làm văn.
Khi làm bài văn học sinh thực hiện một số hoạt động giao tiếp Mỗi bài văn
là một sản phẩm không lặp lại của từng học sinh trước đề bài Do đó có thể nóitrong việc học làm văn, học sinh được chủ động, tự do thể hiện cái "tôi" củamình một cách rõ ràng, bộc bạch cái riêng của mình một cách trọn vẹn Dạy tậplàm văn là dạy các em tập suy nghĩ riêng, tập sáng tạo, tập thể hiện trung thựccon người mình
II/ THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HIỆN NAY:
1 Chương trình sách giáo khoa
Phân môn Tập làm văn theo chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4có:
- Số tiết: 70 tiết
- Loại bài:
+ Văn kể chuyện
Trang 6+ Văn miêu tả (đồ vật, cây cối, con vật) +Văn nhật dụng (Điền vào giấy tờ in sẵn)+ Văn thuyết minh (Trao đổi ý kiến với người thân)
- Là một giáo viên được nhà trường phân công dạy ở khối 4, tôi nhận thấy:chương trình Tập làm văn lớp 4 khá sinh động, phong phú và đa dạng Nhiềudạng bài mới phù hợp, gần gũi với sở thích, tâm lí của học sinh lớp 4 Song đểhọc sinh có hứng thú khi học tiết Tập làm văn lại là một điều rất khó và để các
em có kĩ năng viết được bài văn hay lại càng khó hơn
- Năm học này, lớp tôi chủ nhiệm có 47 học sinh Để biết được cụ thể số lượnghọc sinh yêu thích, hứng thú khi học phân môn này của lớp ra sao Ngay từ khimới nhận lớp tôi đã xây dựng phiếu điều tra cho 47 học sinh Kết quả điều tra cụthể như sau:
Phiếu điều tra: Hứng thú của học sinh lớp 4 với phân môn Tập làm văn.
Tổng số HS Thích học môn TLV Không thích học môn TLV
Số HS Số % Số HS Số %
Dựa vào kết quả ở bảng trên tôi thấy, năm học này, đa số các em yêu thíchphân môn Tập làm văn Đây là một điều dễ hiểu vì phân môn này cung cấp chocác em nhiều kiến thức, giúp các em được bộc lộ cảm xúc của mình Hơn thếnữa, nó còn giúp các em biết cách nói, cách viết và viết được những câu văn,đoạn văn, bài văn hay
Bên cạnh đó vẫn còn một số ít học sinh không thích học môn văn xuấtphát từ lí do Tập làm văn khó viết, phải học nhiều dạng bài Một số ít học sinhkhác là do lười viết, không chịu suy nghĩ từ lớp dưới dẫn tới tình trạng chán nảnkhi học và có tâm lí sợ môn Tập làm văn
2 Thực trạng việc dạy Tập làm văn lớp 4 trong trường tiểu học
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy còn một số hạn chế ảnh hưởng không nhỏđến việc học Tiếng Việt nói chung và kĩ năng viết văn của học sinh nói riêng
Trang 7- Tổ chức thường xuyên các tiết thực tập, chuyên đề về phân môn tập làm văn đểnâng cao hiệu quả dạy học trong khối.
- Thực tế, khả năng tiếp thu của học sinh trong lớp không đồng đều
- Ngôn ngữ và khả năng diễn đạt của các em còn hạn chế
- Học sinh còn hay dùng từ sai hoặc diễn đạt câu lủng củng
- Vốn sống của học sinh còn chưa nhiều
- Nhiều học sinh chưa có ý thức tự nghiên cứu Thói quen đọc sách tham khảocủa học sinh chưa cao
- Bài viết của các em khô khan, chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật khiviết văn
- Đặc biệt, học sinh chưa biết cách chủ động phát hiện những lỗi sai cũng nhưcách khắc phục lỗi sai của mình trong bài văn viết
III MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Dựa trên cơ sở thực tế chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, căn
cứ vào nội dung cấu trúc chương trình phân môn Tập làm văn, qua tìm hiểu thực
tế dạy - học phân môn này ở Tiểu học, tôi xin đưa ra một số biện pháp và hìnhthức dạy học nhằm củng cố kĩ năng viết văn cho học sinh lớp 4 như sau:
1 Biện pháp thứ nhất: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề.
Đây là bước không thể thiếu được khi làm một bài văn Việc tìm hiểu đềbài có ý nghĩa rất quan trọng Nó là bước định hướng cho cả quá trình làm bàicủa học sinh Định hướng sai hay đúng sẽ quyết định bài làm sai hay đúng
Ví dụ : Dạy làm bài văn: Viết thư (tuần 3 trang 35):
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài bằng các câu hỏi:
- Đề bài yêu cầu gì? (Viết thư gửi một bạn ở trường khác để hỏi thăm và kểcho bạn nghe tình hình ở lớp, ở trường em hiện nay)
- Bài này thuộc loại văn gì? (Viết thư)
Trang 8Giáo viên gạch chân những từ quan trọng trong đề bài đã viết sẵn lên bảngphụ, giúp học sinh nắm vững yêu cầu của đề rồi đặt ra những câu hỏi sau:
- Đề bài yêu cầu em viết thư cho ai? (Một bạn ở trường khác)
- Đề bài xác định mục đích viết thư để làm gì: (hỏi thăm và kể cho bạnnghe tình hình ở lớp, ở trường em hiện nay)
- Thư viết cho bạn cũ cùng tuổi, cần dùng từ xưng hô như thế nào? (xưng
hô gần gũi, thân mật: bạn, cậu, mình, tớ)
- Cần hỏi thăm bạn về những phương diện nào? (sức khỏe, việc học ởtrường mới, tình hình gia đình, sở thích của bạn hiện nay: đá bóng, chơi cầu,…)
- Cần kể cho bạn nghe những gì về tình hình ở lớp, ở trường hiện nay?(tình hình học tập, sinh hoạt, vui chơi: văn nghệ, thể thao, tham quan,… thầy côgiáo và bạn bè, kế hoạch sắp tới của lớp, trường…)
- Nên chúc bạn, hứa hẹn điều gì? (chúc bạn khỏe, học giỏi, hẹn gặp lại,…)Nhờ có việc tìm hiểu đề trước khi làm bài nên học sinh có thói quen suynghĩ, xác định đúng trọng tâm bài, ít có trường hợp bài viết bị lạc đề, giúp họcsinh đạt kết quả tốt hơn
Ngoài việc tìm hiểu đề để học tốt môn Tập làm văn cần xác định cho họcsinh thấy nó có mối quan hệ mật thiết với nhiều phân môn khác của môn TiếngViệt đặc biệt là phân môn Tập đọc
2 Biện pháp thứ hai: Dạy Tập làm văn trong mối quan hệ mật thiết với phân môn Tập đọc.
Phân môn Tập làm văn có quan hệ chặt chẽ với các phân môn khác củamôn Tiếng Việt, nhưng phải nói đến quan hệ mật thiết nhất với phân môn Tậpđọc
Cấu trúc chung của sách giáo khoa Tiếng Việt 4 gồm 10 đơn vị học, mỗiđơn vị dạy trong 3 tuần, gắn với một chủ đề nhất định và được phân phối nhưsau:
- Tập đọc: 2 văn bản (2 tiết/tuần)
- Tập làm văn: 2 tiết/tuần
Mỗi bài tập đọc không chỉ đơn giản là một văn bản để dạy kiến thức và rèn
kĩ năng của phân môn Tập đọc yêu cầu mà giáo viên cần hiểu mỗi bài văn đócũng chính là một bài mẫu để dạy kiến thức làm văn Cần khai thác triệt để cácbài tập đọc để cung cấp thêm vốn kiến thức làm văn cho học sinh Do vậy, ngay
ở tiết Tập đọc, tôi đã lưu ý đúng mức tới những câu hỏi có nội dung liên quantới tập làm văn để nhắc nhở các em chú ý và yêu cầu ghi nhớ nội dung đó…
Ví dụ 1: Dạy thể loại văn Viết thư:
Trang 9Có thể dựa vào bài tập đọc: "Thư thăm bạn" (Tuần 3: Chủ điểm: Thương người như thể thương thân).
Ngay ở phần luyện đọc học sinh đã xác định đọc theo 3 đoạn:
+ Đầu thư: Từ đầu… chia buồn với bạn (3 câu đầu)
+ Phần chính bức thư: Hồng ơi… đùng từ chối nhé!
+ Cuối thư: Phần còn lại
Học sinh đánh dấu bằng bút chì vào sách, như vậy thông qua phần luyệnđọc các em hiểu được bố cục của bài văn viết thư gồm 3 phần
Trong phần tìm hiểu bài cần giúp các em khắc sâu kiến thức về cách viếtmột bức thư bằng hệ thống các câu hỏi:
- Qua bức thư đã đọc, em nêu cách viết một bức thư như thế nào?
- Đầu thư ghi như thế nào? (Địa chỉ, ngày tháng, nơi gửi, ngày gửi)
- Phần chính cần thăm hỏi và kể những gì? (Thăm hỏi, thông báo tin tứccho nhau, trao đổi ý kiến, bảy tỏ tình cảm với nhau)
- Cuối thư ghi thế nào? (Tình cảm, lời hứa hẹn, lời chúc)
Giáo viên ghi phần nhận xét về cách viết một bức thư lên bảng phụ cho họcsinh nhắc lại, khuyến khích học sinh thuộc ngay tại lớp
Ở phần dặn dò của bài tập đọc, tôi nhắc học sinh: Về nhà tập đọc tốt bứcthư, có thể tập viết một bức thư ngắn (từ 10 - 12 dòng) cho người thân ở xa,chuẩn bị cho tiết làm văn
Khi dạy tiết làm văn ở tuần 3 (SGK trang 35):
Đề bài : Viết thư gửi một bạn ở trường khác để hỏi thăm bạn và kể cho bạn nghe tình hình ở lớp, ở trường em hiện nay.
Trước khi đi vào phần "Luyện tập" viết thư gửi một bạn ở trường khác…tôi hướng dẫn học sinh biết nhận xét (Phần I) dựa vào bài tập đọc "Thư thămbạn" để trả lời các câu hỏi từ đó rút ra ghi nhớ (Phần II)
Câu hỏi 1: Khi nào chúng ta cần viết thư?
Câu hỏi 2: Để thực hiện mục đích trên, bức thư cần có những nội dung gì?Câu hỏi 3: Một bức thư thường khởi đầu và kết thúc như thế nào?
Học sinh từ đó trả lời rút ra ghi nhớ và giáo viên viết nội dung ghi nhớ củabài lên bảng:
1 Người ta viết thư để thăm hỏi, thông báo tin tức, trao đổi ý kiến hoặcbày tỏ tình cảm với nhau
2 Một bức thư thường gồm 3 phần:
a Phần đầu thư:
- Nêu địa điểm và thời gian viết thư
- Chào hỏi người nhận thư
Trang 10b Phần chính:
- Nêu mục đích, lí do viết thư
- Thăm hỏi tình hình của người nhận thư hoặc nơi nhận viết thư sinh sống,học tập, làm việc
- Thông báo tình hình của người viết thư hoặc nơi người viết thư sinh sống,học tập, làm việc
- Nêu ý kiến trao đổi hoặc bày tỏ tình cảm với người nhận thư
c Phần cuối thư:
- Nói lời chúc, lời cảm ơn, lời hứa hẹn
- Người viết kí tên và ghi họ tên
Về mặt cấu tạo của lá thư gồm ba phần chính như trên, ở phần đầu và phầncuối thường theo qui ước Nhưng ở phần chính thì theo điều kiện, lí do, hoàncảnh của mỗi người mà phát triển nội dung phù hợp không theo mẫu Đây chính
là yêu cầu đòi hỏi học sinh phải sáng tạo bằng ngôn ngữ của mình
Khâu dặn dò của tiết học, tôi nhắc học sinh: Nhớ mẫu lá thư, nội dung thư.Như vậy, các nội dung của lá thư được học sinh làm quen ở tiết tập đọc,tiết tới ôn lại ở tiết làm văn, sẽ giúp học sinh bớt lúng túng khi làm bài ở tiếtluyện tập, tiết kiệm được thời gian khai thác lí thuyết làm văn ở đầu tiết học.Tương tự, một số dạng bài làm văn khác cũng có thể tiến hành theo hướngnhư trên:
Ví dụ 2: Dạy thể loại văn Kể chuyện (Trang 131, tuần 12)
- Nguyễn Hiền (Bài tập đọc: "Ông trạng thả diều" tuần 11)
- Bạch Thái Bưởi (Bài: "Vua tàu thủy Bạch Thái Bưởi" tuần 12)
- Lê-ô-nác-đô đa Vin-xi (Bài: "Vẽ trứng" tuần 12)
- Xi-ôn-cốp-xki (Bài: "Người tìm đường lên các vì sao" tuần 13)
Ví dụ 3: Dạy thể loại văn Tả cây cối
- Dựa vào bài tập đọc: "Sầu riêng" ( Tuần 22, chủ điểm: Vẻ đẹp muôn màu,
trang 34)
Ngay ở phần luyện đọc học sinh đã xác định bài chia thành 3 đoạn:
+ Đoạn 1: Từ đầu đến quyến rũ đến kì lạ
+ Đoạn 2: Từ Hoa sầu riêng đến tháng năm ta
+ Đoạn 3: Đoạn còn lại
Học sinh đánh dấu bằng bút chì vào sách, như vậy thông qua phần luyệnđọc các em được củng cố, nhắc lại về cấu tạo bài văn miêu tả cây cối
Trong phần tìm hiểu bài tôi giúp các em khắc sâu kiến thức về cấu tạo bàivăn miêu tả bằng hệ thống câu hỏi:
Trang 11+ Tác giả miêu tả cây sầu riêng theo trình tự như thế nào? (Tả từng bộphận của cây hay tả từng thời kì phát triển của cây)
+ Đoạn 1 tác giả miêu tả cái gì?
+ Tác giả miêu tả hoa, trái sầu riêng như thế nào?
+ Thân, cành, lá sầu riêng được tác giả miêu tả thế nào?
+ Tác giả quan sát cây bằng các giác quan nào?
+ Những biện pháp nghệ thuật nào được tác giả sử dụng trong bài?
Giáo viên ghi phần trả lời lên bảng, gọi nhiều học sinh đọc để các em cóthể nhớ ngay tại lớp
Nhờ vậy, khi dạy tiết tập làm văn ở tuần 22, bài “Luyện tập quan sát cây cối” và bài “Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối” học sinh dễ dàng xác
định sẽ miêu tả theo trình tự nào và miêu tả các bộ phận của cây ra sao
- Bài "Hoa học trò" trang 43 tuần 23
Ví dụ 4: Dạy dạng bài nói theo yêu cầu
Để thực hiện được dạng bài tập này đòi hỏi học sinh phải có sự hiếu biếtnhất định về đời sống xã hội, những kiến thức tự nhiên, xã hội, con người,…Trên thực tế học sinh lớp 4 hiểu biết về đời sống xã hội chưa nhiều, nhất lànhững học sinh có điều kiện khó khăn ít có điều kiện giao tiếp, dã ngoại, du lịch,
…
Hiện tại học sinh trường tiểu học nơi tôi đang giảng dạy cha mẹ không làmnông nghiệp nên những hiểu biết của học sinh về cuộc sống của nông thônkhông nhiều Đặc biệt các em còn nhỏ, ít giao tiếp, dã ngoại nên những hiểu biết
về tập quán của các địa phương còn hạn chế
Vì vậy, việc khai thác triệt để các bài tập đọc để giúp học sinh có tư liệu,kiến thức làm bài là rất cần thiết
Chẳng hạn, tuần 16 khi dạy bài: "Luyện tập giới thiệu địa phương".
Một học sinh đọc yêu cầu bài 1: Đọc lại bài "Kéo co" và cho biết bài ấygiới thiệu tập quán của những địa phương nào Thuật lại các tập quán đã đượcgiới thiệu
- Cả lớp đọc lướt bài "Kéo co" trong SGK và trả lời câu hỏi:
(Bài văn giới thiệu tập quán kéo co của làng Hữu Trấp, huyện Quế Võ, tỉnhBắc Ninh và làng Tích Sơn, thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc)
Ở đây, học sinh cần phân biệt được hai tập quán kéo co rất khác nhau củahai vùng:
Ví dụ: Hội làng Hữu Trấp thuộc huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thường tổ
chức thi kéo co giữa nam và nữ Có năm nam thắng, có năm nữ thắng LàngTích Sơn thuộc thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc lại có tục thi kéo co giữa trai
Trang 12tráng hai giáp trong làng Số lượng của mỗi bên không hạn chế, không nhất thiếtphải bằng nhau Nhiều khi, có giáp thua keo đầu, đến keo thứ hai, đàn ông tronggiáp kéo đến đông hơn, thế là chuyển bại thành thắng Sau cuộc thi, dân làng nổitrống mừng bên thắng Các cô gái làng cũng không ngớt lời khen ngợi nhữngchàng trai thắng cuộc.
Để thực hiện tốt bài này thì đòi hỏi học sinh phải nắm chắc nội dung bàitập đọc "Kéo co"
Khi dạy bài tập đọc này, tôi nhấn mạnh ở câu hỏi 2 để học sinh hiểu kĩ vànằm vững về những khác nhau cơ bản của tập quán kéo co ở hai vùng
Câu hỏi 2: Trò chơi kéo co ở làng Hữu Trấp và Tích Sơn có gì đặc
biệt?
Để chuẩn bị cho học sinh làm bài tập 2 ở tiết tập làm văn "Luyện tập giớithiệu địa phương" tôi đã khuyến khích học sinh sưu tầm tranh ảnh về các tròchơi hoặc lễ hội ở các vùng trên đất nước ta
- Tìm đọc các trò chơi khác (ngoài trò chơi kéo co) thể hiện tinh thầnthượng võ của dân tộc
- Yêu cầu học sinh ghi lại vào nháp những hiểu biết của mình về các lễ hội,trò chơi thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc mà em đã được chứng kiếnhoặc được xem ti vi, tranh ảnh, sách báo
Sau khi dạy bài tập đọc "Kéo co", ở phần dặn dò, tôi nhắc nhở học sinhnhững điều trên Nhờ vậy, các em về nhà chuẩn bị bài tương đối kĩ, từ đó có tâmthế để làm tốt bài 2 ở tiết làm văn, bớt sự lúng túng, tạo sự tự tin
Trước khi làm bài 2 học sinh đã có tư liệu, hình ảnh về các trò chơi, lễ hội
vì vậy ngoài 6 bức tranh trong sách học sinh có thể giới thiệu được nhiều tròchơi khiến tiết học trở nên sôi động, phong phú, hấp dẫn và đạt hiệu quả cao.Những ví dụ trên có thể coi là dạng bài văn có "lí thuyết" Mặc dù lí thuyếtnày chưa đưa ra ở dạng chính thống, song tránh xem nhẹ điều đó vì học sinh lớp
4 rất nhanh quên do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi Có thể nói, dạy tốt phân mônTập đọc sẽ góp phần không nhỏ trong việc giúp học sinh nắm vững cấu tạo mỗibài văn theo từng thể loại, đồng thời qua môn Tập đọc, học sinh sẽ tích lũy được
"vốn từ" không nhỏ Những từ ngữ, hình ảnh, câu văn hay mang tính nghệ thuậtcao trong các bài Tập đọc không chỉ giúp các em cảm thụ bài sâu sắc hơn màcòn được tích lũy để các em đưa chúng vào trong văn bản của mình
3 Biện pháp thứ ba: Làm giàu vốn từ cho học sinh.
Học sinh hiểu thêm một từ mới là hiểu thêm một khái niệm mới Vì vậy,ngôn ngữ gắn bó rất chặt chẽ với tư duy Ngôn ngữ phát triển thì tư duy cũngphát triển Trong tất cả các giờ học Tiếng Việt, tôi đã cung cấp và làm giàu vốn
Trang 13từ ngữ cho các em nhất là từ tượng thanh, tượng hình, từ chỉ màu sắc,… rất cầntrong văn miêu tả.
Trong thực tế, chúng ta có thể áp dụng các dạng bài sau:
Mỗi bài tập này, giáo viên nên đưa xen vào các giờ luyện từ và câu, tậpđọc,… Nếu có điều kiện tổ chức các buổi học bồi dưỡng riêng thì càng tốt
3.2 Uốn nắn, sửa chữa từ dùng thiếu chính xác.
* Với câu: "Bắt được chuột, mèo cầm ra một chỗ nhai móm mém".
- Tôi đã đưa ra câu hỏi: Trong câu trên, từ nào dùng thiếu chính xác? Vì sao?
- Học sinh nhận xét: "cầm", "móm mém" là các từ dùng sai vì:
+ Cầm: Hoạt động làm bằng tay mà mèo không có tay
+ Móm mém: Hoạt động nhai trệu trạo như không có răng mà trên thực tếrăng mèo rất sắc
- Học sinh sửa bằng từ: Tha, ngoạm, ngấu nghiến, rau ráu.
- Học sinh có thể nhận xét thêm từ "bắt" dùng chưa hay, sửa thành từ "vồ" cho phù
hợp
Kết quả: Đa số học sinh trong lớp đã có ý thức chọn lựa từ khi viết Biết
nhận xét, tự sửa và giúp bạn làm cho bài văn ngày càng sáng sủa, rõ nghĩa
3.3 Cung cấp kiến thức trên thực tế, rèn viết đoạn văn theo chủ đề nhỏ.
Kinh nghiệm cho thấy, các kiến thức thực tế giúp bài văn của học sinhchân thật, giàu cảm xúc Giáo viên cần giúp học sinh tìm tòi, hệ thống lại nhữngkiến thức ấy thành một chủ đề gắn với thể loại dạng văn học:
Ví dụ: Khi dạy văn miêu tả, tôi tìm và cung cấp các kiến thức như "hình
ảnh bốn mùa của đất nước ta".
Mùa xuân: Chim én bay liệng báo hiệu mùa xuân về, tiết trời ấm áp, cây
cối đâm chồi nảy lộc, mặt đất tràn đầy nhựa sống, gió xuân hây hẩy nồng nàn,mưa xuân phơi phới, Tết cổ truyền dân tộc, hoa đào nở ở miền Bắc, hoa mai nở
ở miền Nam, các lễ hội được tổ chức, mọi người vui lây cùng cảnh vật
Trang 14Mùa hè: Bầu trời trong xanh, mây trắng bay nhè nhẹ, ánh nắng rực rỡ, chói
chang, hoa phượng nở đỏ rực, ve kêu râm ran, buổi tối trời đầy sao, mưa rào, bơilội, du lịch, nghỉ mát,…
Mùa thu: Mùa khai trường, gió se se lạnh, nắng vàng trải khắp nơi, bầu
tròi trong xanh, mát lành Đặc biệt ở nước ta có cốm vòng, có chuối trứng cuốc,
có Tết trung thu, múa lân dân tộc,…
Mùa đông: Mưa phùn gió bấc, trời rét căm căm, sương mù, cây cối khẳng
khiu, trụi lá,…
Các dạng bài để luyện tập:
- Viết 7 đến 10 câu tả chú gà trông trong một buổi sáng đẹp trời
- Viết đoạn văn ngắn tả đàn gà sau cơn mưa có những từ đã làm
- Viết đoạn văn ngắn tả cây hoa ngày tết
* Với những đề tài nhỏ, cụ thể như trên chỉ một thời gian ngắn tôi thấy vốn
từ các em tăng khá nhanh, văn viết gọn gàng, xúc tích, sự cảm nhận cảnh vậtthiên nhiên phong phú lên rất nhiều
4 Biện pháp thứ tư: Luyện cho học sinh viết câu văn đúng, ngắn gọn, sử dụng đúng các dấu câu.
Để thực hiện biện pháp này tôi phải dạy tốt tiết trả bài, hướng dẫn họcsinh tự tìm ra lỗi của mình bằng các cách sau:
4.1 Hướng dẫn học sinh viết câu văn đúng, ngắn gọn.
a Hướng dẫn học sinh chữa những câu rườm rà, tối nghĩa:
Học sinh chữa những câu này trong giờ tập làm văn trả bài.
Ví dụ 1: Khi trả bài văn: Tả cây cho bóng mát Một học sinh đã tả cây
bàng như sau:
- Câu rườm rà: "Trong sân trường em có trồng một cái cây to, cái cây này
ở giữa sân trường, đó là cây bàng rất to và rất già".
Tôi yêu cầu học sinh gạch dưới những từ dùng chưa hợp lí hoặc những từ
bị lặp trong từng câu trên rồi viết lại cho đúng Từ đó học sinh đã sửa như sau:
Ở giữa sân trường em có một cây cổ thụ - đó chính là bác bàng già dang cánh tay khổng lồ che nắng cho chúng em mỗi giờ ra chơi.
Ví dụ 2: Trong bài văn: Tả chiếc áo em mặc đến lớp hôm nay, có học sinh
viết:
- Câu tối nghĩa: “Ở trước nẹp áo chắc chắn chạy dài từ cổ xuống tận gấu
áo Ở đằng trước có năm chiếc khuy bấm đều tăm tắp trên vạt áo.”
Tôi đặt câu hỏi gợi ý để các em thấy được chỗ bị diễn đạt tối nghĩa trongcâu trên:
Trang 15+ Ở trước nẹp áo có cái gì được may chắc chắn, chạy dài từ cổ xuống tậngấu?
+ Năm chiếc khuy bấm được đính ở đâu trên áo?
Từ đó học sinh dễ dàng sửa được những câu văn tối nghĩa trên thànhnhững câu văn diễn đạt rõ nghĩa và hay hơn
b Hướng dẫn học sinh sửa câu sai (sai ngữ pháp, sai về nghĩa):
- Câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ:
Ví dụ:
+ "Những cánh buồm trắng nhấp nhô trên mặt biển ấy"
+ "Những cô bé ngày nào nay đã trở thành"
+ "Trên mặt nước loang loáng như gương"
Tôi đặt câu hỏi: Những dòng trên đã thành câu chưa? Chúng thiếu bộ phậnnào? Hãy sửa lại cho đúng
* Sau khi học sinh sửa những câu trên, tôi rút ra những trường hợp đặc biệtcủa những câu sai để học sinh dễ nhớ, dễ sửa và tránh viết sai
Ví dụ: Từ dùng để chỉ trỏ như "ấy, kia, này,…” đứng sau cụm từ ngữ nào
hay cụm chủ - vị nào thì cụm chủ - vị đó trở thành chủ ngữ Hay những cụm từ
để chỉ vị trí như "trên, dưới, trước, sau, trong,…" đứng trước cụm chủ - vị làmcụm đó trở thành trạng ngữ
- Câu sai về nghĩa:
Trong bài văn Tả con vật nuôi trong nhà mà em yêu thích Một học sinh đã
Tóm lại: Đối với các câu sai của học sinh, mục đích của tôi là phải sửa
câu sai thành câu đúng mà vẫn giữ được nghĩa gốc của văn bản
c Hướng dẫn học sinh mở rộng câu bằng cách thêm thành phần phụ:
Ví dụ: Chim hót.
- Mấy chú chim họa mi/ hót (Mở rộng chủ ngữ).
- Mấy chú chim họa mi/ đang hót líu lo (Mở rộng chủ ngữ và vị ngữ).