MỤC LỤC BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT TÓM TẮT LUẬN VĂN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÂN CẤP NGÂN SÁCH CHO ĐỊA PHƯƠNG 4 1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN CẤP NGÂN SÁCH CHO ĐỊA PHƯƠNG. 4 1.1.1. Ngân sách nhà nước, vai trò của Ngân sách nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội. 4 1.1.2. Tổ chức hành chính và hệ thống ngân sách nhà nước tại Việt Nam. 10 1.1.3. Phân cấp ngân sách nhà nước. 18 1.2. KINH NGHIỆM THỰC HIỆN PHÂN CẤP NGÂN SÁCH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI. 26 1.2.1. Phân cấp ngân sách ở Nhật Bản. 26 1.2.2. Phân cấp ngân sách ở Trung Quốc. 27 1.2.3. Phân cấp ngân sách ở Đức. 28 1.2.4. Phân cấp quản lý ngân sách ở Malaixia: 30 1.2.5. Một số bài học kinh nghiệm. 31 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP GIỮA NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG VÀ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM – BÀI HỌC KINH NGHIỆM 33 2.1. KHÁI QUÁT VỀ PHÂN CẤP NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM TRƯỚC KHI CÓ LUẬT NSNN. 33 2.2. THỰC TRẠNG PHÂN CẤP NGÂN SÁCH THEO LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM. 46 2.2.1. Về chủ trương, chế độ pháp lý phân cấp ngân sách nhà nước. 47 2.2.2. Phân cấp thẩm quyền quyết định về chính sách chế độ thu NSNN. 49 2.2.3. Về phân cấp thẩm quyền trong việc quyết định chế độ, định mức phân bổ và chi tiêu ngân sách. 49 2.2.4. Về thẩm quyền trong tổ chức thực hiện ngân sách. 51 2.2.5. Phân cấp nhiệm vụ chi và nguồn thu giữa cấp ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. 53 2.3. ĐÁNH GIÁ VỀ PHÂN CẤP NSNN CHO ĐỊA PHƯƠNG Ở NƯỚC TA THỜI GIAN QUA. 61 2.3.1. Những mặt tích cực. 61 2.3.2. Một số tồn tại trong phân cấp ngân sách ở nước ta hiện nay. 62 2.4. BÀI HỌC KINH NGHIỆM. 69 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN CẤP NGÂN SÁCH Ở VIỆT NAM 71 3.1. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI VIỆC ĐỔI MỚI PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH Ở VIỆT NAM. 71 3.1.1. Những thuận lợi. 71 3.1.2. Khó khăn. 72 3.2. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI PHÂN CẤP GIỮA NSTW VÀ NSĐP TRONG THỜI GIAN TỚI Ở VIỆT NAM. 74 3.2.1. Mục tiêu: 74 3.2.2. Phương hướng . 75 3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÂN CẤP NGÂN SÁCH NSTW VÀ NSĐP Ở VIỆT NAM. 81 3.3.1. Về quy trình ngân sách. 81 3.3.2. Đối với thẩm quyền quyết định dự toán và phê chuẩn quyết toán ngân sách hàng năm. 85 3.3.3. Về phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách. 86 3.3.4. Thẩm quyền quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia cho địa phương về thuế giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt từ quỹ điều tiết chung. 89 3.3.5. Quy định về thời kỳ ổn định ngân sách và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới: 90 3.3.6. Về quy định thưởng thu vượt dự toán được giao: 91 3.3.7. Về thẩm quyền ban hành chính sách chế độ: 91 3.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ. 93 3.4.1. Hoàn thiện Luật NSNN và các văn bản pháp quy. 93 3.4.2. Kiện toàn bộ máy và nâng cao trình độ cán bộ quản lý ngân sách các cấp. 94 3.4.3. Phối hợp thống nhất giữa các cấp chính quyền và các cơ quan ban, ngành trong tỉnh về quản lý NSNN. 95 3.4.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đi đôi với việc tăng tính minh bạch của ngân sách nhà nước. 96 KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Trang 1hoàng xuân nam
phân cấp ngân sách cho địa phơng ở việt nam
-thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp
Chuyên ngành: lịch sử kinh tế
Ơ
ngời hớng dẫn khoa học: ts trần khánh hng
Hà Nội - 2011
Trang 2- C g ng quy nh nh ng tiêu th c tr c p, b sung ngân sách cho các a ph ng m t ố ắ đị ữ ứ ợ ấ ổ đị ươ ộ
cách rõ r ng b ng vi c xây d ng nh ng công th c tính toán s c n tr c p, b sung à ằ ệ ự ữ ứ ố ầ ợ ấ ổ vi
CH ƯƠ NG 2 vi
TH C TR NG PHÂN C P NGÂN SÁCH GI A Ự Ạ Ấ Ữ vi
NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠ NG VÀ NGÂN SÁCH A PH ĐỊ ƯƠ NG VI T NAM – BÀI H C Ở Ệ Ọ KINH NGHI M Ệ vi
CH ƯƠ NG 2 49
TH C TR NG PHÂN C P Ự Ạ Ấ 49
GI A NGÂN SÁCH TRUNG Ữ ƯƠ NG VÀ NGÂN SÁCH 49
A PH NG VI T NAM – BÀI H C KINH NGHI M ĐỊ ƯƠ Ở Ệ Ọ Ệ 49
Trang 3Bảng 1.1 : Tỷ trọng chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển trong tổng chi
ngân sách hàng năm Error: Reference source not foundBảng 2.1: Tóm tắt hoạt động NSNN thời kỳ 1946 - 1950 Error: Reference
source not foundBảng 2.2: Tóm tắt hoạt động NSNN thời kỳ 1951 - 1954 Error: Reference
source not foundBảng 2.3: Tóm tắt ngân sách nhà nước năm 1966 và thời kỳ 1971 - 1975
Error: Reference source not foundBảng 2.4: Tóm tắt ngân sách nhà nước thời kỳ 1976 -1980 .Error: Reference
source not foundBảng 2.5: Tóm tắt ngân sách nhà nước thời kỳ 1981-1985 Error: Reference
source not foundBảng 2.6: Tóm tắt ngân sách nhà nước thời kỳ 1986-1990 Error: Reference
source not foundBảng 2.7: Tóm tắt ngân sách nhà nước thời kỳ 1991-1995 Error: Reference
source not foundBảng 2.8: Phân cấp nhiệm vụ chi giữa trung ương và địa phương Error:
Reference source not foundBảng 2.9: Số liệu phân cấp thu ngân sách giữa trung ương và địa phương
Error: Reference source not foundBảng 2.10: Số liệu phân cấp chi NS giữa trung ương và địa phương Error:
Reference source not foundBảng 2.11: Cân đối nguồn thu chi dự toán NSTW và NSĐP năm 2011 Error:
Reference source not found
Trang 4Bảng 2.12: Thu chi NSNN trên địa bàn của Hà Nội và Lạng Sơn Error:
Reference source not found
HÌNH
- C g ng quy nh nh ng tiêu th c tr c p, b sung ngân sách cho các a ph ng m t ố ắ đị ữ ứ ợ ấ ổ đị ươ ộ
cách rõ r ng b ng vi c xây d ng nh ng công th c tính toán s c n tr c p, b sung à ằ ệ ự ữ ứ ố ầ ợ ấ ổ vi
- C g ng quy nh nh ng tiêu th c tr c p, b sung ngân sách cho các a ph ng m t ố ắ đị ữ ứ ợ ấ ổ đị ươ ộ cách rõ r ng b ng vi c xây d ng nh ng công th c tính toán s c n tr c p, b sung à ằ ệ ự ữ ứ ố ầ ợ ấ ổ vi
CH ƯƠ NG 2 vi
CH ƯƠ NG 2 vi
TH C TR NG PHÂN C P NGÂN SÁCH GI A Ự Ạ Ấ Ữ vi
TH C TR NG PHÂN C P NGÂN SÁCH GI A Ự Ạ Ấ Ữ vi
NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠ NG VÀ NGÂN SÁCH A PH ĐỊ ƯƠ NG VI T NAM – BÀI H C Ở Ệ Ọ KINH NGHI M Ệ vi
NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠ NG VÀ NGÂN SÁCH A PH ĐỊ ƯƠ NG VI T NAM – BÀI H C Ở Ệ Ọ KINH NGHI M Ệ vi
CH ƯƠ NG 2 49
CH ƯƠ NG 2 49
TH C TR NG PHÂN C P Ự Ạ Ấ 49
TH C TR NG PHÂN C P Ự Ạ Ấ 49
GI A NGÂN SÁCH TRUNG Ữ ƯƠ NG VÀ NGÂN SÁCH 49
GI A NGÂN SÁCH TRUNG Ữ ƯƠ NG VÀ NGÂN SÁCH 49
A PH NG VI T NAM – BÀI H C KINH NGHI M ĐỊ ƯƠ Ở Ệ Ọ Ệ 49
A PH NG VI T NAM – BÀI H C KINH NGHI M ĐỊ ƯƠ Ở Ệ Ọ Ệ 49
Trang 5UBND : uỷ ban nhân dân
Trang 6hoàng xuân nam
phân cấp ngân sách cho địa phơng ở việt nam
-thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp
Chuyên ngành: lịch sử kinh tế
Ơ
Hà Nội - 2011
Trang 7TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngân sách nhà nước là dự toán hàng năm về toàn bộ các nguồn tàichính được huy động cho cho nhà nước để sử dụng các nguồn tài chính đó,nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của nhà nước Phân cấp ngân sách làxác định phạm vi, quyền hạn trách nhiệm của các cấp chính quyền nhà nướctrong quản lý NSNN Trong hệ thống NSNN, mỗi cấp ngân sách có vai trò,nhiệm vụ khác nhau tương ứng với nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước
Do vậy, việc phân cấp ngân sách đúng đắn sẽ giúp nâng cao hiệu quả huyđộng và sử dụng nguồn lực NSNN ở từng cấp chính quyền
Ở Việt Nam, Luật NSNN ra đời và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1997 đãđánh dấu bước đổi mới quan trọng trong lĩnh vực quản lý NSNN Đặc biệt,Luật NSNN có hiệu lực từ ngày 01-01-2004 đã tạo ra sự chuyển biến đáng kểtrong phân cấp ngân sách cho địa phương và các đơn vị dự toán Thời gianqua, việc thực hiện đẩy mạnh phân cấp ngân sách cho các địa phương và giaoquyền chủ động cho các đơn vị sự nghiệp đã mang lại nhiều tác động tích cực.Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải tiếp tụcnghiên cứu sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn như sự tiêu chuẩn hóa
và thống nhất hóa trong quy trình NSNN chưa cao, các chỉ tiêu ngân sách cònrất phức tạp, chưa đồng bộ trong toàn hệ thống; tình trạng chồng chéo tráchnhiệm, quyền hạn giữa các cơ quan quản lý NSNN trong quản lý, điều hànhNSNN Đó là những nguyên nhân gây ra sự chậm trễ, bị động trong điềuhành NSNN
Với lý do đó, học viên chọn đề tài: "Phân cấp ngân sách cho địaphương ở Việt Nam - Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp” làm luận vănthạc sĩ kinh tế
Trang 82 Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Từ nghiên cứu cơ sở lý luận về phân cấp ngân sách cho chính quyềnđịa phương, từ nghiên cứu thực trạng phân cấp ngân sách, chỉ ra những mặtđược và những mặt còn hạn chế trong hoạt động phân cấp ngân sách nhà nướccho địa phương ở Việt Nam thời gian qua để đề xuất một số giải pháp nhằmhoàn thiện chế độ phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam nhằm phát huytối đa hiệu quả của NSNN trong phát triển kinh tế - xã hội
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và cơ chế, chínhsách, luật pháp cũng như thực tiễn có liên quan đến quản lý NSNN, vấn đề vềphân cấp quản lý ngân sách trong mối quan hệ giữa các cấp chính quyền ở ViệtNam Tuy nhiên, trong nghiên cứu đề tài luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu vềphân cấp ngân sách giữa hai cấp ngân sách là cấp ngân sách trung ương vàcấp ngân sách tỉnh Trong một số nội dung, luận văn có đề cập đến vấn đề phâncấp ngân sách ở cấp thấp hơn nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2004-2010.
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lịch
sử và phương pháp lôgic, phương pháp thống kê, kết hợp với khảo cứu thựctiễn để làm rõ đối tượng nghiên cứu
5 Những đóng góp của luận văn:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về phân cấp NSNN cho chính quyềnđịa phương
- Phân tích làm rõ thực trạng phân cấp NSNN cho chính quyền địaphương ở Việt Nam giai đoạn 2004-2010 và rút ra một số bài học kinh nghiệm
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế độphân cấp Ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ PHÂN CẤP NGÂN SÁCH CHO ĐỊA PHƯƠNG
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN CẤP NGÂN SÁCH CHO ĐỊA PHƯƠNG.
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong
dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thựchiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhànước
Ngân sách nhà nước có một số đặc trưng:
- Phần lớn những khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, còncác khoản chi lại mang tính cấp phát
- Mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phân phối bằng tiền vàgắn liền với một chủ thể nào đó, và hình thành mối quan hệ giữa các chủ thểmột bên là Nhà nước với một bên là xã hội
Bản chất của NSNN được thể hiện qua hai khía cạnh, đó là:
Về nội dung vật chất: Là các khoản thu và chi NSNN
Về nội dung kinh tế - xã hội: Dưới bất cứ hình thức nào, thì việc phân
phối và phân phối lại các nguồn lực tài chính để hình thành nguồn thu củaNhà nước, cũng là quá trình giải quyết lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và xãhội
Bản chất, chức năng của Nhà nước quyết định bản chất, chức năng củaNSNN Từ đó ta có thể kết luận chức năng của NSNN là:
- Huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo dựtoán nhà nước
- Thực hiện cân đối giữa khoản thu và các khoản chi (bằng tiền) củaNhà nước
Trang 10Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vai trò củaNSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính, là công cụ quan trọng để Nhànước thực hiện điều hành vĩ mô và toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Cụ thể:
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các hoạt động thu, chi củaNSNN:
- Đảm bảo công bằng xã hội:
- Ổn định giá cả thị trường và chống lạm phát:
Ở Việt Nam theo quy định của Luật NSNN, hệ thống ngân sách nhànước bao gồm bốn cấp ngân sách tương ứng với bốn cấp chính quyền Nóicách khác, hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách của cấp chínhquyền trung ương (ngân sách trung ương) và ngân sách các cấp chính quyềnđịa phương (ngân sách địa phương) Ngân sách địa phương bao gồm:
- Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương ( gọi chung làngân sách cấp tỉnh)
- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung làngân sách cấp huyện)
- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).Phân cấp NSNN là việc phân định phạm vi trách nhiệm, quyền hạn củacác cấp chính quyền Nhà nước từ trung ương tới các địa phương trong quátrình tổ chức tạo lập và sử dụng NSNN phục vụ cho việc thực thi các chứcnăng nhiệm vụ của Nhà nước
Phân cấp ngân sách bao gồm hai loại thẩm quyền: thẩm quyền về quản
lý ngân sách và thẩm quyền về quyết định ngân sách Ở Việt Nam, vấn đềphân cấp ngân sách thường được hiểu chung và được đề cập dưới góc độ phân
cấp quản lý ngân sách Về bản chất, phân cấp NSNN là việc xử lý các mối
quan hệ giữa các cấp chính quyền từ trung ương đến các địa phương tronghoạt động quản lý NSNN, từ đó hình thành cơ chế phân chia quyền lực vềquản lý sử dụng nguồn NSNN giữa các cấp chính quyền Cụ thể:
Trang 11- Giải quyết mối quan hệ quyền lực trong việc ban hành các chính sách,chế độ thu, chi quản lý NSNN giữa các cấp chính quyền.
- Giải quyết mối quan hệ vật chất phát sinh trong quá trình phân giaonhiệm vụ chi, nguồn thu và cân đối ngân sách các cấp chính quyền
- Giải quyết mối quan hệ trong quy trình ngân sách
Giải quyết mối quan hệ giữa NSTW và NSĐP theo hướng tập trung cầnthiết để NSTW phát huy vai trò chủ đạo, chi phối trong toàn bộ hệ thốngNSNN Đồng thời mở rộng hơn quyền chủ động NSĐP trong bảo đảm nguồnthu và nhiệm vụ chi
Phân cấp ngân sách nhà nước phải bảo đảm nguyên tắc :
- Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninhcủa Nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn;
- Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được phân địnhnguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể để ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo;
Phân cấp ngân sách là một trong những công cụ phục vụ giúp cho việcphân cấp quản lý hành chính và có tác động quan trọng đến hiệu quả của quản
lý hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương Như vậy, cùng với sựcần thiết của việc phân cấp quản lý nhà nước theo đơn vị hành chính, lãnhthổ, vùng miền kéo theo phân cấp ngân sách là một tất yếu khách quan
Phân cấp ngân sách là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của ngân sáchnhà nước với các hoạt động kinh tế - xã hội một cách thiết thực và cụ thể,nhằm tập trung, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính một cách côngbằng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao gắn với các mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
- Phân cấp ngân sách bị tác động bởi cấu trúc bộ máy Nhà nước
- Phân cấp ngân sách chịu ảnh hưởng bởi việc cung cấp hàng hoá, dịch
vụ công
- Phân cấp ngân sách chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xãhội của các địa phương
Trang 121.2 KINH NGHIỆM THỰC HIỆN PHÂN CẤP NGÂN SÁCH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.
- Nền hành chính và cơ chế hoạt động của bộ máy hành chính các cấptương đối ổn định, được phân cấp quyền lực chặt chẽ nên tạo điều kiện tốt chophân cấp về ngân sách
- Thực hiện phân cấp về thu ngân sách nhà nước theo hướng chọnmột số khoản thu để phân chia một phần cho trung ương và một phần chođịa phương
- Cố gắng quy định những tiêu thức trợ cấp, bổ sung ngân sách cho cácđịa phương một cách rõ ràng bằng việc xây dựng những công thức tính toán
số cần trợ cấp, bổ sung
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÂN CẤP NGÂN SÁCH GIỮA
NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG VÀ NGÂN SÁCH ĐỊA
PHƯƠNG Ở VIỆT NAM – BÀI HỌC KINH NGHIỆM
2.1 KHÁI QUÁT VỀ PHÂN CẤP NGÂN SÁCH TẠI VIỆT NAM TRƯỚC KHI CÓ LUẬT NSNN.
- Về cơ chế, chính sách: Các văn bản của Nhà nước về phân cấp quản
lý NSNN đều là những văn bản dưới Luật (Nghị quyết, Quyết định) nên hiệulực pháp lý thấp
- Về phạm vi phân cấp: Phạm vi thực hiện phân cấp ngân sách khôngđầy đủ, rõ ràng (Nghị quyết số 138/HĐBT chỉ quy định nhiệm vụ chi NSTW
mà không quy định nguồn thu NSTW; Nghị quyết số 186/HĐBT chỉ quy địnhnguồn thu, nhiệm vụ chi NSĐP mà không quy định nguồn thu, nhiệm vụ chiNSTW) nên không tạo ra một hệ thống phân cấp ngân sách đầy đủ, đồng bộ
Trang 13- Về thẩm quyền ngân sách của các cấp chính quyền: Thẩm quyền vềngân sách không được quy định đầy đủ, cụ thể và rõ ràng đối với từng cấp(TW, tỉnh, huyện, xã) cũng như đối với từng cơ quan trong mỗi cấp (như ở
TW là Quốc hội, Chính phủ, các Bộ; ở địa phương là HĐND, UBND, các Sở)
và ở các khâu của quy trình ngân sách
2.2 THỰC TRẠNG PHÂN CẤP NGÂN SÁCH THEO LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM.
Từ khi có Luật NSNN (năm 1996), và đặc biệt là Luật NSNN năm
2002, trách nhiệm của cơ quan quyền lực Nhà nước gắn với từng khâu, từngnội dung của của quy trình ngân sách đã được xác định tương đối rõ ràng, cụthể Điều đó từng bước khắc phục sự trùng lắp trong việc quyết định về dựtoán NSNN và nâng cao quyền hạn của Quốc hội trong việc phân bổ NSTW
Cụ thể như sau:
- Về chủ trương, chế độ pháp lý phân cấp ngân sách nhà nước
- Phân cấp thẩm quyền quyết định về chính sách chế độ thu NSNN
- Về phân cấp thẩm quyền trong việc quyết định chế độ, định mức phân
bổ và chi tiêu ngân sách
- Về thẩm quyền trong tổ chức thực hiện ngân sách
- Phân cấp nhiệm vụ chi và nguồn thu giữa cấp ngân sách trung ương
và ngân sách địa phương
2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ PHÂN CẤP NSNN CHO ĐỊA PHƯƠNG Ở NƯỚC TA THỜI GIAN QUA.
Phân cấp quản lý ngân sách ở Việt Nam thời gian qua, cơ bản phù hợpvới phân cấp về quản lý kinh tế - xã hội và phù hợp với Luật Tổ chức Hộiđồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân; Các cơ quan đại diện của nhân dân đãthực hiện quyền quyết định về NSNN: Quốc hội đối với NSNN và phân bổNSTƯ, HĐND đối với NS địa phương và phân bổ NS của cấp mình Đồng
Trang 14thời đã từng bước hình thành và hoàn thiện khuôn khổ thể chế đáp ứng yêucầu phân cấp quản lý chi NSNN phù hợp với những thay đổi trong đời sốngkinh tế - xã hội của đất nước
Việc thực hiện phân cấp NSNN ở Việt Nam trong thời gian qua đãmang lại những tác động tích cực
- Phân cấp ngân sách trong thời gian qua đã khuyến khích các địaphương phấn đấu tăng thu ngân sách để có nguồn để chi tiêu
- Việc phân cấp cụ thể từng nguồn thu, ổn định tỷ lệ phần trăm (%)phân chia các khoản thu phân chia và số bổ sung cân đối đã tạo điều kiện chocác địa phương chủ động hơn trong việc xác định nguồn lực
- Phân cấp NSNN đã đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trungương, ngoài việc đảm nhận các nhiệm vụ trọng yếu của quốc gia còn đảm bảonguồn lực để đảm bảo công bằng giữa các địa phương
- Phân cấp ngân sách góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng, hiệu quảcông tác quản lý ngân sách, góp phần phân rõ trách nhiệm của từng cấp, từng
cá nhân về quyền quyết định ngân sách, sử dụng ngân sách, đảm bảo côngkhai, minh bạch
Mặc dù đạt được nhiều kết quả, nhưng công tác phân cấp ngân sách ởViệt Nam thời gian qua vẫn còn một số tồn tại, hạn chế:
- Việc phân cấp một số nguồn thu và nhiệm vụ chi chưa hợp lý
- Qua thực tế thực hiện thời kỳ ổn định ngân sách cũng có những tồntại, làm gia tăng chênh lệch giữa các địa phương
Trang 152.4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
Từ thực trạng phân cấp ngân sách, từ những kết quả và hạn chế tronghoạt động phân cấp NSNN, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
(1) Việc đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền quyết định về chính sách, chế độ,tiêu chuẩn, định mức trong thu chi ngân sách cho địa phương đã giúp cho cácchế độ, định mức, tiêu chuẩn trở nên thực tế hơn, phù hợp hơn với đặc điểm, đặcthù của mỗi địa phương
(2) Thời gian lập dự toán ngân sách được đẩy sớm lên để tạo điều kiệnthuận lợi cho việc phân bổ và giao ngân sách cho các đơn vị dự toán, giúpcông tác xây dựng dự toán đáp ứng được các yêu cầu theo chế độ, tiêu chuẩnhiện hành, phù hợp với khả năng ngân sách, định hướng phát triển kinh tế - xãhội của địa phương và bảo đảm tiết kiệm
(3) Việc quy định dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao làkhuôn khổ pháp lý cao nhất để Kho bạc Nhà nước thực hiện cấp phát sinh phícho đơn vị sử dụng ngân sách đã tăng sự chủ động cho đơn vị sử dụng NSNNtrong việc tổ chức, triển khai kịp thời các nhiệm vụ chuyên môn được giao,hạn chế tối đa thủ tục, giấy tờ rườm rà, không cần thiết
(4) Tổ chức ngân sách mang tính thứ bậc cao và tuân theo mô hình lồngghép, HĐND các cấp quyết định NSĐP, nhưng trên thực tế chưa thực hiện tốtviệc giám sát để thúc đẩy việc chấp hành ngân sách có hiệu quả
(5) Cơ chế bảo lãnh hoặc cho chính quyền địa phương vay đã làm tăngcác khoản nợ cho Chính phủ Bên cạnh các khoản được Nhà nước bảo lãnh,
để đáp ứng yêu cầu của địa phương, nhiều địa phương định dùng uy tín để tựvay, tự trả, dẫn tới tình trạng nợ công ngày càng tăng
Trang 16CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÂN CẤP NGÂN SÁCH Ở VIỆT NAM
3.1 NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI VIỆC ĐỔI MỚI PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH Ở VIỆT NAM.
- Chính trị - xã hội ổn định; nền kinh tế luôn duy trì được tốc độ tăngtrưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, thể chế kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện
- Thị trường tài chính phát triển tương đối đồng bộ Hệ thống cơ chế,chính sách trong lĩnh vực tài chính nói chung và trong lĩnh vực quản lýNSNN nói riêng được ban hành tương đối đồng bộ, kịp thời và chặt chẽ Từngbước thể chế hoá một cách rõ hơn, hợp lý hơn quyền quyết định NSNN củacác cơ quan quyền lực nhà nước các cấp
- Đã ban hành và triển khai thực hiện các Nghị định về việc giao quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí, lao động cho các đơn vị sử dụng ngânsách Nỗ lực cải cách hành chính trong quá trình cấp phát kinh phí được ghinhận bởi sự thay đổi từ hình thức “Cấp phát hạn mức kinh phí” sang cấp pháttheo dự toán Sửa đổi, bổ sung để ban hành các chế độ kế toán nhà nước chophù hợp với cơ chế quản lý tài chính và tiếp cận với hệ thống thông tin quản
lý NSNN và KBNN hiện đại (TABMIS) Qui chế công khai tài chính ngânsách đã được ban hành và triển khai thực thi ở tất cả các cấp ngân sách
Tuy nhiên, khi tiến hành phân cấp ngân sách luôn phải đối mặt vớinhững khó khăn, thách thức, đó là:
Thứ nhất, sự công bằng trong thực hiện phân cấp ngân sách giữa các
địa phương
Thứ hai, tính cục bộ địa phương
Trang 17Thứ ba, mặc dù Hội đồng nhân dân các cấp có quyền quyết định ngân
sách cấp mình, nhưng phải trên khuôn khổ quyết định giao dự toán ngân sáchcủa cơ quan hành chính cấp, điều đó đã làm hạn chế quyền về ngân sách củaHội đồng nhân dân
Thứ tư, Luật NSNN quy định thời kỳ ổn định ngân sách là từ 3 đến 5
năm là để khuyến khích tính năng động, tính tích cực ở địa phương Tuynhiên, sau mỗi kỳ ổn định lại thực hiện việc tính toán lại, sau mỗi thời kỳ ổnđịnh, phải tăng tỷ lệ phân chia nộp về ngân sách cấp trên hoặc giảm số bổsung cân đối từ ngân sách cấp trên Như vậy, nỗ lực để khuyến khích các địaphương theo quy định của Luật NSNN hiện nay là chưa nhiều
Thứ năm, phân cấp ngân sách dựa trên nền phân cấp kinh tế - xã hội,
song nội dung phân cấp kinh tế - xã hội chưa thực sự chuyển đổi một cách cănbản và đồng bộ
Thứ sáu, đã thực hiện đẩy mạnh phân cấp cả về nguồn lực và quyền hạn
nhưng trách nhiệm, cơ chế giám sát, kiểm tra, chế tài xử phạt, chưa đồng bộ,còn nhiều hạn chế
3.2 MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI PHÂN CẤP GIỮA NSTW
VÀ NSĐP TRONG THỜI GIAN TỚI Ở VIỆT NAM.
- Kế thừa và phát huy những ưu điểm về phân cấp ngân sách của LuậtNgân sách nhà nước hiện hành Đảm bảo tính thống nhất của ngân sách nhànước; phát huy vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương; tăng cường chủ độngcho các cấp chính quyền địa phương trong quản lý và sử dụng ngân sách
- Xác định rõ quyền hạn trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ, Hộiđồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đối với NSTW và ngân sách các cấpchính quyền địa phương Đảm bảo "thực quyền" của Hội đồng nhân dân cáccấp trong việc quyết định, quản lý NSĐP
- Nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý ngân
Trang 18sách nhà nước Đổi mới phương thức quản lý ngân sách nhà nước phù hợp với
cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính,đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
- Đẩy mạnh việc triển khai một cách đồng bộ, chặt chẽ hệ thống thungân sách (bao gồm cả cơ chế và nhân lực), giảm thiểu tối đa việc thất thungân sách nhà nước
Để không ngừng hoàn thiện các chính sách, không ngừng nâng cao vaitrò chủ đạo NSNN trong hệ thống tài chính, là cơ sở vật chất quan trọng đảmbảo cho Nhà nước thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình là quản lý
và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế - xã hội, phương hướng hoàn thiện quy trình
và phân cấp quản lý ngân sách là:
- Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của từngcấp trong quản lý ngân sách nhà nước
- Hoàn thiện nội dung quy trình ngân sách nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước
- Quy trình và phân cấp ngân sách vận hành đồng bộ hệ thống ngânsách địa phương
- Hạn chế thất thoát, lãng phí trong quản lý ngân sách nhà nước
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÂN CẤP NGÂN SÁCH NSTW VÀ NSĐP Ở VIỆT NAM.
- Đổi mới lập dự toán NSĐP như thẩm quyền quyết định dự toán, phêchuẩn, quyết toán ngân sách NSNN, quy định rõ hơn và đơn giản quy trìnhlập dự toán NSNN, về việc thảo luận dự toán NSĐP; giữa cấp trên, cấp dưới.Cải tiến quy trình lập dự NSNN chỉ gồm hai cấp là NSTW và NSĐP; việc lập
dự toán các cấp NSĐP do UBND tỉnh tổ chức thực hiện
- Tăng cường chủ động, thực quyền cho địa phương, khắc phục tìnhtrạng chồng chéo, đồng nâng cao chất lượng, tính minh bạch và trách
Trang 19nhiệm giải trình trong công tác lập dự toán và quyết toán ngân sách hàngnăm và trên cơ sở sửa đổi hệ thống ngân sách theo hướng ngân sách cáccấp độc lập
- Luật NSNN chỉ quy định phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chigiữa Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Việc phâncấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể cho từng cấp ở địa phương do Hội đồngnhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định
- Hoàn thiện về thẩm quyền quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia chođịa phương về thuế giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt từ quỹ điều tiết chung
- Để hạn chế bớt sự chênh lệch giữa các địa phương, cùng với việc xử
lý thông qua cơ chế điều hoà nguồn thu về thuế giá trị gia tăng và thuế tiêuthụ đặc biệt từ quỹ điều tiết chung; đối với các địa phương được nhận bổ sungcân đối từ ngân sách cấp trên, hàng năm được bổ sung thêm theo tỷ lệ tínhtrên số bổ sung cân đối phù hợp với khả năng của ngân sách cấp trên
- Kiến nghị bỏ cơ chế Trung ương thưởng vượt dự toán thu đối với cáckhoản thu phân chia cho địa phương Cần đảm bảo tính thống nhất về chínhsách chế độ, kiến nghị quy định trong Luật NSNN về thẩm quyền ban hành
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.
- Hoàn thiện hệ thống luật nhà nước nói chung, Luật NSNN nhằm đảmbảo phát triển NSNN vững chắc, trên cơ sở tăng quyền chủ động, trách nhiệmcủa địa phương và các ngành trong quản lý tài chính - ngân sách đã đượcphân cấp Đẩy nhanh cải cách hành chính trong quản lý ngân sách phù hợpvới tiến trình cải cách hành chính của Nhà nước, xây dựng nền tài chính lànhmạnh công khai, minh bạch, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, thực hiện chế độtrách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách, chủ động đáp ứng cácyêu cầu mới đặt ra trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và hội nhậpkinh tế quốc tế trong giai đoạn phát triển tới
Trang 20- Kiện toàn bộ máy và nâng cao trình độ cán bộ quản lý ngân sáchcác cấp, cơ cấu bộ máy và các quy định quan hệ ngang với các tổ chức, đơn
vị ở địa phương để phối hợp đồng bộ quản lý NSNN, Nâng cao trình độ quản
lý ngân sách các cấp
- Tăng cường sự phối hợp thống nhất giữa các cấp chính quyền và các
cơ quan ban, ngành trong tỉnh về quản lý NSNN Đẩy mạnh công tác thanhtra, kiểm tra, giám sát đi đôi với việc tăng tính minh bạch của NSNN
KẾT LUẬN
Phân cấp ngân sách là vấn đề phức tạp, có phạm vi rất rộng, thể hiệnnhững quan hệ về ngân sách giữa các cấp chính quyền, giữa các tổ chức, cácđơn vị dự toán trong cùng một cấp Hiện nay, trên thế giới đang có nhiều môhình phân cấp ngân sách khác nhau, dựa trên mô hình tổ chức hành chính Nhànước, đặc điểm, trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở từng quốc gia nhưngnhìn chung, việc phân cấp ngân sách ở các nước đều phải phải đảm bảo khônglàm nảy sinh mất công bằng, bình đẳng giữa các địa phương, cũng như phảiđảm bảo được lợi ích chung của quốc gia Ở Việt Nam phân cấp ngân sáchđược quy định trong Luật NSNN năm 1996, đồng thời tiếp tục được sửa đổi,
bổ sung, hoàn thiện trong Luật NSNN năm 1998 và Luật NSNN năm 2002.Qua hơn mười năm thực hiện phân cấp ngân sách đã góp phần đảm bảo vaitrò chủ đạo của NSTW, đồng thời phát huy quyền chủ động của địa phương
và các đơn vị sử dụng ngân sách; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản
lý tài chính, ngân sách và tài sản công Tuy nhiên, phân cấp ngân sách theoquy định của Luật NSNN hiện hành cũng đã bộc lộ một số tồn tại cần phảinghiên cứu sửa đổi, bổ sung
Đề tài luận văn: “Phân cấp ngân sách cho địa phương ở Việt Nam Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp” đã hoàn thành những mục tiêu đề ratrong nghiên cứu và có những đóng góp chủ yếu sau:
Trang 21-Thứ nhất, hệ thống hoá làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về phân cấpNSNN cho địa phương, những yếu tố ảnh hưởng đến phân cấp NSNN và rút
ra một số kinh nghiệm thực tiễn về phân cấp NSNN cho địa phương ở một sốnước trên thế giới
Thứ hai, phân tích làm rõ thực trạng hoạt động phân cấp NSNN cho địaphương ở nước ta thời gian qua Đánh giá những kết quả đạt được, những mặtcòn hạn chế cùng nguyên nhân của những hạn chế đó và rút ra một số bài họckinh nghiệm
Thứ ba, từ phân tích những thuận lợi, khó khăn đối với việc phân cấpNSNN, đề tài đã đưa ra mục tiêu, phương hướng và một số giải pháp nhằmhoàn thiện chế độ phân cấp NSNN ở nước ta trong thời gian tới
Để tăng thêm tính khả thi của các giải pháp, đề tài luận văn đã đưa ramột số kiến nghị về sửa đổi, bổ sung trong phân cấp ngân sách theo hướngphát huy vai trò chủ đạo của NSTW; xóa bỏ tính lồng ghép của NSNN; tăngcường chủ động cho các cấp chính quyền địa phương; đảm bảo "thực quyền"cho HĐND các cấp trong việc quyết định, quản lý NSĐP; đơn giải hóa thủtục, quy trình lập dự toán, quyết toán ngân sách; nâng cao tính minh bạch vàtrách nhiệm giải trình trong quản lý NSNN; phát huy hiệu quả trong việc quản
lý, sử dụng NSNN và tài sản công
Trang 22hoàng xuân nam
phân cấp ngân sách cho địa phơng ở việt nam
-thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp
1 Tớnh cấp thiết của đề tài:
Ngõn sỏch nhà nước là dự toỏn hàng năm về toàn bộ cỏc nguồn tàichớnh được huy động cho cho nhà nước để sử dụng cỏc nguồn tài chớnh đú,nhằm đảm bảo thực hiện cỏc chức năng của nhà nước Phõn cấp ngõn sỏch làxỏc định phạm vi, quyền hạn trỏch nhiệm của cỏc cấp chớnh quyền nhà nướctrong quản lý NSNN Trong hệ thống NSNN, mỗi cấp ngõn sỏch cú vai trũ,nhiệm vụ khỏc nhau tương ứng với nhiệm vụ quản lý hành chớnh nhà nước
Do vậy, việc phõn cấp ngõn sỏch đỳng đắn sẽ giỳp nõng cao hiệu quả huy
Trang 23động và sử dụng nguồn lực NSNN ở từng cấp chính quyền
Ở Việt Nam, Luật NSNN ra đời và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1997 đãđánh dấu bước đổi mới quan trọng trong lĩnh vực quản lý NSNN Đặc biệt,Luật NSNN có hiệu lực từ ngày 01-01-2004 đã tạo ra sự chuyển biến đáng kểtrong phân cấp ngân sách cho địa phương và các đơn vị dự toán Thời gianqua, việc thực hiện đẩy mạnh phân cấp ngân sách cho các địa phương và giaoquyền chủ động cho các đơn vị sự nghiệp đã mang lại nhiều tác động tích cực.Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải tiếp tụcnghiên cứu sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn như sự tiêu chuẩn hóa
và thống nhất hóa trong quy trình NSNN chưa cao, các chỉ tiêu ngân sách cònrất phức tạp, chưa đồng bộ trong toàn hệ thống; tình trạng chồng chéo tráchnhiệm, quyền hạn giữa các cơ quan quản lý NSNN trong quản lý, điều hànhNSNN Đó là những nguyên nhân gây ra sự chậm trễ, bị động trong điềuhành NSNN
Với lý do đó, học viên chọn đề tài: "Phân cấp ngân sách cho địaphương ở Việt Nam - Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp” làm luận vănthạc sĩ kinh tế
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Từ nghiên cứu cơ sở lý luận về phân cấp ngân sách cho chính quyềnđịa phương, từ nghiên cứu thực trạng phân cấp ngân sách, chỉ ra những mặtđược và những mặt còn hạn chế trong hoạt động phân cấp ngân sách nhà nướccho địa phương ở Việt Nam thời gian qua để đề xuất một số giải pháp nhằmhoàn thiện chế độ phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam nhằm phát huytối đa hiệu quả của NSNN trong phát triển kinh tế - xã hội
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và cơ chế, chínhsách, luật pháp cũng như thực tiễn có liên quan đến quản lý NSNN, vấn đề về
Trang 24phân cấp quản lý ngân sách trong mối quan hệ giữa các cấp chính quyền ở ViệtNam Tuy nhiên, trong nghiên cứu đề tài luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu vềphân cấp ngân sách giữa hai cấp ngân sách là cấp ngân sách trung ương vàcấp ngân sách tỉnh Trong một số nội dung, luận văn có đề cập đến vấn đề phâncấp ngân sách ở cấp thấp hơn nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu.
Thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2004-2010.
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lịch
sử và phương pháp lôgic, phương pháp thống kê, kết hợp với khảo cứu thựctiễn để làm rõ đối tượng nghiên cứu
5 Những đóng góp của luận văn:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về phân cấp NSNN cho chính quyềnđịa phương
- Phân tích làm rõ thực trạng phân cấp NSNN cho chính quyền địaphương ở Việt Nam giai đoạn 2004-2010 và rút ra một số bài học kinh nghiệm
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế độphân cấp Ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới
6 Kết cấu của luận văn.
Ngoài lời mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đượckết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phân cấp ngânsách cho địa phương
Chương 2: Thực trạng phân cấp giữa ngân sách trung ương và ngânsách địa phương ở Việt Nam - Bài học kinh nghiệm
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện phâncấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam
Trang 26CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ PHÂN CẤP NGÂN SÁCH CHO ĐỊA PHƯƠNG
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN CẤP NGÂN SÁCH CHO ĐỊA PHƯƠNG. 1.1.1 Ngân sách nhà nước, vai trò của Ngân sách nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội.
Điều kiện cần để xuất hiện NSNN là sự ra đời của Nhà nước và khiquan hệ hàng hóa - tiền tệ phát triển mạnh, đó là điều kiện đủ để xuất hiệnNSNN Ngày nay hệ thống NSNN phát triển đầy đủ ở mọi quốc gia, songquan niệm về NSNN vẫn chưa có sự thống nhất
Trước đây, trong các chế độ phong kiến thường chưa có các văn bảnthống nhất để bao quát toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước mà việcthu, chi của Nhà nước thường tự phát và không chịu ràng buộc bởi sự kiểmsoát đồng bộ, chặt chẽ Với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa, kèm theo đó là một nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, để có đượcmôi trường tài chính, chế độ thuế khóa rõ ràng tạo sự chủ động, tự do hoạtđộng kinh doanh, giai cấp tư sản đã xây dựng một thể chế tài chính mới Khi
đó, NSNN từng bước được hình thành hoàn chỉnh và được thiết lập, phêchuẩn bởi Nhà nước Thuật ngữ NSNN bắt đầu xuất hiện và được sử dụngmột cách rộng rãi
Trang 27Theo quan điểm của Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán
mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của Nhà nước trong một năm
Một cách hiểu tương tự, người Nga: NSNN là bảng thống kê các khoảnthu và chi bằng tiền của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định
Tại Điều 1 của Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20 tháng 3 năm 1996
quy định: "Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước".
Hoạt động thu, chi của NSNN phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tếgiữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội Do đó, bản chất của NSNN có thểhiểu như sau: NSNN là hệ thống các mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hộiphát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chínhnhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh
tế - xã hội của mình Ngân sách nhà nước có một số đặc trưng:
- Phần lớn những khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, còncác khoản chi lại mang tính cấp phát Đặc biệt NSNN khác với ngân sách củacác chủ thể ở chỗ dự toán thu, chi của được thể chế hóa bằng luật pháp và doNhà nước quy định Nguồn thu của NSNN chủ yếu được hình thành từ cáckhoản thu thuế và do các Luật Thuế và các văn bản khác qui định; còn chiNSNN thì căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội, khả năng nguồn lực tài chínhquốc gia, nhu cầu chi và các hệ thống định mức, tiêu chuẩn do các cơ quan cóthẩm quyền ban hành để lập dự toán chi
- Mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phân phối bằng tiền vàgắn liền với một chủ thể nào đó, và hình thành mối quan hệ giữa các chủ thểmột bên là Nhà nước với một bên là xã hội Như vậy, thực chất của hoạt động
Trang 28hoạt động NSNN là hoạt động phân phối các nguồn tài chính trong nền kinh
tế - xã hội
Theo như phân tích, bản chất của NSNN được thể hiện qua hai khíacạnh, đó là:
Về nội dung vật chất: Là các khoản thu và chi NSNN Trong đó các
khoản thu vào NSNN phần lớn đều mang tính bắt buộc, Nhà nước với cácquyền của mình đã qui định một hệ thống pháp luật tài chính và thuế khoá đểđộng viên các nguồn lực vào tay Nhà nước Tuy nhiên tính chất bắt buộc nàykhông mang ý nghĩa tiêu cực, bởi vì mọi người trong diện động viên nguồnthu đều hiểu được nghĩa vụ của mình và tầm quan trọng của NSNN đối với sự
ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà nước có chức năngđiều hành
Các khoản chi NSNN mang tính cấp phát (không hoàn lại trực tiếp) baogồm một số nội dung chi lớn như chi cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên.Đây là một nội dung quan trọng, dựa vào quyền lực và khả năng tài chính củamình mà Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế - xã hội của mình
Về nội dung kinh tế - xã hội: Dưới bất cứ hình thức nào, thì việc phân
phối và phân phối lại các nguồn lực tài chính để hình thành nguồn thu củaNhà nước, cũng là quá trình giải quyết lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và xãhội Quá trình phân phối nguồn lực tài chính là kết quả tài chính của các đơn
vị kinh tế được chia thành hai phần, phần nộp cho NSNN và phần để lại chocác thành viên của đơn vị Từ phần nộp NSNN, Nhà nước tiếp tục phân phốilại qua các khoản cấp phát ngân sách cho mục đích tiêu dùng và đầu tư Dovậy có thể thấy rằng, mối quan hệ kinh tế - xã hội của NSNN là quan hệ ởphạm vi rộng lớn liên quan đến mọi khu vực của nền kinh tế quốc dân
Trong thực tế của đời sống kinh tế xã hội, bằng quyền lực của mình,Nhà nước sử dụng các công cụ sẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội
Trang 29cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết Nhưng ngược lại, cácchủ thể sản xuất - kinh doanh, các thành viên trong xã hội thì luôn đấu tranh
để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình Điều này có nghĩa là, Nhà nước không thểdựa vào quyền lực của mình để huy động sự đóng góp của xã hội bằng mọigiá, mà phải có giới hạn hợp lí nhằm giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế nhànước và xã hội Nếu quá tập trung đến lợi ích của Nhà nước mà không chútrọng đến lợi ích của xã hội có thể dẫn đến sản xuất đình trệ, đời sống nhândân bị bần cùng
1.1.1.2 Vai trò của Ngân sách nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội.
Bản chất, chức năng của Nhà nước quyết định bản chất, chức năng củaNSNN Hoạt động của NSNN, thực chất là hoạt động của Nhà nước trên lĩnhvực tài chính Chức năng của NSNN phải có nhiệm vụ thống nhất tập hợp cáckhoản thu và các khoản chi, sự thống nhất đó thể hiện cả hệ thống ngân sách,nghĩa là luôn giữ vững mối quan hệ và loại bỏ sự tuỳ tiện giữa thu và chi ngânsách trong phạm vi thời gian ấn định không tách rời nhau
Việc tập hợp cân đối thu, chi ngân sách là vấn đề có ý nghĩa quan trọngtrong lĩnh vực tài chính quốc gia; thông qua đó mà thực hiện kiểm tra, giámsát việc thu, chi ngân sách có đúng luật định và hiệu quả hay không Từ đó ta
có thể kết luận chức năng của NSNN là:
- Huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo dựtoán nhà nước
- Thực hiện cân đối giữa khoản thu và các khoản chi (bằng tiền) củaNhà nước
Vai trò của NSNN được xác định trên cơ sở các yêu cầu thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ của Nhà nước tùy theo từng thời kỳ phát triển kinh tế và cơchế quản lý tương ứng với từng thời kỳ đó
Trang 30Trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung,công cụ tài chính không phát huy được vai trò và vị trí của mình Công tác tàichính luôn ở thế bị động và nặng về hành chính, các quan hệ tài chính chỉ chủyếu tác động trong phạm vi hẹp, nguồn tài chính mang tính chất đơn điệu chủyếu là quan hệ thu, chi trong phạm vi tài chính nhà nước với nét đặc trưng làquan hệ giao nộp, cấp phát.
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bên trong kếtcấu của nó, ngoài việc tổ chức một cách khoa học, thì những công cụ tàichính, tiền tệ, kế hoạch, luật pháp được coi là những công cụ điều chỉnh cơbản và quan trọng Vai trò của NSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống tàichính, là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện điều hành vĩ mô và toàn
bộ đời sống kinh tế - xã hội Mục tiêu của NSNN không phải để Nhà nước đạtđược lợi nhuận như các doanh nghiệp và cũng không phải để bảo vệ vị trí củamình trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường NSNN ngoài việc duy trì sựtồn tại của bộ máy Nhà nước còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội
để tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động Cụ thể:
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các hoạt động thu, chi củaNSNN:
Thông qua chính sách thuế, Nhà nước có thể tác động nhằm khuyếnkhích, mở rộng sản xuất, góp phần thực hiện vai trò định hướng đầu tư, điềuchỉnh cơ cấu nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực, kích thích hoặc hạnchế sản xuất kinh doanh Các chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp công ích đã tạo điều kiện
hỗ trợ cho sự phát triển doanh nghiệp và góp phần điều chỉnh hoạt động kinh
tế - xã hội giữa các vùng, miền đảm bảo hợp lý hơn
Thông qua hoạt động chi đầu tư của NSNN cho xây dựng kết cấu hạtầng như xây dựng giao thông, thủy lợi, điện, nước, truyền thông, nhà nước đã
Trang 31tạo được kết cấu hạ tầng thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh Vớiviệc dành vốn đầu tư hợp lý để hình thành các doanh nghiệp then chốt, mũinhọn, ngân sách còn có tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theongành và vùng lãnh thổ, giải quyết công ăn, việc làm và cuối cùng tác độngđến tăng trưởng kinh tế và là một biện pháp quan trong giúp nhà nước chốngđộc quyền.
- Đảm bảo công bằng xã hội: Về mặt xã hội, NSNN có một vai trò hếtsức quan trọng là từ nguồn thu huy động được, NSNN chi đầu tư và phânphối thông qua dự toán chi NSNN cho các ngành và mọi lĩnh vực xã hội, đảmbảo cho Nhà nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình
Mọi hoạt động của Chính phủ đều được thực hiện thông qua các khoảnchi tiêu công cộng Tất cả các khoản chi tiêu đó đều đòi hỏi một sự phân bổlại các nguồn lực từ các cách sử dụng tư nhân sang sử dụng của Chính phủ Vìthế, tất cả các khoản chi tiêu công cộng đều có ảnh hưởng đến các biến sốkinh tế và chính trị quan trọng Có thể nói NSNN chi phối toàn bộ đời sốngkinh tế - xã hội từ hành vi tiêu dùng, thu nhập cho đến các vấn đề kinh tế, xãhội; quan hệ chi tiêu liên quan đến mọi lĩnh vực như chi cho hoạt động của bộmáy nhà nước, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, chi cho giáo dục, y
tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ cho các đối tượng chính sách và chicho nhiệm vụ xã hội khác
Bảng 1.1 : Tỷ trọng chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển
trong tổng chi ngân sách hàng năm
Đơn vị: %
1 Chi đầu tư phát triển 28.7 27.4 26.4 32.3 26.1
2 Chi thường xuyên 52.5 53.8 55.7 54.1 58.2
Nguồn : Bộ Tài chính2010
Trang 32Chi thường xuyên để duy trì bộ máy nhà nước và chi phục vụ cho đầu
tư phát triển luôn chiếm tỷ trọng lớn trong chi NSNN Quan hệ chi tiêuNSNN tỷ lệ tương quan giữa các nhóm, giữa các khoản mục chi tiêu, tốc độtăng, giảm, chi thứ tự của ưu tiên cấp phát chi không những chỉ phản ánhvấn đề có quan hệ kinh tế quan trọng mà còn có ý nghĩa giai cấp, dân tộc vàcác vấn đề chính trị, xã hội
- Ổn định giá cả thị trường và chống lạm phát: Về mặt kinh tế, bằng cáccông cụ thu và các chính sách chi ngân sách đã làm thay đổi giá cả tương đốigiữa các hàng hoá, do đó làm thay đổi quyết định của cá nhân trong việc sửdụng các nguồn lực Mối quan hệ giữa giá cả, thuế và dự trữ nhà nước có ảnhhưởng sâu sắc tới tình hình thị trường Trong trường hợp thị trường có biếnđộng mạnh về giá cả, để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng Nhà nước sửdụng nguồn dự trữ hàng hóa và tài chính để ổn định, điều hòa quan hệ cung -cầu, bình ổn sản xuất kinh doanh Nguồn dự trữ này hình thành từ kinh phícấp phát của NSNN
1.1.2 Tổ chức hành chính và hệ thống ngân sách nhà nước tại Việt Nam.
1.1.2.1 Tổ chức hành chính.
Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đơn vị hành chính gồm 63 tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương; tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trungương được chia thành nhiều quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc (hiện naytrên toàn quốc có khoảng hơn 700 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh); tạimỗi quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh được chia thành nhiều xã, phường,thị trấn (hiện có gần 12.000 xã, phường, thị trấn) Trong từng đơn vị hành chínhnói trên theo quy định Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đều
có các cơ quan quyền lực do dân bầu và cơ quan hành chính nhà nước
Cơ quan quyền lực cao nhất ở Việt Nam là Quốc hội Cơ quan quyềnlực của các cấp chính quyền địa phương là Hội đồng nhân dân (HĐND)
Trang 33Quốc hội và HĐND các cấp đều có thẩm quyền quyết định ngân sách và phân
bổ ngân sách Quốc hội quyết định NSNN và phân bổ ngân sách trung ương;HĐND quyết định ngân sách địa phương và phân bổ ngân sách cấp mình
Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Quốc gia là Chính phủ,Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ có chức năng thốngnhất quản lý, thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốcphòng an ninh và đối ngoại của Nhà nước Ủy ban nhân dân các cấp là cơquan hành chính nhà nước của địa phương, có chức năng quản lý, thực hiệncác nhiệm vụ kinh tế, xã hội, trên địa bàn được phân cấp Về ngân sách,Chính phủ, UBND các cấp thực hiện việc lập dự toán, phân bổ ngân sách vàquyết toán ngân sách trình Quốc hội, HĐND các cấp; công tác tổ chức điềuhành thực hiện ngân sách đã được Quốc hội, HĐND các cấp quyết định
Như vậy, tại trung ương thì Chính phủ và Quốc hội, còn tại cấp chínhquyền địa phương thì UBND các cấp có vai trò quan trọng trong việc xâydựng, quyết định, phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách
và ngân sách địa phương Còn tại những quốc gia có mô hình tổ chức nhànước theo hình thức liên bang thì hệ thống ngân sách gồm ngân sách liênbang, ngân sách bang và ngân sách địa phương
Ở Việt Nam theo quy định của Luật NSNN, hệ thống ngân sách nhànước bao gồm bốn cấp ngân sách tương ứng với bốn cấp chính quyền Nóicách khác, hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách của cấp chính
Trang 34quyền trung ương (ngân sách trung ương) và ngân sách các cấp chính quyềnđịa phương (ngân sách địa phương) Ngân sách địa phương bao gồm:
- Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương ( gọi chung làngân sách cấp tỉnh)
- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung làngân sách cấp huyện)
- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).Trong hệ thống ngân sách nhà nước của Việt Nam, các cấp ngân sáchkhông độc lập mà lồng ghép, ngân sách cấp dưới là bộ phận của ngân sáchcấp trên, cấp trên quyết định cả ngân sách cấp dưới và giao nhiệm vụ thu, chicho ngân sách cấp dưới (Quốc hội quyết định ngân sách nhà nước và phân bổNSTW, tức là Quốc hội quyết định cả ngân sách trung ương và ngân sách địaphương Tương tự đối với NSĐP, Hội đồng nhân dân quyết định ngân sáchđịa phương và phân bổ ngân sách cấp mình) Trong đó ngân sách trung ươnggiữ vai trò chủ đạo, chi phối đối với toàn bộ hệ thống, là trung tâm điều hòahoạt động ngân sách của các địa phương Trên thực tế, ngân sách trung ươngtập trung toàn bộ nguồn tài chính chủ yếu của quốc gia và đảm bảo các nhucầu chi tiêu có tính chất huyết mạch của cả nước Ngân sách trung ương baogồm ngân sách các đơn vị dự toán của cấp này Mỗi Bộ, mỗi cơ quan trungương là một đơn vị dự toán của các ngân sách trung ương
Ngân sách trung ương bao gồm các đơn vị dự toán của cấp này, mỗi bộ,mỗi cơ quan trung ương là một đơn vị dự toán của ngân sách trung ương.Ngân sách trương ương là ngân sách của cả nước mà Chính phủ là chủ thểtrực tiếp quản lý, đồng thời là trung tâm điều hoà của ngân sách địa phương.Ngân sách trung ương tập trung các nguồn lực tài chính cơ bản để đáp ứngnhiệm vụ chi lớn trên phạm vi cả nước, NSTW giữ vai trò chủ đạo và thể hiện
sự quản lý của nhà nước theo ngành kinh tế Sở dĩ NSTW có vai trò quan
Trang 35trọng như vậy là bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền trung ương đượcHiến pháp quy định đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xãhội của đất nước Ngân sách trung ương thực hiện việc cấp phát kinh phí choyêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trung ương và là trungtâm điều hoà hoạt động ngân sách của địa phương
Ngân sách địa phương phản ánh sự quản lý của nhà nước theo vùnglãnh thổ Ngân sách địa phương là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của cáccấp chính quyền bên dưới, mỗi cấp ngân sách ở địa phương được tổ chức phùhợp với mỗi cấp chính quyền ở địa phương ấy và phải phù hợp với địa giớihành chính các cấp Ngoài ngân sách xã chưa có đơn vị dự toán, các cấp ngânsách khác đều bao gồm một số đơn vị dự toán của cấp ấy hợp thành Cụ thể:
- Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảothực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chínhquyền cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương Và để phù hợp với chứcnăng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụđược giao, chính quyền cấp tỉnh cần chủ động, sáng tạo trong việc động viênkhai thác các thế mạnh trên địa bàn tỉnh để tăng nguồn thu, đảm bảo chi vàthực hiện cân đối ngân sách cấp mình
- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, bao gồmngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn phản ánh nhiệm
vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lýtoàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền cấp huyện
- Cấp xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở do đó ngân sáchcấp này có tầm quan trọng đặc biệt và cũng có đặc thù riêng: nguồn thu đượckhai thác trực tiếp trên địa bàn và nhiệm vụ chi cũng được bố trí để phục vụcho mục đích trực tiếp của cộng đồng dân cư trong xã mà không thông quamột khâu trung gian nào Như vậy, ngân sách xã là cấp ngân sách cơ sở trong
Trang 36hệ thống NSNN, đảm bảo điều kiện tài chính để chính quyền xã chủ độngkhai thác các thế mạnh về đất đai, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nôngthôn mới, thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn.
Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống ngân sách nhà nước
Trong hệ thống ngân sách Nhà nước ta, ngân sách trung ương chi phốiphần lớn các khoản thu và chi quan trọng, còn ngân sách địa phương chỉ đượcgiao nhiệm vụ đảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phương Quan
hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc sau:
Ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phươngđược phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể Thực hiện việc bổ sung
từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng, pháttriển cân đối giữa các vùng, các địa phương Số bổ sung này là khoản thucủa ngân sách cấp dưới Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên uỷquyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vị chithuộc chức năng của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trêncho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó Ngoài việc bổ sungnguồn thu và uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi, không được dùng ngân sáchcấp này để chi cho nhiệm vụ của ngân sách cấp khác trừ trường hợp đặcbiệt theo quy định của Chính phủ
NS Nhà nước
Trang 371.1.2.3 Quy trình ngân sách nhà nước.
Quá trình từ khi hình thành ngân sách cho tới khi kết thúc gắn với mộtthời gian cụ thể, thường là một năm để chuyển sang ngân sách mới được gọi
là quy trình ngân sách và bao gồm các bước: lập NSNN, chấp hành NSNN vàquyết toán NSNN
Lập NSNN là bước đầu tiên và là một trong những nội dung quan trọng nhất của quy trình ngân sách, lập NSNN là dự toán các khoản thu, chi của
ngân sách trong một năm ngân sách Trong giai đoạn này các vấn đề về nhucầu chi, kế hoạch thu ngân sách, chính sách vay nợ và tiền tệ cho năm sauđược xem xét, quyết định
Yêu cầu đặt ra cho công tác lập dự toán NSNN là phải phản ánh đầy đủ,tổng hợp những yêu cầu cơ bản về chi cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
an ninh quốc phòng và những yêu cầu về mặt tài chính của bộ máy nhà nước.Những căn cứ để lập dự toán NSNN hàng năm:
- Chiến lược và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ bảo đảmquốc phòng - an ninh; chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch và nhữngchỉ tiêu phản ánh quy mô nhiệm vụ, tình hình kinh tế - xã hội của quốc gia vàcủa từng vùng, từng khu vực Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xâydựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm sau; Thông
tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự toán ngân sách và văn bảnhướng dẫn của các bộ
- Các quy định về chế độ thu; tiêu chuẩn, định mức trong chi ngân sách;các cơ chế, chính sách hiện hành làm cơ sở lập dự toán chi NSNN năm, trongtrường hợp cần phải điều chỉnh cơ chế chính sách liên quan phải được nghiêncứu và ban hành trước thời điểm lập dự toán NSNN
- Những quy định về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và phân cấpngân sách như tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu
Trang 38- Số kiểm tra về dự toán ngân sách do cơ quan có thẩm quyền thông báo.
- Tình hình dự toán ngân sách các năm trước
Theo quy định hiện hành, trước khi năm ngân sách bắt đầu Bộ Tàichính thông báo về yêu cầu và nội dung lập dự toán thu, chi ngân sách chonăm tới Các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn ở địa phương căn cứvào nhiệm vụ cấp mình và hướng dẫn của Bộ Tài chính để lập dự toán NSNN
Cụ thể Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh thông báo và hướng dẫn cho UBNDhuyện và xã để tổ chức lập dự toán cấp mình Cơ quan tài chính các cấp cónhiệm vụ làm việc với UBND cấp dưới, các cơ quan, đơn vị cùng cấp về dựtoán ngân sách; có quyền yêu cầu bố trí lại những khoản thu, chi trong dựtoán chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn, chưa hợp lý, chưa tiết kiệm, chưa phù hợpvới khả năng ngân sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội
UBND hướng dẫn, tổ chức và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, chínhquyền cấp dưới lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý; trìnhHội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp quyết định dự toán ngân sách địaphương (NSĐP) và phương án phân bổ ngân sách cấp mình; báo cáo cơ quanhành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên dự toán NSĐP và kết quảphân bổ dự toán ngân sách cấp mình đã được HĐND cùng cấp quyết định
Căn cứ vào các định mức, tiêu chuẩn, cũng như điều kiện cụ thể củamình, các đơn vị và cơ quan lập dự toán thu, chi tài chính, gửi cho Bộ Tàichính Sau khi nhận được tài liệu của các đơn vị, cơ quan, Bộ Tài chính tiếnhành tổng hợp, tổ chức thảo luận ngân sách và lập ngân sách cho năm tài chínhtới để báo cáo Chính phủ, kèm theo thuyết minh và những vấn đề cần thiết
Việc xem xét và thảo luận ngân sách được tiến hành tại kỳ họp Quốchội; sau khi thảo luận và thông qua, Quốc hội sẽ ra nghị quyết về việc phêchuẩn ngân sách, nghị quyết này trở thành văn bản luật, mọi tổ chức và cánhân đều có nghĩa vụ chấp hành
Trang 39Chấp hành NSNN là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế,
tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong dự toánNSNN trở thành hiện thực Chấp hành ngân sách được thực hiện khi nămngân sách bắt đầu và ngân sách được triển khai; nội dung chủ yếu là tổ chứcthu, quản lý nguồn thu NSNN và cấp phát kinh phí của NSNN
- Đối với công tác chấp hành thu ngân sách bao gồm một số nội dung chủyếu là: Trên cơ sở kế hoạch thu đã được Quốc hội thông qua, căn cứ vào tìnhhình thực tế sản xuất kinh doanh, tình hình kinh tế xây dựng kế hoạch thu hàngquý, hàng tháng Đồng thời phân bổ, giao nhiệm vụ thu cho từng ngành, từngđơn vị và cho từng cán bộ làm công tác thu nộp Tổ chức các biện pháp kinh tế,tài chính, các biện pháp, các nghiệp vụ nhằm hoàn thành kế hoạch thu NSNN
- Một số nội dung chủ yếu của chấp hành chi ngân sách: Bao gồm xáclập quỹ cấp phát NSNN theo những mục tiêu mà kế hoạch chi đã đặt ra nhằmđảm bảo tính chủ động trong quá trình cấp phát; Kiểm soát chi, tình hình tồnquỹ ngân sách đề xuất các biện pháp giải quyết Cơ quan tài chính có tráchnhiệm thường xuyên kiểm tra tình hình sử dụng nguồn vốn của ngân sách đốivới các cấp, các ngành, các đơn vị nhằm làm cho việc sử dụng nguồn vốn củangân sách đúng mục đích, tiết kiệm đạt hiệu quả cao
Quyết toán NSNN là bước cuối cùng trong quy trình NSNN Thông qua
bản quyết toán NSNN hàng năm có thể cho ta thấy bức tranh toàn cảnh hoạtđộng kinh tế - xã hội của Nhà nước trong năm, tình hình hoạt động NSNN với
tư cách là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước Từ đó rút ra kinh nghiệmtrong việc quản lý điều hành NSNN
Các đơn vị dự toán các cấp I, II, III và đơn vị dự toán cấp dưới của cấp III, cơ quan tài chính các cấp; KBNN; cơ quan thu đều là đối tượng thựchiện kế toán NSNN Trình tự lập, phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán thu,chi NSNN hàng năm của ngân sách các cấp chính quyền địa phương như sau:
Trang 40- Ban Tài chính xã có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán thu, chi ngânsách hàng năm của xã trình UBND xã, UBND xã trình HĐND xã phê chuẩnxem xét để gửi Phòng Tài chính huyện.
- Phòng Tài chính huyện có trách nhiệm thẩm tra báo cáo quyết toánthu, chi ngân sách xã; lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện;tổng hợp báo cáo thu NSNN trên địa bàn huyện; quyết toán thu, chi ngân sáchhuyện (gồm thu, chi ngân sách cấp huyện và thu, chi ngân sách xã) trìnhUBND huyện, UBND huyện trình HĐND huyện phê chuẩn xem xét để gửi
Sở Tài chính - Vật giá
- Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm thẩm tra báo cáo quyết toán thu,chi ngân sách huyện; lập báo cáo thu NSNN trên địa bàn tỉnh và báo cáoquyết toán thu, chi ngân sách tỉnh (bao gồm: thu, chi ngân sách cấp tỉnh; thu,chi ngân sách cấp huyện) trình UBND, UBND tỉnh trình HĐND tỉnh phê chuẩnxem xét để gửi Bộ Tài chính và gửi cơ quan kiểm toán nhà nước khu vực
Công tác kiểm tra, kiểm toán, công tác kế toán ngân sách được thựchiện thường xuyên, các báo cáo quyết toán thu, chi đơn vị ngân sách của đơn
vị dự toán các cấp và báo cáo quyết toán ngân sách của các cấp chính quyềntrước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn, phải được cơquan kiểm toán nhà nước kiểm toán
1.1.3 Phân cấp ngân sách nhà nước.
1.1.3.1 Khái niệm, nội dung của phân cấp ngân sách.
Tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta được thực hiện dựa trên nguyêntắc tập trung dân chủ, vừa đảm bảo quyền lực nhà nước tập trung ở trungương nhưng đồng thời cũng tạo quyền chủ động cho địa phương Phân cấpngân sách cũng không nằm ngoài mục đích đó, nó là sự cụ thể hóa nguyên tắctập trung dân chủ trong hoạt động của bộ máy nhà nước
Mối quan hệ cơ bản và quan trọng nhất trong phân cấp ngân sách đó làphân cấp giữa cấp chính quyền trung ương với chính quyền địa phương và