Đa số các nước đang phát triển có những thuậnlợi đáng kể, đó là tài nguyên, thì nông sản đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu,và ngoại tệ thu được sẽ dùng để nhập khẩu máy móc, trang
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI:
XUẤT KHẨU NÔNG PHẨM Ở VIỆT NAM - THỰC
TRẠNG, TIỀM NĂNG VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn: Cô Lê Thị Thương
Sinh viên thực hiện : Nhóm 3
Nguyễn Phương Nhi 030631150513
Nguyễn Ngọc Phượng 030630141156 Nguyễn Thị Như Quỳnh 030631151799
TP HỒ CHÍ MINH, NGÀY 24 THÁNG 03 NĂM 2017
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
I Tính cấp thiết 1
II Phương pháp nghiên cứu 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
I LÝ LUẬN LIÊN QUAN 2
1.1 Khái niệm xuất khẩu 2
1.2 Vai trò của xuất khẩu 2
1.3 Tầm quan trọng của nông nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân 3
1.4 Mặt hàng nông sản đối với việc xuất nhập khẩu ra thị trường thế giới 4
II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU NÔNG PHẨM Ở VIỆT NAM 5
2.1 Tình hình chung 5
2.2 Thuận lợi và khó khăn 10
III TIỀM NĂNG 12
3.1 Điều kiện cung cấp nội địa 12
3.2 Thị trường thế giới 13
IV GIẢI PHÁP 15
4.1 Từ nhà nước 15
4.2 Từ doanh nghiệp 17
PHẦN III: KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3PHẦN I: MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết
Trong xu hướng hội nhập hiện nay, nền kinh tế thế giới bước vào thế kỷ 21 vàđang có những sự thay đổi lớn lao về nhiều mặt, trong đó thương mại quốc tế làmột bộ phận quan trọng, gắn liền với tiến trình hội nhập đó Nó có vai trò quyếtđịnh đến lợi thế của một quốc gia trên thị trường khu vực và Thế giới Vì vậy việcgiao lưu thương mại nói chung và xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ nói riêng là mộtmục tiêu kinh tế hàng đầu không nằm trong phạm vi riêng lẻ của một quốc gia nào
cả Và Việt Nam cũng không là một ngoại lệ
Song Việt Nam cần phải thực hiện những biện pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh hoạtđộng xuất nhập khẩu, đặc biệt thực hiện những giải pháp mở rộng thị trường nướcngoài nhằm tăng cường xuất khẩu, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tếcủa cả nước đúng với chủ chương mà Đảng và Nhà nước đề ra là: “ Chủ động hộinhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng caohiệu quả hợp tác quốc tế và chất lượng sức cạnh tranh”
Với một nền kinh tế đang bước đầu phát triển, cơ sở vật chất, kỹ thuật còn thấpkém, dân số phát triển với tỉ lệ cao, cán cân thương mại bị thâm hụt, mức dự trữngoại tệ còn nhỏ bé nên việc xuất khẩu để thu ngoại tệ, nâng cao cơ sở vật chất ,cải thiện đời sống, phát triển kinh tế và hội nhập với Thế giới đối với Việt Nam làmột đòi hỏi tất yếu Để hiểu rõ hơn về thị trường xuất khẩu của Việt Nam, nhóm
em đã chọn đề tài “ Xuất khẩu nông phẩm của Việt Nam - ” để nghiên cứu
II Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thu thập số liệu: số liệu được đọc, được nghiên cứu
từ sách, báo, mạng internet có liên quan
Sử dụng các phương pháp phân tích số liệu phân tích số liệu, đánh giá, sosánh, thống kê mô tả nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Phân chia công việc mỗi thành viên đóng góp một phần và tổng hợp hoànthành bài
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG
I LÝ LUẬN LIÊN QUAN
1.1 Khái niệm xuất khẩu
Xuất khẩu là một trong những hình thức kinh doanh quan trọng nhất, nó phản ánhquan hệ thương mại, buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi khu vực và thếgiới
Cùng với hình thức kinh doanh nhập khẩu, hình thức kinh doanh xuất khẩu là hoạtđộng kinh tế cơ bản của một quốc gia, nó là “chiếc chìa khoá” mở ra những giaodịch kinh tế quốc tế cho một quốc gia, tạo ra nguồn thu chi ngoại tệ chủ yếu củamột nước khi tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là một hoạt động kinh doanh quốc tế đầutiên của một doanh nghiệp Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp
đã đa dạng hoá các hoạt độnh kinh doanh của mình
Kinh doanh xuất nhập khẩu thường diễn ra các hình thức sau: Xuất khẩu hành hoáhữu hình, hàng hoá vô hình (dịch vụ); xuất khẩu trực tiếp do chính các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu đảm nhận; xuất khẩu gián tiếp (hay uỷthác) do các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tổ chức kinh doanh trung gianđảm nhận Gắn liền với xuất khẩu hàng hoá hữu hình, ngày nay xuất khẩu dịch vụrất phát triển
1.2 Vai trò của xuất khẩu
Nền kinh tế Việt Nam đã từng bước chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Trong 15 nămthực hiện đổi mới, nền kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đặc biệt là hoạtđộng xuất khẩu đã góp phần quan trọng trong qúa trình “Công ngiệp hoá- Hiện đạihoá” đất nước
Xuất khẩu được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại,
là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Việc mở rộng hoạt động xuất khẩu
để tăng thu nhập ngoại tệ cho tài chính và cho nhu cầu nhập khẩu cũng như tạo cơ
sở cho phát triển cơ sở hạ tầng là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thươngmại của từng quốc gia Và một trong những hoạt động xuất khẩu hàng hoá hết sức
có hiệu qủa là xuất khẩu hàng nông sản Nó góp phần quan trọng vào việc chuyểndịch cơ cấu nền kinh tế- thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho các ngànhkhác có cơ hội phát triển thuận lợi Liên quan tới nông nghiệp là sự phát triển củacông nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu, đồng thời kéo theo sự phát triển của
Trang 5công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó hoặc các ngành dịch vụ khác liên quanđến nó
Xuất khẩu cho phép tập trung năng lực sản xuất cho những mặt hàng truyền thốngđược thế giới ưa chuộng hay những mặt hàng tận dụng được những nguyên liệu cósẵn trong nước hay nước khác không làm được hoặc làm được nhưng giá thànhcao
Thông qua hoạt động xuât khẩu, hàng hoá sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thịtrường thế giới cả về giá và chất lượng, tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêuthụ sản phẩm, góp phần làm cho sản xuất ổn định Không những hoạt động xuấtkhẩu thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế với các nước, thực hiện hội nhập kinh tếquốc tế mà còn giải quyết công ăn việc làm cải thiện đời sống cho hàng triệungười lao động Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùngthiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêudùng của nhân dân
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để pháttriển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhất là trong điềukiện hiện nay xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thếgiới và nó là cơ hội cho mỗi quốc gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khuvực
1.3 Tầm quan trọng của nông nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân
Các nhà kinh tế học đề cao tầm quan trọng của ngành nông nghiệp trong quá trìnhphát triển và rất nhiều người thừa nhận rằng, điều kiện cần thiết để tăng trưởngkinh tế là sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp vì dựa vào đó thì mới cónguồn thu lợi lớn và ngày một tăng của nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành có lịch sử phát triển lâu đời, các hoạt động nông nghiệp
đã có từ hàng nghìn năm nay kể từ khi con người từ bỏ nghề săn bắn hái lượm Dolịch sử lâu đời này ngành kinh tế nông nghiệp thường được nói đến như là nềnkinh tế truyền thống đồng thời nông nghiệp là một ngành tạo ra sản phẩm thiết yếucho con người Lương thực là sản phẩm chỉ có ở ngành nông nghiệp mới sản xuất
ra được Con người có thể sống mà không cần sắt, thép, điện, nhưng không thểthay thiếu lương thực Trên thực tế phần lớn các sản phẩm chế tạo có thể thay thế,nhưng không có sản phẩm nào thay thế được lương thực Do đó, nước nào cũngphải sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực
Nông nghiệp giữ vai trò trong phát triển kinh tế, đặc biệt đối với các nước đangphát triển và nhất là nước ta Bởi vì ở các nước đang phát triển nói chung và nước
ta nói riêng đa số người dân sống dựa vào nghề nông Khu vực nông nghiệp có thể
Trang 6là một nguồn cung cấp vốn cho phát triển kinh tế, với ý nghĩa lớn lao là vốn tíchlũy ban đầu cho công nghiệp hóa Đa số các nước đang phát triển có những thuậnlợi đáng kể, đó là tài nguyên, thì nông sản đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu,
và ngoại tệ thu được sẽ dùng để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị cơ bản vànhững sản phẩm trong nước chưa sản xuất được
Cơ cấu ngành nông nghiệp có ý nghĩa hết sức to lớn đối với quá trình phát triểncủa đất nước Cơ cấu nông nghiệp góp phần tích lũy vốn cho quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ.Tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng không những đốivới tăng trưởng chung của nền kinh tế mà còn đối với công ăn việc làm và xóa đóigiảm nghèo đời sống đa số nông dân được cải thiện rõ rệt
1.4 Mặt hàng nông sản đối với việc xuất nhập khẩu ra thị trường thế giới
Theo số liệu thông kê của tổng cục hải quan , kim nghạch xuất khẩu của nhómhàng nông sản, thủy sản năm 2013 đạt 19,8 tỷ USD ,giảm 3,3% về tỷ trọng vàgiảm 5,5% về kim nghạch so với năm 2012 Tuy có sự sụt giảm so với trướcnhưng vẫn khẳng định rằng , xuất khẩu nhóm hàng nông sản , thủy sản trong năm
2013 vẫn giữ vị trí quan trọng trong tổng xuất khẩu hàng hóa của cả nước (chiếm
tỷ trọng khoảng 15%)
Một số mặt hàng nông sản của Việt Nam hiện nay đang giữ vị thế cao trên thịtrường quốc tế như hạt điều , hạt tiêu (đứng thứ nhất) , gạo , cà phê (đứng thứ hai),chè (đứng thứ sáu) ,…v v Các mặt hàng khác cũng đang có tiềm năng tăngtrưởng xuất khẩu trong tương lai như rau, củ quả,…
Nếu như năm 2001 chỉ có mặt hàng thủy sản đạt kim nghạch xuất khẩu trên 1 tỷUSD thì đến năm 2013 đã có tới 7 mặt hàng đạt kim nghạch xuất khẩu trên 1 tỷUSD với tổng kim nghạch xuất khẩu là 18,7 tỷ USD , chiếm 96,4 % tổng kimnghạch xuất khẩu của cả nhóm hàng nông sản và thủy sản Cụ thể là thủy sản vớikim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt 6,72 tỷ USD ( chiếm 34%), cao su đạt 2,49 tỷUSD (chiếm 13%), hạt điều 1,65 tỷ USD (chiếm 8%) , sắn và các loại sản phẩm
từ sắn đạt 1,10 tỷ USD (chiếm 6%) Mặt hàng hạt tiêu và chè đều tăng trưởngdương so với năm 2012 nhưng kim nghạch xuất khẩu lại chưa cán mốc 1 tỷ USD,kim nghạch xuất khẩu lần lượt tương ứng là 890 triệu USD và 230 triệu USD
Số lượng thị trường xuất khẩu của nhóm hàng này ở Việt Nam trong 5 năm qua đãtăng khá nhanh, cụ thể năm 2008 các mặt hàng nông sản ở nước ta mới có mặt tại
107 thị trường trên toàn cầu, năm 2010 là 117 thị trường thì đến hết năm 2013 con
số này đã tăng tới 129 thị trường Điều này chứng tỏ rằng chính phủ cũng nhưcộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu nhóm hàng nảy trên cả nước đã nổ lực rất lớn
Trang 7trong việc giữ ổn định thị phần và tìm kiếm thêm bạn hàng mới trên các thị trườngtruyền thống , thâm nhập và mở rộng thị trường mới ở khắp các châu lục trênphạm vi toàn cầu (kể cả các thị trường có dung lượng nhỏ và khỏng cách địa lí xaViệt Nam).
II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU NÔNG PHẨM Ở VIỆT NAM
Trong những năm qua, giá trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam luôn ở mức cao,đóng góp một phần không nhỏ vào tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và GDP củaViệt Nam Với tốc độ tăng trưởng nhanh và tương đối ổn định, nông sản của ViệtNam ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên thị trường tiêu thụ quốc tế.Đặc biệt, việc Việt Nam tham gia hội nhập vào kinh tế thế giới sẽ mở ra nhiều cơhội cho hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam
II.1 Tình hình chung
Từ năm 2009 đến nay, giá trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam luôn ở mức cao,đóng góp một phần không nhỏ vào tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và GDP củaViệt Nam Năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 12,7 tỷ USD và tiếptục duy trì mức tăng trưởng ổn định
Năm 2014 là năm thành công đối với hoạt động xuất khẩu nông sản của nước ta,khi kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt gần 25 tỷ USD, tăng 12,1% so với năm
2013 Trong đó, nhiều mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh (cà phê tăng32,2%, hạt điều tăng 21,1%, hồ tiêu tăng 34,1%, rau quả tăng 34,9% )
Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang các nước tham gia Hiệpđịnh đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) từ năm 2009 đến nay cũng có chiềuhướng gia tăng tương đối ổn định Cụ thể, xuất khẩu nông sản sang các nước thuộcTPP đạt 4,9 tỷ USD, chiếm 38,5% tổng kim ngạch xuất khẩu
Với tốc độ tăng trưởng ổn định (khoảng từ 16-19%/năm), kim ngạch xuất khẩunông sản sang các nước TPP ngày càng tăng (đạt 5,9 tỷ USD vào năm 2010, 6,8 tỷUSD năm 2011, 7,7 tỷ USD năm 2012, 8,8 tỷ USD năm 2013, đạt xấp xỉ 10 tỷUSD năm 2014 và đạt 13,95 tỷ USD năm 2015)
Trang 8Trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu sang các nước tham gia TPP, hạt điều làmặt hàng có sản lượng và kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam đạt 900triệu USD năm 2015, tiếp đến là cà phê với kim ngạch khoảng 650 triệu USD.Đây là hai mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang TPP Mặt hàng có kimngạch xuất khẩu lớn thứ 3 của nước ta là hạt tiêu (đạt 450 triệu USD).
Mỹ đang là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam khi nước này nhập khẩuhầu hết các mặt hàng nông sản lớn như cà phê, hạt tiêu, hạt điều Chỉ tính riêng hạttiêu và hạt điều, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ chiếm gần 80% tổng kimngạch xuất khẩu sang các nước TPP Các quốc gia khác cũng có lượng nhập khẩuhạt tiêu và hạt điều lớn như Singapore (chiếm 15% sản lượng xuất khẩu hạt tiêucủa Việt Nam sang TPP), Australia và New Zealand (chiếm khoảng 10% sảnlượng xuất khẩu hạt điều của Việt Nam sang TPP) Cà phê cũng là một mặt hàngnhập khẩu ưa thích của Hoa Kỳ, chiếm tỷ trọng khoảng 50% tổng kim ngạch xuấtkhẩu cà phê sang TPP; tiếp đến là Nhật Bản (25%) và Malaysia (10%)…
Trang 9Tỷ trọng xuất khẩu nông sản đã giảm từ 13% năm 2012 xuống chỉ còn gần 8,6%năm 2016 trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước, theo báo cáo vềxuất khẩu nông sản Việt Nam giai đoạn 2012-2016 của của Tổng cục Hải quan.
Cụ thể, trị giá xuất khẩu nhóm hàng nông sản trong năm 2016 đạt hơn 15 tỉ đô la
Mỹ, dù tăng 7,7% so với năm 2015 nhưng chỉ nhỉnh hơn 252 triệu đô la Mỹ so vớikim ngạch xuất khẩu năm 2012
Kết quả trên được Tổng cục Hải quan tổng hợp từ giá trị xuất khẩu của các mặthàng rau quả, hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, cao su, sắn và sản phẩm từ sắn.Theo cơ quan hải quan, trong thời gian qua có một số mặt hàng nông sản như rauquả đạt mức tăng trưởng tốt So với năm 2012, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàngnày năm 2016 đã tăng gần ba lần, đạt 2,46 tỉ đô la Mỹ và là mặt hàng có kimngạch lớn thứ ba trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
Bên cạnh đó, xuất khẩu hạt tiêu, hạt điều cũng đạt mức tăng khá tốt, đều tăngtrung bình hơn 14%/năm trong giai đoạn 2012-2016
Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng khác vẫn còn thấp, chưađạt được mức kim ngạch của năm 2012, như cà phê, chè, gạo, sắn và cao su Điềunày một phần do xu hướng giảm giá hàng hóa của thế giới
Trang 10Cà phê là nhóm hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong năm 2016nhưng trong giai đoạn 2012-2016, đây lại là mặt hàng có nhiều biến động nhất.Khép lại năm 2016 xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã có những kết quả với 6/8mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỉ đô la Mỹ (trừ mặt hàng chè, sắn và các sản phẩm
từ sắn), lượng xuất khẩu cà phê và hạt tiêu tăng mạnh (trên 30% so với năm 2015).Tuy nhiên, lượng, trị giá xuất khẩu gạo lại giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước.Trong năm 2017 này, giới phân tích nhận định đây sẽ là một năm khó khăn củangành nông sản trong nước vì phải đối mặt với chủ nghĩa bảo hộ đang có xuhướng quay trở lại
Trước đó, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã nhận định đối vớiViệt Nam, nước có tới trên 50% giá trị nông sản phụ thuộc vào xuất khẩu, việctăng cường bảo hộ nông sản của các nước sẽ ảnh hưởng lớn tới giá trị xuất khẩucũng như tốc độ sản xuất nông nghiệp trong năm 2017
Ngoài ra, các nước còn đang đầu tư rất mạnh vào nông nghiệp như một cách đểđảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng như tăng cường khả năng cạnh tranhcủa mặt hàng nông sản nước họ sẽ khiến việc xuất khẩu mặt hàng này của ViệtNam gặp khó khăn
(*): Số liệu xuất khẩu nông sản được tổng hợp từ giá trị xuất khẩu của các mặthàng: hàng rau quả, hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, cao su, sắn và sản phẩm từsắn
Trang 11Nguồn: Tổng cục Hải quan
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu: