1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố long xuyên, tỉnh an giang giai đoạn 2005 2010

56 258 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 661,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạo điều kiện cho người lao động có việc làm, một mặt nhằm phát huy được tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ở nước ta cho sự phát triển kinh tế - xã hội, mặt khác là hướng cơ bản để xó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ KIM NGÂN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG GIAI ĐOẠN 2005 -2010

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Khóa học: 2008-2012

AN GIANG, 2012

Trang 2

Mục Lục

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài: 3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài: 4

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: 5

3.1 Mục đích: 5

3.2 Nhiệm vụ: 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 6

5 Phương pháp nghiên cứu: 6

6 Đóng góp của đề tài: 6

7 Kết cấu: 7

PHẨN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm 7

Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010 7

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO 8

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm 9

1.1 Khái quát về việc làm và giải quyết việc làm, thất nghiệp 9

1.1.1 Khái niệm việc làm 9

1.1.2 Khái niệm giải quyết việc làm 12

1.1.3 Khái niệm thất nghiệp 14

1.1.4 Quan niệm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về lao động việc làm…… … 16

1.1.5 Quan niệm của Đảng ta về vấn đề lao động, việc làm 16

1.2 Ảnh hưởng của việc tạo việc làm đến việc sử dụng nguồn nhân lực… 17

1.2.1 Tầm quan trọng của tạo việc làm đến việc sử dụng nguồn nhân lực ……… 17

1.2.2 Sự cần thiết phải tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động 21

Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010 22

2.1 Giới thiệu chung về thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 22

2.1.1 Kinh tế 22

2.1.2 Chính trị 24

2.1.3 Xã hội 25

2.2 Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010 27

2.2.1 Thực trạng giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010 27

Trang 3

2.2.1.1 Công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện 27

2.2.1.2 Đào tạo nghề 30

2.2.1.3 Giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động 34

2.2.1.4 Đánh giá chung 39

2.2.1.4.1 Những mặt mạnh 39

2.2.1.4.2 Những mặt còn hạn chế 41

2.2.1.4.3 Những kinh nghiệm 42

2.2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010 và những năm tiếp theo 43

2.2.2.1 Về phía chính phủ: 43

2.2.2.2 Về phía lãnh đạo tỉnh An giang: 44

2.2.2.3 Về phía lãnh đạo thành phố Long Xuyên: 45

2.2.2.4 Về công tác đào tạo nghề: 46

2.2.2.5 Về công tác giải quyết việc làm: 49

2.2.2.6 Về công tác xuất khẩu lao động: 51

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 4

Đề tài: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,

TỈNH AN GIANG TRONG GIAI ĐOẠN 2005 - 2010

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Việc làm là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm lớn của toàn nhân loại, của hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Việt Nam trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường

có sự điều tiết của Nhà nước đã đạt được những kết quả nhất định trong phát triển kinh tế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong một số năm, giải quyết tốt vấn đề về lương thực Tuy nhiên Việt Nam cũng còn phải đối phó với những thách thức to lớn trong quá trình phát triển Một trong những thách thức

đó là tỷ lệ thất nghiệp cao, nhu cầu về việc làm đang tạo lên sức ép to lớn đối với nền kinh tế Thúc đẩy mục tiêu tạo việc làm đầy đủ cho mọi người, nam cũng như nữ, để tạo thu nhập và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống

là ưu tiên số một trong chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta

Ngày nay, quan niệm về "phát triển" được hiểu một cách đầy đủ là:

tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội; phải xóa đói, giảm nghèo, giảm thiểu thất nghiệp, đảm bảo được công bằng xã hội Bởi vì, trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng ta luôn lấy con người làm trung tâm, coi phát triển con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Ở nước ta vấn

đề việc làm cho người lao động được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: "Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân" Tạo điều kiện cho người lao động có việc làm, một mặt nhằm phát huy được tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ở nước ta cho sự phát triển kinh tế - xã hội, mặt khác là hướng cơ bản để xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả, là cơ sở để cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục đi lên Đặc biệt trong điều kiện nước ta tài nguyên, đất đai không nhiều, nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất còn nghèo, đang trong quá trình tiếp cận với nền kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa

Trang 5

Việc ưu tiên hàng đầu cho đầu tư phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người là đầu tư có hiệu quả nhất để tăng trưởng và phát triển kinh tế, là con đường ngắn nhất để đi tắt, đón đầu, chống nguy cơ tụt hậu và chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Giải quyết việc làm cần được hiểu theo nội dung mới là không chỉ đơn thuần trong phạm vi chính sách xã hội và cũng không chỉ đơn thuần là thanh toán nạn thất nghiệp Giải quyết việc làm bao gồm cả một hệ thống vấn đề: tạo điều kiện cho công dân được giáo dục đào tạo và chuẩn bị tốt hơn để bước vào lập thân, lập nghiệp, được hưởng quyền lợi làm việc, tự do lao động, sáng tạo và hưởng thụ thành quả chính đáng, được bảo vệ về quyền sở hữu trí tuệ và vật chất do mình làm ra theo đúng pháp luật, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, mưu cầu hạnh phúc cho bản thân và cống hiến cho cộng đồng

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay, hơn lúc nào hết, nguồn nhân lực được đặt vào vị trí xứng đáng - là nguồn lực cơ bản nhất, quyết định nhất đối với các nguồn lực khác (vốn, khoa học - công nghệ, tài nguyên ) Có thể nói, vấn đề khó khăn nhất hiện nay là muốn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải áp dụng khoa học công nghệ vào nền sản xuất xã hội, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Song, điều đó đang đứng trước thách thức lớn về việc làm Vì vậy, vấn đề việc làm được đặt ra không chỉ là một yêu cầu cấp bách, mà còn là chiến lược an toàn việc làm, không chỉ

về kinh tế mà còn là vấn đề chính trị - xã hội, là một vấn đề trong tổng thể các vấn đề chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta Long Xuyên có diện tích tự nhiên là 106, 87 km2, Long Xuyên có dân số khoảng 350.000 người (2007)

Vì vậy, nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên nhằm đánh giá đúng đắn thực trạng, tìm ra phương hướng và những giải pháp hữu hiệu để sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn lao động của thành phố là một đòi hỏi bức xúc có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn Do đó, tôi chọn đề tài "Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 - 2010" làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Việc làm là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của các quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng Ở nước ta, từ những năm 90

Trang 6

của thế kỷ XX trở lại đây, liên quan đến chủ đề luận văn đã có nhiều công trình khoa học, nhiều nhà nghiên cứu có bài viết xoay quanh vấn đề này, tiêu biểu như:

- Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của TS Nguyễn Hữu Dũng,

TS Trần Hữu Trung (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997);

- Ảnh hưởng của nền kinh tế tri thức với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam

của GS.TS Đỗ Thế Tùng (Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 6-2002);

- Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và phát triển của thạc sĩ

Nguyễn Thị Lan Hương (Nxb Lao động - xã hội, 2002);

- Lao động việc làm những bước tiến quan trọng của Nguyễn Thị Hằng (Tạp

chí Cộng sản, số 23 - 8/2003);

- Một số vấn đề lao động, việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam

hiện nay do thạc sĩ Đinh Đặng Định chủ biên (Nxb Lao động, Hà Nội, 2004);

- Vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam từ đổi mới đến nay của GS.TS

Phạm Đức Thành, PGS.TS Phạm Quý Thọ, ThS Thang Mạnh Hợp (Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 298 - 12/2003);

Ngoài ra, cũng có một số đề tài luận văn thạc sĩ viết về vấn đề việc làm như ở một số tỉnh: Đồng Nai, Hà Tĩnh, Kiên Giang, Thái Bình ; ở thành phố Long Xuyên dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị đến nay chưa có công trình nào viết về vấn đề này dưới dạng nghiên cứu khoa học để tìm ra các giải pháp đồng bộ, hữu hiệu cho giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên Như vậy, việc nghiên cứu đề tài " Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 -

2010 " dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị là cần thiết, có ý nghĩa khoa học

Trang 7

- Đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 –

2010

3.2 Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu thực trạng việc giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010

- Đề tài tập trung vào các vấn đề có tính trọng điểm: giải quyết việc làm

ở địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2005 đến năm 2010, xây dựng một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả vấn đề giải quyết việc làm thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong thời gian từ nay đến năm 2015

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đề tài chủ yếu nghiên cứu và làm rõ thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010

5 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở nghiên cứu

- Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các phương pháp luận phổ biến và đặc thù của chuyên ngành như: phương pháp đối chiếu và phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra, phương pháp hệ thống và cấu trúc, phương pháp tổng hợp Đồng thời khảo sát thực tế, sưu tập tư liệu, số liệu, tình hình về lao động việc làm từ các cơ quan nghiên cứu, quản lý như: UBND, Sở Lao động - thương binh và xã hội, thành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, kết hợp tranh thủ ý kiến của các "chuyên gia" trong lĩnh vực này

6 Đóng góp của đề tài:

Trang 8

- Đề tài nhằm làm rõ thực trạng giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010

1.1 Khái quát về việc làm và giải quyết việc làm, thất nghiệp

1.1.1 Khái niệm việc làm

1.1.2 Khái niệm giải quyết việc làm

1.1.3 Khái niệm thất nghiệp

1.1.4 Quan niệm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về lao động việc làm 1.1.5 Quan niệm của Đảng ta về vấn đề lao động, việc làm

1.2 Ảnh hưởng của việc tạo việc làm đến việc sử dụng nguồn nhân lực

1.2.1 Tầm quan trọng của tạo việc làm đến việc sử dụng nguồn nhân lực

1.2.2 Sự cần thiết phải tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động

Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010

2.1 Giới thiệu chung về thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

2.1.1 Kinh tế

2.1.2 Chính trị

2.1.3 Xã hội

Trang 9

2.2 Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010

2.2.1 Thực trạng giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh

An Giang giai đoạn 2005 – 2010

2.2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về việc làm và giải quyết

việc làm 1.1 Khái quát về việc làm và giải quyết việc làm, thất nghiệp

1.1.1Khái niệm việc làm

Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ: “việc làm là gì? ” Ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp…) người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau Chính vì thế không

có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm

Có ý kiến cho rằng, việc làm là một phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần của xã hội Như vậy theo quan điểm này chỉ khi

có sự phù hợp về số lượng của hai yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất thì ở

đó có việc làm Với cách hiểu việc làm như khái niệm trên thì chưa thật toàn diện Bởi vì còn một yếu tố thứ ba rất quan trọng đó là điều kiện lao động Nếu điều kiện lao động không đảm bảo thì quá trình lao động cũng không thể diễn

ra được Ở đây con người là động lực, là trung tâm của sự phát triển xã hội, với sức lực của mình là thể lực và trí lực, con người chỉ có thể tham gia đóng góp cho sự phát triển xã hội thông qua quá trình làm việc, quá trình làm việc này được thể hiện qua hai yếu tố chủ quan và khách quan đó là sức lao động của người lao động và tất cả các điều kiện tối thiểu cần thiết để người lao động

sử dụng sức lao động của họ tác động lên tư liệu sản xuất và tạo ra sản phẩm

xã hội Quá trình kết hợp sức lao động và các điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động là quá trình người lao động làm việc Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động trong sản xuất được gọi là việc làm

Trong điều 13 Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều đuợc thừa nhận là việc làm.”[1, tr14] Các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm: làm các công việc được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật; công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình mình nhưng không được trả công cho công việc đó

Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức:

Trang 11

+ Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó

+ Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó

+ Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc 1 thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý

Khái niệm trên nói chung là khá bao quát và thể hiện đầy đủ các yếu tố

cơ bản của việc làm tuy nhiên chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản Hạn chế thứ nhất: hoạt động nội trợ không được coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ Hạn chế thứ hai: khó có thể so sánh tỉ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán,…Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi đó là việc làm nhưng ở quốc gia khác lại bị cấm Ví dụ: đánh bạc ở Việt Nam bị cấm nhưng ở Thái Lan, Mỹ đó lại đựơc coi là một nghề thậm chí là rất phát triển vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu

Trong cuộc tổng điều tra thực trạng lao động và việc làm năm 1996, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra: đang

có việc làm để nhận tiền công, tiền lương; đang làm việc nhưng không được hưởng tiền trong các công việc kinh doanh của hộ gia đình mình hoặc đã có công việc trước đó song tuần lễ trước điều tra tạm thời nghỉ việc sau đó sẽ tiếp tục làm việc

Ở Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là khi người có việc làm trong các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa như quốc doanh, tập thể Với cơ chế đó thì xã hội không thừa nhận thiếu việc làm cũng như thất nghiệp Ngày nay các quan niệm về việc làm đã ngày càng được hiểu rộng hơn, đúng đắn và mang tính khoa học nhiều hơn

Tuỳ theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm

thành nhiều loại

Trang 12

Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc thì có việc làm chính và việc làm phụ

+ Việc làm chính: là việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian

nhất hay có thu nhập cao nhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật

+ Việc làm phụ: là việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian

nhất sau công việc chính

Ngoài ra, người ta còn chia việc làm thành việc làm bán thời gian, việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả, …

Khi nghiên cứu việc làm ta phải tìm hiểu các đặc trưng của việc làm Đó chính

là việc tìm hiểu cơ cấu hoặc cấu trúc dân số có việc làm theo các tiêu chí khác nhau nhằm làm rõ các khía cạnh của vấn đề việc làm Bao gồm có:

+ Cấu trúc dân số có việc làm theo giới và tuổi:

Cho biết trong số những người có việc làm thì tỉ lệ nam, nữ là bao nhiêu; độ tuổi nào là lực lượng lao động chính (chiếm phần đông trong lực lượng lao động)

+ Sự thay đổi quy mô việc làm theo vùng (nông thôn- thành thị):

Cho biết khả năng tạo việc làm ở hai khu vực này cũng như tiềm năng tạo thêm việc làm mới trong tương lai

+ Cơ cấu việc làm theo ngành kinh tế:

Cho biết ngành kinh tế nào trong nền kinh tế quốc dân có khả năng thu hút được nhiều lao động nhất ở hiện tại và tương lai; sự dịch chuyển lao động giữa các ngành này Trong nền kinh tế quốc dân ngành kinh tế được chia làm 3 khu vực lớn Khu vực I: ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, thủy sản; Khu vực II: ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, khai thác mỏ, năng lượng; Khu vực III: dịch vụ

+ Cơ cấu việc làm theo nghề:

Cho biết nghề nào hiện tại đang tạo ra được nhiều việc làm nhất và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai của người lao động

+ Cấu trúc việc làm theo thành phần kinh tế:

Cho biết hiện tại lực lượng lao động đang tập trung nhiều nhất trong thành phần kinh tế nào và xu hướng dịch chuyển lao động giữa các thành phần kinh

tế trong tương lai Thành phần kinh tế được chia dựa trên quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất

+ Trình độ văn hoá và đào tạo của dân số theo nhóm tuổi và giới tính, theo vùng:

Trang 13

Sự phân chia ở trên chỉ mang tính chất tương đối với mục đích để người đọc mường tượng được vấn đề Trong thực tế các đặc trưng trên luôn có tác động qua lại lẫn nhau.Ví dụ: ta có cấu trúc dân số có việc làm theo giới và tuổi ở khu vực thành thị; Cấu trúc dân số có việc làm theo giới và tuổi theo vùng, lãnh thổ…

1.1.2 Khái niệm giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm( tạo việc làm) là quá trình tạo ra số lượng và chất

lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động

Như vậy, muốn tạo việc làm cần 3 yếu tố cơ bản: tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện KTXH khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động Ba yếu tố này lại chịu tác động của nhiều yếu tố khác như:

+ Nhân tố điều kiện tự nhiên, vốn, công nghệ: là các tiền đề vật chất để tiến hành bất cứ một hoạt động sản xuất nào Điều kiện tự nhiên do thiên nhiên

ưu đãi Vốn do tích luỹ mà có hoặc được tạo ra từ các nguồn khác Công nghệ

do tự sáng chế hoặc áp dụng theo những công nghệ đã có sẵn Chẳng hạn như vốn đầu tư để mua sắm thiết bị máy móc, nhà xưởng mở rộng quy mô sản xuất

là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn Khi vốn đầu tư tăng thì tạo ra được nhiều chỗ làm việc mới và ngược lại đầu tư ít thì quy mô bị thu nhỏ lại kéo theo sự giảm đi về số lượng việc làm được tạo ra Nhân tố này cùng với sức lao động nói nên năng lực sản xuất của một quốc gia

+ Nhân tố bản thân người lao động trong quá trình lao động Bao gồm: thể lực, trí lực, kinh nghiệm quản lý, sản xuất của người lao động Người lao động có được những thứ này lại phụ thuộc vào điều kiện sống, quá trình đào tạo của giáo dục và tích luỹ kinh nghiệm của bản thân, sự kế thừa những tài sản đó từ các thế hệ trước

+ Cơ chế, chính sách kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia: Việc làm được tạo ra như thế nào, chủ yếu cho đối tượng nào, với số lượng dự tính bao nhiêu,… phụ thuộc vào cơ chế, chính sách KT-XH của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ cụ thể Vì khi các chính sách kinh tế phù hợp sẽ tạo điều kiện khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển làm cho cầu lao động tăng đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều chỗ làm mới

+ Hệ thống thông tin thị trường lao động: được thực hiện bởi chính phủ

và các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu tuyển dụng lao động thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, đài phát

Trang 14

thanh,…Các thông tin bao gồm thông tin về: sẽ học nghề ở đâu? nghề gì? khi nào? tìm việc ở đâu? Đồng thời cũng hệ thống được nhu cầu của thị trường về sản phẩm, tìm hiểu được nhu cầu thị hiếu đối với các sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất vì khi sản xuất ra còn ảnh hưởng không nhỏ đến việc tạo ra chỗ làm mới Nếu sản phẩm sản xuất ra được đưa ra thị trường đảm bảo cả về chất lượng và số lượng, mà thị trường chấp nhận Bởi vì sản phẩm tiêu thụ được sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, các doanh nghiệp các nhà xưởng sẽ mở rộng quy mô sản xuất của mình, đi đôi với mở rộng sản xuất là cầu về lao động tăng lên Ngược lại khi cầu về sản phẩm hàng hoá giảm sẽ làm ngừng trệ sản xuất, doanh nghiệp sẽ thu hẹp qui mô cũng như tốc độ sản xuất làm cho lao động không có việc làm và dẫn đến tình trạng thất nghiệp

Ngoài ra, dân số và lao động là hai vấn đề có quan hệ rất chặt chẽ với nhau, quy mô dân số càng lớn thì nguồn lao động càng nhiều và ngược lại khi nguồn lao động càng lớn lại là sức ép đối với công tác tạo việc làm cho người lao động bởi vì: Khi cung về lao động lớn sẽ tạo ra một lượng lao động dư thừa cần giải quyết việc làm Ngược lại khi cầu lao động lớn hơn cung lao động sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động tham gia vào các ngành kinh tế

Vì vậy tỉ lệ tăng dân số và nguồn nhân lực có ảnh hưởng đến vấn đề lao động

và tạo việc làm cho người lao động Trên thực tế tạo việc làm được phân loại như sau:

+ Tạo việc làm ổn định: Công việc được tạo ra cho người lao động mà tại chỗ làm việc đó và thông qua công việc đó họ có thu nhập lớn hơn mức thu nhập tối thiểu hiện hành và ổn định theo thời gian từ 3 năm trở lên Việc làm

ổn định luôn tạo cho người lao động một tâm lý yên tâm trong công việc để lao động hiệu quả hơn

Tạo việc làm không ổn định là: Công việc làm ổn định nhưng người thực hiện phải liên tục năng động theo không gian, thường xuyên thay đổi vị trí làm việc nhưng vẫn thực hiện cùng một công việc Hoặc công việc làm không ổn định mà người lao động phải thay đổi công việc của mình liên tục trong thời gian ngắn

Tạo việc làm là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất và sức lao động Tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động luôn là vấn đề bức xúc và quan trọng, nó mang mục đích ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với từng người lao động và toàn

xã hội

Mục đích của tạo việc làm nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế, tránh lãng phí nguồn lực xã hội Về mặt xã

Trang 15

hội tạo việc làm nhằm mục đích giúp con người nâng cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm được tình trạng thất nghiệp trong xã hội Không có việc làm là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, lừa đảo, nghiện hút giải quyết việc làm cho người lao động nhất là các thanh niên là hạn chế các tệ nạn xã hội do không có ăn việc làm gây ra và giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội đòi hỏi Về mặt kinh tế khi con người có việc làm sẽ thoả mãn được các nhu cầu thông qua các hoạt động lao động để thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần, ổn định và nâng cao đời sống của người lao động Việc làm hiện nay gắn chặt với thu nhập Người lao động không muốn làm ở những nơi có thu nhập thấp đó là một thực tế do nhu cầu đòi hỏi của xã hội Bởi vậy tạo điều kiện có việc làm cho người lao động thôi chưa đủ mà còn tạo việc làm gắn với thu nhập cao mang lại sự ổn định cuộc sống cho người lao động

Giải quyết việc làm, tạo việc làm cho người lao động có ý nghĩa giúp họ tham gia vào qua trình sản xuất xã hội cũng là yêu cầu của sự phát triển, là điều kiện cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của con người

1.1.3 Khái niệm thất nghiệp

Thất nghiệp là hiện tượng có sự tách rời, không phù hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất mà sức lao động lại gắn với từng con người cụ thể vì thế nên người thất nghiệp là người không có phương tiện để sản xuất và đang muốn tìm việc làm

Trong cuộc tổng điều tra thực trạng lao động và việc làm năm 1996, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã quy định như sau: “Người thất nghiệp là người từ độ tuổi từ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế trong thời kì điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc.”

Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm (từ Hán-Việt thất: mất mát, nghiệp: việc làm) Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp như sau:

Số người không có việc làm

Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x

Tổng số lao động xã hội

Trang 16

• Tử số: Không tính những người không cố gắng tìm việc

• Mẫu số: Tổng số lao động xã hội = Số người có việc làm + số người không có việc làm nhưng tích cực tìm việc

Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động nhưng không có việc làm, có khả năng lao động, hay nói cách khác là sẵn sàng làm việc và đang đi

tìm việc làm Thất nghiệp được chia thành nhiều loại:

- Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do di chuyển không ngừng của sức lao động giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống

- Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động, việc làm Sự không ăn khớp giữa số lượng và chất lượng đào tạo và cơ cấu về yêu cầu của việc làm, mất cân đối giữa cung và cầu lao động

- Thất nghiệp chu kỳ: Phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp và

không ổn định Những giai đoạn mà cầu lao động thấp nhưng cung lao động cao sẽ xảy ra thất nghiệp chu kỳ

* Ảnh hưởng của thất nghiệp đối với kinh tế và xã hội là không nhỏ cụ thể:

Nếu xét trên nền kinh tế quốc dân thì tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ, ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô.Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà cơ hội đầu

tư cũng ít hơn

Không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế giao tiếp với những người lao động khác, tiêu tốn thời gian vô nghĩa, không có khả năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu cũng như các hàng hóa tiêu dùng Yếu tố sau là vô cùng trầm trọng cho người gánh vác nghĩa vụ gia đình, nợ nần, chi trả chữa bệnh Những nghiên cứu cụ thể chỉ ra rằng, gia tăng thất nghiệp đi liền với gia tăng

tỷ lệ tội phạm, tỷ lệ tự tử, và suy giảm chất lượng sức khỏe

Cái giá khác của thất nghiệp còn là khi thiếu các nguồn tài chính và phúc lợi xã hội, cá nhân buộc phải làm những công việc không phù hợp với trình độ, năng lực Như vậy thất nghiệp gây ra tình trạng làm việc dưới khả năng

Trang 17

Một tỷ lệ thất nghiệp vừa phải sẽ giúp cả người lao động và chủ sử dụng lao động trong quá trình sản xuất Người lao động có thể tìm những cơ hội việc khác phù hợp với khả năng mong muốn và điều kiện cư trú Về phía giới chủ, tình trạng thất nghiệp giúp họ tìm được người lao động phù hợp, tăng

sự trung thành của người lao động

1.1.4 Quan niệm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về lao động việc làm

Theo quan điểm của Mác thì việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù

hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng sức lao động đó

Sức lao động do người lao động sở hữu Những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,… có thể do người lao động có quyền sở hữu,

sử dụng hay quản lý hoặc không Theo quan điểm của Mác thì bất cứ tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới sự thiếu việc làm hay mất việc làm

1.1.5 Quan niệm của Đảng ta về vấn đề lao động, việc làm

Chủ trương về tạo việc làm đã được Đại hội VIII nêu rõ: “khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật Phát triển dịch vụ việc làm, phân

bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại đẩy mạnh xuất khẩu Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm

ở nông thôn” [ 2, tr114 - 115] Đồng thời giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp là mục tiêu xã hội hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm là chương trình trọng yếu của Nhà nước Đảng

ta đã khẳng định: “giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh hóa xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” [ 2, tr148 ]

Trong kế hoạch 10 năm 2001-2010, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về việc phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam

là đặt con người vào vị trí trung tâm, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân

Trang 18

và cả cộng đồng dân tộc; kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân, coi phát triển kinh tế là cơ sở, là phương tiện và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, vừa là động lực, vừa tạo sự ổn định về chính trị xã hội làm cơ sở cho việc tăng trưởng kinh tế bền vững

Từ quan điểm giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhà nước và chỉ làm việc trong hai thành phần kinh tế cơ bản: Quốc doanh và Hợp tác xã trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, thì nay quan điểm của Đảng và Nhà nước ta có nhận thức hoàn toàn mới: Cùng với Nhà nước, mỗi công dân, mỗi gia đình, mỗi tổ chức đều có thể và được phép tạo mở việc làm, được làm việc trong các thành phần kinh tế bao gồm mọi hình thức tổ chức kinh doanh từ các doanh nghiệp lớn đến các loại quy mô vừa và nhỏ, kinh tế hộ gia đình, các hoạt động trong khu vực phi kết cấu

Nhà nước có định hướng rõ ràng chính sách phát triển nguồn nhân lực

Sự phát triển nhanh và bền vững phải bao trùm mọi mặt đời sống xã hội trong

đó kinh tế là trung tâm, tăng trưởng kinh tế phải gắn với thực hiện công bằng

và tiến bộ xã hội Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn là một trọng điểm trong thập kỷ tới, phát triển nền nông nghiệp hàng hoá khai thác phát triển lợi thế về điều kiện sinh thái phù hợp với nhu cầu thị trường tạo

sự chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng quỹ sử dụng thời gian lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn Phát huy trí tuệ con người thông qua phát triển giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đuổi kịp trình độ tiên tiến của cả nước và khu vực, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế

Tư tưởng nhất quán của Đảng coi: con người là chủ thể và là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển xã hội và sự nghiệp cách mạng Việt Nam; mọi quá trình phát triển kinh tế - xã hội phải hướng tới mục tiêu nhân văn cao

Trang 19

nhân lực và vốn, khoa học kỹ thuật Trong đó việc sử dụng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết định đến sự phát triển, tốc độ, quy mô của nền kinh

nghiệp hóa, hiện đại hóa là: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu

tố cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững” [ 4, tr85] và “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [ 2, tr21]

Tạo việc làm nhằm nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực thông qua các hướng sau:

Tạo việc làm và giải quyết việc làm nhằm phân bổ lao động một cách hợp lý, góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý đưa đến một hệ thống lao động phù hợp với cơ cấu hệ thống ngành nghề có sự phối hợp hài hoà giữa các bộ phận tổ chức, bố trí lao động phù hợp với đặc điểm tính chất của công việc sẽ nâng cao năng suất lao động cá nhân, giúp họ phát triển khả năng và sự sáng tạo của mình trong quá trình sản xuất phát triển

Tạo ra nhiều chỗ làm việc mới sẽ thu hút được nhiều lao động tham gia vào quá trình sản xuất xã hội và sẽ giải quyết các vấn đề mang tính xã hội như: nâng cao, cải thiện đời sống, hạn chế các hiện tượng, tâm lý tiêu cực trong xã hội

Tạo việc làm là một trong những động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vì khi các công việc được taọ mới bao giờ cũng đòi hỏi một chuyên môn kỹ thuật cao ở người lao động mà theo quy luật của quá trình tuyển dụng thì người ứng cử viên cũng phải có một trình độ tương đương bởi thế cho nên người luôn có xu hướng tích luỹ kiến thức, trình độ lành nghề cho chính mình để có cơ hội tham gia vào hoạt động kinh tế

Bối cảnh thế giới hiện nay đang có những thay đổi rất nhanh, hết sức phức tạp, khó lường, cộng với thảm họa thiên tai và xung đột quân sự đang diễn ra ở nhiều nơi Nhiều vấn đề toàn cầu như an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, dịch bệnh đòi hỏi phải giải quyết Khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức đang diễn ra mạnh mẽ đặt ra yêu cầu khách quan phải có nguồn nhân lực tương xứng với chất lượng cao Tất cả những vấn đề này đòi hỏi mỗi quốc gia phải có chiến lược khai thác tốt nhất mọi nguồn lực sẵn có, trong đó nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao chính là sức mạnh nội sinh và là nguồn lực quyết định nhất

Để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nguồn nhân lực ta không chỉ xem xét trên một khía cạnh nào đó mà phải nghiên cứu một cách tổng thể toàn

Trang 20

bộ các khía cạnh của nguồn nhân lực Các khía cạnh này được bao quát bởi nguồn dân số và thể hiện thông qua quy mô,cơ cấu, tốc độ tăng dân số:

Dân số là toàn bộ dân cư sống trên một địa bàn lãnh thổ xác định Quy

mô, cơ cấu và tốc độ tăng dân số có ảnh hưởng trục tiếp đến số lượng nguồn nhân lực và nó được thể hiện qua bởi chỉ tiêu tỷ lệ giữa nguồn nhân lực và dân

số Tỷ lệ này càng cao biểu hiện nguồn nhân lực về lao động càng lớn

Dân số Trong tuổi lao động Ngoài tuổi lao động Không có khả

năng lao động

Có khả năng lao động

Thực tế đang làm việc

Không có khả năng lao động Nguồn nhân lực

Sơ đồ cơ cấu nguồn lao động

Nguồn lao động là toàn bộ nhóm dân cư có khả năng lao động đã hoặc chưa tham gia vào các hoạt động sản xuất xã hội Bao gồm những người trong

độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong nền kinh tế

Quy mô nguồn lao động ở các quốc gia khác nhau thì khác nhau tuy nhiên nó đều phụ thuộc vào 3 yếu tố sau:

+ Quy mô phát triển dân số, dân số càng phát triển nhanh thì nguồn lao động càng lớn

+ Tỷ lệ nguồn lao động trong dân số

+Chế độ chính trị, xã hội, điều kiện tự nhiên của đất nước

Nguồn lao động được thể hiện khả năng lao động xã hội nói lên lực lượng xã hội trong sản xuất trong nền kinh tế quốc dân Nguồn lao động Việt Nam biểu hiện số lao động sản xuất ở các ngành kinh tế của Việt Nam Nguồn lao động bao gồm:

- Nguồn lao động có sẵn trong dân số: Đây là dân số hoạt động bao gồm những người có khả năng lao động đã hoặc chưa tham gia vào quá trình sản xuất xã hội Bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm

- Nguồn lao động đang tham gia hoạt động kinh tế: Đó là những người

có khả năng lao động, đang hoạt động trong những ngành kinh tế quốc dân Như vậy giữa nguồn lao động có sẵn trong dân cư và nguồn lao động tham gia hoạt động kinh tế có sự khác nhau Sự khác nhau này là do một bộ phận những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì nhiều nguyên nhân khác nhau chưa tham gia hoạt động kinh tế như: thất nghiệp, có

Trang 21

việc làm nhưng không muốn làm việc, còn đang đi học, có nguồn thu nhập khác không cần đi làm

- Nguồn lao động dự trữ: Là những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động Bao gồm: người làm công việc nội trợ, người tốt nghiệp các trường phổ thông, trung học, chuyên nghiệp, người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự

Đối với Việt Nam là một nước có đặc điểm dân số trẻ, tỷ lệ tăng dân số hàng năm ở mức độ cao, nền sản xuất xã hội đang ở trong giai đoạn thấp Mặt khác chúng ta đang đứng trước một nền kinh tế dư thừa về lao động, số người chưa có việc làm và có việc làm nhưng chưa ổn định thường xuyên còn cao, hiệu quả sử dụng nguồn lao động kém, lãng phí nguồn lao động ở mức độ cao, năng suất lao động thấp Sự phân bố lao động giữa thành thị và nông thôn trong nội bộ các vùng, các ngành chưa phù hợp còn mất cân đối Các nguồn nhân lực có trình độ lành nghề, cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn đại học và trên đại học chưa được bố trí sử dụng hợp lý Đó chính là vấn đề đặt ra đối với mọi cấp mọi ngành quan tâm nghiên cứu, đặc biệt các ngành chuyên môn về tổ chức lao động, giải quyết việc làm và dân số nước ta

phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [ 3, tr106 ].Trong điều kiện khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức phát triển nhanh chóng như hiện nay, những nước có trình độ phát triển thấp vẫn có thể tận dụng thời cơ, ứng dụng những thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại để vươn lên tránh nguy cơ tụt hậu và tạo ra sự phát triển nhanh, bền vững Song điều đó chỉ trở thành hiện thực nếu có sự gắn kết chặt chẽ giữa đầu tư gia tăng nhanh chóng chất lượng nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ mới, tiên tiến

Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực là việc sử dụng hợp lý lao động đúng người đúng việc, đúng chuyên môn kỹ thuật nhằm khai thác một cách tối ưu nguồn lực của người lao động kết hợp với các nguồn tư liệu sản xuất để nâng cao chất lượng của quá trình lao động, thúc đẩy sự phát triển cảu nền kinh tế

Sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả thúc đẩy nâng cao năng xuất lao động xã hội, sử dụng hợp lý quỹ thời gian lao động tạo cho người lao động

có cơ hội phát huy năng lực của mình theo nguyện vọng Đối với xã hội tạo được sự cân bằng giữa các ngành nghề, thành phần kinh tế giữa nông thôn và thành thị, góp phần tránh tình trạng dư thừa nhân lực, nâng cao tỷ suất sử dụng nguồn nhân lực vào các ngành sản xuất vật chất xã hội

Trang 22

Để phát triển nhanh nguồn nhân lực cả về lượng và chất, tại Đại hội XI của Đảng chỉ rõ phải “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc

tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [ 3, tr130 - 131]

Nguồn nhân lực luôn luôn được biểu hiện bởi hai chỉ tiêu đó là chất lượng và số lượng nhân lực

Thông qua quy mô và tốc độ tăng dân số và nguồn nhân lực thấy được số lượng nguồn nhân lực trong từng thời điểm, từng thời kỳ

Chất lượng nguồn nhân lực được phản ánh thông qua cơ cấu nhân lực (Cơ cấu theo tuổi, giới tính) thông qua trình độ lành nghề, trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực

1.2.2 Sự cần thiết phải tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động

Tạo việc làm cho người lao động là vấn đề cấp bách của toàn xã hội, nó thể hiện vai trò của xã hội đối với người lao động, sự quan tâm của xã hội về đời sống vật chất, tinh thần của người lao động và nó cũng là cầu nối trong mối quan hệ giữa xã hội và người Việc làm là nơi diễn ra những hoạt động của người lao động, những hoạt động này được công nhận qua những công việc mà họ đã làm và nó cũng là nơi để họ thể hiện những kết quả học tập của mình đó là trình độ chuyên môn

Tạo việc làm là vấn đề chính để người lao động có việc làm và có thu nhập để tái sản xuất sức lao động xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp và do đó hạn chế được những phát sinh tiêu cực do thiếu việc làm gây ra

Tạo việc làm đáp ứng nhu cầu tìm việc nhu cầu lao động của con người

vì lao động là phương tiện để tồn tại chính của con người

Do đó mọi chủ trương chính sách đúng đắn là phải phát huy cao độ khả năng nguồn lực con người, nếu có sai phạm thì nguồn lao động sẽ trở thành gánh nặng, thậm trí gây trở ngại, tổn thất lớn cho nền kinh tế cũng như xã hội đồng thời kẻ địch dễ lợi dụng, công kích Vì vậy một quốc gia giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động là thành công lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, chính trị của mình

Trang 23

Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010 2.1 Giới thiệu chung về thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Thành phố Long Xuyên là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang, có diện tích tự nhiên 115,34 ha, có 13 đơn vị hành chính gồm 11 phường và 2 xã;

có hệ thống giao thông thủy, bộ thuận lợi nối liền các địa phương trong, ngoài tỉnh và nước bạn Campuchia, nên Long Xuyên có vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật – hành chính, giáo dục đào tạo, du lịch, dịch vụ đầu mối giao thông và thương mại của tỉnh An Giang Dân số trung bình của thành phố Long Xuyên năm 2008 là 278.804 người, chiếm 12,38% dân số toàn tỉnh; trong đó số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động là 181.800 người chiếm 65,9% dân số; Lao động có việc làm trong năm là 143.600 người, trong đó lao động nữ chiếm 45% số lao động có việc làm trong năm; Lao động được giải quyết việc làm mới bình quân mỗi năm từ 7 đến 8.000 người, trong

đó lao động nữ chiếm 41%

2.1.1 Kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của thành phố Long Xuyên giai đoạn 2006 - 2010 là 14,68%, trong đó khu vực thương mại dịch vụ đạt 16,04, công nghiệp - xây dựng đạt 14,09, và khu nông nghiệp đạt – 0,41%

Cho thấy, ở 2 khu vực thương mại dịch vụ và công nghiệp xây dựng có mức tăng trưởng khá cao và ổn định, đạt và vượt kế hoạch Nghị quyết lần thứ

IX của Đảng bộ thành phố, góp phần quyết định vào tăng trưởng chung của thành phố Còn khu vực nông nghiệp thì tăng trưởng không đáng kể và thiếu

ổn định Có năm tăng trưởng âm (năm 2006: -2,9%, năm 2008: -6,8%) Điều này cho thấy khả năng hạn chế trong việc gia tăng sản lượng nông nghiệp, chủ yếu là cá nuôi và lúa trên địa bàn; Những hạn chế về nguồn lực tự nhiên như đất nông nghiệp suy giảm nhanh, nguồn nước ngày càng ô nhiễm, biến động

Trang 24

giá cả thị trường nông sản, khả năng cạnh tranh… đây là những thách thức lớn trong phát triển nông nghiệp của thành phố trong thời gian tới

Số liệu cho thấy dịch vụ là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu kinh tế của thành phố từ năm 2006 đến nay, kế đến là ngành công nghiệp - xây dựng và thấp nhất là ngành nông nghiệp

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng đã tác động tích cực cho nền kinh tế phát triển, trong đó khu vực thương mại - dịch vụ chiếm 73%, công nghiệp - xây dựng 23,5% và nông nghiệp chiếm 3,5% GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 41 triệu đồng, so năm 2005 tăng 2,5 lần( tương đương 2.150 USD) Môi trường kinh tế ổn định, thông qua các chủ trương chính sách phát triển phù hợp đã triển khai

Lĩnh vực thương mại – dịch vụ: phát triển mạnh nhất là các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống Các loại thị trường: thương mại, hàng hóa, tiền tệ, lao động, … phát triển mạnh Nhiều cơ sở mua bán lớn được hình thành như: chợ Long Xuyên, chợ Mỹ Phước, trung tâm thương mại Long Xuyên( coopmark), siêu thị Metro, trung tâm mua sắm Nguyễn Huệ, hàng hóa

đa dạng phong phú đáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân; Có 34 ngân hàng

và chi nhánh đang hoạt động trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh; Du lịch thu hút trên 300 ngàn lượt du khách dừng chân nghỉ ngơi tham quan mua sắm hàng năm; Lĩnh vực viễn thông, bưu chính phát triển rộng khắp; Xuất khẩu phát triển với số lượng hàng hóa xuất khẩu bình quân hàng năm là 200.000 tấn gạo, 100.000 tấn cá, 5,5 triệu sản phẩm may mặc Các loại thị trường khác như: xây dựng, khoa học, công nghệ, vận tải,… cũng như trên

đà phát triển nhanh

Công tác khuyến thương đã được triển khai và thực hiện tốt đạt được những kết quả nhất định: quan tâm chú trọng nhiều cho việc xúc tiến thương mại và đầu tư, thực hiện chủ trương kích cầu,…đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp giữ vững và vượt qua được ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới

Lĩnh vực công nghiệp chế biến – xây dựng: Các ngành chế biến thủy sản, chế biến lương thực, sản xuất thức ăn chăn nuôi - thủy sản, ngành may mặc, sản xuất hàng tiêu dùng… vẫn đứng vững, giá trị sản xuất năm 2009 tăng 2,14 lần so với năm 2005, nhiều cơ sở sản xuất mới ra đời và sản xuất có hiệu quả, có 03 làng nghề truyền thống là: lưỡi câu, làm nhang, bánh tráng được công nhận Thành phố đã xây dựng hoàn thiện hạ tầng khu Chế biến thủy sản

Mỹ Quý, chuẩn bị triển khai xây dựng khu tiểu thủ công nghiệp Tây Huề Ngành xây dựng phát triển mạnh, có 198 doanh nghiệp mới hình thành, đáp ứng như cầu xây dựng các loại công trình và nhà ở cho nhân dân

Trang 25

Xuất phát từ tình hình thực tế thì công tác khuyến công đã triển khai và thực hiện tốt ở hầu hết các khâu chuyển giao khoa học công nghệ, kêu gọi đầu

tư, đáp ứng yêu cầu vốn cho sản xuất, đầu tư, mở rộng thị trường,… nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất trong địa bàn cũng như góp phần vào việc nâng cao tốc

độ tăng trưởng kinh tế của thành phố

Lĩnh vực nông nghiệp: sản xuất ra nhiều mặt hàng như: lúa, cá, thịt gia súc, gia cầm, hoa màu,… đáp ứng cho yêu cầu tiêu dùng và xuất khẩu của thành phố Diện tích cây trồng giảm dần do tốc độ đô thị hóa, tuy nhiên năng suất, chất lượng tăng, đáp ứng yêu cầu cuộc sống của nhân dân; diện tích nuôi trồng và sản lượng thủy sản tăng mạnh; chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển Bình quân sản lượng lương thực thực phẩm hàng năm sản xuất ra gồm: lúa 72 ngàn tấn, gần 3 ngàn tấn thịt gia súc gia cầm, cá 333 ngàn tấn Thành phố hiện đã hình thành được 495 trang trại sản xuất nông nghiệp( kể luôn thủy sản), góp phần đáng kể cho việc chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng của ngành nông nghiệp

Công tác khuyến nông đã có tác dụng tích cực và mang lại hiệu quả cao, vừa hướng dẫn nông dân sản xuất thao khoa học kỹ thuật, tạo điều kiện

hỗ trợ nông dân về vốn, đào tạo nghề, tìm hiểu thị trường, vừa theo dõi hướng dân nông dân bảo vệ chăm sóc cây trồng và vật nuôi

Vùng ven, nông thôn của thành phố được quan tâm xây dựng đồng bộ ngày càng hoàn thiện hơn về kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông( đã huy động trên 18 tỷ đồng nhân dân đóng góp, cơ bản phủ nhựa, bê tông hóa khắp địa bàn nông thôn), kế đến là thủy lợi, cấp điện, cấp nước, trường học, trạm y tế, chợ,… tạo nền tảng cho sự phát triển sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống nhân dân

2.1.2 Chính trị

Bộ máy chính quyền thành phố được sắp xếp tinh gọn và từng bước được kiện toàn theo Nghị định 14/CP của Chính phủ, đã phát huy vai trò tham mưu cho Uỷ ban nhân dân thành phố trong quản lý Nhà nước Đưa đi đào tạo chuyên môn ( đại học, cao đẳng, trung cấp) cho 229 lượt cán bộ, cán bộ đạt chuẩn về chuyên môn ở cấp thành phố và phường xã đạt 90% tăng lên đáng kể

so với nhiệm kỳ trước

Tình hình an ninh chính trị được giữ vững, không để xảy ra điểm nóng

về chính trị, đấu tranh ngăn chặn kịp thời các hoạt động lợi dụng tôn giáo, dân

Trang 26

chủ, khiếu kiện Giữ gìn tốt trật tự an toàn xã hội, trật tự an toàn giao thông, tích cực bài trừ các tệ nạn xã hội

Hoạt động của hội đồng nhân dân không ngừng đổi mới, công tác giám sát ngày càng thiết thực và đi vào chiều sâu, đóng góp tích cực vào quá trình, điều hành thực hiện nhiệm vụ của bộ máy quản lý Nhà nước

Công tác cải cách hành chính, công tác dân vận chính quyền được xem

là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên trong chỉ đạo, điều hành của bộ máy chính quyền thành phố và phường xã Đã tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định không còn phù hợp và chồng chéo nhau, tạo thuận lợi cho công dân thực hiện tốt các quyền lợi và nghĩa vụ của mình Xây dựng hệ thống quản

lý theo tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001 – 2008

Tạo được môi trường chính trị, xã hội ổn định tích cực áp dụng cơ chế chính sách đầu tư thông thoáng và thân thiện, tạo sự phấn khởi, an tâm cho các doanh nghiệp và nhân dân đầu tư phát triển, sản xuất

2.1.3 Xã hội

Lãnh đạo thành phố Long Xuyên đã triển khai thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch với các biện pháp phù hợp, nên đã đáp ứng được nguồn nhân lực cho xã hội, thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, chính sách an sinh

xã hội, tạo cuộc sống ổn định cuộc sống cho nhân dân

Lĩnh vực giáo dục đào tạo có chuyển biến tích cực, đáp ứng nguồn nhân lực cho phát triển, được xã hội quan tâm ngày càng cao Từng bước hoàn thành chương trình kiên cố hóa trường lớp với 30% số trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia, 100% giáo viên đạt chuẩn theo quy định; 13/13 phường

xã duy trì chuẩn phổ cập tiểu học - chống mù chữ và đạt chuẩn trung học cơ sở( trong đó Mỹ Long, Mỹ Bình, Mỹ Xuyên, Mỹ Quý đạt tỷ lệ cao nhất trên 90% và đã trở thành địa phương đạt phổ cập tự nhiên) Thành phố hiện có 42.000 học sinh trung học phổ thông, đạt tỷ lệ 148/1.000 dân, chất lượng giáo dục được nâng lên hàng năm, giữ vững lá cờ đầu các cấp học của tỉnh, quy mô giáo dục, đào tạo tiếp tục mở rộng, hệ thống trường lớp đã được quy hoạch, đầu tư xây dựng khá đồng bộ Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng được

xã hội quan tâm đầu tư, đã hình thành và đi vào hoạt động 09 trường và 49 điểm, lớp mầm non tư thục, 01 trường tiểu học, 01 trường phổ thông và nhiều trung tâm ngoại ngữ Tất cả 13 phường đều có trung tâm học tập cộng đồng

Trang 27

Công tác chăm sóc sức khỏe, phát triển dân số được triển khai có kết quả, nâng dần tuổi thọ, tạo quy mô dân số hợp lý theo đà phát triển kinh tế

Đã triển khai thực hiện các chương trình y tế quốc gia, chăm sóc sức khỏe nhân dân, kịp thời ngăn ngừa dịch bệnh, không để xảy ra dịch bệnh nguy hiểm lan rộng; Cơ sở vật chất khám điều trị bệnh ở tuyến phường xã dần được hoàn thiện Công tác kế hoạch hóa gia đình thực hiện có kết quả tốt Đã xây dựng 13/13 xã phường đạt chuẩn quốc gia về y tế; Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ

em dưới 05 tuổi là 16% ( nghị quyết là 18%); 84,5% hộ sử dụng nước hợp vệ sinh, 99% hộ có điện sử dụng; Tỷ lệ phát triển dân số còn 1,09%, tỷ lệ sinh con lần 3 còn 5,7% Số giường bệnh là 5 giường/1.000 dân; Số lượng y, bác sỹ 4/1000 dân; Công tác xã hội hóa phát triển mạnh, đặc biệt là bệnh viện, cơ sở khám và điều trị bệnh bằng Đông – Tây y của tư nhân mở ra đã góp phần cho việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân Công tác bảo hiểm xã hội thực hiện đạt kết quả khá

Lĩnh vực xã hội có nhiều tiến bộ, công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động luôn được quan tâm, xã hội ổn định, an sinh tốt Năm năm qua, đã tổ chức dạy nghề cho hơn 12.000 lao động, giới thiệu giải quyết việc làm trung bình 7.600 lao động/năm, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 1,3% Các hoạt động chăm sóc người có công, xóa đói giảm nghèo luôn được quan tâm; hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm bợ, nhà dột nát đối với hộ gia đình

có công, có 7/13 phường xã hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm bợ cho hộ nghèo Công tác phòng chống các tệ nạn xã hội được duy trì thường xuyên, số lượng người lây nhiễm HIV có chiều hướng giảm Quỹ vì người nghèo, quỹ đền ơn đáp nghĩa đã vận động được 20,7 tỷ đồng, cất sửa 1.158 nhà đại đoàn kết, kịp thời giải quyết khó khăn cho đối tượng nghèo và thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội khác

Năm năm tới, đất nước đang trên đà phát triển hội nhập khu vực và toàn cầu, những biến động về chính trị, kinh tế của khu vực và thế giới sẽ tác động trực tiếp đến nền kinh tế xã hội của đất nước, của tỉnh và đối với thành phố Long Xuyên Trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu còn diễn biến hết sức phức tạp, nhưng bên cạnh vẫn có yếu tố thuận lợi rất căn bản, xuất phát từ việc điều hành chính sách ở tầm vĩ mô có hiệu quả và chủ trương, điều hành thông thoáng của tỉnh sẽ tạo ra thuận lợi cho kinh tế tỉnh nhà phục hồi và phát triển nhanh hơn

Nằm trong xu thế, vận hội phát triển chung của cả nước và cùng vị thế của tỉnh An Giang nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của vùng đồng bằng

Trang 28

sông Cửu Long Thành phố Long Xuyên có các dự án cầu Vàm Cống, đường vành đai, các khu chức năng… và cơ chế chính sách ngày càng được hoàn thiện sẽ là những nhân tố, tiền đề thuận lợi khơi dậy tiềm năng phát triển Đồng thời, với yếu tố nguồn lực và những tiềm năng nội tại như nguồn lao động dồi dào, năng động, sáng tạo, nhạy bén với cơ chế thị trường, vị trí địa lí đất đai, sông rạch phong phú Bên cạnh đó, với lợi thế vị trí trung tâm kinh tế - văn hóa – khoa học kỹ thuật của tỉnh, đầu mối giao thương các nơi, có thế mạnh về thương mại - dịch vụ - du lịch, công nghiệp và nông nghiệp sạch, giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ du lịch, dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông… là những nhân tố quan trọng để phát triển nhanh trong thời gian tới

Mặt khác, phải coi trọng công tác phát triển nguồn nhân lực, coi trọng công tác giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người lao động để nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn đào tạo nhằm xây dựng đội ngũ lao động ngày càng có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; Phải gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng

xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và phúc lợi cho người dân, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, chuyển dần lao động nông nghiệp sang dịch vụ và công nghiệp, tạo sự chuyển biến cơ bản về văn hóa, giáo dục,

y tế và các vấn đề xã hội khác ngày càng nâng cao Đồng thời, ưu tiên đầu tư phát triển nông thôn ở xã Mỹ Khánh và Mỹ Hòa Hưng nhằm giảm nhanh chênh lệch về đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa người nghèo và người giàu, bảo vệ và xem xét các yếu tố tác động đến môi trường sinh thái của đô thị vùng sông nước, khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên…, đây là những yêu cầu tất yếu của phát triển nhanh, toàn diện và bền vững các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo đảm vững chắc an ninh -quốc phòng để xây dựng Long Xuyên trở thành trung tâm thương mại, dịch vụ hiện đại, trung tâm công nghiệp chế biến của tỉnh

2.2 Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010

2.2.1 Thực trạng giải quyết việc làm ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010

2.2.1.1 Công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện

Ngày đăng: 06/12/2015, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảng chỉ tiêu tổng hợp về kinh tế - xã hội – môi trường, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, tháng 7/ 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng chỉ tiêu tổng hợp về kinh tế - xã hội – môi trường
2. Bảng theo dõi hộ nghèo từ năm 1996 đến 2010, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Long Xuyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng theo dõi hộ nghèo từ năm 1996 đến 2010
3. Báo cáo công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động( giai đoạn 2006 – 2010), Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Long Xuyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động( "giai đoạn 2006 – 2010)
4. Báo cáo tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã hội năm 2009 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2010, Tổ tư vấn về đảm bảo an sinh xã hội, Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên, tháng 3/ 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã hội năm 2009 và "nhiệm vụ trọng tâm năm 2010
5. Báo cáo tình hình thực hiện công tác lao động – thương binh và xã hội năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011, Phòng lao động Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên, tháng 11/ 2010 6. Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lầnthứ IX, nhiệm kỳ 2005 – 2010 và Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển nhiệm kỳ 2010 – 2015, Đảng bộ tỉnh An Giang tháng 8/ 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện công tác lao động – thương binh và xã hội "năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011", Phòng lao động Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên, tháng 11/ 2010 "6. Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết "Đại hội Đảng bộ thành phố lần "thứ IX, nhiệm kỳ 2005 – 2010 và Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển "nhiệm kỳ 2010 – 2015
7. Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2005 và phương hướng nhiệm vụ năm 2006, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Long Xuyên, Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên, tháng 12/ 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2005 và phương "hướng nhiệm vụ năm 2006
8. Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chương trình Xóa đói giảm nghèo – việc làm (2001 – 2005) và kế hoạch Xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010, Ban điều hành chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Long Xuyên, Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên , tháng 3/ 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chương trình Xóa đói giảm nghèo – việc "làm (2001 – 2005) và kế hoạch Xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cơ cấu nguồn lao động - Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố long xuyên, tỉnh an giang giai đoạn 2005  2010
Sơ đồ c ơ cấu nguồn lao động (Trang 20)
Bảng 2: bảng tổng hợp số lao động  được giải quyết việc làm  mới trong những năm qua. ( nguồn: Phòng lao động- thương binh xã - Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố long xuyên, tỉnh an giang giai đoạn 2005  2010
Bảng 2 bảng tổng hợp số lao động được giải quyết việc làm mới trong những năm qua. ( nguồn: Phòng lao động- thương binh xã (Trang 37)
Bảng 3: Bảng tổng hợp công tác Xuất khẩu lao động trong các năm - Thực trạng và một số giải pháp cơ bản giải quyết việc làm ở địa bàn thành phố long xuyên, tỉnh an giang giai đoạn 2005  2010
Bảng 3 Bảng tổng hợp công tác Xuất khẩu lao động trong các năm (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w