Chỉ khi biết cách hiểu, hiểu sâu sắc, thấu đáo các vănbản được đọc thì học sinh mới có công cụ hữu hiệu để lĩnh hội những tri thức, tưtưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn b
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
B NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 3
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG 5
CHƯƠNG III NHỮNG BIỆN PHÁP CỤ THỂ 6
1 Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch, nội dung bài dạy 6
2 Biện pháp 2: Định hướng cách đọc bài tập đọc, đọc văn bản 7
3 Biện pháp 3: Cung cấp một số từ ngữ để học sinh hiểu nội dung bài 8
4 Biện pháp 4: Hệ thống lại câu hỏi trong sách giáo khoa bằng dạng bài tập đọc hiểu 8
5 Biện pháp 5: Rèn kĩ năng đọc hiểu 12
6 Biện pháp 6: Hình thức tổ chức dạy học 13
7 Biện pháp 7: Sử dụng đồ dùng dạy học đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy 14
8 Biện pháp 8: Tổ chức các trò chơi 15
CHƯƠNG IV: DẠY THỰC NGHIỆM 16
CHƯƠNG V: KẾT QUẢ 21
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 22
Trang 2Mặt khác, đọc không chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng các kíhiệu chữ viết mà quan trọng hơn, đọc còn là một quá trình nhận thức để có khảnăng thông hiểu những gì được đọc Đọc thành tiếng không thể tách rời với việchiểu những gì được đọc Chỉ khi biết cách hiểu, hiểu sâu sắc, thấu đáo các vănbản được đọc thì học sinh mới có công cụ hữu hiệu để lĩnh hội những tri thức, tưtưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản, có công cụ lĩnh hội trithức khi học các môn học khác của nhà trường
Chính nhờ biết cách đọc hiểu văn bản mà học sinh dần dần có khả năng đọcrộng để tự học, tự bồi dưỡng kiến thức về cuộc sống, từ đó hình thành thói quen,hứng thú với việc đọc sách, với việc tự học thường xuyên
Đích cuối cùng của dạy đọc hiểu là dạy cho học sinh có kĩ năng làm việcvới văn bản, chiếm lĩnh được văn bản Biết đọc hiểu cũng là biết tiếp nhận, xử líthông tin Chính vì vậy dạy đọc hiểu có vai trò đặc biệt trong dạy phân môn Tậpđọc nói riêng và trong dạy đọc hiểu ở tiểu học nói chung
Trong khi đó, việc rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinh ở tiểu học cònchưa được chú trọng đúng mức Trong các giờ tập đọc, giáo viên chỉ coi trọngviệc luyện đọc thành tiếng với các mức độ đọc đúng, đọc rõ ràng, rành mạch, đọcthông thạo, lưu loát mà chưa coi trọng yêu cầu đọc hiểu Các tiết tập đọc đều cóbước “Tìm hiểu bài” nhưng các kiểu bài luyện đọc hiểu còn nghèo nàn, sự phântích mối quan hệ giữa các yếu tố, sự kiện, chi tiết… có trong bài nhằm nắm chosâu, cho kĩ nội dung văn bản, đánh giá được nội dung đó, tuy có làm nhưng làmkhông chu đáo Vì vậy, năng lực tư duy, năng lực thông hiểu nội dung văn bảncủa học sinh còn hạn chế
Để học sinh có năng lực và kĩ năng đọc hiểu tốt, phải dạy đọc hiểu mộtcách có định hướng, có kế hoạch từ lớp 1 đến lớp 5 Đặc biệt đối với học sinhlớp 1 - lớp đầu cấp, việc dạy đọc hiểu cho các em thật vô cùng quan trọng bởicác em có đọc hiểu tốt ở lớp 1 thì khi học lên các lớp tiếp theo, các em mới nắmbắt được những yêu cầu cao hơn của việc học môn Tập đọc
Cũng như nhiều giáo viên lớp 1 khác, tôi suy nghĩ rất nhiều về cách rèn kĩ
Trang 3năng đọc hiểu cho học sinh lớp mình Việc dạy cho các em biết đọc chữ đã làkhó, dạy cho các em biết đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng trong từ, trong câu, đọcđúng ngữ điệu, đọc ngắt nghỉ hơi trong văn bản thơ, văn… là cả một quá trìnhphấn đấu không ngừng nghỉ của cả thầy và trò Vấn đề đặt ra là làm thế nào đểgiúp các em hiểu văn bản được đọc, nhất là làm thế nào để phối hợp đọc thànhtiếng và đọc hiểu, làm thế nào để cho những gì đọc được tác động vào chínhcuộc sống của các em.… Đó là những trăn trở của tôi nói riêng và của giáo viênnói chung trong mỗi giờ dạy Tập đọc Dựa vào kinh nghiệm của bản thân, củaBan giám hiệu, của đồng nghiệp tôi đã mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp Một trong các tiết
Tập đọc”
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích của đề tài này nhằm nâng cao hiệu quả của việc rèn luyện kĩ năngđọc hiểu cho học sinh lớp Một trong các tiết Tập đọc
Để đạt được mục đích trên, tôi đã nghiên cứu những nhiệm vụ sau:
- Kĩ năng đọc hiểu của học sinh lớp 1 trong tiết Tập đọc
3 Thời gian nghiên cứu:
- Thời gian giảng dạy trong các tiết Tập đọc
- Bắt đầu từ năm học 2017 - 2018 đến nay
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Phương pháp thực nghiệm dạy học
Trang 4B NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau,
là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện: Thứ nhất, đó là quá trình vận
động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Quá trình này gọi là quá trình đọc thành
tiếng Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng
-bên trong để nhớ và hiểu được nội dung những gì được đọc Quá trình này gọi là
quá trình đọc hiểu
Đọc hiểu là một hoạt động có tính quá trình rất rõ vì nó gồm nhiều hành
động được trải ra theo tuyến tính thời gian: nhận diện ngôn ngữ, làm rõ nghĩa,
hồi đáp Dạy đọc hiểu chính là hình thành kĩ năng cho học sinh để tiến hành
Theo sự lí giải trên thì đọc hiểu là một kĩ năng học tập chung được hìnhthành ở môn Tiếng Việt, sau đó nó được vận dụng như một công cụ để học tậpcác môn học khác và được dùng như một công cụ để nhận thức trong đời sốnghàng ngày của học sinh Kĩ năng này càng được vận dụng nhiều thì tính bềnvững và tính tự động hóa càng cao và trở thành một kĩ xảo học tập
Theo ý kiến của các nhà chuyên môn về tâm lí ngôn ngữ học thì hiểu vănbản là một quá trình giải quyết mối quan hệ giữa “văn bản – người đọc – hiệnthực” Để có thể biết được người đọc hiểu văn bản như thế nào thì phải tái tạodiễn biến của việc nhận văn bản trong ngôn ngữ bên trong của người đọc Cácchuyên gia cũng cho biết: trí nhớ và khả năng tồn trữ thông tin của người đọc lànhững yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của việc đọc hiểu văn bản Các
ý kiến trên là những cơ sở lí thuyết rất tốt để có thể định ra cách thức dạy đọchiểu cho học sinh tiểu học như sau:
- Tác động vào quá trình phân tích văn bản của học sinh sao cho các em có thểbiến đổi văn bản của tác giả thành văn bản của các em với dung lượng nghĩa, vớicách diễn đạt bằng ngôn ngữ phù hợp với trình độ tư duy và ngôn ngữ của các em
Trang 5- Kiểm tra, đánh giá việc hiểu văn bản của học sinh bằng cách đưa ra một sốchuỗi các hành động giả thuyết phù hợp với diễn biến của các hành động tiếpnhận văn bản diễn ra ở các em; rồi từ đó xác nhận mức độ hiểu văn bản của từnghọc sinh
- Khi chọn văn bản để dạy đọc hiểu cần biên soạn lại sao cho dung lượngnghĩa của văn bản và độ dài của câu trong văn bản phù hợp với trình độ tư duycủa học sinh, khả năng lưu trữ thông tin của học sinh khi đọc
- Theo các nhà khoa học, ở độ tuổi 6 – 7 tuổi, bộ não của trẻ đã có khốilượng bằng 90% khối lượng bộ não người lớn Điều này cho phép các em thamgia vào một hoạt động mới có ý thức, đó là hoạt động học tập
- Ở giai đoạn đầu lớp của lớp Một, những hoạt động có ý thức này còn mới
mẻ, nhận thức của trẻ chủ yếu là trực quan, khả năng tổng hợp và khái quát hóachưa cao, do vậy, cần chú ý tới nguyên tắc trực quan và vừa sức khi học Trong giờhọc, cần thay đổi linh hoạt hình thức hoạt động trí tuệ hoặc xen kẽ giải lao khoảng
vài ba phút giữa tiết học để đảm bảo yêu cầu “học mà chơi, chơi mà học” Bài dạy phải quán triệt tinh thần “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” nhằm phát
huy tính tích cực cho học sinh
Những hiểu biết về Tiếng Việt và năng lực sử dụng lời nói của học sinh lớpMột không đồng đều Vì vậy, giáo viên nên tìm hiểu sơ bộ về đặc điểm ngônngữ của học sinh để lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học thích hợp vớitừng đối tượng
Học lớp Một, các em chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạtđộng chủ đạo là học tập Sự thay đổi này tác động không nhỏ tới tâm lí của các
em Có em rụt rè, e ngại, lo âu; có em lại hào hứng, hồi hộp, phấn khởi… Giáoviên cần nắm vững đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh lớp Một để kịp thờikhích lệ, động viên khi học sinh thành công và khi các em gặp khó khăn
Mặt khác, sự tiếp nhận văn học của trẻ em còn nhiều hạn chế Vì vốn từngữ, vốn sống còn ít nên nhiều khi các em sai lầm trong việc hiểu nghĩa của vănbản Nhìn chung, các em chỉ dễ dàng hiểu những gì thật tường minh, rạch ròi,các em khó liên kết các sự vật, tình tiết trong bài để xác lập những mối quan hệnguyên nhân - kết quả, bộ phận - tổng thể, trước - sau
Từ những hiểu biết về trí tuệ, cảm xúc, đặc điểm tiếp nhận văn học của trẻ
em, tôi đã rút ra bài học sư phạm: Dạy đọc hiểu văn bản cho học sinh tiểu học không thể theo cách dạy cho người lớn mà phải có tính mức độ và đặc biệt là phải có một phương pháp riêng, đặc thù trong quá trình tổ chức dạy đọc hiểu
Trang 6
- Đối với giáo viên:
+ Cùng với việc thay sách giáo khoa trên toàn quốc được áp dụng từ năm
2002 - 2003 đến nay, Bộ giáo dục đã đưa vào những bài tập đọc trong sáchTiếng Việt lớp 1 (Tập 2) phong phú hơn, hay hơn, dễ hiểu hơn
+ Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đến chất lượng dạy và học, đến việcđổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên có đầy đủtrang thiết bị đồ dùng dạy học, mỗi lớp được trang bị một máy chiếu, một ti vi + Ban giám hiệu nhà trường cùng các cấp lãnh đạo luôn chỉ đạo sát sao vềcông tác chuyên môn, tổ chức nhiều chuyên đề Khối chuyên môn và các đồngnghiệp trong khối tích cực trao đổi nội dung, phương pháp giảng dạy nói chung
và dạy đọc hiểu trong phân môn Tập đọc nói riêng
Bên cạnh đó giáo viên cũng gặp một số khó khăn sau:
+ Câu hỏi nội dung bài đọc đôi lúc còn sơ sài, chung chung
+ Học sinh chưa biết chuẩn bị bài trước khi đến lớp
- Đối với học sinh:
+ Sách giáo khoa Tiếng Việt hiện hành được áp dụng với mọi vùng miềncủa Tổ quốc nên có một số nội dung khó hiểu, chưa phù hợp với học sinh ở cácđịa phương khác nhau
+ Phần lớn phụ huynh trong lớp lần đầu tiên có con đi học nên rất quan tâmđến việc học tập của các con Giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề + Cơ sở vật chất được các cấp lãnh đạo, nhà trường quan tâm: phòng họckhang trang, sạch, đẹp, bàn ghế phù hợp với độ tuổi học sinh, ánh sáng đảm bảođúng theo tiêu chuẩn ánh sáng học đường
Bên cạnh những thuận lợi trên thì trong quá trình giảng dạy các con cũnggặp rất nhiều khó khăn đó là:
- Học sinh chuyển từ hoạt động vui chơi là chủ đạo sang hoạt động học tập
là chính nên còn nhiều bỡ ngỡ và chưa có nền nếp
- Vì còn nhỏ nên việc đọc bài tập đọc của các em rất vất vả, đọc chậm nênkhông kịp nhớ nội dung của bài, khó khăn khi phải đọc để hiểu nội dung bài
Để khắc phục những khó khăn và thực trạng trên, tôi mạnh dạn đưa ra “Một
số biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp Một trong các tiết Tập đọc”.
Trang 7CHƯƠNG III NHỮNG BIỆN PHÁP CỤ THỂ
1 Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch, nội dung bài dạy
1.1 Nghiên cứu chương trình tổng thể và các bài tập đọc của sách giáo khoa:
Việc nghiên cứu này đòi hỏi người giáo viên phải nắm được mục tiêu dạymôn học và phân môn; nắm được cấu trúc tổng thể và đặc điểm cấu trúc chươngtrình, sách giáo khoa tập đọc mà mình đang thực hiện; xác định được vị trí củabài tập đọc sẽ dạy trong hệ thống chương trình
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, tập hai, phần Luyện tập tổng hợp gồm 13
tuần, xoay quanh ba chủ điểm: Nhà trường, Gia đình, Thiên nhiên - Đất nướcMỗi chủ điểm học trong 1 tuần Sau 3 tuần sẽ kết thúc một vòng 3 chủđiểm Tiếp đó, các chủ điểm lần lượt được nhắc lại nhưng có sự phát triển, mởrộng hoặc đổi mới Mỗi chủ điểm được lặp lại 4 lần Tuần cuối cùng dành cho
Ôn tập – kiểm tra Mỗi tuần có 3 bài đọc Mỗi bài được học trong 2 tiết Nhiệm
vụ chính là dạy học sinh luyện đọc thành tiếng và đọc hiểu
Các văn bản đọc là những văn bản ngắn, là những bài văn hay bài thơ phùhợp với tâm lí lứa tuổi học sinh lớp Một : thú vị, hấp dẫn, bổ ích, gần gũi với thếgiới hồn nhiên, tươi tắn của trẻ; có tác dụng giúp trẻ nhờ tiếp xúc với một thếgiới mới qua sách mà có thêm hiểu biết, nâng cao hơn về tình cảm, đáng yêu,cởi mở, thông minh và tự tin hơn
Trên cơ sở dạy học sinh đọc đúng và hiểu các văn bản phù hợp với lứatuổi, giáo viên giúp các em bước đầu mở tầm nhìn rộng ra thế giới xung quanh,rung cảm trước cái đẹp, trước những buồn, vui, yêu, ghét của con người Đồngthời hình thành ở mức đơn giản trong các em những nhận thức, tình cảm và thái độđúng đắn của con người: biết phân biệt đẹp – xấu, thiện – ác, đúng – sai; biết yêutrường, yêu lớp, yêu thầy cô, bạn bè, quê hương, đất nước; có lòng nhân ái, vị tha;
có ý thức về bổn phận với ông bà, cha mẹ, người thân; biết tôn trọng nội quy, bảo
vệ của công, bảo vệ môi trường sống; sống hồn nhiên, tự tin, trung thực…
Các văn bản khá đa dạng về phong cách: phong cách nghệ thuật, khoa học
và nhật dụng Trong đó, văn bản nghệ thuật (và có tính nghệ thuật) chiếm tỉ lệkhoảng 70% nhằm đảm bảo mục đích dạy tiếng đồng thời với dạy văn, phát triểnkhả năng giao tiếp kết hợp với bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, giáo dục đạo đức,cung cấp cho trẻ những hiểu biết cần thiết về thế giới các em đang sống Các
văn bản khoa học (Đầm sen, Chú công, Anh hùng biển cả, …); văn bản nhật dụng (Cái nhãn vở, Bác đưa thư, Người bạn tốt …) giúp trẻ biết đọc đa dạng các
kiểu loại văn bản; mở rộng hiểu biết về thế giới tự nhiên, học cách giao tiếp với
Trang 8người xung quanh
Các văn bản được tuyển chọn thường là những trích đoạn trọn vẹn Ngônngữ của các văn bản hồn nhiên, trong sáng, hiện đại và thích hợp với trẻ em 6, 7tuổi Văn xuôi được dạy xen kẽ với văn vần và chiếm tỉ lệ cao hơn (Tổng số có
42 bài tập đọc thì có 23 bài thuộc thể loại văn xuôi, 19 bài văn vần) Các vănbản được xếp theo trật từ từ ngắn đến dài, từ đơn giản đến phức tạp Độ dài từtuần đầu đến tuần cuối sách dao động khoảng từ 50 đến 100 tiếng
1.2 Nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu dạy học có liên quan đến bài tập đọc sẽ dạy:
1.3 Xác định được đặc điểm và trình độ đọc của học sinh
1.4 Nắm được mục tiêu, nội dung dạy học của giờ tập đọc.
1.5 Nắm vững phương pháp dạy học tập đọc
1.6 Soạn bài (giáo án):
Giáo viên cần thiết kế bài dạy khoa học¸ chính xác, chi tiết, quan tâm đúngmức tới rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh
2 Biện pháp 2: Định hướng cách đọc bài tập đọc, đọc văn bản.
Hướng dẫn HS đọc các từ khó, câu dài trong bài tập đọc Rồi luyện chohọc sinh đọc đoạn, tiến tới đọc toàn bài, ngắt nghỉ đúng dấu câu Cao hơn nữa làyêu cầu học sinh đọc hiểu nội dung văn bản
Đọc thầm là hình thức đọc không phát ra thành âm thanh mà chuyển trựctiếp từ kí tự sang nghĩa để hiểu văn bản Để dạy đọc thầm, cần làm các việc sau:
1 Chuẩn bị cho việc đọc thầm: tư thế ngồi đọc thầm phải ngay ngắn,khoảng cách giữa mắt và sách từ 30 – 35 cm
2 Tổ chức quá trình đọc thầm: Kĩ năng đọc thầm phải được chuyển dần từngoài vào trong, từ đọc to đọc nhỏ đọc mấp máy môi (không thành tiếng)
đọc hoàn toàn bằng mắt, không mấp máy môi (đọc thầm) Giai đoạn cuối lạigồm hai bước: di chuyển mắt theo que trỏ hoặc ngón tay rồi đến chỉ có mắt dichuyển
Cần quy định thời gian đọc thầm cho từng đoạn và bài
Mục đích của đọc thầm là để hiểu Kết quả đọc thầm phải giúp học sinhhiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài Giáo viên cần nêu câu hỏi định hướngtrước khi học sinh đọc thầm
Ví dụ : Bài “ Cái nhãn vở”
Học sinh luyện đọc các từ khó: nhãn vở, trang trí, nắn nót, ngay ngắn.
Học sinh luyện đọc các câu dài:
Bố nhìn những dòng chữ ngay ngắn, khen con gái / đã tự viết được nhãn vở.
Trang 9Giáo viên cho học sinh luyện đọc từng đoạn, luyện đọc toàn bài.
3 Biện pháp 3: Cung cấp một số từ ngữ để học sinh hiểu nội dung bài.
Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh hiểu bài đọc Bắt đầu từ việc hiểunghĩa từ Việc chọn từ nào để giải thích còn phụ thuộc nhiều vào đối tượng họcsinh Giáo viên phải có hiểu biết về vốn từ để chọn từ giải thích cho phù hợp,đồng thời phải chuẩn bị để sẵn sàng giải đáp cho học sinh về bất cứ từ nào trongbài mà các em yêu cầu
Ví dụ : Bài “ Bàn tay mẹ”
Giáo viên giải nghĩa từ “ rám nắng”: da bị nắng làm cho đen lại.
Giáo viên giải nghĩa từ “ xương xương”: bàn tay gầy, nhìn rõ xương.
Ngoài ra giáo viên còn kết hợpcho học sinh quan sát hình ảnh để học sinhhiểu nghĩa của từ hơn
4 Biện pháp 4: Hệ thống lại câu hỏi trong sách giáo khoa bằng dạng bài tập đọc hiểu.
4.1 Phân loại các dạng bài tập dạy đọc hiểu
Kĩ năng đọc hiểu được hình thành qua việc thực hiện một hệ thống bàitập Những bài tập này xác định đích của việc đọc, đồng thời cũng là nhữngphương tiện để đạt được sự thông hiểu văn bản của học sinh
- Phân loại theo các bước lên lớp, ta có: bài tập kiểm tra bài cũ, bài tậpluyện tập, bài tập củng cố, bài tập kiểm tra đánh giá
- Phân loại theo hình thức thực hiện, ta có: bài tập trả lời miệng, bài tập trảlời viết (tự luận), bài tập thực hành đọc, bài tập trắc nghiệm
- Phân loại theo mức độ tính độc lập của học sinh ta có: bài tập tái hiện, bàitập suy luận, bài tập sáng tạo
- Phân loại theo đối tượng thực hiện bài tập, ta có: bài tập cho cả lớp làmchung, bài tập dành cho nhóm học sinh, bài tập dành cho cá nhân, bài tập chohọc sinh đại trà, bài tập cho học sinh yếu, bài tập cho học sinh khá – giỏi
Trang 104.2 Hình thức của bài tập dạy đọc hiểu
- Dạng bài tập dùng lời: nhược điểm của bài tập này là tại một thời điểmchỉ có thể có một hoặc một vài học sinh được nói, những học sinh không đượcgọi đọc và trả lời câu hỏi, làm bài tập thì chỉ ngồi nghe Hành động “nghe” vốnthụ động, kết quả nghe không được thể hiện ra bên ngoài nên giáo viên khôngkiểm soát được, học sinh không hoạt động tích cực, giảm hứng thú học tập
- Dạng bài tập trắc nghiệm: yêu cầu học sinh dùng các kí hiệu chữ viết để
vẽ, tô, nối, đánh dấu, viết với sự hỗ trợ của kênh hình Các bài tập trắc nghiệmgồm các kiểu: điền từ, lựa chọn khoanh đáp án đúng, đối chiếu cặp đôi, nêu câuhỏi và yêu cầu trả lời ngắn (bằng hình thức viết)
Chuyển từ hình thức bài tập bằng lời thành bài tập trắc nghiệm hoặc ngượclại là một việc làm dễ dàng Vì vậy căn cứ vào điều kiện dạy học cụ thể mà giáoviên sẽ chọn hình thức bài tập nào để giờ học đạt kết quả tốt nhất
Ví dụ: 2 câu hỏi bài tập của bài Hoa ngọc lan (TV1- T2)
1 Nụ hoa lan màu gì?
2 Hương hoa lan thơm như thế nào?
Tôi đã chuyển thành những bài tập có hình thức trắc nghiệm như sau:
1 Nụ hoa lan màu gì? Đánh dấu x vào ô trống trước ý trả lời đúng:
4.3 Các kiểu dạng bài tập dạy đọc hiểu xem xét từ góc độ nội dung
Dựa vào mục đích, nội dung dạy học, các công việc cần làm để tổ chứcquá trình đọc hiểu và cách thức hoạt động của học sinh khi giải bài tập, ta có thể
phân loại các bài tập thành các dạng bài như sau:
a Nhóm bài tập làm rõ đích tác động và hồi đáp văn bản
* Bài tập làm rõ đích tác động của văn bản:
Ví dụ: Bài Nói dối hại thân (TV1 - T2)
Câu chuyện khuyên em điều gì? Ghi dấu x vào ô trống trước ý em tán thành:
Không nên nói dối vì nói dối sẽ có hại cho bản thân, cho cả người khác
Nói dối không có hại gì cả
* Bài tập hồi đáp văn bản:
Trang 11Ví dụ: Bài Người bạn tốt (TV1 - T2)
Ghi dấu x vào ô trống trước ý em cho là đúng:
Người bạn tốt là người:
rất thân thiết, gắn bó với mình
giúp đỡ bạn khi bạn gặp khó khăn
b Nhóm bài tập có tính chất nhận diện, tái hiện ngôn ngữ của văn bản:
Học sinh chỉ cần nhận diện, ghi nhớ, phát hiện ra các từ ngữ, câu, đoạn,hình ảnh, chi tiết của văn bản Nhóm này có các kiểu bài tập sau:
* Bài tập yêu cầu học sinh xác định đề tài của văn bản: thường có dạnghỏi trực tiếp như “Câu chuyện này nói về ai, về cái gì, có những nhân vật nào?”
Ví dụ: Bài Mời vào (TV1 - T2): Những ai đã đến gõ cửa ngôi nhà?
* Bài tập yêu cầu học sinh phát hiện ra các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh của bài:Lệnh của bài tập là gạch dưới, ghi lại hoặc trả lời những câu hỏi Ai? Gì?Nào? mà câu trả lời có sẵn, hiển hiện trên ngôn từ của văn bản
Ví dụ: Bài Sau cơn mưa ( TV1 - T2)
Sau trận mưa rào mọi vật thay đổi thế nào?
- Những đóa râm bụt…
- Bầu trời……
- Mấy đám mây bông…
* Bài tập yêu cầu phát hiện ra những câu quan trọng của bài:
Ví dụ: Bài Bàn tay mẹ (TV1 - T2): Đọc câu văn diễn tả tình cảm của Bình
với đôi bàn tay mẹ?
* Bài tập yêu cầu học sinh phát hiện ra đoạn:
Ví dụ: Bài Lũy tre (TV1 - T2)
+ Những câu thơ nào tả lũy tre vào buổi sớm?
+ Những câu thơ nào tả lũy tre vào buổi trưa?
c Nhóm bài tập làm rõ nghĩa của ngôn ngữ văn bản
Đây chính là nhóm bài tập yêu cầu giải nghĩa từ, làm rõ nghĩa và cái hay,cái đẹp của từ ngữ, câu, đoạn, bài, hình ảnh, chi tiết
* Bài tập yêu cầu giải nghĩa từ ngữ:
Ví dụ: Bài Người bạn tốt (TV1 – T2) + Em hiểu thế nào người bạn tốt ? Ghi dấu x vào ô trống trước ý trả lời đúng:
rất thân thiết, gắn bó với mình
giúp đỡ bạn khi bạn gặp khó khăn
* Bài tập yêu cầu làm rõ nghĩa của đoạn:
Ví dụ: Bài Làm anh (TV1 – T2)
Trang 12Nối từng ô ở cột A với từng ô ở cột B cho phù hợp với nội dung bài tập đọc:
- Bài tập tìm nội dung chính của bài, ý nghĩa của văn bản:
Ví dụ: Bài Nói dối hại thân (TV1 – T2)
Ghi dấu x vào cách kết thúc câu chuyện:
Đàn cừu vẫn nhởn nhơ gặm cỏ
Đàn cừu chạy thoát
Bầy Sói chẳng phải sợ ai cả Chúng tự do ăn thịt hết đàn cừu
4.4 Yêu cầu của bài tập đọc hiểu và cách soạn thảo:
Khi xây dựng bài tập, giáo viên phải xác định được mục đích, cơ sở xây dựngbài tập, phải có lời giải mẫu, phải dự tính được khó khăn và sai phạm của học sinhmắc phải khi giải bài tập và biết chuyển đổi hình thức bài tập khi cần thiết
- Mục đích của bài tập là những kiến thức, kĩ năng ta cần đem đến cho họcsinh Như vậy, khi xây dựng bài tập thì đáp án của nó - cũng chính là mục đíchcủa bài tập – phải có trước
- Cơ sở xây dựng bài tập là:
+ Môn học, ở đây là môn Tiếng Việt, cụ thể hơn là nội dung dạy học + Học sinh tiểu học, cụ thể là học sinh lớp Một
Như vậy, để xây dựng bài tập, phải xác định được mục đích và cơ sở của
nó Cơ sở khoa học đảm bảo cho bài tập có tính chính xác, đúng đắn Cơ sở sưphạm đảm bảo cho bài tập có khả năng thực thi, có tính “vừa sức” Tính khoahọc đòi hỏi kiến thức trình bày trong bài tập phải đúng, chính xác, khoa học, đòihỏi người soạn thảo bài tập phải biết sâu sắc mặt âm thanh và mặt nghĩa của vănbản Tính sư phạm của bài tập đòi hỏi bài tập phải phù hợp với học sinh Ngônngữ trong lệnh bài tập phải giản dị, dễ hiểu, bài tập phải có độ khó vừa phải Yêucầu này đòi hỏi giáo viên phải rất hiểu đối tượng học sinh của mình Bên cạnhtính khoa học và tính sư phạm, bài tập còn phải có tính thú vị Các bài tập đượcdùng trong giờ tập đọc phải đa dạng, phong phú để không làm cho học sinh cảmthấy đơn điệu, nhàm chán